Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm: so sánh nguyên tác và ấn bản |
21.10.2005
Nguyễn Ngọc Giao(www.talawas.de )
Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm: so sánh nguyên tác và ấn bản
Bài viết của Phạm Hoàng Quân («Biên soạn nhật ký?») cho thấy có sự khác biệt
giữa văn bản viết tay của Đặng Thuỳ Trâm (xem bản pdf trên
http://star.vietnam.ttu.edu/) và ấn bản của Nhã Nam & Nhà xuất bản Hội nhà
văn (Hà Nội, 2005). Nhà xuất bản khẳng định (tr. 7): «Trong quá trình biên
soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng tôn trọng nguyên bản câu văn cũng như những
thói quen dùng từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa lại một số từ địa phương
hoặc lược bớt những từ trùng lặp». Theo
đài BBC, ông Vương Trí Nhàn, người biên tập cuốn sách, cho biết «mặc dù
ông chỉ tham gia ở khâu cuối cùng và về mặt kỹ thuật nhiều hơn nội dung, nhưng
ông nói ông tin rằng công việc biên tập cuốn sách chỉ làm cho nó dễ đọc hơn»,
«bà Đặng Kim Trâm, em út của bà Đặng Thùy Trâm là người chủ biên, quyết định
nội dung phần ra mắt công chúng». Ông nói với BBC rằng bà Kim Trâm khẳng
định bà «dám chịu trách nhiệm và không sợ thách thức của dư luận». Ông
nói rằng sẽ là «không tôn trọng độc giả» nếu không biên tập cuốn nhật ký
vì nó sẽ kèm theo những lỗi chính tả, những câu viết có thể không rõ nghĩa hoặc
sách sẽ quá dày và tốn thời gian của người đọc.
Qua những câu trích dẫn trên, người đọc biết rằng ngoài những lỗi chính tả và
những từ trùng lặp, bản in còn khác nguyên bản ở: (1) những đoạn bị lược bỏ; (2)
những đoạn được «biên soạn» lại. Vì không biết số lượng và nội dung những đoạn
bị lược bỏ hay «biên tập», người đọc không thể kiểm chứng (xác nhận hay phủ nhận)
lời khẳng định của Vương Trí Nhàn: «Chúng tôi không làm lệch, sai lạc tư
tưởng chính, không có gì xuyên tạc, làm méo mó nhật ký», do đó, tuỳ theo cảm
nhận chủ quan, mỗi người dễ đi tới những kết luận thiếu căn cứ - và trên thực tế,
đã có không ít người làm như vậy.
Để đi tới một nhận định khách quan, và do tầm quan trọng của Nhật kí Đặng
Thuỳ Trâm, tôi đã bỏ mấy ngày so sánh hai văn bản. Những khác biệt giữa bản
viết tay của chị Thuỳ và bản in của Nhà xuất bản Hội nhà văn thuộc loại sau đây:
1. Những đoạn bị lược bỏ
Trước tiên, phải cảm ơn Phạm Hoàng Quân đã chứng minh hai đoạn nhật kí viết ngày
1 và 5.4.1970 (mà anh đã soi kính lúp để đọc từ hình bìa bản in) đã bị lược bỏ
trong bản in. Đó không phải là những đoạn duy nhất bị lược bỏ, xin liệt kê: toàn
bộ các ngày 10.1.68, 7.12.68, 23.5.69, 26.10.69, 3.1.70, 19.1.70, 15.2.70,
24.3.70. Ngoài ra, trong những trang khác, một số đoạn đã bị lược bỏ, có khi
được biểu thị bằng một hàng dấu chấm....., có khi không. Tổng cộng những đoạn bị
lược bỏ như vậy không nhiều, tối đa là 12 trang in (trên gần 250 trang nhật kí),
do đó nói rằng nếu không lược bớt thì «sách sẽ quá dày», «tốn thời
gian của người đọc» là một luận điểm thiếu nghiêm chỉnh.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: nội dung các đoạn bị lược bỏ có «vấn đề» gì không? Phải
chăng những người biên tập đã quyết định «hốt cắt đục» là để tránh né, là «tự
kiểm duyệt»?
Nội dung hai đoạn mà Phạm Hoàng Quân phát hiện bị lược bỏ, về mặt này, rất tiêu
biểu. Đoạn viết ngày 1.4.70 có tính chất chính trị:
«1.4 Kỷ niệm 10 năm ngày vào Đoàn, 10 năm qua từ 1 thiếu niên
bây giờ Th. đã là 1 cán bộ dày dạn trong khói lửa, Th. o hề tự hào mà chỉ thấy
rằng mình đã làm đúng như lời thề dưới cờ Đoàn trong ngày hôm ấy.
