Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nguyễn Thanh Giang: “Gáy lên đi... cho người người tỉnh thức” |
25.10.2006
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8381&rb=0306
Sau khi Nguyễn Khắc Viện đi thăm
Cuba về, Fidel Castro nói với Ðại sứ quán ta tại Cuba rằng: Ðời tôi bị thiệt
thòi là không được gặp chủ tịch Hồ Chí Minh khi ngài còn sống, nhưng để bù lại,
tôi được gặp ba người làm cho tôi rất vui lòng: một là đại tướng Võ Nguyên Giáp,
hai là ông Nguyễn Khắc Viện, ba là lão anh hùng Núp.
Tiến sĩ sử học Pháp Charles Fourniau gọi Nguyễn Khắc Viện là "Bậc thầy về những
vấn đề Việt Nam”. Hai nhà văn Mỹ David Marr và Jayne Werner khi đề tựa cuốn
Tradition and Revolution in Vietnam đã viết: Nguyễn Khắc Viện là người duy
nhất có tư cách nói về Việt Nam với công chúng phương Tây.
Cho đến bây giờ người ta vẫn không biết dùng tước danh nào đối với bác sĩ Nguyễn
Khắc Viện cho thoả đáng nhất.
Vì ông viết nhiều về lịch sử Việt Nam bằng tiếng Pháp và dịch Truyện Kiều
sang tiếng Pháp với cả tâm hồn rất thi sĩ nên Viện Hàn lâm Khoa học Pháp gọi ông
là nhà thơ, nhà sử học. Vì ông có nhiều bài viết giầu chất suy nghĩ đăng trên
các báo trong, ngoài nước nên nhiều người gọi ông là nhà báo. Vì ông đã sáng lập
và lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em nên một số cơ quan y tế, giáo dục gọi
ông là nhà tâm lý học. Một số trí thức trong và ngoài nước hiểu thấu đời ông gọi
ông là một sĩ phu hiện đại. Học giả Ðào Duy Anh gọi Nguyễn Khắc Viện là học giả.
Nhà báo Trường Giang gọi ông là nhà văn hoá.
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh thấy ở Nguyễn Khắc Viện: “Một nhà nho trong một người cộng
sản, một trí thức cao cấp trong một cán bộ bình thường, một nhà nghiên cứu trong
một ký giả”. Năm 1993, trong lễ mừng thọ ông 80, một người bạn tâm đắc đã tặng
đôi câu đối:
“Trí ngoại hạng. Dũng siêu cường. Chí khí như Anh, Trời một góc.
Gần thấy vui. Xa tìm đến. Tinh thần thế ấy, Người muôn năm.”
Một thầy đồ già tặng bức trướng đỏ thêu mấy chữ Hán: “Học nhi bất quyến, hối
nhi bất quyện”.
Thật vậy, chính cái đức “Học không biết chán, dạy người không mỏi” cùng với cái
tư chất “Chí khí trời một góc” đã tạo nên một Nguyễn Khắc Viện như tấm gương
sáng để đời.
Một nghị lực phi thường
Nguyễn Khắc Viện sinh ngày 5 tháng 2 năm 1913 tại làng Gôi Vỵ, xã Sơn Hoà, huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông học trung học ở Collège Vinh rồi chuyển vào Quốc
học Huế học để thi lấy bằng Thành chung vào năm 1931. Sau khi đỗ xuất sắc ba
bằng tú tài ở Trường Bưởi (1934) và học hết năm thứ hai ở trường đại học Y Hà
Nội (1937), ông du học tại Pháp và đã lấy thêm hai bằng: bác sĩ nhi khoa và bác
sĩ về các bệnh nhiệt đới vào năm 1941.
Trong thời gian học nội trú rồi làm việc tại Bệnh viện Trẻ em Trousseau ở Paris,
do ít người, nhiều việc, ban ngày làm việc liên tục lại cứ hai đêm phải trực một
ca nên một buổi sáng tháng 1 năm 1942, ngủ dậy, ông khạc ra máu. Thời bấy giờ
lao bị xem là một trong tứ chứng nan y. Tuy nhiên, mặc dầu chưa có thuốc đặc trị
nhưng nhờ được nghỉ ngơi tại viện điều dưỡng ở thành phố Grenoble suốt hơn một
năm trời, vốn có thể trạng tốt và nhờ kiên trì luyện tập dưỡng sinh, đầu năm
1943 sức khoẻ của ông tạm thời ổn định. Ra viện, ông lao vào công tác Việt kiều
trong hoàn cảnh vật chất thiếu thốn nên cuối năm 1943, bệnh lại tái phát nặng
hơn trước. Lần này, cả một thuỳ bên phổi phải bị xơ hoá, đờm khạc ra đầy vi
khuẩn BK. Vì vẫn chưa có thuốc đặc trị, thầy thuốc đề ra biện pháp là phải giữ
tư thế gần như bất động và cấm khẩu. Suốt một năm trời nằm im trong phòng một
mình và hầu như không nói một câu nào với bất cứ ai, bệnh có thuyên giảm. Sau
khi sức khỏe tương đối được hồi phục, bệnh viện lại yêu cầu phải phẫu thuật mà
trước hết là cắt sườn. Lần thứ nhất cắt 2 xương sườn với điều kiện chỉ được dùng
thuốc tê chứ không được gây mê. Kéo cắt sườn giống chiếc kéo cắt sắt được chọc
xuyên vào xương giữa cột sống. Cắt xong khâu lại, chờ một thời gian sau lại mổ
ra để cắt tiếp 2 cáí nữa. Riêng việc cắt 6 sương sườn đã cần phải mổ tất cả 3
lần, ròng rã trong một năm.
Năm 1946, ông được chuyển sang làm việc tại một viện điều dưỡng ở thành phố
Lourdres, vùng Pyrénées. Ðược gần một năm, sức khỏe có đỡ hơn nhưng vẫn khạc ra
đờm có BK. Lại phải phẫu thuật. Lần này ông bị khoét một lỗ lớn sau lưng. Hàng
ngày bác sĩ nhét đầy gạc vào trong phổi để hút hết đờm và các phần phổi đã hư
nát ra ngoài. Chỗ phổi nào thấy bắt đầu có sẹo thì dùng nitrat bạc để đốt cháy.
Qua 4 năm trời liên tục như vậy những miếng phổi hư nát bị tống hết ra ngoài.
Ðầu năm 1957 ông lại phải lên bàn mổ để vá vết thương lưng, cắt 2 cơ lớn sau
lưng, ép nó vào cái lỗ, bịt lại, khâu da. Ít lâu sau, phần màng phổi bên phải, ở
chỗ cơ hoành bị tê liệt, phát mủ và tuôn sang bên trái làm cho phổi trái bị nặng
hơn. Phần màng phổi bị xử lý trong giải phẫu nhiều lần đã dày lên rất nhiều,
thuốc không vào được nên lại phải giải phẫu.
Sau tất cả 7 lần mổ, toàn bộ lá phổi phải và một nửa lá phổi trái bị cắt bỏ hoàn
toàn khỏi cơ thể ông. Ông phải chủ động vận dụng phần cơ hoành là chính, kết hợp
với phần cơ bụng để nâng cao hiệu suất thở, cung cấp nhiều dưỡng khí cho cơ thể
để sức khoẻ phục hồi nhanh.
Ðối với Nguyễn Khắc Viện, để duy trì cuộc sống, vấn đề quan trọng nhất là phép
dưỡng sinh.
Luyện tập dưỡng sinh đã có từ xa xưa ở Trung Quốc và Ấn Ðộ. Tuy nhiên, đọc lại
những sách xưa và nay về khí công, yoga ta cảm thấy rất nhiêu khê, phức tạp, lẫn
lộn giữa chuyện đời với chuyện thần bí rất khó hiểu. Nguyễn Khắc Viện đã tham
khảo tất cả và trình bầy rõ thêm về các vấn đề như: có đi được vào khoa học cơ
bản hay không? Nguyên lý nằm ở đâu? Giữa 2 cách: tập luyện thể dục thể thao như
châu Âu và cách tập cổ truyền Á Ðông khác nhau thế nào? Cách nào để giữ gìn sức
khoẻ, để giải quyết bệnh tật? Ông đã đúc kết thành bài vè cho dễ phổ biến:
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Mặt Phật ung dung
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Êm chậm, sâu, đều
Ðứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được
Hồi mới từ Pháp về nước nhận công tác, Cục Bảo vệ Sức khoẻ xếp ông vào loại mất
sức lao động 100%, không được làm việc. Vậy mà sau đó 30 năm, cho đến tuổi 80,
ông chỉ phải vào viện một lần. Cho đến khi biết mình sắp phải ra đi, ông chủ
động viết sẵn lời thỉnh cầu: “Tôi đã già, lại bị thiếu thở trầm trọng từ hơn
40 năm nay, sắp tới, giả thử có tai biến gì hoặc mắc thêm các chứng bệnh khác
thì xin các cơ sở y tế đừng khám nghiệm, đừng phẫu thuật, truyền máu hoặc bơm
oxy gì thêm. Xin để tôi ra đi nhẹ nhàng, đỡ khổ cho vợ con, bạn bè và cả bản
thân tôi. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tôi ”.
