Đối Thoại                                               Website: Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Những ý kiến đóng gópvào việc chuẩn bị nội dung

Nghị quyết Đại hội lần thứ X

 

Trần Lâm

Tôi làm theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đích thân tôi đã được nghe Người nói: “Phải nói kỹ về khuyết điểm vì sai sót thường có tính bảo thủ”. Theo tâm lý dân chúng thì ai cũng muốn biết rõ các biện pháp để chấm dứt sai sót, vì đó mới là con đường tiến lên. Người ta có thể nói nhiều về thành tích, nhưng đó là việc hiếu hỷ, lễ Tết, ngoại giao.

Lúc này, tôi rất lo lắng vì đề cập đến một vấn đề quá lớn, sợ sức mình không với tới. Nghĩ lại, đây là một sự đóng góp, mỗi người một ý, cái quan trọng trên hết là ý thức trách nhiệm mà thôi.

Tôi không bằng lòng với ai, về việc gì, đây chỉ là những suy nghĩ, qua nhiều năm tháng, muốn bộc bạch, muốn giãi bày.

Văn là người, tôi tin là chúng ta cảm nhận được đầy đủ và dễ dàng.

*

Nội dung tài liệu này cũng theo lề lối quen thuộc: có đánh giá tình hình, có nêu thiếu sót và có kiến nghị... Có cái khác là không mang tính tổng hợp, chỉ là biết đến đâu viết đến đấy. Phương pháp thì nặng về phản biện vì nghĩ rằng đây là phương pháp chính của việc góp ý.

Phần I: Tổng hợp các ý kiến trên báo chí, trái với việc đánh giá thành tích “đổi mới” của các cơ quan Đảng và Nhà nước.

Phần II: Nêu lên những nhận xét, suy nghĩ về những sai sót, bất cập, nghịch lý trên một số mặt, đòi hỏi phải có sự đổi mới triệt để.

Phần III: Nói lên những suy nghĩ về Đảng vì đây là việc góp ý với Đại hội Đảng, hơn nữa, mọi hưng vong của đất nước đều gắn với vai trò của Đảng. Cũng thấy bức bách là Đảng phải đổi mới triệt để.

Phần IV: Nói lên những suy nghĩ về việc thay đổi thể chế. Thay đổi triệt để có phải là nhu cầu khách quan, là quy luật không và thay đổi như thế nào? Đây là câu hỏi lớn, mỗi một người góp một ý, đa số trong Đảng, đa số trong dân là người quyết định cuối cùng.

Phần I

Cũng cần nói lại về “thành tích”

 

A. “Đổi mới”.

ở ta, sau khi Luật Dân sự được ban bố, tư hữu tài sản được công nhận, các thành phần kinh tế được xác lập. Luật Doanh nghiệp ra đời. Sẵn cơ sở kinh tế tư bản thời kỳ thuộc địa, với việc quan hệ quốc tế rộng rãi hơn, các doanh nhân, các nhà công nghệ với trình độ khiêm tốn chiếm lĩnh vị trí. Nền kinh tế hàng hoá non trẻ ngày một phát triển. Thị trường, cạnh tranh là việc chúng ta đã nói đến hàng ngày. Kinh tế tư nhân tỏ ra năng động, vị trí ngày một cao.

“Đổi mới” ở ta đã chấm dứt được khủng hoảng toàn diện, tạo ra những tiền đề để phát triển lâu dài.

Suy cho cùng ta cũng đang ở thời kỳ phát triển bắt đầu trước đây mấy trăm năm của các nước Âu, Mỹ. Chỉ có khác là tốc độ có thể nhanh vì toàn cầu hoá.

Trong sự phát triển này, miền Nam khá hơn miền Bắc: doanh nhân miền Nam tiềm lực kinh tế mạnh hơn, quan hệ quốc tế rộng hơn, khoa học kỹ thuật cao hơn, việc phát triển dựa vào cạnh tranh... Miền Bắc vẫn còn lúng túng về sở hữu: sở hữu đất đai, về các cơ sở quốc doanh với việc cổ phần hoá chậm chạp, kinh doanh thì theo lối chụp giật, trốn thế, buôn lậu, lừa đảo, đã hình thành cái người ta gọi là “kinh tế của những cánh hẩu” (crony economic) như ở Inđônêxia thời Suharto: lợi dụng quan hệ gia đình, thân quen, chia chác với những người có quyền để được cấp đất ở những nơi hái ra tiền, có các quota béo bở, các món vay không phải thế chấp... buôn đi bán lại, tóm lại đầu cơ là chính.

Ta đang chậm chạp trên con đường phát triển của loài người. Đúng là “cũ người” nhưng “mới ta”. Con đường này là trí tuệ của nhân loại. Nước Mỹ văn minh và hùng mạnh nhưng cũng là con đẻ của văn minh châu Âu. Các nước Âu Mỹ chả ngã mũ, cúi đầu trước trí tuệ Việt Nam tiến hành chiến tranh nhân dân. Chúng ta không tự ti, mặc cảm khi nói lên điều này.

Một tộc người ở rừng núi chật hẹp, muốn tìm nơi rộng rãi thoáng đãng để định cư. Họ đã đi ba phương trời để tìm miền đất hứa, đều thất bại. Họ buộc lòng chuyển sang hướng thứ tư, họ đã thành công.

Ta đã trải qua nhiều giai đoạn, với các học thuyết và biện pháp: không công nhận tư hữu tài sản; đánh đổ tư sản địa chủ; có lúc đổ lỗi cho chiến tranh; có lúc nêu lên cái gọi là giai đoạn quá độ tiến lên XHCN và cuối cùng là thực hiện bao cấp... Đất nước đi đến cùng cực của khủng hoảng toàn diện.

Cuối cùng ta phải chấp nhận: công nhận sở hữu của các thành phần, công nhận kinh tế thị trường, do đó đất nước khởi sắc.

Phải chăng, con đường ta đang đi không phải là một tìm tòi chủ động?

Hơn thế nữa, chúng ta đã sang Trung Quốc, xem xét sau 10 năm họ đã chuyển đổi kinh tế như thế nào và các thành tích của họ đã thuyết phục chúng ta ra sao. Đến hôm nay họ đã tiến bộ vượt bậc.

Các ký giả nước ngoài, cả các nhà báo nước ta, đã có nhiều người hỏi về sự giống nhau giữa Trung Quốc và ta trong việc chuyển đổi kinh tế. Cũng dễ hiểu vì hai nước có những hoàn cảnh giống nhau trước lúc chuyển đổi. Sao chép thì chưa ai nói đến, nhưng Trung Quốc là chất xúc tác, là nguồn động viên, là thí điểm cho chúng ta suy nghĩ thì chắc là không ai có thể chối cãi.

*

Nói rằng chúng ta tiếp nhận kinh tế thị trường nên chúng ta chấm dứt được khủng hoảng, đã khởi sắc, là khách quan và đúng đắn. Còn nói rằng “đổi mới” là một sáng tạo, có tính đặc thù Việt Nam thì xem ra như là một vi phạm sở hữu trí tuệ.

B. GDP:

Ta ca ngợi GDP của ta có nhịp độ tăng trưởng cao thứ nhì châu á. Ta coi đây là thắng lợi nổi bật và bao trùm. Rất nhiều điều tiếng về điểm này:

Có người coi giá trị này không lớn: Tổng giá trị GDP là 40 tỷ USD, tăng 7,8 %, mang con số tuyệt đối ra chia theo đầu người, cho 83 triệu người, hỏi mỗi người được bao nhiêu?

Có người băn khoăn về cách tính: Thóc, gạo, quần áo, giày dép xuất khẩu, có trừ đi tiền nhập phân đạm, phụ kiện may mặc không? Hàng hoá không bán được có tính vào GDP không? Hơn 3 tỷ USD mà kiều bào gửi về có tính vào thu nhập quốc dân không? Giá xăng dầu tăng lên trên thế giới có phải là yếu tố ngoại lai không? Các nước, vào cuối năm thường chỉ có dự báo và đến tháng 6 năm sau mới có thông báo chính thức về GDP, ta lại tuyên bố như đinh đóng cột vào cuối năm, liệu có vững chắc và đáng tin cậy không?

Có người nghĩ đến nguyên tắc tăng trưởng về chất lượng, tăng trưởng bền vững: Ta vẫn xuất khẩu nông sản theo dạng thô; than, dầu, thiếc, apatit càng ngày số lượng càng cao... Nhìn qua việc vận tải thấy như là ta đang mất một cái gì. Phải chăng, chúng ta chỉ nhìn trước mắt, chúng ta chạy theo giá trị đơn thuần?

Có người bực dọc thốt lên: chúng ta đã sử dụng số tiền từ xuất khẩu ít ỏi này như thế nào? Nếu cộng cả con số nợ nần nước ngoài, con số tiền người ta cho không, con số mà chúng ta chi tiêu lãng phí vào lễ tết, hiếu hỷ, con số mà kẻ xấu trong chúng ta bỏ túi so sánh với những cái chúng ta đã làm được, quả là quá kém cỏi. Trong xây dựng cơ bản, ta nói tham ô, lãng phí mất đến 40%, nhưng còn một điểm ta không nói ra: tuổi thọ của công trình như thế nào, liệu nó có sống được 30 - 50% tuổi thọ dự kiến không? Đối với cha ông, con cháu, chúng ta có công hay có tội, là điều đáng băn khoăn.