Những đêm dài suy nghĩ, Th. ơi, hãy nghiêm khắc với bản thân hơn nữa đừng để
1 câu hỏi làm đau nhói lòng Th. Tại sao mọi người o hiểu Th.? mà hãy hỏi tại sao
Th. lại để mọi người o hiểu mình? Đành rằng có những người o tốt, nhỏ mọn ghen
tuông kèn cựa...»
Rõ ràng đoạn này phê phán những sự ghen tuông kèn cựa (có thể hiểu là của những
đồng chí đảng viên), nhưng công bằng mà nói, nhật kí (bản in) có nhiều đoạn phê
phán Đảng nặng nề hơn nhiều, mà không bị lược bỏ. Thêm nữa, một số câu đoạn bị
lược bỏ trong nhiều trang lại là những đoạn Đặng Thuỳ Trâm khẳng định một lập
trường rất “đỏ”, không lẽ ta nên quy kết là những người biên tập muốn sách bán
chạy ở cả California.
Xin đơn cử một ví dụ, cũng là để cải chính giả thuyết của Phạm Hoàng Quân và
minh oan cho ban biên tập. Sau khi nhận thấy đoạn nhật kí ngày 1.4.70 bị lược
bỏ, lại thấy đoạn viết ngày 30.3.70 có một vài ý trùng lặp, Phạm Hoàng Quân nêu
ra giả thuyết phải chăng người ta đã “biên tập” hai đoạn này làm một? Thật ra
đoạn 30.3.70 (trang 237 bản in) đã chép nguyên văn trang viết tay, không thêm
thắt xào xáo gì, chỉ có điều, câu cuối “Ơi cô gái học sinh, ba năm trên chiến
trường lửa khói, trong gai góc cuộc đời, bàn chân cô dày dạn lên nhiều rồi, bãy
mạnh dạn mà đi, vững bước mà đi nghe” (bản in) bị cắt mất mấy chữ cuối câu:
“người con gái xã hội chủ nghĩa trên đất Miền Nam” (bản viết tay). Lối
cắt bớt một đoạn câu chót (với nội dung “chính trị lập trường” tương tự) đã xảy
ra khá nhiều lần. Có khi rất khó đoán lý do (ngoại trừ lý do cẩu thả), thí dụ
như ở trang 113, ngày 1.1.1969, cắt hai câu cuối bài Thơ chúc Tết 1969 của Chủ
tịch Hồ Chí Minh (mà bản viết tay có chép đầy đủ):
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào!
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn.
Tóm lại, tôi không quy kết việc cắt bỏ những trang đoạn có nội dung chính trị là
tự kiểm duyệt hay tránh né. Vấn đề đặt ra, và tôi sẽ trở lại ở cuối bài, là có
nên làm như vậy không, nếu làm thì nên làm thế nào để giữ tính trung thực, cũng
là để tôn trọng tác giả và độc giả.
Khác với đoạn viết ngày 1.4.70, đoạn viết ngày 5.4.70 (bị cắt bỏ) có nội dung
tình cảm:
«5. 4 Có phải vì cô đơn mà cảm thấy nhớ thương đến vô cùng hay
o/ hở người anh thân thiết của em? Chiều nay Cúc lên đường về cơ quan phục vụ,
bỗng nhiên nỗi buồn nhớ như tăng lên bội phần. Cuộc sống sao mà phức tạp, mà sao
mình lại làm 1 con bé sống với trái tim giàu tình cảm như thế này? Tại sao ư? Vì
từ nhỏ đến giờ nó là như vậy – nghe những ý kiến của chị Hạnh cảm thấy buồn lạ
lùng. Con người vẫn có những kẻ sống với tầm mắt nhỏ hẹp, họ o/ thể có được
những tình cảm trong sáng chân thành như một số người khác. Với họ chỉ
có vật chất, chỉ có xác thịt !! Ôi ghê tởm làm sao» (đoạn này tôi
chép từ nguyên tác, nên hơi khác bản đánh máy của Phạm Hoàng Quân, vì anh đọc từ
hình bìa, một phần bị che lấp).