Tuy là một người có thể xem là tàn phế nhưng hồi ở viện Saint Hilaire du Touvet,
trong điều kiện vừa làm việc, vừa chữa bệnh, Nguyễn Khắc Viện vẫn miệt mài đọc
và học. Nhờ có thư viện lớn tại đây với nhiều sách của các ngành khoa học, đặc
biệt là y học và triết học, ông không những nghiền ngẫm nhiều sách triết học của
Trung Quốc, Ấn Ðộ, Phật giáo, Nho giáo… mà còn học chữ Hán với một giáo sư Trung
Quốc cùng nằm viện. Nói là học với giáo sư Trung Quốc nhưng thật ra ông tự học
theo cái “nghiệp” khổ học của thầy đồ Nghệ. Gần nửa thế kỷ sau người ta còn tìm
được một chồng vở học chữ Hán của Nguyễn Khắc Viện. Ðấy là loại vở đóng sẵn như
sách in, 120 tờ giấy kẻ carô, bìa dày, gáy bọc vải. Vở chia 2 nửa, viết từ hai
phía vào. Một nửa ghi học Bạch thoại (tức tiếng Trung Quốc hiện đại), nửa kia là
phần ghi học chữ Hán.
Ông đã chép bằng chữ Hán toàn bộ cuốn Chinh phụ ngâm của Ðặng Trần Côn,
toàn bộ tập Thiên tự văn là sách vừa dạy kiến thức, vừa dạy từ bằng văn
vần để dễ thuộc, toàn bộ Sở từ, Hạc lâu và Tiền hậu Xích bích
cùng rất nhiều thơ của các nhà thơ Ðường, Tống tiêu biểu. Phần trích kiến thức
từ Tứ thư, Ngũ kinh lại càng phong phú. Từ Luận ngữ, Mạnh tử,
Trung dung, Ðại học đến Kinh thi, Kinh thư, Lễ ký,
Nhạc ký, Nam Hoa kinh đến Hán thư, Chiến Quốc sách,
Sử ký, Thanh nang thư…
Trong những năm làm giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn và tổng biên tập hai tờ báo,
phòng làm việc của ông vẫn chỉ là cái gác xép nhỏ gần cầu thang tầng ba. Trong
phòng chỉ có một chiếc tủ thường kê làm tường ngăn, một chiếc máy chữ cũ kỹ trên
một chiếc bàn cũ kỹ. Ghế ngồi là một thanh ván kê ngang. Quạt máy không, ấm chén
không. Ông nổi tiếng “siêu nhân” với huyền thoại: “Tức không cáu, nóng không
quạt, ngứa không gãi”, (có người còn “sáng tác” thêm: bẩn không tắm).
Thấm đượm hồn quê
Chuẩn bị lên đường sang Pháp, Nguyễn Khắc Viện được cụ thân sinh tiễn chân đến
tận Sài Gòn và mua cho một vé hạng ba trên một chuyến tầu thuỷ. Lên tầu, ông đổi
sang vé hạng tư để vừa dôi ra ít tiền, vừa được tha hồ ngắm trăng sao, trời biển
cùng các hành khách hạng nghèo và một số lính Pháp hồi hương. Sang đến Pháp, với
số tiền dôi ra, Nguyễn Khắc Viện mua được một chiếc xe đạp để có dip ngao du hầu
khắp nước này trong các kỳ nghỉ hè.
Hồi đỗ được ba bằng tú tài, cụ thân sinh đã căn dặn: “Học gì thì học, nhưng
tránh học làm quan như thầy”, nay, trên bến Nhà Rồng cụ lại đưa cho con một lá
thư và yêu cầu ra ngoài biển hẵng mở ra đọc. Ðại ý cụ viết: Sang bên Pháp, việc
học hành thầy không phải dặn, thầy tin con thành công. Thầy chỉ dặn một điều là
nhất thiết đừng lấy vợ đầm.
Thân sinh Nguyễn Khắc Viện tên là Nguyễn Khắc Niêm, sinh năm 1889. Từ nhỏ Nguyễn
Khắc Niêm đã thông minh tuấn tú hơn người. Năm 18 tuổi cụ đã đỗ Hoàng Giáp và
được xem là một thần đồng hoá thân. Dân làng thời bấy có người có con cái hay
đau yếu đã đem bán khoán cho cụ như bán cho thần linh. Có người xin một mảnh vải
cắt ra từ quần áo của cụ về làm bùa cho con cái đeo để trừ tà. Cụ đã được bổ
nhiệm nhiều chức vụ như: Ðốc học Nghệ An, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, hai lần giữ
chức tham tri, hai lần giữ chức Phủ Doãn… nhưng cụ vốn không tha thiết với quan
trường. Năm 1941, khi được bổ nhiệm quyền Tổng đốc Thanh Hoá, nghe người đến
chúc mừng, cụ bảo: “Mừng gì đâu! On peut mettre n’importe qui pour faire n’
importe quoi!" (Người ta có thể đặt bất cứ ai ở bất cứ chỗ nào để làm bất cứ
gì!).
Theo lời kể của một số bà con ở xã Sơn Hoà, trong một cuộc gặp gỡ với các tiến
sĩ tân khoa, khi vua Thành Thái đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách để phục hưng quốc
gia, cụ Nguyễn Khắc Niêm đã dâng “Tứ tôn châm”:
Tôn tộc đại quy
Tôn lộc đại nguy
Tôn tài đại thịnh
Tôn nịnh đại suy
Nghĩa là:
Tôn trọng nòi giống, ắt đại hoà hợp
Tôn trọng bổng lộc, ắt đại nguy nan
Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh
Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong
Trong bài thơ “Thăm động Từ Thức”, cụ viết:
Tiếu ngã đương đồ quy khứ vãn
Tương phùng động khẩu tịch vô ngôn
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh dịch là:
Ta chưa về cũng đáng cười
Gặp nhau cửa động khôn lời nói năng
Quả nhiên, cụ đã xin về hưu sớm, lúc tuổi mới chỉ 53.
Cách mạng tháng Tám thành công, cụ lại hăng hái đứng ra nhận bất cứ việc gì được
giao phó: Ủy viên Hội đồng Nhân dân xã, Ủy viên Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy viên
Ban Chấp hành Liên Việt Liên khu IV... Tiếc rằng khi cải cách ruộng đất cụ vẫn
bị đầy ải khổ nhục nên đã mất sớm.
Ðược giáo dưỡng trong một gia đình Nho học, gia giáo tại một vùng quê êm đềm,
thơ mộng bên con sông Ngàn Phố thường vọng vang những câu hò:
Ðôi ta cùng nợ nước non
Chàng đà trả sạch, thiếp còn long đong
Bao giờ sông lặng nước trong
Bõ người chèo chống đêm đông nhọc nhằn.
tâm hồn Nguyễn Khắc Viện vốn thấm đẫm tình quê.
Ông tâm niệm: “Học Racine, Hugo chỉ chú ý đến tác phẩm và lời văn. Nhưng khi
học về Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ,
Ngô Thì Nhậm, Phan Ðình Phùng, Phan Bội Châu … chủ yếu là nhớ đến những con
người, những thân phận người, con người mà xưa gọi là nho sĩ”. “Ðọc sách vở của
họ, thấy vẫn thiếu một cái gì, họ vẫn đứng ngoài mà nhìn vào, hiểu được học
thuyết triết lý mà không nắm, không thấm được đạo lý. Họ thiếu cả một chiều dày
truyền thống”.
