Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Phụ Tá Đặc Biệt TT NGUYỄN VĂN THIỆU lên tiếng (Kỳ 4)

Ông NGUYỄN VĂN NGÂN

Phụ Tá Đặc Biệt TT NGUYỄN VĂN THIỆU lên tiếng

trong cuộc phỏng vấn dành độc quyền cho nhà văn Trần Phong Vũ

 

Phỏng vấn Phụ Tá ĐB Nguyễn Văn Ngân (Kỳ I )

Phỏng vấn Phụ tá Đặc Biệt Nguyễn Văn Ngân..(Kỳ II)

Phỏng vấn Phụ Tá Đặc Biệt Nguyễn Văn Ngân (Kỳ III)

 

Đôi lời của người phỏng vấn:

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ chìa khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đã vĩnh viễn ra đi ngày 29-9-2001 không để lại một vết tích nào, ít nữa là về phía ông. Không hồi ký. Không di chúc chính trị. Ông lặng lẽ trở về lòng đất mang theo một trời tâm sự u uẩn của một nhà lãnh đạo từng được dư luận đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau. Một khuôn mặt thời cơ? Một kẻ tham quyền cố vị? Một lãnh tụ gan lỳ, nham hiểm, nhiều thủ đoạn? Một người yêu nước cô đơn? Một nhà lãnh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng… sinh bất phùng thời?

Do một trùng hợp tình cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ trần, chúng tôi đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên Phụ tá đặc biệt về chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa để thực hiện cuộc phỏng vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006).

Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi nhất trong số những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “vòng trong” thì ông là người đã nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.

 

Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc phòng trong chính phủ Phan Huy Quát. Năm 1967, ông là đại diện của Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ tại Hội đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua vào dinh Độc lập.

Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc bầu cử tháng 10-71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng thống với điều 10 khoản 7 đưa đến tình trạng độc cử.

Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01-74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống.

Ông là người trách nhiệm điều hợp các cơ chế hiến định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện… và có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này; đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm quyền của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính quyền và quân đội.

 

Tháng 5-1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 01-75, ông từ Mỹ và Gia nã đại về nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do sau khi TT Thiệu rời Việt nam đi Đài Loan tối ngày 25-4-1975.

Trong cuộc phỏng vấn, chúng tôi được ông Ngân cho xem một số chứng liệu liên hệ và chúng tôi đã yêu cầu được làm phóng ảnh văn kiện có thủ bút của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kèm theo phần kết thúc loạt bài phỏng vấn này.

Trần Phong Vũ – Ngày 25 tháng 9 năm 2006

 

Kỳ IV

NHỮNG BÍ ẨN CHUNG QUANH VỤ SÁT HẠI

CỐ TT NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG CỐ VẤN NHU

* Đâu là bộ mặt thật của tướng Trần Thiện Khiêm?

* “Nếu ông cụ và ông Nhu còn trong dinh, tôi sẽ……”

* Việc giết TT Diệm là một tội phạm lịch sử!

 

Trần Phong Vũ: Nhiều người cho rằng ông Thiệu rất đa nghi và đây là đặc tính căn bản về con người ông; một quan sát viên ngoại quốc nhận định ông ta đa nghi đến mức độ đã đập vở gương khi thấy bóng mình trong đó? Nếu đó là sự thực thì đã ảnh hưởng đến vấn đề xử dụng nhân sự như thế nào?

Đáp: Ông Thiệu là người rất tự tin. Đây chỉ là vấn đề cảnh giác chính trị bắt buộc phải có khi người Mỹ đã gài người vào các chức vụ then chốt trong guồng máy chính quyền và xung quanh ông.