Đoạn này tiêu biểu nhất, vì các trang đoạn bị lược bỏ (đã liệt kê ở trên) đều
cùng một nội dung, ghi lại tình cảm của người viết đối với “người anh thân
thiết” (có thể đoán là anh Năm Tân, bí thư huyện uỷ) hoặc “người em”
(có thể đoán là Thuận, cả hai xuất hiện nhiều lần trong bản in nhật kí). Một thí
dụ:
«15.2 Những ngày sống bên anh, sung sướng cảm thấy tình anh em
ngày thêm gắn bó trưởng thành. Em tin anh như tin chính bản thân em, niềm tin ấy
giúp em đi lên, đạp bằng mọi chông gai trở lực vươn lên làm chủ cuộc sống của
mình. Sung sướng biết bao khi trong bước đi gian khổ, luôn có anh dìu dắt; anh
lo cho em từng ly từng tý, anh dạy bảo em với tình 1 người anh trai đối với đứa
em gái. Anh xây dựng cho em với trách nhiệm 1 bí thư huyện uỷ với một d/c mới
làm công tác Đảng. Anh săn sóc em với tình đồng đội cùng chung trong cuộc chiến
đấu sinh tử này. Hãy giữ tròn mãi mãi... ‘Trong ngần thiết tha’ nghe anh Năm».
Đó là những tình cảm ‘trong ngần’, nhưng trong những con mắt ‘nhỏ hẹp’, chỉ thấy
‘vật chất’ và ‘xác thịt’, rõ ràng là có vấn đề. Vả lại, tình cảm vốn là chuyện
phức tạp, lằn ranh không bao giờ rõ ràng, cố định, bằng chứng là chính đương sự
cũng không ngừng tự nhắc nhở và nhắc nhở các đối tượng tình cảm. Chính cõi nội
tâm này làm cho những trang nhật kí của Đặng Thuỳ Trâm có một sức sống và hấp
lực, tạo nên chiều kích ‘phổ quát’ để tác phẩm này vượt qua thời gian và không
gian.
Phải nghĩ sao về việc ban biên tập đã cắt bỏ những trang đoạn tình cảm này? Sẽ
quá vội vàng nếu quy kết là kiểm duyệt, vì trong bản in, còn nhiều trang đoạn
tương tự. Phải chăng người biên tập, là thân nhân, không muốn lặp đi lặp lại
“quá nhiều” những dòng tình cảm lung linh đó? Nếu thế cũng là một phản ứng
thường tình, đã từng xảy ra trong lịch sử văn học thế giới, khi thân nhân (vợ
con, em gái...) của một tác gia biên tập một cuốn nhật kí hay một tuyển tập thư
từ. Song, một lần nữa, vấn đề tôn trọng sự toàn vẹn của tác phẩm lại được đặt
ra.
2. Những đoạn được/bị “biên tập”
Biên tập hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm nhiều cấp độ.
Ở cấp thấp nhất, chắc không mấy ai phản đối, là những sửa chữa về chính tả, hay
viết đầy đủ những chỗ viết tắt (1,2...> một, hai, CM > cách mạng,
o > không....). Hai lỗi chính tả Đặng Thuỳ Trâm thường lặp lại là ‘xum’
(trong ‘xum họp’) và ‘giành’ (trong ‘giành riêng’, ‘để giành’) đã được sửa một
cách có hệ thống thành ‘sum’ và ‘dành’. Một nhân vật xuất hiện nhiều lần trong
nhật kí, tác giả viết khi thì ‘San’, khi thì ‘Sang’ (có khi trong cùng một
đoạn), sách in viết thống nhất là ‘San’, không rõ đúng không (theo lời nhà văn
Thanh Thảo tôi vừa gặp ở Paris, anh ‘San’ này còn sống và đã được đài truyền
hình phỏng vấn)...
Tương tự, trong câu thơ của Tố Hữu tác giả chép tay ngày 3.7.68 (tr.58, bản in):
Khắp nơi đâu trên trái đất này
Như miền Nam đắng cay chung thuỷ...
chữ ‘khắp’ nhớ sai, đã được sửa thành ‘có’ (mặc dầu, người ta có
thể hỏi: có cần thiết không?).
Song có những câu đã được biên tập, không bóp méo gì nguyên bản, nhưng rất khác,
và không hiển nhiên là dễ hiểu hơn, và càng không thể nói là hay hơn. Một thí
dụ: trang nhật kí ngày 2.6.68.
Bản in (tr 53): “Một năm qua đã cho mình hiểu thêm về hai chữ thực tế.
Không, cuộc đời thực tế gồm hai mặt. Cuộc đời vẫn bao la niềm ưu ái,
người ta vẫn dễ dàng tìm thấy niềm thương yêu, miễn là có lòng chân
thành và vị tha” (tôi in đậm những chố biên tập)
Nguyên bản: “Một năm qua đã cho mình hiểu thêm về hai chữ thực tế. Vâng, cuộc
đời thực tế gồm hai mặt. Cuộc đời vẫn bao la niềm ưu ái, mình vẫn dễ dàng tìm
thấy niềm thương yêu, nhưng với điều kiện là mình phải sống chân thành, sống
bằng lòng vị tha đối với cuộc đời”.