Học trò trường Bưởi hồi nào còn nhớ một học trò xứ Nghệ gầy guộc, đầu húi kiểu
ca-rê, trong khi bạn bè nếu không để tóc kiểu “nhà triết học” (tóc dài chải lật
ra sau để trưng cái trán cao cho có vẻ thông thái) thì cũng để tóc dài, rẽ ngôi.
Ở Pháp lâu năm nhưng ông vẫn không để phôi phai đi cái chất thổ ngơi Việt Nam,
vẫn giữ cái giọng Nghệ với ít nhiều phai bạc như một thứ “hương âm vô cải”. Một
Việt kiều ở Pháp sau này gặp lại ông đã mô tả ông: “Người cao và gầy, da thịt
trông giống như những bức tượng Tuyết Sơn ở chùa Tây Phương”. Cái chất “cá gỗ”
của ông cho đến sau này nhiều khi vẫn được biểu hiện như một khía cạnh đạo đức.
Nhà báo Lê Phú Khải kể: “Một lần bác xuống nhà tôi chơi ở Mỹ Tho. Vợ tôi làm cơm
đãi khách. Mâm cơm chỉ có một đĩa thịt bò xào, một đĩa rau muống xào và một tô
nước rau muống luộc vắt chanh với mấy quả cà! Ðó là một mâm cơm đãi khách không
dễ gì có được trong thời bao cấp với một phóng viên nghèo như tôi. Nhưng than
ôi! Khi tôi gắp miếng thịt bò đưa vô miệng nhai thì… dai như chão rách. Nuốt vô
thì tội mà nhả ra thì bất tiện. Tôi liếc mắt nhìn, thấy vợ tôi rất lúng túng.
Bỗng bác Viện nói: Dai thế này thì để đĩa thịt bò này lại, chỉ ăn rau muống xào
thôi, chiều nay băm thịt bò thật nhỏ rồi đúc trứng mà làm bữa chiều”.
Giữa Paris tráng lệ, ông vẫn viết những câu thơ man mác tình quê:
Ðêm khuya nghe giọng ai hò
Nhớ sông Ngàn Phố, nhớ đò chợ phiên.
Mối tình nồng nàn ấy còn trẻ trung sâu lắng mãi đến khi ông đã ngoại tám mươi:
Nước Ngàn Phố khi trong khi đục
Xóm làng quê soi bóng dọc đôi bờ
Ðẹp chi cho lắm sông ơi !
Ðể lòng ta cả một đời thương nhớ
Ðẹp chi cho lắm các o ơi
Ðể lòng ta, ngày lại ngày sóng sánh đầy vơi
Hồi học tiểu học, Nguyễn Khắc Viện rất mê đá cầu. Ông đá rất tài, bằng mu bàn
chân, bằng gan bàn chân, bằng gót chân, bằng đầu gối… Hàng năm bẩy phút không để
quả cầu rơi xuống đất. Sau ngày ông mất, một môn sinh còn hồi tưởng lại: “Nói
đến đá cầu, cho đến nay, tôi chưa phải đứng vào hàng các cao thủ nhưng cũng đã
là hạng không phải tầm thường trong giới “cầu lâm” là nhờ một phần nắm được
những nguyên tắc chung do bác Viện “chỉ điểm” về sự phối hợp chặt chẽ giữa các
cơ và hơi thở, bắt được đúng cái nhịp bên trong và bên ngoài của nó làm giảm bớt
mệt mỏi và bớt chảy mồ hôi, đồng thời luyện được tính bền bỉ, nhanh nhạy, phản
xạ kịp thời và một tinh thần tỉnh táo trước mọi biến cố. Bác đá rất tài, đá đông
đỡ tây, đá nam đón bắc, quả cầu cứ vun vút xoay quanh mình, rất nhịp nhàng,
chính xác và đẹp mắt. Xem bác đá cầu cứ như một diễn viên xiếc tung hứng bằng
chân trên sân khấu. Ðiểm đặc biệt ở bác là phong cách đá rất ung dung, bình
tĩnh, đá nhẹ mà cầu lên cao, nhanh mà không vội, di chuyển chứ không với, lúc di
chuyển, chân bác lướt trên mặt đất như thuật “khinh không” trong các truyện võ
hiệp”.
Một lần ông xuống Hải Phòng, bí thư thành uỷ Ðoàn Duy Thành khoe với ông về một
bãi đá bóng mới được chỉnh trang. Ông nói: “Bãi đá bóng của anh mất bao nhiêu
triệu thì ngày chủ nhật cũng chỉ có 22 người chơi, còn mấy chục vạn trẻ em thành
phố, anh có chỗ nào chơi không?”. Rồi ông hiến kế: “Cha ông ta có cái chơi là đá
cầu rất đơn giản. Thứ nhất là nó rẻ tiền, một quả cầu giá chỉ bằng hai quả chuối
thôi, đứa bé nào cũng mua được. Cái rẻ tiền thứ hai là bất kỳ chỗ nào, một vỉa
hè nho nhỏ, một sân be bé, sân trường, sân chùa… cũng có thể chơi được”. Ông
giảng giải rằng: “Ðá cầu vừa có tính đại chúng, rẻ tiền, vừa vận động đôi chân
rất phức tạp, chạy nhảy lên xuống, quay trái quay phải rất toàn diện. Ðến mức,
ngày xưa quân đội đời nhà Lý, nhà Trần lấy đá cầu làm môn bắt buộc cho binh
lính, tướng tá. Ba môn cưỡi ngựa, đấu kiếm và đá cầu là ba môn rất coi trọng rèn
luyện đôi chân, tức là cước pháp”.
Vào khoảng 1960-65, ông viết một bài báo nêu vấn đề tổ chức lại môn đá cầu,
nhưng mãi đến sau 1970 ông mới có điều kiện lo việc tổ chức thực hiện. Ông không
những phải lo nghiên cứu quả cầu sao cho rẻ và được chuẩn hoá mà còn lo tổ chức
tiếp thị. Ông đem cầu đi bán dạo và bán ngay cả ở nhà. Có lần ông đang ngủ trưa
nghe trẻ con réo: “Ông ơi, bán cho cháu quả cầu”. “Ôi, đang ngủ trưa, hai giờ
trở lại”. “Ông ơi! ông bán cho cháu đi, cháu ở xa lắm, không đợi được”. Thế là
ông phải vùng dậy. Cho nên gặp ông ngoài đường, trẻ con bảo nhau: “Ðấy, ông già
đá cầu đấy”. Không chỉ trẻ em mà có cả ông già cũng viết thư cho ông: “Từ ngày
bác sĩ phổ biến phong trào đá cầu, tôi sung sướng nhất trên đời này. Trước đây,
tôi hay chơi cái này, nhưng it ai để ý. Nhưng tôi xin lỗi, tôi mới tập đọc tập
viết, tôi viết thư này phải thức đến 3 giờ sáng. Khi nào ông về Hậu Giang, ông
cứ hỏi ông Sáu bán bánh tráng từ mấy chục năm rồi, ở thị trấn này ai cũng
biết... Cứ đến tôi mà chơi, chơi bao nhiêu ngày cũng được, tôi cũng nuôi được”.
Một chuyên gia thể thao Liên Xô sang Việt Nam nhận thấy môn đá cầu có khả năng
rèn luyện thể lực tốt và nhận xét môn này có những cú đá không có trong môn bóng
tròn; ông xin một quả cầu cùng thể thức thi đấu mang về nước nghiên cứu phổ
biến. Sau ngày đất nước thống nhất được vài năm, thủ tướng nước cộng hoà Gabon
thuộc châu Phi sang dự hội nghị ACCT ở Việt Nam đến làm việc rồi tình cờ được
xem đội đá cầu của nhà xuất bản Ngoại văn chơi. Thủ tướng ngắm cái sân chơi,
gang tay đo chiếc lưới, vuốt vuốt quả cầu và nói: “Thật là tuyệt vời, một môn
thể thao của các nước nghèo”. Từ Hội khoẻ Phù Ðổng lần thứ 3, môn đá cầu được
đưa vào chương trình thi đấu chính thức, được Tổng cục Thể dục Thể thao xét
phong đẳng cấp vận động viên. Ðội tuyển đá cầu Việt Nam đã đi thi đấu quốc tế và
giành thứ hạng cao.