Có người cho rằng, chúng ta chậm còn do bỏ qua nhiều cơ hội. Thời cơ cao hơn tiền bạc, thời cơ mới là yếu tố tăng trưởng, có khi là đột biến. Dung Quất là điển hình về việc bỏ lỡ thời cơ, làm thua thiệt quá lớn về tiền bạc, làm chậm bước tiến của phát triển.

Có người còn nghĩ rằng muốn tăng trưởng thì điều đầu tiên phải vượt qua là chính sách: chính sách hợp thời, hợp lý, cụ thể sẽ đẩy nhanh tiến độ tăng trưởng. Cần dành nhiều thời gian cho chính sách hơn là cho tính toán các con số. Tôi thấy họ đúng: phải chăng chính sách đất đai đang kìm hãm sự phát triển đất nước một cách ghê gớm.

*

Gần đây, có một cách nhìn mới, được nhiều người nhắc đến, có thể coi là đúng đắn: Ta tụt hậu quá xa, có người cho đây là “quốc nhục”. Trước đây 30 năm, nước ta và nhất là miền Nam, trình độ kinh tế còn cao hơn Thái Lan, Malaixia, Đài Loan, Hàn Quốc, thế mà nay với tăng trưởng GDP mức độ hiện nay của ta, ta phải 20 năm mới theo kịp họ, không phải lúc ấy, mà bằng họ ngày hôm nay! Ta đang ở trong số những nước nghèo nhất thế giới. Cộng đồng Châu Âu đang bàn soạn việc xoá nợ cho các nước nghèo đợt 2, là 14 nước, trong đó có Việt Nam, cạnh Soudan và Togo...

*

Có người còn nhắc nhủ: “Làm được gì không quan trọng, làm được gì hơn người ta mới là quan trọng”. Các Mác còn đi xa hơn: “Làm được gì không quan trọng, cách làm như thế nào mới là quan trọng”. Ta vẫn mắc cái sai là mang so ta ngày hôm nayvới ngày hôm qua, cái sai là làm việc gì cũng chỉ cần cho xong với bất cứ giá nào.

Một điều hé mở: có lẽ chúng ta coi nhẹ trí tuệ và khoa học công nghệ. Tình hình chậm tiến của ta và nguyên nhân cần suy nghĩ, bàn luận dài dài.

 

C. Nói như trên hoàn toàn không phải là phủ nhận sạch trơn, chỉ là tiếng nói phản biện để tìm ra chân lý: “Kẻ nói đi, có người nói lại”.

Nhìn nhận toàn màu hồng hoặc toàn màu đen, do hạn chế về trình độ, về nhận thức, về hoàn cảnh riêng tư... là điều cần thông cảm, cần chờ đợi. Còn nếu vì một dụng ý nào đó, chỉ nhấn mạnh một chiều, nhằm mê hoặc người khác, gò ép họ chấp nhận lời mình nói, đó là điều tệ hại.

Hãy thận trọng: lời nói tại diễn đàn toàn quốc sẽ được lưu giữ và không tránh được sự xem xét và đánh giá sau này của hậu thế. Trước mắt, người trong nước và nước ngoài đang chờ đón để xăm soi, khen chê chúng ta.

 

 

 

Phần II

Những bất cập, những nghịch lý

 

A. Về giáo dục và đào tạo:

Xin góp ý một vài điểm mà tôi biết trong vấn đề quá lớn này:

1. Việc chọn cán bộ và việc đào tạo không song hành.

Nước ta chậm phát triển, người đi học có mục tiêu là kiếm chỗ trong bộ máy nhà nước. Người trong bộ máy nhà nước phải là người gỏi trong những người được đào tạo. Tổ chức đào tạo phải đáp ứng yêu cầu này: tạo ra người giỏi, tạo ra nhân tài.

Không! Cơ quan tuyển dụng lại có cách riêng. Đầu tiên người trong bộ máy nhà nước phải có quá trình cách mạng dù họ không có chuyên môn; sau đó người ta chọn người theo lý lịch. Báo Le Monde (Pháp) có biếm hoạ: tại cửa tuyển dụng, ở Paris, người tuyển hỏi người xin việc: “Anh có bằng gì?”. ở Watsingtông hỏi: “Anh có nghề gì?”. ở Hà Nội hỏi: “Bố anh làm gì?”. Tôi được biết chuyện cười này cách đây 30 năm. Tiếp sau, người ta chọn người thân quen, họ hàng của những người có chức quyền, việc chọn này như thành việc mua bán, đổi chác, hối lộ... từ “5C” ra đời (5C: con, cháu, các, cụ, cả) đã được nêu ra trong Quốc hội. Rồi đến việc người ta chọn người để tạo phe cánh, tạo đường dây để bảo vệ lẫn nhau, cùng nhau tiêu cực kiếm chác... Cao điểm, đến ngày hôm nay là việc chạy chọt, hối lộ để chạy chức, chạy quyền, như Thủ tướng đã phải công khai cảnh báo... Các cháu tôi, ra trường xin việc làm, đều có giá là 60 triệu, hình như giá chỉ đạo cả trong Nam ngoài Bắc. ở hai tỉnh thi tuyển công nhân viên chức, một tỉnh chỉ nhận đơn của con em viên chức nhà nước, một tỉnh đánh trượt những em giỏi nhưng thiếu điều kiện nào đó, có ai biết là điều kiện gì. Báo chí đã đăng tải.

Bản thân ngành giáo dục cũng vì đó mà thui chột động lực dạy và học. Dân số phát triển quá nhanh, giáo dục chạy theo, thành phát triển quá nóng, chất lượng cũng giảm sút. Ngành giáo dục chạy theo thành tích, chạy theo bằng cấp, rồi chạy theo tiền... Việc học tuỳ tiện “dốt hư chuyên tu, ngu như tại chức”... mua bằng, bằng giả, học giả, bằng thật...

Khi ta nhận ra giáo dục là quốc sách, giáo dục tạo ra nhân tài, nhân tài là nguyên khí quốc gia, con người là động lực đầu tiên của phát triển thì ta đã suy thoái trầm trọng.

Người tiêu dùng không cần hàng hoá đúng tiêu chuẩn, người sản xuất không cần làm hàng hoá có chất lượng, đó là bối cảnh của giáo dục, đào tạo và tuyển dụng.

Khi kinh tế bắt đầu phát triển, một số học sinh, sinh viên giỏi chạy theo các công ty nước ngoài, thành ra có việc chảy máu chất xám ngay trong nước.

*

2. Ta không coi trường sư phạm là căn cứ địa là cái nôi của giáo dục.

Anh và Pháp đều dùng chữ “norme”, “norm” để gọi trường sư phạm. Trường sư phạm (école normale) đào tạo ra giáo viên là khuôn mẫu công dân.

Một thời gian quá dài, trường sư phạm bị coi nhẹ. Sinh viên có câu: “nhất y, nhì dược, tạm được Bách khoa, Sư phạm bỏ qua, Nông lâm xếp xó”. Riêng đối với trường Sư phạm là đúng. Chúng ta chỉ chọn được các sinh viên tiêu chuẩn không cao, nuôi dưỡng, đào tạo không có gì đặc biệt, ra trường đãi ngộ không xứng đáng, trước mắt nhân dân, sự kính trọng giảm sút dần. Thử hỏi: sinh viên yếu, rồi thành thầy giáo yếu, thầy giáo yếu lại tạo ra các sinh viên yếu, sinh viên yếu thành thầy giáo kém... Ta đã tạo ra cái “gien” suy thoái từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ta phát hiện quá chậm, đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục.

Ban hành chương trình học mới, biên soạn lại sách giáo khoa, chấn chỉnh lại các nguyên tắc quản lý, các nguyên tắc giảng dạy của ngành phổ thông là việc bức thiết mà ta đã đặt ra. Tại sao không đưa các nhà khoa học đích thực, các thầy giáo giỏi về các trường sư phạm, biến các trường thành trung tâm nghiên cứu, biên soạn, trung tâm bồi dưỡng giáo viên, thể nghiệm mọi việc qua các trường thực nghiệm của các trường sư phạm, trung tâm du nhập tiến bộ khoa học kỹ thuật giáo dục của nước ngoài, biến các trường sư phạm là nơi tập hợp, nghiên cứu toàn bộ các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, của toàn dân. Cuối cùng, ở đây hình thành trường phái của ngành giáo dục Việt Nam, chấp nhận cả những “học phiệt”. Ngành khoa học nào cũng phải có người cầm đầu, phải có trường phái rõ rệt, phải có địa chỉ chịu trách nhiệm về sự hưng vong của khoa học, tốt thì có cái để giữ gìn, lạc hậu có cái mà loại trừ.

Ta làm khác quá: để mặc ngành giáo dục tự tung, tự tác; các ý kiến đóng góp của toàn dân không biết rơi rụng nơi nào. Ta mất quá nhiều thời gian bàn về các việc: bỏ thi cấp 2, thay tên cấp học... Ngành giáo dục lúng túng như thợ vụng mất kim, nay đề ra việc này, mai lại hoãn... mà chỉ là các việc cụ thể.