3. Những sai sót và cẩu thả
Nghiêm trọng hơn là những sai sót hoặc/và cẩu thả hoàn toàn có thể tránh được
nếu bộ phận biên tập và sửa lỗi in rà lại chế bản với nguyên bản. Dưới đây là
một vài thí dụ về những loại sai sót khác nhau:
Những sai lầm kể trên, nhất là sai lầm chót, có thể giải thích: (những) người
đánh máy đã căn cứ vào những bản chụp giấy rời rồi sắp xếp theo suy nghĩ chủ
quan, nhưng chúng cũng chứng tỏ rằng: biên tập không rà lại với nguyên bản mà
ông Ted Engelmann đã trao tận tay cho gia đình dưới dạng CD hồi tháng 4.2005, và
ngày nay mọi người có thể truy nhập từ địa chỉ URL
http://star.vietnam.ttu.edu/
Sự cẩu thả tuỳ tiện (lần này của nhà xuất bản) còn thể hiện trong việc ghép hình
mà Phạm Hoàng Quân đã phát hiện và từ đó nêu lên những nghi vấn lẽ ra không có
lí do tồn tại. Thật vậy, căn cứ vào nguyên bản, có thể thấy rằng trang đầu của
cuốn nhật kí năm 1970 (ảnh chụp, trang 289, bản in), chỉ vỏn vẹn có ở phía trên,
3 dòng chữ:
1970
NHẬT KÝ
Xuân Canh Tuất
và ở cuối trang, hai dòng:
Những ngày rực lửa
Vui, buồn đọng giữa tim ta
dưới cùng là chữ ký, bắt đầu bằng hai chữ cái T, h, có thể nghĩ là
chữ ký của Đặng Thuỳ Trâm.
Trong bản in, chiếm trọn trang 204, và được chú thích ở dưới: «Ảnh chụp trang
nhật ký do Đặng Thuỳ Trâm viết...», phía trên gồm 3 dòng đầu của trang hình
nói trên, phía dưới, hai dòng chữ và chữ ký được thay bằng đoạn văn của Hoàng
Văn Thụ, và ở giữa là dòng tên Đặng Thuỳ Trâm (gạch đậm ở dưới).
Đoạn trích dẫn Hoàng Văn Thụ (nhà xuất bản cũng không chắc là của Hoàng Văn Thụ,
để tồn nghi, chứng tỏ sự nghiêm túc của biên tập), thực ra nằm ở trang thứ nhì
của cuốn sổ Nhật kí 1970. Còn dòng tên Đặng Thuỳ Trâm sao chép từ trang đầu của
cuốn sổ nhật kí 1968-1969 (kể cả cái gạch dưới đậm nét!). 3 trang cộng lại,
thoải mái cắt & dán trên photoshop, mà đẻ ra biết bao nghi vấn. Thuỳ Trâm ơi, 35
năm đã qua rồi, nhưng chưa qua đâu, thời của những hồ nghi. Cũng lạ là từ
khi sách xuất bản đến nay (3 tháng rồi), chưa có ai đến Trung tâm Việt Nam ở Đại
học công nghệ Texas đòi dùng ADN xem hai cuốn sổ có thật là của Đặng Thuỳ Trâm
hay không (hãy xem tiền án Ngục trung nhật ký !).
Kết luận
Đối sánh bản in của công ti Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn học với di cảo Đặng Thuỳ
Trâm, ta có thể kết luận rằng nó không hàm chứa một ý đồ «bất trung» nào. Những
khác biệt một phần do chủ trương biên tập, một phần do cách làm việc thiếu cẩn
trọng.
Ban biên tập có quyền lấy trách nhiệm lược bỏ hay biên soạn lại một số đoạn văn,
nhưng nhất thiết phải nói rõ, và bằng những biện pháp kĩ thuật giản tiện, cho
bạn đọc thấy những chỗ đã bỏ, những phần đã biên tập.
Bất luận thế nào (tôi biết nhà xuất bản phải làm việc hết sức khẩn trương để
phát hành cuốn sách trước cuối tháng 7), những sai sót nhầm lẫn trong khâu đánh
máy, sửa lỗi, đều không thể chấp nhận. Chẳng lẽ nghề in ở Việt Nam, bước sang
thế kỉ 21, vẫn tiếp tục xuống cấp như vậy sao? với cả một tác phẩm như thế sao?
Ba mươi năm sau chiến tranh, lòng người còn phân tán. Nhưng Nhật kí Đặng
Thuỳ Trâm dường như đã làm được phép lạ là nó đi tới được với mọi người
mà nó vẫn là nó, không uốn éo lựa lời. Chính vì thế, người viết bài này mong sớm
có một ấn bản tuyệt đối trung thành với nguyên tác.
Paris, ngày 19.10.2005
© 2005 talawas