Một buổi sáng mùa xuân năm 1997, khi ông đã nằm liệt giường, người chỉ còn da
bọc xương, ông gọi bà Nguyễn Thị Nhất - vợ ông - đến lấy cho một chiếc hộp sơn
mài mầu đen, bên trong đựng 3 quả cầu và hai tấm huy chương: huy chương Vì Thế
hệ trẻ và huy chương Vì Sự nghiệp Thể dục Thể thao. Ông chọn một quả cầu có đế
bằng 4 miếng cao su ghép lại với những tua bằng dây ni-lông xé nhỏ rồi với sắc
mặt rạng rỡ hẳn lên, ông giơ cao nói với đoàn làm phim:
“Ðây mới là quả cầu mà chúng tôi đã trắc nghiệm nhiều lần. Một quả cầu chuẩn
xác. Một quả cầu…”
Ðồ sộ những công trình
2 giờ 45 phút ngày 10 tháng 5 năm 1997, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã ra đi. Qua
cuộc đời hơn tám thập kỷ của mình, ông đã để lại gần trăm cuốn sách và hàng trăm
bài báo về nhiều lĩnh vực khác nhau. Có thể kể ra một số tác phẩm tiêu biểu:
Ngoài ra, ông còn cùng học giả Hữu
Ngọc tuyển chọn tuyển tập Một nghìn năm văn học Việt Nam gồm 4 tập, tổng
cộng non 3.000 trang, trong đó riêng phần giới thiệu văn học sử của ông đã ngót
200 trang. Tuyển tập này được một số nhà văn, nhà thơ nước ngoài dịch ra tiếng
Pháp. Vốn là một dịch giả có uy tín, ông được giao việc dịch Truyện Kiều
ra tiếng Pháp. Bản dịch này được tái bản tới lần thứ năm.
Ông viết cuốn Bàn về đạo Nho là để thảo luận với nhà văn lớn của Pháp
Albert Camus khi ông này đưa ra nhận xét rằng hoà bình thế giới có thể bảo vệ,
nếu những người có thiện chí ở các nước thành lập được một thứ hội đoàn quốc tế
theo kiểu các sĩ phu nho học và dựa trên cơ sở thuyết của Khổng Tử.
Nguyễn Khắc Viện viết: “Nho giáo còn hơn là một thứ học thuyết ghi chép trong
sách của thánh hiền, đó là một di sản của lịch sử, một di sản cơ bản để tiếp
thu, để chống lại, để vượt qua trong quá trình chuyển biến lịch sử mà đất nước
đang phải trải qua trong thời đại hiện nay”. Ông thấy được cái chông chênh,
gập ghềnh giữa hai mệnh đề trong triết lý Nho học: “giữa lý, tức nguyên lý
của sự vật và khí tức thực chất của sự vật. Những kẻ đề cao lý, thì chủ trương
quyền của vua theo mệnh trời; còn những kẻ đề cao khí thì nghiêng về phía nhân
dân”. Ông vạch ra một trong những yếu kém nhất của Nho giáo: “Trên phương
diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề luật pháp và thiết
chế, từ chối mọi sự cải cách. Ðạo lý về chính trị chủ yếu là bảo thủ, hướng tư
tưởng vào việc tu thân nhằm mục đích cải thiện xã hội mà không muốn đặt vấn đề
thiết chế, là đặc trưng của những kẻ sợ những biến động xã hội”. Ông phê
phán: “Trên thực tế, Nho giáo còn hơn cả sự bảo thủ, nó quay hoàn toàn về quá
khứ. Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm lớn của Khổng Tử.
Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt
nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng ”. Ông liên hệ và tìm ra các lỗ
hổng cuả Ðạo Nho và của Chủ nghĩa Mác: “Ðạo là con đường. Nhân văn là tìm
hiểu con người về cả ba mặt sinh học-xã hội-tâm lý để cố gắng luyện mình theo 3
hướng dưỡng sinh (thầy Khổng bỏ qua mặt này), xử thế, tu thân (Mác xem nhẹ mặt
này)”.
Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp của ông được độc giả và giới nghiên
cứu trong và ngoài nước đánh giá là hay nhất trong tất cả 7 bản dịch Kiều ra
tiếng Pháp từ xưa tới nay. Không chỉ bởi đã lột tả được thần thái của nguyên bản
mà còn vì bản dịch của ông rất giàu chất thơ.
Thử lấy khổ thơ đầu: “Trải qua một cuộc bể dâu”. Nhiều tác giả trước, ví dụ Xuân
Việt và Xuân Phúc dịch đúng từng chữ: “À travers tant de bouleversements - mer
devenues champs du murier”. Câu thơ dịch của Nguyễn Khắc Viện đầy hình tượng và
âm thanh: “L’océan gronde là où verdoyaient les muriers" (Ðại dương gầm
lên nơi xưa kia ngàn dâu xanh tốt).
Những câu như:
Au rythme des sons, la lampe semblait briller ou s’obscurcir
Plongeant l'homme qui écoutait dans une mélancolique revêrie
Có thể xem là còn sinh động hơn các câu:
Ngọn đèn khi tỏ, khi mờ
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu
Ngày 18 tháng 6 năm 1997, trong lễ tưởng niệm Nguyễn Khắc Viện tại Paris, tiến
sĩ sử học Charles Fourniau phát biểu: “Nguyễn Khắc Viện, một học giả Việt Nam
cũng là văn sĩ Pháp, và là một nhà văn chính hiệu. Một phần tác phẩm của ông
được trực tiếp viết bằng tiếng Pháp, với một ngôn ngữ truyền thống trong sáng,
chính xác của các tác giả thế kỷ 18. Ðồng thời, Nguyễn Khắc Viện cũng là một
dịch giả phi thường. Chính ông đã cho phép ta tiếp cận với không chỉ câu chuyện,
mà cả với nét kiều diễm và cảm xúc của Kim Vân Kiều. Thêm vào đó, nhờ sự chỉ đạo
của ông mà các nét phong phú của nền văn minh Việt Nam được mở ra cho chúng ta
qua Tuyển tập văn học Việt Nam được Nhà xuất bản Ngoại văn, do ông làm
giám đốc, ấn hành”.
Nhà xã hội học Hoa Kỳ Frank Schurmann đã tuyển dịch những bài viết xuất sắc của
ông ra tiếng Anh trong một tuyển tập nhan đề: Tradition and Revolution in
Vietnam (Truyền thống và cách mạng tại Việt Nam) với lời đề tựa: “Ðọc Nguyễn
Khắc Viện là nhìn thấy, cảm thấy, là hiểu cái logic, quyết tâm không nguôi và
chủ nghĩa nhân đạo bình dị của Việt Nam cách mạng”.
Không chỉ là dịch giả, là nhà nghiên cứu…, Nguyễn Khắc Viện còn là một nhà báo
thực thụ. Khi được giao nhiệm vụ tổng biên tập, ông đã đề nghị đổi tên tờ Le
Vietnam en marche thành tờ Le Courrier du Vietnam đồng thời phát
triển thêm một tạp chí có tầm khái quát hơn: Etudes Vietnamiennes.
Etudes Vietnamiennes, thời Nguyễn Khắc Viện phụ trách được các giới ngoại
giao của ta ở nước ngoài đánh giá là ấn phẩm giới thiệu Việt Nam tốt nhất và
được độc giả nước ngoài liệt vào loại sách tham khảo giá trị. Một độc giả Nhật
Bản đánh giá là tạp chí đã “trình bầy một cách tuyệt vời nền văn minh cổ và
những thành tựu mới của Việt Nam”, một trí thức Pháp đánh giá Etudes
Vietnamiennes là một trong những tạp chí rất có chất lượng trong thế giới
thứ ba.
Có thể ít người biết rằng Nguyễn Khắc Viện còn là nhà văn viết cho thiếu nhi.
Trong “Tủ sách Vàng” của Nhà xuất bản Kim Ðồng năm 1997 có tập truyện mỏng của
Nguyễn Khắc Viện mang tên Trâu đánh Cọp gồm 4 truyện kể giản dị mà giầu ý
nghĩa giáo dục; gắn với truyền thống lịch sử mà rất đậm ý vị thời đại; gắn
thường thức khoa học với văn chương mà không gượng ép. Ðó là các truyện: "Quyết
chiến giữa muỗi và người", "Trời Phật xử kiện", "Chiếc gương soi lòng".