*

3. Một số băn khoăn khi nhìn ngành giáo dục đào tạo của ta và riêng ngành đại học.

a) Giáo sư là người đứng trên bục giảng, tiến sĩ là người làm trong phòng thí nghiệm... Người cầm đầu ngành phải là người am hiểu xã hội Việt Nam, con người Việt Nam, hiểu không sâu nhưng rộng về các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật, tóm lại có kiến thức tổng hợp, lại biết về kinh tế tài chính vĩ mô, là chính khách nhìn xa trông rộng, biết cách dùng người, tìm được người giỏi, quản lý được tổ chức... Giao quản lý ngành cho các nhà khoa học chuyên sâu, người có bằng cấp cao, chưa phải là đặt người đúng chỗ.

b) Có người cho rằng số nhà khoa học của ta so với dân số thì còn kém xa các nước trong khu vực. Có người lại thấy đã ít, nhưng nhiều người hàng năm chả có một công trình nào. Có người lại đưa ra tiêu chí: nước có trình độ khoa học cao là khi họ giải quyết được các vấn đề khoa học, kinh tế, chính trị bức xúc của chính nước họ và không căn cứ vào số lượng tiến sĩ, giáo sư... Tôi nghiêng về quan điểm: chất lượng các nhà khoa học, có sự phân bố đồng đều ở các ngành, có đủ khả năng giải quyết các yêu cầu, là mục tiêu của giáo dục, đào tạo. Nghiêng về quan điểm cuối cùng trên, thì phải nhận rằng ta phát triển đại học ồ ạt, một cách đáng kinh ngạc. Khi thiếu giáo sư, thiếu cơ sở, thiết bị, đời sống sinh viên quá tồi tệ... Sinh viên ra trường không biết làm việc... sự lãng phí là vô kể, làm rối loạn xã hội vì thi cử, chạy chọt...

Giáo dục đại học là đào tạo nhân tài, người lao động bậc cao, vẫn cần nhắc lại, cần thấy là có nhiều sai sót và cần sửa đổi.

*

4. Dân số, thanh niên, nạn thất nghiệp và việc đào tạo nghề.

Ta có 83 triệu dân, thanh niên chiếm quá nửa, 70% là nông dân. Số thanh niên thành thị và nông thôn học xong cấp 2 và 3 đông vô kể. Họ đang không có việc làm, là một nỗi lo.

Việc xuất khẩu lao động ta thả nổi cho các công ty, họ bóc lột người lao động, bọn lừa đảo không ít... Việc dạy nghề của nhà nước hình như vắng bóng. Việc sản xuất có mở rộng, nhưng thu nhập thấp, người lao động quá khổ cực vì đắt đỏ và xa gia đình.

Ba Lan hàng chục % dân số lao động ở nước ngoài, tiền gửi về nhà quá lớn, GDP tự nó nâng cao... Việc phát triển công nghiệp và các nông trấn Trung Quốc ở một số vùng làm tốt...

Đã đến lúc cần nhìn lại: giải quyết việc làm là vấn đề chính trị xã hội  rất lớn, là việc nâng cao kinh tế rất hiệu quả. Đảng và Nhà nước phải có chính sách lâu dài vấn đề này và Nhà nước phải bắt tay vào làm với ý thức đây là một chủ trương lớn thuộc loại quốc sách.

B. Bộ máy Đảng và Nhà nước:

Hiện nay, ở ta trong việc quản lý phát triển đất nước, người dân coi Đảng với Nhà nước như là một. Một cán bộ cấp thấp, dù chưa là đảng viên, người dân cũng coi là một đại diện của Đảng. Giữa người dân và Đảng, Nhà nước, mối quan hệ đã khác xưa: trứơc là một, nay như đã xa cách. Tôi đóng thuế, tôi trả lương cho anh, anh lười biếng, lại “hành là chính”, trước tôi và anh như nhau. Sao anh giầu nhanh thế, tôi vẫn nghèo, nay hô hào anh và tôi đoàn kết, nghe khó lọt tai quá! Tôi có gặp một vài người, hiện đang làm việc, là người sạch sẽ, cũng có nghiệp vụ, họ đều tỏ ra chán nản với môi trường làm việc của họ.

Suy nghĩ gì về bộ máy Nhà nước và Đảng non trẻ của chúng ta?

1. Đường lối và tổ chức có mối quan hệ hữu cơ: Ta có nhiều chính sách nhưng hoặc nói rồi để đấy, làm thời gian rồi quên đi, làm kéo dài, không đo đếm được kết quả, thông tin về thực hiện không có, bao trùm là thiếu một đường lối tổng quát như các nước xung quanh đã thực hiện để trở thành “con rồng”. Ta giống như một người lúc làm lúc nghỉ; làm không gọn, dọn không sạch; không rèn dũa được mình, không dạy dỗ con cái, gia đình không căn cơ để trở nên giàu có.

2. Bộ máy là bao gồm rất nhiều người, từng người đều có trách nhiệm cá nhân, như con ốc nhỏ bé, nếu vặn không chặt, cả bộ máy cũng ngừng chạy... Ta làm việc gì cũng ào ào, người nọ làm việc người kia, thừa chỗ này thiếu chỗ khác... tốt, xấu không biết, sai đúng không thuộc về ai. Ông Đỗ Quang Trung thừa nhận: “ở ta xác định trách nhiệm cá nhân thật là khó”. Thế sao gọi được là bộ máy! Làm sao có cá nhân kiệt xuất, có nhân tài trong cái hỗn độn đó.

3. Ta vận hành bộ máy với nguyên tắc cũ kỹ: Đảng tối hậu quyết định, chính trị là thống soái, mà đáng lẽ ngày hôm nay trong khi “đổi mới” ta phải thực hiện kỹ trị: giao việc quyết định của nhiều vấn đề cho các nhà khoa học, các nhà chuyên môn. Các cấp uỷ Đảng không đủ trí tuệ, thời gian, sức lực để quyết định hết thảy. Lúc này không phải là lúc bàn đánh hay hoà, mà lúc này bàn có làm việc ấy không, làm thế nào, ai làm, tiền, người,... kết quả ra sao... Phải chăng các thành phố ngập lụt, xấu xí, đánh bắt xa bờ trắng tay, đồi Vọng Cảnh, nước Hồ Tây... là thiếu vai trò quyết định, chứ không phải là nghiên cứu, đề xuất của các chuyên gia, các nhà văn hoá.

4. Ta thực hiện một cách lệch lạc nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, vì chúng ta quên mất vế thứ hai: cá nhân phụ trách. Có nghĩa là bàn thì nhiều người, nhưng trong thi hành, trách nhiệm thuộc về một người. Người cầm đầu nếu thuộc thiểu số phải rút lui. Ông Kozumi bị thiểu số, đặt ra vấn đề ông còn cầm đầu đảng ông, cầm đầu nước Nhật nữa hay không. Nguyên tắc luật hình sự: khi một tập thể phạm lỗi, việc truy cứu trách nhiệm chỉ nhằm vào người chủ chốt...

Hiện tại: tập thể như là một tấm màn của trò ảo thuật, như bức tường thành che dấu cho những người theo đóm ăn tàn, gió chiều nào che chiều nấy, âm mưu, thủ đoạn... hoặc chí ít là khuyến khích sự lười biếng, chậm chạp, mà chậm chạp là mất thời cơ, mất tiền bạc, là tụt hậu... Việc to cũng chậm chạp, việc nhỏ cũng chậm chạp, cái gì cũng vội vội, vàng vàng.

5. Chọn người là việc chúng ta sai phạm nghiêm trọng nhất. Chúng ta coi nhẹ nguyên tắc vì việc mà tìm người. Việc bỏ phiếu là bỏ phiếu cho ai có thể thực hiện được một nhiệm vụ nào đó chứ không phải về người đó như thế nào. Họ không làm được theo yêu cầu, họ phải rút lui, dù họ thực hiện được yêu cầu, họ cũng sẽ rút lui theo nhiệm kỳ vì một tình thế mới, một yêu cầu mới, cần những người mới, thích hợp hơn.

Một người ở ta được chọn có hàng chục, hàng trăm lý do, nói ra không hết, có cả nhầm lẫn, có xấu xa... Ngay việc chọn lựa trong sạch nhất cũng có sai lầm: người kém cỏi cầm đầu thì dạy dỗ được ai, biết ai tài giỏi mà chọn, biết việc làm thế nào mà tìm người... Người quanh quẩn trong bốn bức tường, khi chọn người chỉ biết vài người thân cận, thành ra: một ít người chọn người tài trong một số ít người... Nhiều khi một người khéo ứng xử được quý trọng hơn một người có khả năng cống hiến. ở ta màu sắc triều đình phong kiến đã có. Còn Dumas thì: “Triều đình là nơi làm băng hoại con người”.

Tôi luôn luôn tự hỏi: vì sao Bộ trưởng Giáo dục Anh là mù loà, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp lại là nữ, chưa hề cầm súng, Bộ trưởng Ngoại giao Đức lại là người không thích thắt ca-vát... mà công việc của họ vẫn tốt.