Tôi đơn cử một trường hợp: Trong cuộc bầu cử Tổng Thống 1971, điều 10 khoản 7 được áp dụng nhằm giới hạn các liên danh tranh cử. Liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Trần Văn Hương  chiếm hơn 4/5 tổng số nghị viên và hơn 2/3 tổng số dân biểu, nghị sĩ; số nghị sĩ dân biểu còn lại chỉ vừa đủ cho liên danh Dương Văn Minh. Khi tôi hoàn tất hồ sơ tranh cử (gồm khoảng  600 văn kiện), ông Thiệu nói với tôi: “anh đem hồ sơ bỏ vào tủ sắt của tôi kẻo bọn nó (Mỹ) đánh cắp thì quơ tay”. Tủ sắt nầy là loại coffre-fort được xây kín trong bức tường của văn phòng ông Thiệu. Ngày nộp đơn tranh cử, tôi cho mở tủ sắt giao hồ sơ cho giáo sư Lê Tài Triển (đại diện liên danh) có an ninh hộ tống mặc dầu quãng đường từ dinh Độc Lập đến Tối Cao Pháp viện dinh Gia Long chỉ khoảng 300 thước. Những sự đề phòng nầy không phải không có sở cứ.

Sau 30/4/75, thời gian ông Thiệu ở Đài Loan đã bị một sĩ quan tùy viên đánh cắp chiếc cặp xách tay. Tôi hỏi ông Thiệu: Đại úy L. (tên viên sĩ quan) đánh cắp chiếc cặp vì tiền hay vì lý do nào khác? Ông Thiệu: tài liệu. Viên sĩ quan nầy nguyên là sĩ quan tùy viên của bà Thiệu. Chiếc cặp bị đánh cắp đã được cơ quan an ninh Đài Loan thu hồi, không có tiền bạc cũng như tài liệu mà chỉ có một số thư từ, giấy má lặt vặt.

Câu chuyện nầy làm tôi nhớ đến câu chuyện cuốn họa báo của Hồ Chí Minh có chữ ký tặng của Staline và một số nhân vật chính trị bộ Nga đã được Staline ra lệnh cho mật vụ đánh cắp lại trong thời gian Hồ Chí Minh lưu lại Moscow năm 1950 trong chuyến công du đầu tiên sang Nga và Trung Cộng để báo cáo và xin viện trợ.

Trước đó (lúc còn ở Việt Nam) vì lý do an ninh cá nhân và đề phòng trường hợp có thể bị ngăn trở vì một lý do bất khả kháng nào đó, ông Thiệu đã phát tán các hồ sơ mật với các cam kết của Tổng Thống Nixon đến một số cộng sự viên và chủ tịch các cơ quan hiến định; và vào những ngày cuối của miền Nam khi “nước cờ đã xả láng“, ông giao cho Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng để công bố tại Mỹ. 

Ông Thiệu sinh ra trong một gia đình trung nông, không đủ ruộng cày phải làm thêm ruộng rẽ của gia đình bà con. Lúc 5 tuổi được mẹ giao cho bán bánh tét ngoài chợ, với tuổi thơ nầy ông đã phải đối phó với mọi hạng người ở kẻ chợ, và sau nầy lớn lên qua nhiều môi trường thực tế đã tạo cho ông thành một con người thực tiễn với bản năng sinh tồn rất mạnh, luôn luôn đề cao cảnh giác trong mọi tình huống.

Tướng De Linarès, tư lệnh Bắc Việt (1952) đã phê trong quân bạ của ông Thiệu lúc còn là trung úy với những nhận xét rất chính xác: “thông minh sắc bén, cần mẫn, phương pháp và chi tiết. Sĩ quan ưu tú. Có ý thức cao độ về tổ chức và bảo mật”. (intelligence aigue, travailleur, méthodique et minutieux. Très bon officier. Possède un sens remarquable de l’organisation et du secret). Đây cũng là những đặc tính của một chuyên viên tình báo thượng thặng. Và theo tôi, người làm chính trị ở việt nam trước hết phải có đầu óc của người làm tình báo (và dĩ nhiên những người làm tình báo không hẳn là những người có khả năng làm chính trị).