Với tấm lòng yêu trẻ thiết tha, ông đã cống hiến phần lớn khoản tiền thưởng 400
000 francs (khoảng gần một tỷ đồng Việt Nam) trong giải thưởng Grand prix de la
Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp tặng ông (Ðây là giải thưởng lớn mà Nguyễn
Khắc Viện là người thứ 7 trên thế giới được nhận) cho quỹ của Trung tâm Nghiên
cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm N-T).
Vượt lên trên những trở ngại ban đầu để khai sinh cho được Trung tâm N-T cũng
đòi hỏi một nghị lực phi thường. Vào năm chủ trương thành lập Trung tâm N-T, nhà
nước chưa hề cho phép tổ chức cơ quan nghiên cứu khoa học kiểu dân lập. Chật vật
lắm mới xin được quyết định cho thành lập của Uỷ ban Khoa hoc Kỹ thuật Nhà nước
thì hoàn cảnh ban đầu là ba không: Không trụ sở, không có biên chế cán bộ, không
có kinh phí Nhà nước. Nhờ sự giúp đỡ của anh em Việt kiều và đặc biệt là khoản
trợ giúp 300.000 francs của một phái đoàn Pháp, trung tâm mới thuê được một căn
phòng ở 46 Trần Hưng Ðạo và cấp kinh phí cho một số triển khai ban đầu. Vậy mà,
chỉ nửa năm sau ngày ra đời, Trung tâm N-T đã xuất bản được hai cuốn sách về tâm
lý: Một quyển về phát triển tâm lý trẻ con từ 0-3 tuổi, một quyển về phát triển
tâm lý trong năm đầu, từ 1-12 tháng.
Trước ngày mất ba năm, trong tình trạng sức khoẻ đã suy giảm rõ rệt, ông vẫn tập
trung chỉ đạo việc tổng kết đề tài “Bước đầu nhận dạng phân loại các rối nhiễu
tâm lý thường gặp ở trẻ em Việt Nam hiện nay”. Ðề tài được tiến hành trong suốt
hai năm 1994-1996 không kể giai đoạn chuẩn bị, biên soạn thuật ngữ, đưa 10 phòng
khám tâm lý y học vào hoạt động, xây dựng hồ sơ và Việt hoá các thử nghiệm tâm
lý… Ðây là một công trình khoa học lâm sàng đầu tiên, nhằm đặt nền tảng cho
chuyên ngành tâm bệnh lý trẻ em về các mặt phương pháp luận, xây dựng thuật ngữ
và xếp loại lâm sàng. Với sự cộng tác nhiệt tình của nhiều nhà trí thức trong
các ngành y tế, giáo dục, khoa học xã hội, Trung tâm N-T đã đặt những viên gạch
đầu tiên cho nền móng xây dựng ngành khoa học tâm lý, tâm bệnh lý và tâm lý lâm
sàng trẻ em Việt Nam.
Thiết tha với sự nghiệp giải phóng dân tộc
Năm 1941, sau khi bảo vệ thành công luận án bác sĩ y khoa, Nguyễn Khắc Viện
chuẩn bị về nước thì đúng vào dịp quân Ðồng minh chặn đường biển, không có tầu
thuỷ về Việt Nam. Ông bị mắc kẹt và đành ở lại Pháp tiếp tục làm việc tại bệnh
viện Trousseau. Sau khi Liên Xô đánh thắng Ðức, uy tín của Liên Xô và của Đảng
Cộng sản Pháp lên cao. Không chỉ công nhân mà nhiều trí thức lớn như Pierre
Curie (giải Nobel về Vật lý), danh hoạ Picasso, nhà thơ lớn Aragon cũng tham gia
Đảng Cộng sản. Năm 1949, Nguyễn Khắc Viện cũng xin gia nhập và được kết nạp vào
Đảng Cộng sản Pháp. Ông sinh hoạt ở chi bộ khu phố Ile verte. Chi bộ này có 5
người: ông, một kế toán viên, một bà nghỉ hưu và hai công nhân ở xí nghiệp. Chi
bộ chia nhau đi bán báo, rải truyền đơn. Ðêm đêm còn bí mật đi kẻ khẩu hiệu ở
các nơi công cộng: "Phải ngừng chiến tranh ở Việt Nam".
Một hôm có vị nghị sĩ, chủ tịch Ủy ban về Ðông Dương của quốc hội Pháp đến nói
chuyện tại bệnh viện, tuyên truyền rằng Bảo Ðại là đại diện cho dân tộc Việt
Nam, Hồ Chí Minh chỉ là một nhóm phiến loạn. Vị nghị sĩ Pháp vừa diễn thuyết
xong, Nguyễn Khắc Viện liền xin đăng đàn. Ông nói rất hùng hồn trong hơn 15
phút. Bằng những thực tế đã nắm được qua nhiều nguồn thông tin, dẫn chứng cả báo
cáo mật của tướng Revers (tướng chỉ huy quân sự ở Ðông Dương) mà anh em Việt
kiều thu được, ông đã chứng minh rằng 90% nhân dân Việt Nam đều đi theo chính
phủ Hồ Chí Minh.
Ngay từ đầu năm 1943 sức khoẻ chỉ mới tạm thời ổn định ông đã lao vào hoạt động
bí mật chống thực dân Pháp trong các trại tập trung công binh và chiến binh Việt
Nam bị bắt đi làm bia đỡ đạn cho Pháp. Ông dạy học, giác ngộ chính trị cho anh
em, đẩy mạnh phong trào đòi chính phủ Pháp chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt
Nam. Hoạt động của tổ chức Việt kiều sôi nổi và hữu hiệu đến mức một người cũng
ở xứ thuộc đia Pháp khác đã so sánh: “Ở Grenoble cộng đồng Việt Nam chỉ có 30
người, thế mà làm được bao nhiêu việc: mít tinh, văn nghệ, viết báo, được nhân
dân Pháp ủng hộ và yêu mến, trong lúc đó hàng ngàn người chúng ta cũng kháng
chiến chống thực dân nhưng làm được gì, chỉ biết có dao găm!”
Ðể hạn chế tác dụng của phong trào Việt kiều ngày càng lớn mạnh, chính phủ Pháp
ra tay đàn áp. Cuối năm 1952, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở
Việt Nam chuyển mạnh sang tổng phản công, nhằm ngăn cản tổ chức Việt kiều liên
hệ với Đảng Cộng sản và các tổ chức tiến bộ Pháp để vận động ủng hộ kháng chiến
và chính phủ Hồ Chí Minh, họ càng truy lùng ráo riết. Năm giờ sáng một sớm tháng
12 năm 1952, họ bắt giữ 12 người. Sau khi hỏi cung, họ trục xuất ông Phạm Huy
Thông ra khỏi Pháp, đưa về giam ở Sài Gòn cho đến khi ký kết Hiệp định Genève
mới thả. Nguyễn Khắc Viện trốn thoát về nhà một bà công nhân làm bảo vệ ở một
trường tiểu học ngoại ô Paris. Cảnh sát đến tra hỏi: “Tại sao bà dám chứa chấp
một anh Việt Minh chống chính phủ Pháp?”. Bà trả lời: “Ðấy là quyền của tôi. Nếu
tôi chứa chấp một thằng ăn trộm ăn cướp thì tôi phạm tội, còn mời một người ở
nhà tôi, ý kiến chính trị của người ấy như thế nào, chuyện này không có tội gì
cả”.
Sau khi Phạm Huy Thông bị trục xuất, Trần Thanh Xuân cũng bị cảnh sát vây chặt
vì đã từng liên hệ với chính phủ và Đảng Cộng sản Pháp nên trong nước đành gọi
về. Nguyễn Khắc Viện phải đứng ra phụ trách anh em để cùng nhau khôi phục lại tổ
chức hoạt động Việt kiều trong hoàn cảnh bí mật. Sau Hiệp định Genève tháng 7
năm 1954, sự truy nã của chính phủ Pháp giảm bớt. Tuy nhiên, lệnh trục xuất đối
với Nguyễn Khắc Viện vẫn duy trì cho nên ông vẫn là người sống bất hợp pháp và
nguy cơ bị cảnh sát bắt là thường trực. Mãi đến năm 1956, nhà cầm quyền Pháp mới
cho tổ chức Việt kiều ra hoạt động công khai, đồng thời Nguyễn Khắc Viện cũng
được cấp giấy phép cư trú.