6. Bộ máy nhà nước có đối tượng phục vụ là dân hay hay đối tượng là chính nhà nước, câu hỏi phải đặt ra.

Việc xây dựng nhà cửa tách biệt, cao sang, hội họp rầm rộ, hình thức, tốn kém, nội dung các chính sách, các thể lệ đều buộc người dân vào quỹ đạo nhà nước, hay nói đúng hơn là ý chí của người cầm quyền.

Khi làm các việc này, nên suy nghĩ lại: làm cho ai, đưa lại cho họ cái gì, họ cần cái gì?...

7. Đầy rẫy nghịch lý trong công việc xây dựng bộ máy Đảng và Nhà nước:

- Ta nói Đảng suy yếu, nhưng ta không có kế hoạch củng cố, chúng ta lại mở rộng việc phát triển đảng viên, làm phức tạp thêm.

- Bộ máy nhà nước kém hiệu lực, ta đã kiểm tra và kết luận: 10 người có 3 làm được việc, 3 người cố gắng tạm dùng được, còn 4 thì phải bỏ đi, 10 năm rồi, ta không loại ai, chỉ thấy biên chế phình ra.

- Ta kêu tiền lương bất hợp lý, hàng 10 năm chưa sửa được. ta vẫn tiếp tục nuôi số người ăn bám (loại con sâu ngân sách) và trả lương không đủ sống.

- Những người sai phạm, kỷ luật họ rất khó, sa thải họ càng khó hơn.

8. Người ta hỏi nhà du hành vũ trụ Liên Xô Ti-tốp: “Thế nào là một cán bộ tốt?”. Trả lời: “là người yêu nước và yêu nghề nghiệp”. Đúng thế: yêu nước thì yêu dân, hết lòng làm việc cho dân; yêu nghề thì trau dồi, chăm chỉ để thành chuyên gia, bác học. ở ta có khi vừa lòng cấp trên là được tất cả, như vậy làm sao có được bộ máy tinh nhuệ.

9. Bộ máy nhà nước có ba nhiệm vụ. Cả ba đều kém:

Quản lý môi trường thì có hai thành phố lớn nhất: không mưa cũng lụt, mưa nhỏ cũng lụt, rác rưởi... đâu cũng quy hoạch treo, mất rừng, mất biển... và quan trọng bậc nhất là quản lý đất đai thì lỗi thời không biết bao giờ thì chấm dứt... đâu đâu cũng cảng biển, xi măng, nhà máy đường.

Quản lý con người từ đào tạo đến sử dụng, bồi dưỡng, sàng lọc thì đều kém cỏi... không tìm được người tốt, người giỏi, thanh niên thì suy thoái về lý tưởng, đạo đức...

Quản lý về đồng tiền thì có hai loại người: có tấm lòng nhưng kém cỏi thường vứt tiền qua cửa sổ; tháo vát, thông minh thì đút tiền vào túi, bao nhiêu tiền cũng hết, thế là tiền mất, tật mang... Đồng tiền này lại quay trở lại thành công cụ làm rối ren thêm đất nước.

Bao giờ ta có người tốt quản lý đất nước từ cấp cao đến cơ sở. Đã đến lúc bộ máy nhà nước cần lên bàn để đại phẫu thuật, ghép tạng, thay máu... Nếu không ta sẽ tụt hậu dài dài.

10. Khi nói đến Nhà nước, bao giờ cũng phải lấy tiêu chí: “lấy dân làm gốc”; “của dân, do dân và vì dân”; “dân làm, dân kiểm tra”... Những điều này người ta cho là chúng ta chỉ nói cho vui vì không thấy có cơ chế, biện pháp, hình thức cụ thể để thực hiện tiêu chí này.

Đích thân tôi được nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói với bộ phận giúp việc: “Các anh làm việc theo lối thơ lại, nghĩ chỉ để nói và viết làm sao không ai bắt bẻ là được, các anh không bao giờ nghĩ để làm!”.

Các văn bản của ta đều tiến hành chỉ đạo hành động, không có lộ trình thực hiện từ A đến Z, không có căn cứ khai thác nguồn lực, không có các biện pháp cụ thể, không có thưởng phạt nghiêm minh... vì thế không thể buộc các ngành các cấp triệt để thực hiện. Có như thế, qua các đợt ta có thể điều chỉnh chủ trương, biện pháp, điều chỉnh con người... và từng việc, từng việc ta hoàn thiện bộ máy. Mặt khác, lúc nào cũng phát động nhân dân cùng làm, cùng kiểm tra với tinh thần công khai, minh bạch. Ta sẽ tránh được tự ta làm hại ta và tránh được cho nhân dân chống đối ta, mọi việc sẽ tốt đẹp. Dân là nước, bộ máy nhà nước là thuyền, nước nâng thuyền và có thể lật thuyền. Chủ trương và thực hiện, Đảng và dân, là 4 yếu tố của thành công.

C. Tham nhũng và chống tham nhũng

1. Đâu là nguyên nhân tham nhũng?

Có người cho: có tư hữu thì có nhà nước; có nhà nước thì có tham nhũng. Đông Tây, cổ kim đều thế cả. LHQ ngày nay cũng đang điêu đứng vì tham nhũng.

Có người cho đói nghèo sinh ra tham nhũng. Các nước nghèo nhất thế giới trong đó có Việt Nam cũng là những nước có tham nhũng nặng hơn cả. Mười năm trước Lê Khải Ca, đạo diễn lừng danh Trung Quốc sang Mỹ, người ta hỏi tình hình Trung Quốc, Lê Khải Ca khái quát: “Sự biến Thiên An Môn trước đây là do sự lo sợ mất quyền hành, cướp bóc về kinh tế hiện nay là do lo sợ đói nghèo”.

Tôi nghiêng về phía muốn chống tham nhũng phải làm cho dân giàu, nước mạnh, phải thượng tôn pháp luật, mọi việc phải được dân kiểm tra: công khai minh bạch như các nước giàu có nhất, ổn định nhất, bộ máy nhà nước trong sạch nhất: Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Hà Lan... kể cả Đài Loan, Singapore.

2.  ở Việt Nam, ý thức pháp luật trong nhân dân chưa cao. Người Việt Nam tuân thủ một thứ pháp luật truyền thống, không thành văn, nhưng được thể hiện qua ca dao, tục ngữ. Cũng như Hồi giáo có luật sary, Tây Nguyên có luật tục...

a) “Một người làm quan cả họ được nhờ”: Thời thuộc địa Pháp, người Pháp đã nói: “Trong đầu mỗi người An nam đều có một ông quan”. Vở chèo Lưu Bình Dương Lễ ca ngợi việc học đưa đến quan trường: “vinh thân, phì gia”. Ngay sau nạn đói 1945, bộ máy nhà nước vừa ra đời chưa được một năm, Hồ Chủ tịch đã phải lên tiếng chống tham ô, lãng phí...

Một người vào Đảng, vào bộ máy nhà nước, đã không cảnh giác với các người xung quanh, với chính bản thân mình, có khi họ trở thành tan bạo: ăn vào cả thương binh, liệt sĩ như ở Việt Nam, cả Sóng thần như ở Inđônêxia.

b) “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”; “Nhà dột từ nóc”: Người có chức cao, quyền trọng, quá thiển cận, không biết việc làm sai trái của mình sẽ thúc đẩy nhiều người làm theo. Trên thế nào, dưới như thế. Ngay đến cái ghế ngồi họp, chạm trổ cầu kỳ, nặng nề, tưởng chỉ xuất hiện ở Hà Nội, nay thấy phổ biến đến cấp Huyện... Trách nhiệm đối với tham nhũng của các cán bộ, càng cao càng nặng nề.

Làm gì cũng có người biết, người đồng phạm, người có chức quyền cao lại phải có người giúp sức... Khi vỡ lở, kẻ cấp dưới ngang nhiên thách thức: “Trạng chết thì Chúa cũng chẳng còn”, thành ra cấp trên “há miệng mắc quai”, phải bao che, lẩn tránh. Loạn càng thêm loạn.

Có người có chức quyền nhưng sai phạm, ngay chính cấp dưới của mình lợi dụng, lâu rồi khống chế chính mình như hoạn quan, có lúc chi phối cả triều đình. Lịch sử nước ta đã có tình hình như trên.

c) “Toét mắt là tại hương đình, cả làng toét mắt riêng mình em đâu”:

ở ta cái mới mà đơn độc thì bị đánh tơi bời, mặc dù là cái tốt. Còn cái xấu, một người làm sẽ bị lên án, nhưng nhiều người làm thì thành ra chấp nhận được, không bị coi là xấu nữa. Nếu việc xấu đù nghiêm trọng, những người cầm quyền làm trước thì nó vẫn phát triển như vũ bão.

“Quan trên trông xuống” đã làm ngơ, “người ta trông vào” cũng hùa làm theo, “đảng viên đi trước làng nước đi sau” thì tham nhũng trở thành phổ biến và trầm trọng là điều dễ hiểu, cũng như bao nhiêu tình hình tiêu cực trong đời sống hàng ngày.

3. Việc chống tham nhũng tỏ ra kém hiệu quả và nếu suy nghĩ kỹ thì thấy như vô hiệu.

Công khai, minh bạch là lối giải quyết hiện đại nhất, nhưng chúng ta lại “việc nhà, đóng cửa bảo nhau”, “xấu chàng hổ ai”, “con dại cái mang”, không nên “vạch áo cho người xem lưng”, “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, hay là tránh né để “không thành việc chính trị, giữ vững ổn định”... thế thì làm sao để răn đe được ai.