Tổ chức Việt kiều ra công khai lấy tên là “Hội Liên hiệp Việt kiều vì hoà bình,
nhắm xây dựng tình hữu nghị Pháp-Việt” (Union des Vietnamiens pour la paix au
Vietnam et pour l’Amitié Franco-Vietnamienne). Trụ sở đóng tại số 4 Git de Coeur
xóm La tinh, nơi có nhiều công nhân Việt kiều ở. Phòng trên là văn phòng của
Hội, phòng dưới có thể họp được 50-60 người, đồng thời là căng tin. Một mặt để
anh em đến đây vừa ăn uống, vừa trao đổi. Mặt khác bán cho khách ngoài, lấy tiền
đóng quỹ hội. Ông được bầu là Tổng thư ký Hội.
Phương thức hoạt động của Hội ngày càng đa dạng, quy mô ngày càng lớn, đặc biệt
là hai dịp biểu dương lực lượng hàng năm: ngày hội báo Nhân Đạo (L’Humanité)
vào đầu tháng 9, trùng với Ngày Quốc khánh của ta, và Tết Nguyên đán. Ngày hội
của báo Nhân Ðạo tổ chức tại công viên Vincennes, ngay sát cửa ô thủ đô
Paris có khi thu hút đến một triệu người. Các bạn Pháp dành cho Việt kiều một
khu rộng để triển lãm, cờ đỏ sao vàng kéo lên bay phần phật giữa thủ đô nước
Pháp. Hàng vạn người đi qua, ký tên vào kiến nghị đòi chính phủ Pháp chấm dứt
chiến tranh ở Việt Nam.
Năm 1962, do sự điều đình giữa chính quyền Ngô Ðình Diệm với nhà chức trách
Pháp, chính phủ Pháp lại ký lệnh trục xuất Nguyễn Khắc Viện. Ông nán lại một
thời gian để làm báo cáo công tác và giúp đỡ đoàn chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà do ông Mai Văn Bộ làm đại diện tại Paris. Ngày 27 tháng 4 năm 1963, ông
được Ðảng và Nhà nước ta đưa về nước qua đường Tiệp Khắc, Liên Xô, Trung Quốc.
Buổi ông rời Pháp lên đường, kiều bào và các bạn Pháp kéo đến tiễn chân, đông
như một cuộc biểu tình.
Về nước, ông được Ðảng và Nhà nước giao nhiệm vụ làm Ủy viên Ban Ðối ngoại, trực
tiếp phụ trách công tác tuyên truyền quốc tế. Ngoài nhiệm vụ tổng biên tập báo
Le Courrier du Vietnam và tạp chí Etudes Vietnamiennes ông còn
phải đảm trách chức giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn. Giáo sư Hoàng Như Mai nhận
xét: “Văn phong của anh Viện - khi viết Pháp văn - giản dị, trong sáng, khúc
chiết. Tôi nghĩ rằng anh Viện viết thứ văn của Jules Michelet, Ernest Renan, một
thứ văn thuần Pháp”.
Tiên phong trong sự nghiệp đổi mới và dân chủ hoá đất nước
Năm 1963, khi mới về nước, Nguyễn Khắc Viện đã tuyên bố một câu mà sau đó được
giới trí thức ở Hà Nội lưu truyền: “Nếu mở mắt ra, nước Việt Nam biến thành nước
Pháp thì tôi đi theo chủ nghĩa tư bản, còn như phải đi 200 năm đầy máu và nước
mắt để Việt Nam trở thành nước Pháp thì tôi theo Liên Xô”.
Về sau, khi Liên Xô sụp đổ, nhà báo Lê Phú Khải thân tình hỏi ông: “Khi xưa, mới
về nước, bác đã nói một câu nổi tiếng về Liên Xô, nay Liên Xô đã tan rã rồi… giờ
‘cụ’ nghĩ sao đây?”. Vẫn điềm đạm, chân tình, Nguyễn Khắc Viện trả lời: “Giờ thì
tôi đi theo kinh tế thị trường văn minh chứ không phải tư bản hoang dã…”.
Cái thứ xã hội chủ nghĩa mà Nguyễn Khắc Viện cũng như nhân dân ta đã ngây thơ kỳ
vọng tới, đã đau đớn xả thân một cách lầm lạc vì nó, đã không hề có trong thực
tế ở Liên Xô, ở Trung Quốc… Về sống cùng quê hương xứ sở, Nguyễn Khắc Viện mới
bàng hoàng nhận ra: “Chủ nghĩa xã hội ngây thơ mang tính hoàn toàn Nhà nước
thúc ép tất cả mọi người vào một cái khung áp đặt từ trên xuống, tạo ra một bộ
máy quan liêu và hào lý nặng nề, tiêu diệt óc sáng kiến của nhân dân”. Đường
lối xã hội chủ nghĩa quái đản ấy đã buộc con người phải thực thi những chủ
trương, biện pháp sai lầm đến mức như là phản động. Nguyễn Khắc Viện phát biểu:
“… sau này theo dõi thực tế và nghĩ lại, tôi mới thấy hợp tác hoá thực chất
là tập thể hoá, tước đoạt quyền làm chủ của người nông dân trên mảnh đất của họ.
Quyền sử dụng ruộng đất ở nông thôn, trồng gì, giá cả ra sao, chi phí thế nào…
do bí thư, chủ tịch, chủ nhiệm hợp tác xã quy định, dân không có quyền gì nữa.
Bộ máy dần dần thoái hoá, tiêu xài phung phí, lạm dụng quỹ chung của hợp tác xã,
nông dân làm ra, cuối cùng tính công điểm chẳng còn bao nhiêu. Người nông dân
không hào hứng nữa, đánh kẻng rồi mới đi làm, không còn cảnh ra đồng sớm như
trước nữa. Cuộc sống nhiều khi dựa trên thu nhập từ kinh tế gia đình, trên đất
5% là chủ yếu, mặc dù nuôi được một con lợn, muốn bán cho ai, bán lúc nào, giá
cả ra sao, cũng không có quyền quyết định”.
Ở miền Bắc, hợp tác xã có điều kiện thuận lợi hơn nên lúc đầu cũng có một số tác
dụng, nhưng càng về sau càng bộc lộ những bất cập, kìm hãm sản xuất ghê gớm. Thế
mà sau khi giải phóng miền Nam, Ðảng vẫn chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp ồ
ạt, đặt chỉ tiêu một cách ngông cuồng: Năm 1980 phải hoàn thành hợp tác hoá nông
nghiệp toàn miền Nam!
Ði theo đường lối tiến lên chủ nghia xã hội bằng những chủ trương, biện pháp hết
sức sai lầm, Ðảng đã nghèo khổ hoá nhân dân và đẩy đất nước đến bờ vực thẳm. Tuy
nhiên, khi chợt bừng tỉnh, Ðảng lại đi từ sai lầm tả khuynh đến sai lầm hữu
khuynh khi giương cao khẩu hiệu “Ðảng viên cũng phải biết làm giầu”. Thực tế ấy
làm Nguyễn Khắc Viện trăn trở: “Cách mạng Pháp nêu khẩu hiệu “Tự do-Bình
đẳng-Bác ái”. Trên cái nền “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” ấy mà nước Pháp trở thành
giầu có. Nếu chỉ nêu khẩu hiệu làm giầu mà bất chấp mọi thứ thì sẽ dẫn đến chụp
giựt, sa đoạ, lừa đảo, phá hoại cả môi trường nhân văn và môi trường sinh thái”.
Trong cơn khát làm giầu như thế, hàng loạt cán bộ, đảng viên đua nhau móc ngoặc,
tiếp tay cho con buôn, lạm dụng công quỹ, lợi dụng đất đai, tài sản, phương tiện
của nhà nước để vơ vét vào túi tham vô đáy của mình. Ông viết bài “Chống tiêu
cực” vạch rõ: “Tình trạng cán bộ tham ô, ức hiếp nhân dân, không chỉ là trái
đạo đức, mà còn là vấn đề chính trị”.
Khi tình hinh xã hội đã trở nên rất nghiêm trọng, ông viết “Thất trảm sớ” gửi
Quốc hội. Nội dung có thể tóm tắt như sau:
1. Ðường lối đề ra tiến lên sản xuất lớn XHCN, nhưng phải điều chỉnh lại để sản xuất nhỏ cũng có vị trí nhất định.