Người tham ô càng cao bao nhiêu càng được che dấu bấy nhiêu, gượng nhẹ bấy nhiêu, cho ên dân có câu “chỉ đánh từ vai...”.

Việc xử lý thì lề mề chậm chạp: Việc chiếm đất ở Đồ Sơn, rõ như ban ngày, nhưng nay xử lý một cách, mai một cách, nay người này ém nhẹm, người kia phanh phui, cấp nàyim lặng, cấp kia lên tiếng, tội danh là chiếm đoạt, toàn bộ tài sản, “chiếm công vi tư”, nhưng được biến hoá thành “phù thu lạm bổ”, “chấm mút”, “bớt xén”, nhẹ hơn nhiều.

Tham ô trở nên trầm trọng kéo dài bao nhiêu năm, đến năm nay mới có luật. Thời gian sẽ minh định là tác dụng luật sẽ rất thấp: Dân ta còn lâu mới sống theo điều này, khoản nọ của luật. Rõ ràng là khi Quốc hội thảo luận Luật chống tham nhũng là lúc Đồ Sơn xảy ra cuộc cướp bóc đất đai. Bản thân luật mới chứa đựng nhiều bất cập, nghịch lý: lấy bộ máy hiện hành để chống tham nhũng khác nào bắt kẻ “chân mình thì lấm bét bê, lại mang bó đuốc mà rê chân người”, làm sao thành công được.

Ông Đỗ Mười nói một câu rất hay: “Có khi ta phải chém vào tay, vào chân ta” mới giải quyết được tình hình. Người đời có câu “kẻ thù chính của ta lại là bản thân ta”. Đây mới là cái khó nhất, một bi kịch lớn nhất, là nỗi đau của dân tộc.

4. Mọi khó khăn, con người trước sau đều giải quyết được, đó là điều tất yếu. Chúng ta có thể hạn chế được tham nhũng.

Khởi tố vụ án, bỏ tù một số người, kể cả những người ở cấp cao, luôn luôn răn dạy con người, trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Cần phải có các biện pháp toàn diện mới mong cứu vãn được tình hình: thanh đảng, xếp lại bộ máy nhà nước, chọn người tin cậy và giao cho đảm nhiệm chức vụ từ cao đến thấp, đề cao trách nhiệm cá nhân, ban bố luật và thực thi luật, sửa lại lề lối, áp dụng nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch... coi tiêu chuẩn gương mẫu là không thể thiếu của người thủ trưởng, từ cấp cao đến cấp thấthực hiện. Trong khi ấy, phấn đấu để nâng cao trình độ, khả năng kinh tế. Nghiên cứu tình hình nước giàu nhất, sạch sẽ nhất để noi theo. Phát động quần chúng, tổ chức quần chúng chống tham nhũng với cơ chế rõ ràng: có tổ chức, có nhiệm vụ, có quyền hạn, với các biện pháp rõ ràng.

5. Ai cũng biết, ai cũng nói, nhưng tham nhũng ngày một nặng hơn, rộng hơn. Đâu là nguyên nhân sự bế tắc này: Phải chăng vì các người cầm đầu địa phương, đơn vị đã tránh né, không ra tay. Có thể họp muốn che dấu sợ làm xấu mặt đơn vị mình, có thể họ sợ “dứt dây động rừng”, hay là “tay họ đã nhúng chàm” mà nay họ sợ “cháy nhà ra mặt chuột”, “lạy Ông! Tôi ở bụi này”... Tôi thấy có việc, có cả 4 tình huống này.

Tham nhũng lộ mặt do quần chúng tố cáo, báo chí xuất trận. Cho nên chỉ có phát động quần chúng mới mong giải quyết được tình hình. Tôi lại thấy Đảng và Nhà nước ta rụt rè trong việc này, có lẽ sợ quần chúng nhân dân đứng lên sẽ gây ra biến động, đe doạ đến an ninh...

Bệnh thì nặng, thuộc thì độc, đó là tình thế tiến, thoái đều khó khăn.

6. Chúng ta chưa nhận thức được nguy hại của tham nhũng: bao nhiêu đảng phái tan rã, bao nhiêu chính phủ bị đổ do tham nhũng, bao nhiêu dân tộc đói nghèo triền miên vì tham nhũng. Đó là nguy cơ thực sự. Nguy cơ có thù trong, giặc ngoài xét còn xa vời, nhưng nguy cơ tham nhũng là là hiện hữu ngay trước mắt, ngay trong lòng chúng ta, nó sẽ nhấn chìm tất cả.

Ta luôn luôn nói: “Học tập theo gương Bác Hồ” nhưng chúng ta không làm theo Bác Hồ: chống tham nhũng từ lúc ban đầu có Đảng và Nhà nước, bản thân Người sống đạm bạc, một phần do bản chất, nhưng cũng có thể một phần để có tác dụng gương mẫu.

Ông Đõ Mười, cầm một món tiền lớn của nước ngoài, ai cũng biết, thế nhưng ông vẫn hiện diện ở vị trí người đại diện cao nhất của Đảng ta, nước ta, kể cả ở những ngày lễ lớn nhất, không ít người tỏ ra bức xúc và lo ngại, nghĩ rằng Đảng và Nhà nước không biết có thực lòng chống tham nhũng không?

 

D. Ruộng đất và nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

a) Ruộng đất: Có tình trạng người người lấn chiếm đất, lấn chiếm tất cả các loại đất, lấn chiếm lớn và vụn vặt, nhiều khi trắng trợn, không còn phép nước, không có tình người. ở từng địa phương, nhân có việc xây dựng cơ bản, có các chương trình, hình thành một đường dây tham nhũng thông qua đất đai: ra quyết định, tổ chức thu hồi đất, giao đất, bán đất... đầu cơ để lấy chênh lệch, để có đất ban phát cho người thân... thị trường nhà đất sôi động, thực chất là mua đi bán lại... Thị trường gần đây đóng băng vì thủ đoạn quá lộ liễu, vì giá ngất trời, người có nhu cầu không thể đủ sức mua... Khiếu kiện đến mức nghẹt thở... một vài tỉnh đã lộ diện những lãnh chúa: chiếm đất rộng mệnh mông để “làm trang trại”.

Từ đầu óc: không công nhận sở hữu tư nhân, rồi buông lỏng quản lý, vẫn giữ quyền chi phối đất đai trong tay nhà nước, tức là quyền thuộc về các cấp chính quyền, tham nhũng được mở cửa, đó là hệ quả thứ nhất.

Hệ quả thứ hai là các giao dịch dân sự hỗn loạn, cản trở phát triển. Nông dân trồng mía, giá thị trường thấp, nông dân bán mía theo hợp đồng cho nhà máy đường, giá mía thị trường cao, nông dân liền “xù”, bán mía cho tư thương. Nhà máy có kiện ra Tòa thì cũng không tịch thu được ruộng đất vì ruộng đất nông dân chỉ được “tạm giao”. Xã hội hoá giáo dục, Bộ giáo dục đào tạo, họp đi, họp lại, trong Nam, ngoài Bắc, tiêu tốn bao nhiêu tiền... hỏi ông Thứ trưởng: trường dân lập sở hữu là của ai? Ông trả lời thật là thanh thoát: sở hữu thuộc về cộng đồng - không rõ “cộng đồng” là ai? Mười lăm năm rồi, trong đầu óc lãnh đạo ngành giáo dục “dân lập” thực chất là “tư thục” còn chưa dứt khoát.

ở Hải Phòng, thành phố loại I, có trường Đại học dân lập loại lớn của cả nước, ba năm trời, đấu đá giữa Hiệu trưởng và Hội đồng quản trị xem ai là chủ. Hết đoàn nọ, đến đoàn kia về thanh tra, kiểm tra, vẫn chưa phân định thắng thua.

Giải phóng mặt bằng, trả tiền đất cho nông dân theo giá thấp, nông dân không thể mua đất theo giá đầu cơ, tranh chấp kéo dài, kế hoạch xây dựng cơ bản chậm hàng mấy năm...

Hướng giải quyết đất đai thì đi vào ngõ cụt: bối rối, làm đi, làm lại, sai rồi sửa. Luật nặng về phục vụ cho thị trường bất động sản, cho việc di dời, giải tỏa, chưa hé mở được con đường tiến lên của đất đai, nhằm phục vụ cho phát triển.

C. Mác nói thật đúng “ở đâu, sở hữu không được xác lập thì ở đó sinh ra hỗn loạn”.

b) Nông nghiệp và nông thôn.