2. Phải mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, trước hết là với các nước anh em đã có quan hệ lâu năm. Việc làm ăn với Liên Xô nên đàng hoàng, thân tình, cởi mở hơn, không để cho tinh thần chống chủ nghĩa xét lại khống chế một cách nặng nề.
3. Ở các cấp có 2 bộ máy mà bộ máy Ðảng đứng trên bộ máy Nhà nước thì bộ máy Nhà nước không thể có hiệu lực, không thể nào phát triển kinh tế, văn hoá được.
4. Thưởng phạt phải nghiêm minh.
5. Báo chí chỉ thông tin một chiều nên không phản ánh được dư luận của nhân dân. Chế độ kiểm duyệt quá sát sao, không cho đăng ý kiến của quần chúng nên đã dẫn đến những sai lầm.
6. Ðáng nhẽ khoa học xã hội phải đi trước một bước nhưng vì phải đợi chủ trương đường lối để minh hoạ nên chẳng đóng góp được gì xứng đáng.
7. Ðại hội lần thứ 2 của Ðảng (1951) đã xác định đường lối cơ sở Ðảng ta dựa trên căn bản chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Mao Trạch Ðông. Cần nghiên cứu lại tác hại của tư tưỏng Mao Trạch Ðông để xoá bỏ tàn tích của nó.
Trong bản kiến nghị có một câu rất hay
khi nói về quyền bình đẳng trước pháp luật: “Không làm theo kiểu phong kiến:
dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo lễ”.
Trong một bài viết nhan đề: “Then chốt: cải tổ bộ máy” ông vạch rõ: “Hai
nhược điểm cơ bản (của bộ máy Ðảng-Nhà nước) là: 1) Thiếu nhạy bén trước yêu cầu
của nhân dân, của tình hình mới của thời đại”, 2) Cơ cấu tổ chức ngăn cản những
tiến bộ của kinh tế xã hội. Bộ máy Ðảng-Nhà nước thiếu nhạy bén do cách làm ăn
thiếu dân chủ, thiếu khoa học.”
Ông nêu những nhận xét khái quát: “…Việt Nam có truyền thống yêu nước, truyền
thống đoàn kết với nhau, tức là có những thể chế bảo đảm quyền của cộng đồng
đứng trước bộ máy nhà nước, bộ máy tôn giáo. Nhưng khái niệm và thể chế để bảo
đảm quyền của con người, quyền của công dân thì chưa có… dân chủ là một khái
niệm mới thì chúng ta buộc phải nhập từ phương Tây. Việc gì phải che giấu chuyện
này… Nhân dân ta có nhiều truyền thống tốt đẹp, như kiên cường đấu tranh
chống ngoại xâm, sống có tình có nghĩa, nhưng truyền thống dân chủ thì chưa có.
Con chỉ biết phục tùng cha, dân phục tùng vua quan, cá nhân phục tùng đoàn thể,
vợ phục tùng chồng, trò phục tùng thầy; phục tùng trong hành động, trong cả suy
nghĩ. Bề trên vừa là chỉ huy, vừa là thầy, là thánh, chân lý phát ra từ cấp
trên. Không thể làm khác ý đồ của trên”. Ông bác bỏ luận điệu xảo trá, hù
doạ rằng dân chủ sẽ đưa đến loạn lạc: “Ý kiến tôi cũng như nhiều anh em khác
mong mỏi có dân chủ hoá. Ai cũng muốn có ổn định, chứ không phải muốn cho xáo
trộn loạn lạc lên đâu. Nói như vậy chỉ là sự vu khống. Chính vì muốn tránh bùng
nổ, mà tôi muốn nhịp độ dân chủ hoá phải nhanh hơn, nếu không, bề ngoài cứ tưởng
là ổn định, nhưng tình trạng mất dân chủ gây nên phản ứng như những đợt sóng
ngầm, đến lúc nào đó không tránh khỏi bùng nổ. Kinh nghiệm Liên Xô và Ðông Âu
rất đáng cho ta suy ngẫm”.
Ông ngán ngẩm, nhưng lại kỳ vọng: “Một sự im lặng đáng sợ đang trùm lên cả xã
hội: ít ai chủ động đưa ra một sáng kiến, người thì chạy vạy cho cuộc sống hết
hơi, hết ngày, người thì chán nản bi quan, ngay cả phẫn nộ cũng không còn sức.
Ðất nước ta hiện nay đang cần những con người chủ động, có óc sáng tạo để cải tổ
mọi lĩnh vực trong cuộc sống xã hội. Làm sao khuấy lên được sự hào hùng, tin
tưởng, phẫn nộ.”
Ông hồ hởi mừng vui đón nhận từng tín hiệu nhỏ làm tiền đề cho cuộc đấu tranh vì
sự nghiệp dân chủ hoá: “Vụ đổi tiền tháng 9 năm 1985 quả là một tai hoạ ập
đến với nhân dân ta. Nhưng nói như một ngạn ngữ phương Tây, bao giờ tai hoạ cũng
có mặt hay của nó. Lần đầu tiên, ở nước ta, mọi người đều thấy lãnh đạo tối cao
cũng có thể phạm sai lầm nghiêm trọng. Trước đó một số người đã suy nghĩ như
vậy, nhưng cái mới là nay số đông bắt đầu suy nghĩ như vậy. Và dĩ nhiên, tiếp
theo là từ nay ta không thể khoán trắng cho lãnh đạo suy nghĩ, động não thay thế
cho mọi người”.
Ông hô hào: “Ðừng ngồi yên chỉ biết than phiền, kêu ca. Ðừng ngồi mong chờ ở
“ông” khác. Trên dưới đều có người tiến bộ, có người bảo thủ, dưới có quậy, trên
mới thay đổi… Từ bỏ chủ nghĩa xã hội nhà nước, từ trên áp đặt xuống, ta
sẽ xây dựng một chủ nghĩa xã hội trong đó Ðảng lãnh đạo, lãnh đạo chứ không ôm
lấy mà làm mọi việc. Ðảng với nhân dân cùng suy nghĩ, có trao đi đổi lại, chứ
không phải Ðảng phán ra, nhân dân cúi đầu vâng theo”.
Ông kêu gọi làm cách mạng: “Trước kia chúng ta đã dựng nên một cuộc cách mạng
dân tộc, nhân dân, quốc tế rộng lớn chống đế quốc ngoại xâm. Chúng ta đã tiến
hành mấy cuộc kháng chiến trường kỳ nhiều mặt. Để chống lại tư bản man rợ, không
để nó tác oai tác quái, nay phải dựng nên một mặt trận dân tộc, nhân dân, quốc
tế còn rộng hơn; tiến hành một cuộc kháng chiến mới lâu dài hơn, đa dạng hơn,
mới mong hạn chế được tham nhũng, bảo vệ được môi trường, giảm nhẹ bất công xã
hội, phân hoá giầu nghèo, giữ gìn được thuần phong mỹ tục, phát huy tình người,
tôn trọng quyền phụ nữ, trẻ em, các nhóm thiểu số. Một cuộc kháng chiến nhiều
mặt với báo chí, tivi, sách vở, phim ảnh. Thành lập đủ các thứ hội đoàn, đình
công, biểu tình… không bỏ sót ngóc ngách nào, trong nước, ngoài nước, đứng ở bất
cứ vị trí nào cũng có thể tham gia… Chúng ta sẽ làm cho những tư tưởng dân chủ,
công bằng xã hội, tinh thần quốc tế, tình nghĩa giữa người và người thâm nhập
vào đại chúng. Kỹ thuật hiện đại trao cho chúng ta đầy đủ phương tiện làm việc
này, biến tư bản man rợ thành tư bản văn minh. Hãy cùng nhau bước vào cuộc kháng
chiến mới”.
Ngoài kêu gọi bằng “ hịch ”, ông còn kêu gọi bằng thơ:
Có những người đã thức dậy
Lúc gà chưa gáy
Biết bao nhiêu còn ngái ngủ
Gáy lên đi, gà ơi !
Cho đời rộn lên, người người tỉnh thức
…
Cho con người đứng thẳng lên
…
Không cúi đầu trước quyền lực…
Ông vạch ra một tiến trình: “Quá trình dân chủ hoá thể hiện qua mấy khâu:
Hỏi ông có tin vào hiệu năng đấu tranh
của lực lượng dân chủ, ông trả lời: “Theo tôi, nếu mọi người tiếp tục đấu
tranh thì có 80% công cuộc đổi mới sẽ thành công, nhưng cũng còn 20% bất trắc,
chủ yếu do sức chống đối của những người được hưởng đặc quyền đặc lợi mà bộ máy
cũ mang lại cho họ”.