ở nơi đất rộng người thưa thì có di dân tự do, phá rừng bừa bãi, cán bộ gian tham “xẻ thịt đất đai”, chia chác lập “trang trại”, kinh doanh sản xuất thì kém, hoang hóa thì nhiều, cốt là để giữ đất... Các nông trường quốc doanh làm ăn kém, giao đất cho nông trường viên và thu sản phẩm, thực chất là địa tô. Sẽ có làm nhà, sinh con đẻ cái, tách hộ. Đất đai xa mạc hóa, kinh tế trở thành tiểu nông, các làng xóm ra đời... kinh tế nhỏ lẻ, năng suất thấp, không ổn định, công nghệ sau thu hoạch yếu kém, sau 20, 30 năm giá trị xuất khẩu thấp, thu nhập bình quân/ha thấp so với các nước xung quanh. Thị trường ngoài nước mà coi Trung quốc là chính thì thật là bấp bênh. Lưu thông qua thay thương lái thì mất tiền và không ổn định. Có được vài mặt hàng độc đáo nhưng không tìm được thị trường: mận, vải, hoa quả ở miền Nam.

Mục tiêu, từ các miền đất rộng và phì nhiêu được khai thác xuất khẩu để làm giàu đất nước, có thể nói là chưa làm được bao nhiêu.

ở nơi đất chật, người đông, đã có điện, cơ giới nhỏ, có giống lúa năng xuất cao, nạn đói không còn, lao động bớt cực nhọc. Ruộng đất manh mún, một mẫu bắc bộ có đến 4,5 mảnh, đường ruộng chi chít, đất đai suy thoái vì quá nhiều phân đạm và thuốc trừ sâu, môi trường ô nhiễm, tôm cá cạn kiệt... Sản xuất lúa thì trả tiền phân, thuốc trừ sâu, công cày, bừa, tuốt lúa cho cơ giới nhỏ, số lãi còn lại rất nhỏ. Thời gian nông nhàn còn nhiều, thanh niên không có việc làm... Có thể chăn nuôi, trồng trọt thêm nhưng sản phẩm khối lượng nhỏ bé, không tạo được thị trường, thành bó tay.

Các chính sách đối với nông thôn, nông dân, nông nghiệp như xóa đói giảm nghèo thì bấp bênh: có thiên tai, có bệnh tật là  một phút thành quả tiêu tan; các chính sách xã hội, y tế, giáo dục khác nói thì to, có bài bản nhưng tiền thì quá “hẻo”, bộ máy lại thiếu nhiệt tâm nên hiệu quả thực tế nặng về tuyên truyền cổ động, để các tổ chức quốc tế có điều kiện “bốc thóm” chúng ta.

Báo chí nói rất nhiều cựu chiến binh, người tàn tật làm trang trại, nhưng xét nó là thành quả của một con người cụ thể,  của một môi trường cụ thể, tính phổ cập không rõ ràng, nông dân coi đó là bài học đạo lý hơn là một việc mình cần làm và có thể làm. ở nơi có xây dựng cơ bản, có thu hồi đất đai, có giải phóng mặt bằng, nạn tham nhũng và đầu cơ làm cho mâu thuẫn giữa nhà nước và nông dân nóng bỏng. Hiện nay cấp xã chỉ làm việc quản lý hành chính, việc quy hoạch, chương trình, kế hoạch hướng dẫn sản xuất coi như bỏ ngỏ. Người nông dân cá thể không tiền vốn, không có trình độ, loay hoay, bế tắc, không biết làm gì.

Loại việc mà người ta gọi là “mục tiêu thiên niên kỷ” theo tôi là khó thực hiện: đói nghèo là ở nông thôn, sinh đẻ không kế hoạch là ở nông thôn; sản xuất lệ thuộc thiên nhiên, nhiều nơi công cụ vẫn thô sơ, hàng chục năm giá trị không tăng; chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, cũng chính là giữa thành thị và nông thôn; các tệ nạn xã hội, nhũng bức bối ở thành thị: mại dâm, trộm cắp, ma túy... một phần lớn từ nông thôn mà ra. Thiên tại: bão lụt, hạn hán, lũ quét, vỡ đê là việc xảy ra ở nông thôn.

Nông thôn, nông nghiệp vẫn là nền tảng cuộc sống  của đất nước ta. Dân số trong nông thôn chiếm hơn 70%. Thế mà mặt này lại thành một góc khuất. Tôi vô cùng băn khoăn vì chưa tìm được một thông tin nào về một quốc gia 70% nhân dân là nông dân, với đơn vị  sản xuất là hộ nông dân, đất đai manh mún, kỹ thuật lạc hậu mà có thể tạo được một xã hội dân giàu, nước mạnh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, văn minh, dân chủ...

c) Cải tạo nông thôn, nông nghiệp, coi như một cuộc cách mạng, cần phải có suy nghĩ kỹ càng, một cuộc vận động sâu rộng, toàn diện, tóm lại một chính sách, một tư duy độc lập. Với công nghệ thông tin, cầu đường, điện, đóng tàu biển... ta có thể học một cách máy móc các nước tiên tiến. Còn cải tạo nông thôn có lẽ chỉ riêng có ở ta - ở các nước tiền tiến việc này xảy ra trước 200, 300 năm - thời các cụ của các chuyên gia đang làm việc ở Việt nam lúc này.

Vì lẽ đó, tôi không dám nói nhiều. Với suy nghĩ nông cạn của tôi, chỉ xin đề xuất 2 việc:

         1.Phải công nhận quyền sở hữu cá nhân về ruộng đất cho nông dân, một cách trọn vẹn.

Làm như vậy sẽ thúc đẩy người nông dân có ý thức, có quyền tự do định đoạt tài sản của mình. Họ có thể đổi ruộng cho nhau để sản xuất thuận lợi; có thể bán, mua theo lợi ích riêng...; họ có thể chung gom để sản xuất lớn, theo lối công ty; người có vốn, có kỹ thuật có thể tự mình mua bán đất, thuê đất để sản xuất quy mô lớn; Quyền sở hữu trọn vẹn đất đai sẽ mở ra một con đường mới, sản xuất lớn, mở rộng cánh cửa để công nghiệp hóa, hiện đại hóa...

Ta hãy quên đi khẩu hiệu “người cày có ruộng” mà thay bằng “người công nhân nông nghiệp có máy móc”.

1.     Phải ra sức thu hẹp sản xuất nhỏ lẻ bằng cách mở mang dịch vụ mọi mặt phục vụ nông nghiệp: cơ khí, vận tải, phân bón, thủy lợi, điện... Trên tất cả các việc là tìm ra nguồn tiêu thụ sản phẩm, khâu ngoại thương sẽ giữ vai trò chủ yếu.

Cho phép người nước ngoài vào kinh doanh nông nghiệp. Đó là người thầy rất tốt cho chúng ta để mở rộng quy mô sản xuất.

Dần dần, người trực tiếp lao động trên đồng ruộng, trang trại chăn nuôi, càng ngày càng ít đi, tỷ lệ nông dân trong dân số do đó cũng ngày càng thấp đi.

d) Nghĩ về nông thôn, nông dân, có người bực tức cho rằng Đảng và Nhà nước coi nhẹ nông thôn; họ còn cảnh báơ mọi biến động sẽ bắt nguồn từ nông thôn. Có người bực tức kêu lên: “Suốt ngày đón rước, lễ bái, hội họp, không còn thời gian để học triết học”. Tôi nghĩ, nếu khoan dung, loại bỏ cái vỏ khiếm nhã của câu nói, mà chỉ xét đến cái lõi, thì có lẽ câu này gợi mở cho chúng ta nhiều suy nghĩ.

 

Phần III

Lại bàn về đảng

 

A. Về đường lối chiến lược của Đảng, nhiều người tìm hiểu nhưng không hiểu. Ngay từ “xã hội chủ nghĩa” có nội hàm thế nào cũng chưa rõ. Cụm từ “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” lại càng khó hiểu hơn.

So sánh sự khác nhau, cũng là một cách định nghĩa. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khác với mọi nền kinh tế khác ở điểm nào, có định hướng XHCN và không định hướng XHCN về cơ bản và về cụ thể, có những khác nhau ra sao, chưa bao giờ được đề cập.

Đi sâu vào các chính sách về từng mặt, từng ngành, tìm ra những điểm chung, tìm ra hệ thống, khái quát lên cũng có thể tìm ra hướng chủ đạo, con đường đi lên của đất nước do Đảng đề ra. Rất tiếc là các chính sách của ta, có cái có dạng bao cấp, có cái giống nước này, nước kia, có cả Âu và á, có cái học phương Tây, có cái của phương Đông, nhiều cái ứng phó với tình hình, chắp vá, làm rồi sửa, nói rồi lại quên, có cái không hiểu vì sao lại có, các văn bản về đường lối thường như là bài văn hơn là một cẩm nang của hành động, nó được nhắc đi nhắc lại, tháng năm này qua tháng năm khác, ở nơi này cũng như nơi kia.

Nhiều người nhận xét là Đảng ta đang khủng hoảng về ý thức hệ, nghĩ  cũng không có gì là quá đáng.

 

B. Thời thế đổi thay, đất nước lâm nguy, thường xuất hiện các cá nhân kiệt xuất. Họ có các tư chất đặc biệt: nhìn xa trộng rộng, nắm bắt thời cơ, bao giờ cũng nhìn được cái lõi của sự kiện, của tình hình, vạch ra được đường lối lâu dài và trước mắt... họ đoàn kết được mọi người, ứng phó hữu hiệu với thù trong, giặc ngoài, cân bằng giữa các thế lực bên ngoài để có độc lập tự chủ, lôi kéo được mọi người vào công việc chung, kể cả những người có bất đồng... họ từng trải gian nguy, vào sinh ra tử... họ có đời sống riêng tư làm cho mọi người khác ngưỡng mộ... Họ là các vị Thánh theo tâm thức á đông của dân ta. Họ được người dân suy tôn và công nhận là lãnh tụ.

Nhiều người buồn phiền vì thấy các vị lãnh đạo đất nước hiện nay tầm vóc xa vời so với nhiệm vụ. Điều ấy cũng dễ hiểu: các vị lãnh đạo hiện nay xuất thân từ các viên chức thời bình, tiến dần lên theo thang bậc hành chính, trong khung cảnh một bộ máy nhà nước nhiều khuyết tật. Thời đại mới lại đòi hỏi thêm những tiêu chí mới đối với những người cầm đầu đất nước: vì phải làm ăn, phải sử dụng đồng tiền nên cần có đầu óc của nhà tài phiệt như Bush, Beclucconi, Thatsin...; vì phải công nghiệp hoá đất nước đòi hỏi phải có những người nhìn nhận được sự phát triển của khoa học, duyệt được các kế hoạch vĩ mô, như kiểu Clinton, Chirac, Lý Quang Diệu... và để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước, cân bằng được lực lượng các nước lớn, ứng phó mọi thách thức như các chính khách Putin, Đặng Tiểu Bình...

Các vị lãnh đạo như của chúng ta, ở Indonesia họ gọi là “các viên chức lớn”, thiếu cả những điều kiện của các bậc đi trước, thiếu cả những điều kiện phù hợp với thời đại hiện nay.

Suy cho cùng, cũng không phải là thiếu sót của một ai. Đó là những vấn đề của lịch sử. Tháng 6/2005, ông Hữu Thọ trả lời phóng viên: “Trong lịch sử chúng ta, triều đại nào cũng thế, bao giờ Thái Tổ, Thái Tông cũng tuyệt vời, nhưng sau Tổ, Tông thì con cháu bắt đầu hư hỏng, ăn mòn vào cái vốn của ông, cha để lại”. Phải chăng, sau cách mạng và chiến tranh, ta đã ngủ quên qua lâu, cuộc sống mới đã làm ta quên dĩ vãng, một dĩ vãng rất gần. Lề lối làm việc; cách chọn và bồi dưỡng nhân tài, vai trò của người cầm đầu, trách nhiệm trước dân, cơ chế giám sát đều bất cập đã đưa đến tình trạng hiện nay...

Khao khát một người kiệt xuất, xung quanh là một bộ máy gồm những người tài giỏi, hiện đang nóng bỏng trong nhân dân.

Nói rằng, chúng ta  khủng hoảng về lãnh tụ là rất đúng.

 

C. Khủng hoảng của quan hệ giữa Đảng và Dân đã xảy ra, không thể chối cãi.

Đảng và Dân khăng khít, hữu cơ như hai mặt của một đồng tiền.

Mối quan hệ này, nay đã thay một bộ áo mới, với con người mới, với các suy nghĩ mới. Trước đây, toàn dân chỉ một ý chí: không có gì quý hơn độc lập tự do. Toàn dân trình độ văn hoá còn thấp, hiểu biết thế giới hạn chế... Mọi người đều sống đạm bạc như nhau, công việc tuy gian khổ, khó khăn nhưng giản đơn một phía... Các người cầm đầu, vào sinh ra tử, nói là làm. Lúc này hô hào và thực hiện “Đoàn kết... thành công” là đương nhiên vì toàn dân một mục tiêu, một ý chí, một quyền lợi. Nay tất cả đã thay đổi, có khi là lật ngược... Ngay trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, kỷ luật sắt, ăn lương tháng, mà “trên bảo, dưới không nghe”, trong Đảng phải nêu ra 19 điều cấm kỵ, mà có người cho đó làm mất quyền công dân, là vi phạm điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật. Làm sao có sự đoàn kết giữa người mãi mãi nghèo bên cạnh những người giàu lên rất nhanh mà không gọi lên được nguyên nhân. Làm sao, tôi đã đọc sách báo, tôi đã đi qua nước nọ, nước kia, đã quan sát họ, đã suy ngẫm về mình, mà Đảng và Nhà nước cứ bắt tôi nghe và làm mà không được bàn soạn, lại bắt chỉ được bàn soạn để thực hiện, không được phản biện... Hơn thế nữa, ngay hôm nay vẫn hô hào khẩu hiệu: “Đoàn kết ... đại thành công”, không dám nhìn thẳng, hoặc thấy mà làm như không muốn thấy là đoàn kết giữa Đảng và Dân đang bị thương tổn nặng nề.

Đảng như Achille, bất khả chiến bại vì bàn chân để trên Đất Mẹ đó là nhân dân. Trước đây, Đảng là như thế, nhưng nay Đảng  như một “Achille mới”, moi đất ở dưới chân mình, mỗi ngày một tý, và càng ngày cái hàm ếch càng cao hơn, sâu hơn, rộng hơn... sự nguy hiểm đã gõ cửa.

 

D. Về việc chuẩn bị Đại hội X:

1. Về nhân sự:

Tôi vẫn giữ nguyên tắc: Bầu ban Chấp hành mới là bầu những người để thực hiện Nghị quyết mới, đường lối mới, biện pháp mới... là vì việc mà tìm người. Đường lối mới đang được các cấp bàn thảo, nó thế nào chưa được tổng hợp, phân tách... Thế thì cái đầu còn chưa xuôi, ta đã quyết định cho lọt cái đuôi.

Các nguyên tắc chọn người theo bằng cấp, tuổi tác, thành phần giai cấp, dân tộc, nam, nữ, mới cũ... mà ta gọi là cơ cấu sao cho đủ mặt, sao cho đẹp, như là một thói quen khó sửa mà quên tiêu chí của người lãnh đạo: đứng đầu toàn Đảng, đứng đầu toàn ngành, đứng đầu từng địa phương, từng lĩnh vực hoạt động của đất nước, có khả năng thực hiện nghị quyết mà toàn Đảng đề ra.

Cho đẹp nhưng thiếu hiệu quả, nên một vài người cầm đầu khuynh loát tất cả, những người đẹp mã chỉ có cách là vâng theo... tất yếu sẽ đi vào sai lầm và suy thoái.

Việc đầu tiên là tìm ra người đứng đầu. Coi như là lãnh tụ. Cơ chế để thực hiện phải là sự góp ý của cơ sở, các ngành, các cấp, các nhân vật tiêu biểu của đất nước, phải có sự trao đổi rộng rãi gần như là cuộc bầu bán... Những ứng viên phải được công bố rộng rãi để lấy ý kiến đa số...

Cũng theo cách này, ta tìm những người ưu tú của các ngành hoạt động: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tham gia Ban chấp hành. Nói một cách khác, việc chọn lựa là rộng rãi, dân chủ, công khai.

Việc chọn lựa ban chấp hành mới, nếu suy nghĩ kỹ, có lẽ là một cuộc quyết chiến chiến lược để dành lấy sự tồn tại của Đảng, một sự bứt phá để đưa đất nước tiến lên.

Đảng ta tồn tại hay không tồn tại, chính là việc có chống được tham nhũng hay không. Tôi đã đọc báo thấy một nhà văn hoá mà tôi quên tên, ông đã tức bực khi thấy có một cuộc họp bàn về một vấn đề văn hoá dân tộc: “Bọn tham nhũng, làm sao có thể bàn về văn hoá dân tộc được”. Cho nên rất nhiều người muốn rằng những người có thể tham gia ban chấp hành mới, những người là đại biểu đi dự Đại hội đều phải kê khai tài sản, công bố rộng rãi, trước khi Đại hội họp một thời gian cần thiết và hơn thế nữa, là không có những nghi vấn tham nhũng.

2. Về đường lối:

Tôi đã đọc bản hướng dẫn thảo luận dự thảo nghị quyết ở cơ sở. Tôi thấy nó dàn trải quá, chung chung quá... không thể bảo là sai, không thể nói là đúng, cái có thể nói là nó tù mù, đọc xong không thể nắm được gì, không biết phải làm gì.

Cũng dịp này, tôi vô tình đọc được các bài viết của hai nhân vật trụ cột của việc làm dự thảo: ông Hồng Hà và ông Nguyễn Khoa Điềm.

Phóng viên hỏi: “Khái niệm về nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hình như chưa rõ ràng”. Ông Hồng Hà trả lời: “Ta cứ làm rồi sáng tỏ dần, cứ đọc văn bản trên đưa xuống sẽ hiểu”, “đến Đại hội X thể nào cũng rõ...”. Thật là tù mù, một vấn đề đặt ra hơn 20 năm mà nay còn chưa nói được rõ!

Ông Nguyễn Khoa Điềm tổng kết hội thảo “Văn hoá Đảng...” bằng những lời tốt đẹp vô bờ bến, nhưng văn hoá Đảng là gì, có tiêu chí thế nào, nó giải quyết các mối quan hệ theo nguyên tắc gì, nó là văn hoá dân tộc nhưng nó có đặc thù ra sao... v.v... Chỉ có ca ngợi, cũng là một dạng của tù mù.