Vô cùng tiếc và thương một chí khí ngoan cường
Nguyễn Khắc Viện không chỉ mạnh dạn phê phán và đóng góp nhiều ý kiến mới lạ so
với chủ trương đường lối của Ðảng nên nghe rất “nghịch nhĩ” mà còn thẳng thắn,
chân tình góp ý với nhiều quan chức cao cấp trong Ðảng. Nghe tin Ðảng định cơ
cấu nhà thơ Tố Hữu làm thủ tướng chính phủ, ông gặp trưởng Ban Tổ chức Trung
ương Ðảng Nguyễn Ðức Tâm bầy tỏ ý kiến phản đối. Trước Ðại hội VI ông đã từng
viết một lá thư gửi ông Tố Hữu, đại ý như sau: Trước kia, tôi rất mến phục tài
thơ của anh, tôi thích thú một số bài thơ của anh và đã dịch những bài đó ra
tiếng Pháp đưa ra quốc tế. Nhưng anh làm lãnh đạo chính trị, đặc biệt về văn hoá
văn nghệ, rồi làm phó thủ tướng, làm kinh tế như thế này, không ai đồng tình,
nhiều người oán trách, anh nên biết rõ. Dịp này anh nên tự nguyện rút lui, đừng
ứng cử vào Trung ương nữa, trở lại làm nhà thơ, chắc anh sẽ lại được lòng kính
mến tài làm thơ của anh.
Ông hoạ thơ Tố Hữu:
Năm mươi năm ấy vẫn còn thơ
Từ bấy đua chen mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa hết dại
Con tằm rút ruột chẳng còn tơ
Thuyền con quá tải không qua sóng
Mộng lớn tài hèn chớ ước mơ
Với giá, lương, tiền dân khốn đốn
Trăm năm bia miệng, hỡi nhà thơ!
(Nguyên văn bài thơ của Tố Hữu đăng trên báo Văn nghệ, lúc ấy được rất
nhiều người hoạ:
Trên năm mươi tuổi Ðảng và thơ
Từ ấy hồn vui mãi đến giờ
Mái tóc pha sương chưa cạn ý
Con tằm rút ruột vẫn còn tơ
Thuyền con vượt sóng không nghiêng ngả
Nghiệp lớn muôn đường lộng ước mơ
Mới nửa đường thôi, còn bước tiếp
Trăm năm duyên kiếp Ðảng và thơ)
Thế rồi… ! Không biết từ đâu, những tai ương bắt đầu bổ xuống đời ông.
Báo Nhân Dân và hầu hết các báo cấm chỉ không đăng bài ký tên Nguyễn Khắc
Viện nữa. Chẳng những thế, sau khi đài BBC phát thư kiến nghị của ông gửi Ðại
hội VII thì trong nước dấy lên một chiến dịch rầm rộ công kích, lên án ông. Khởi
đầu là báo Nhân Dân tung ra một loạt bài, tuy không nêu rõ tên Nguyễn
Khắc Viện nhưng trích một vài đoạn trong bức thư rồi quy chụp rằng người viết
những dòng như thế là có ý đồ thâm hiểm, mượn cớ dân chủ tự do để chống cách
mạng, chống Ðảng. Tháng 5 năm 1991, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh
loan báo trong màng lưới tay sai cho gián điệp, có một tên gián điệp ở Pháp về.
Cùng luận điệu đó, có bài ghi rõ tên đầy đủ, có bài ghi tắt N.K.V. Cán bộ tuyên
huấn của Ðảng đi nói chuỵện khắp nơi rằng trong nước có một nhóm chống Ðảng,
chống cách mạng mà Nguyễn Khắc Viện là một phần tử. Nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi
1 tháng 6 năm 1991, câu lạc bộ Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật tổ chức buổi
nói chuyện về tâm lý trẻ con. Khi săn biết diễn giả là Nguyễn Khắc Viện, lệnh
trên truyền xuống phải huỷ bỏ buổi nói chuyện này. Cuối năm đó, khai mạc Phòng
khám Tâm lý Trẻ em tại bệnh viện Ðống Ða. Ðây là Phòng khám Tâm lý trẻ em đầu
tiên ở nước ta. Vô tuyến truyền hình đến quay phim. Nguyễn Khắc Viện là người
sáng lập tổ chức, chủ trì buổi lễ và đọc diễn văn giới thiệu ý nghĩa, mục đích
việc thành lập cơ sở này. Nhưng, khi phát hình buỗi lễ lên sóng, người ta cắt đi
tất cả những đoạn có hình ảnh Nguyễn Khắc Viện.
Rồi Quận uỷ Hoàn Kiếm lôi Nguyễn Khắc Viện ra đấu tổ, bắt đứng lên kiểm điểm.
Ông từ tốn nhưng kiên nghị nói: Nếu Quận uỷ muốn sinh hoạt chi bộ trao đổi quan
điểm và thảo luận về những điều đúng, sai thì tôi làm, còn kiểm điểm thì không,
vì tôi không có lỗi gì.
Ông Hoàng Nguyên kể rằng một hôm vào khoảng cuối năm 1981, ông đang ngồi làm
việc tại toà soạn báo Le Courrier du Việt Nam thì nhà điện ảnh nổi tiếng,
lão thành P.V.K. hớt hải chạy vào hỏi: “Thế nào, anh Viện bị bắt rồi à?”, trong
khi ông Viện vẫn đang ngồi làm việc ở tầng trên. Cảm thương và kính phục, nhiều
người đã tặng thơ ông. Bà Phương Thảo - em gái ông - viết những dòng bi tráng
ca:
Ðứng giữa hai làn đạn
Vẫn mực thước, khoan dung
Với tấm lòng thanh thản
Với sĩ khí hào hùng
Ông Ðặng Minh Phương tặng đôi câu đối:
Kiến thức bách khoa phong phú, từng trải Ðông Tây, tác phẩm uyên thâm đồ sộ,
ở Pháp quốc kiên trì tranh đấu, tấm lòng với nước tận trung, vòng danh lợi coi
khinh, lương tâm toả sáng.
Tài năng đa dạng hiếm hoi, tinh thông kim cổ, tư duy sắc sảo tuyệt vời, về
Việt Nam bền bỉ dựng xây, ngòi bút vì dân cương trực, thói quan liêu căm ghét ,
nhân cách ngát hương.
Một đêm tháng 4 năm 1988, được Nguyễn Khắc Viện đến thăm và ngủ lại nhà mình,
nằm thao thức trong đêm Mỹ Tho, nhà báo Lê Phú Khải đã viết bài thơ:
Ðãi ông một bữa cơm nghèo
Trải giường ông nghỉ, lòng nhiều xót thương
Lưng già ít thịt nhiều xương
Sáu, năm vết mổ sẹo còn đầy vai
Con đường dân chủ công khai
Ông như lão tướng một đời xông pha
Bọn quan liêu - lũ gian tà
Kính ông ngoài mặt, bỉ dè sau lưng
Núi sông được mấy anh hùng
Thế gian được mấy cõi lòng trinh trung!
*
Khi biết ông chắc chắn sắp chết,
Nguyễn Khoa Ðiềm vội vàng đến gắn tấm huân chương Ðộc lập hạng Nhất lên bộ ngực
ông đã dính đét xuống giường. Người ta chỉ thấy sự mỉa mai với tấm huân chương
Hồ Chí Minh, huân chương Sao vàng, huân chương Ðộc lập hạng Nhất trên ngực
Nguyễn Khắc Viện.
Thực ra, chỉ một cái tên Nguyễn Khắc Viện không thôi đã là một danh tính đầy sự
vinh quang.
Ghi chú: Các trích dẫn trong bài rút từ những tác phẩm sau đây của Nguyễn
Khắc Viện: Bàn về đạo Nho, 1993; Ðổi mới, Nhà xuất bản Thanh niên,
1988; Ước mơ và hoài niệm, Nhà xuất bản Đà Nẵng (Phần không được in);
Nguyễn Khắc Viện, tác phẩm. Tập 2, Nhà xuất bản Lao động; bài “Bước vào cuộc
kháng chiến mới”, tháng 6 năm 1993.
© 2006 talawas