Tôi lo lắng là dự thảo đường lối cũng cùng một dạng nói trên. Tôi đã đọc một tài liệu về cuộc đảo chính của Pinôchiê ở Chilê; người ta nhận xét Đảng Cộng sản của Agienđê mắc một sai lầm là các bài viết và nói đều dùng một văn phong mà người dân thấy xa lạ. Cách viết đã làm giảm uy tín của Đảng.

Nhiều người mong mỏi Đề cương chỉ nêu lên vài vấn đề then chốt, có các điểm đột phá: làm một việc mà dọn dẹp được nhiều việc khác, làm một việc mà tạo ra thành công ở nhiều việc, đó là mong mỏi của toàn Đảng, toàn dân. Toàn đảng, toàn dân sẽ nức lòng thực hiện theo tiếng gọi của Đảng. Đấy là thành công, đấy là sự tồn tại của Đảng trong vinh quang. Đề cương phải được góp ý kiến rộng rãi một cách thực sự.

Chúng ta lúng túng về nội dung hay lúng túng về việc thể hiện, hay là chúng ta lúng túng về cả hai, cái nọ lại làm cho cái kia bế tắc. Giai đoạn đầu chúng ta tung ra nội dung để thảo luận, giai đoạn hai chúng ta thu về để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Nếu chúng ta không có được điểm gì mới, không có được điểm đột phá, thì chúng ta sẽ không thể chối cãi là chúng ta đã không thành công, chúng ta đã gây lãng phí sức người, sức của. Thủ phạm không ai khác là cái bệnh tù mù, mọi người sẽ công nhận lời nói của một số người: “Đại hội, cái chính chỉ là nhân sự”.

E. Đảng ta như một kỵ sĩ mệt mỏi, bộ máy Đảng và Nhà nước như con ngựa bất kham, què quặt, trong tay kỵ sĩ có bản vẽ chỉ đường, nhưng xem mãi cũng thấy như không phù hợp với thực địa, trời đã về chiều, làm sao tới đích được trước khi trời tối.

 

Phần IV

Nghĩ về việc đổi mới chính trị

 

1. Trên những nét lớn, sự suy thoái của Đảng đã biểu hiện rõ rệt: đường lối chung chung không rõ ràng, với những khẩu hiệu khó hiểu... Trong những người lãnh đạo chủ chốt không có ai được dân tín nhiệm đến mức suy tôn là lãnh tụ. Các chính sách lớn: giáo dục, tổ chức, nhân sự, đất đai, xây dựng Đảng, trên một mặt nào đó cả về ngoại giao, thì nói rồi không làm hoặc nửa chừng bỏ dở và mấy mặt lớn ấy cứ lúng túng kéo dài, không lối thoát. Nạn tham nhũng tràn lan, phá phách nội bộ Đảng, quan hệ đảng và dân...

Bao trùm lên các mặt suy thoái này, nhiều người nghĩ đến việc Đảng đã che dấu. Nhiều người cho rằng Đảng ta coi như bó tay trước nhiều đòi hỏi của dân, của thời kỳ mới, của sự phát triển.

2. Nhiều người suy nghĩ về thể chế chính trị mà Đảng muốn thực thi.

Muốn duy trì sự lãnh đạo khi đã suy thoái, thường phải phát xít hoá.  Nhưng nếu muốn cũng không làm được: dân ta nay đã hiểu biết nhiều; từ thôn xóm đến trung ương. không thiếu những người vào sinh ra tử, thành thạo đấu tranh chính trị, đầu óc luôn: tự do hay là chết, liệu có thể dập tắt được ngọn lửa thần này không? Ta có những tổ chức như: chống bạo loạn, đòi nọ, đòi kia... Các tổ chức này đã có lúc ra quân nhưng xem quá nhún nhường trước đàn bà, trẻ em, người già... Ta thiếu hẳn một đội quân phát xít, sẵn sàng bắn vào đám đông, vào bà con họ hàng của mình và coi đó là một hành vi yêu nước. Nước ta nhiều nước biết đến, xảy ra biến động họ sẽ lên tiếng, các nước lớn dễ dàng thâm nhập để chi phối nền chính trị, kinh tế của ta...

Muốn chia sẻ thực quyền, mở rộng dân chủ, đa nguyên, đa đảng thì đảng viên không chấp nhận vì sợ mất quyền, mất lợi lộc. Nhiều người chưa hiểu đa đảng là như thế nào nên có hiềm nghi! Nhiều người chưa hiểu thực trạng Đảng ta và vẫn nghĩ là ta vẫn mạnh, ta như người có bệnh nhưng vẫn ăn ngủ được nên không lo lắng. Có những người im lặng và chờ đợi, và phương châm là “thiên hạ thế nào, ta thế nấy...”.

Muốn gắng gượng duy trì thực trạng, cố gắng tự thân vận động để tiến lên. Xem ra sự gắng gượng rất mệt nhọc và tương lai mờ mịt vì nhiều mặt cứ xuống, những khó khăn vẫn chất chồng. Cái khó lớn nhất là sức thuyết phục, sức mạnh quyền uy không còn trong nội bộ và giữa Đảng và dân. Chờ đợi, tôi không hiểu chờ đợi cái gì và làm sao sự chờ đợi không uổng công, trong khi chờ đợi thì làm gì để tiến lên, dựa vào con người nào, ai chèo lái...

Trong ba hình thức, Đảng đang duy trì hình thức kéo dài và chờ đợi. Tôi tin không có phép mầu nào cả. Càng kéo dài càng bế tắc. Đó chỉ là vấn đề thời gian, sự đổi thay như đã được báo trước.

3. Hàng ngày, dù không muốn, ta cũng tiến dần đến đa nguyên, đa đảng:

Ta luôn có luật mới, có việc thay đổi luật, quy chế, thể lệ, phương pháp... với các lý do không úp mở: để phù hợp với thông lệ quốc tế; để hoà nhập, theo chuẩn mực quốc tế; thể theo công ước này, thoả thuận kia; theo sự khuyến cáo của tổ chức này, hiệp hội nọ. Tất cả những lời hay ý đẹp này là của những nước tư bản, đa nguyên đa đảng. Từ những điểm thấp nhất đến những vấn đề cao nhất, ta tiếp thu của họ, mặc nhiên ta chấp nhận chế độ chính trị của họ rồi còn gì. Gần đây rộ lên nguyên tắc: công khai, minh bạch mà ta rất thích thú. Công khai, minh bạch là phải có đối tác, có giám sát lẫn nhau... đây chả là nguyên tắc cơ bản của đa nguyên đa đảng là gì. Ta như cô gái quê, “mỗi lần ra tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Một lần, lại lần nữa ra tỉnh, mỗi lần là mỗi thay đổi, cuối cùng có thể bay hết... Oái oăm thay, cô vẫn nhận mình là “chân quê”. Ta hoà nhập, ta không hoà tan, nhưng cái mới, cái tiến bộ có sức lôi kéo đến kỳ lạ. Gần 100% nhân loại theo cái gọi là đa nguyên đa đảng, số còn lại khoác cái áo cộng sản nhưng trong lòng thì ở phía bên kia. Hơn thế nữa, cái đa số lại có sức mạnh kinh tế vô biên đến mức ta rời họ ra, chắc sống sẽ khó khăn, hay là không sống nổi. Kỳ lạ hơn nữa là bao nhiêu năm qua, chúng ta chỉ được nói mặt đẹp của chủ nghĩa cộng sản, mặt xấu của chủ nghĩa tư bản, nói ngược lại là đã coi như phạm tội. Ta vẫn không thoát khỏi cái định kiến của ông, cha: họ ta đều người tốt, làng ta hay hơn các làng khác, cái gì của ta cũng tốt hơn của người. Nguy hiểm hơn là các nước tư bản luôn có sức ép ta theo họ, mà ta không cưỡng lại được.

Thay đổi về kinh tế tất yếu đưa đến thay đổi về chính trị. Đa nguyên, đa dảng, tôi thấy nó cứ dến dần, ngoài ý muốn của chúng ta.

4. Tôi chấp nhận đa nguyên, đa dảng, cũng mong mỏi Đảng ta chấp nhận đa nguyên, đa đảng, với nhiều lý do:

Trước đây ta đã nói đến 3 dòng thác, các dòng thác này lúc ấy như sóng thần có thể lôi kéo toàn thể nhân loại vào trong lòng nó. Gần một thế kỷ qua, nó tỏ ra không phải là như thế. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản, nó không dẫy chết và nó vùng lên như áp đảo tất cả. Ta không thể tránh khỏi dòng thác này, trong khi đối nội ta nhiều bất cập quá, mà cái nguyên nhân là do ta khư khư giữ cái gọi là chủ nghĩa xã hội, dù có thêm cái đuôi kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN... cái khẩu hiệu tù mù này cũng làm rõ sự suy yếu của ta. Ta cố tránh cái mà ta không thể tránh khỏi, đó là điểm thứ nhất.

Thứ hai, xét cho cùng đa nguyên đa đảng, trong thực tế có những ưu điểm có thể nâng cao kinh tế, văn hoá, đạo đức của nhân dân ta.

Phản biện sinh ra chân lý. ở chế độ họ, bao nhiêu cuộc tranh cãi đông người, ít người, việc lớn, việc nhỏ, trưng cầu dân ý, bỏ phiếu để đi đến một kết luận. Có chân lý mới có thành công.