Như đã nói, dưới thời ông Diệm cũng như ông Thiệu, Hội đồng Tổng, Bộ trưởng chỉ họp bàn những công việc có tính cách “routine“ hàng ngày. Ngay cả Hội dồng An ninh Quốc gia dưới thời đệ II cộng hòa cũng chỉ là “bình phong“ để ông Thiệu hợp thức hóa các quyết định của mình. Ông Thiệu nói: anh cũng biết bọn “xịa“ ngồi ở đó, làm sao tôi thảo luận được.. Ông Thiệu là người rất cô đơn trong suy nghĩ và làm việc nhưng không phải là người xa rời thực tế, chính nguyên tắc ngăn cách trong tổ chức làm việc đã giúp ông bảo mật và phát hiện cùng kiểm chứng sự thực. Ông cất giữ các lá bài “chủ”, nghe và tham khảo một cách chi tiết và riêng rẽ từng thẩm quyền liên hệ rồi tự mình làm phân tích, tổng hợp và quyết định. Trong thời gian hòa đàm Paris có khi nửa đêm nhận được thư của Nixon do tòa đại sứ Mỹ chuyển, ông ngồi một mình suốt đêm với bức thư, đọc đi, đọc lại, suy nghĩ…. chờ gần sáng điện thoại thức chánh văn phòng bảo triệu tập Hội Đồng An Ninh Quốc Gia để… có một thông cáo (bản tin) trên đài phát thanh là hôm đó Tổng thống đã họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Ông kể chuyện cho tôi hôm đại sứ Bunker về thăm sinh quán của ông ở làng Tri Thủy cứ ngỡ rằng ông biết thú câu cá từ nhỏ vì sống ở ven biển, ông trả lời ông Bunker là ông chỉ mới biết câu cá gần đây và nhờ người Mỹ ông đã trở nên một người câu cá giỏi. Ông dùng thì giờ một mình trên biển cả và đêm tối để suy nghĩ trong khi chờ cá cắn câu. Ông có một sức làm việc rất mạnh vượt trội trên mức của một người bình thường.

Ông Thiệu là người luôn luôn che giấu tư tưởng của mình và là chuyên viên khai thác tư tưởng của người khác. Chính vì biết che giấu tư tưởng, có tài ngụy trang và đánh lạc hướng, không mơ hồ lằn ranh giữa bạn và thù, nên ông Thiệu đã sống sót và đã thắng các đối thủ chính trị của ông –cái mà người ta nói là “bất chiến tự nhiên thành” . Ông là một nhà tâm lý học sâu sắc, đánh động được những tham vọng thầm kín của con người và luôn luôn cho họ nguồn hy vọng - và với bộ óc bén nhạy ông nắm bắt tư tưởng của người đối thoại rất nhanh. Mỗi một đối tượng đều được nghiên cứu, phân tách, lượng giá, xếp hạng…để quyết định phương kế đối xử. Cho đến lúc chết có những người vẫn không hiểu ý nghĩ thực sự của ông về họ như thế nào. Một bà nghị sĩ có cặp mắt và nụ cười rất lẳng vẫn ra vô thường xuyên dinh Độc Lập được xem là bạn thân của ông và ông Khiêm, nhưng khi tôi làm việc riêng với ông, ít khi ông gọi tên bà ta mà gọi là “con điếm xịa“. Một đại sứ Việt Nam được đánh giá là chuyên gia về các vấn đề Hoa Kỳ mà thực sự là nhân viên của cơ quan tình báo Mỹ, khi nhắc đến tên ông ta, mặt ông Thiệu thường đanh lại lộ vẻ khinh bỉ… Ông cực kỳ khinh ghét những thành phần trí thức khoa bảng là những người được xã hội ưu đãi về phương diện văn hóa lại làm gián điệp cho ngoại bang. Số người nầy rất nhiều, trong tất cả mọi ngành, nghề, mọi lãnh vực: viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư đại học, cha cố, sư sãi, lãnh tụ chính đảng…Người Mỹ cũng có kế hoạch trồng người và nuôi dưỡng như cộng sản, nhiều nhân vật đã được móc nối từ lúc còn là du học sinh là thành phần được xem là ưu tú của quốc gia hoặc thuộc hạng “con ông cháu cha“, nhiều bằng cấp kể cả học vị tiến sĩ quốc gia thuộc các lãnh vực khoa học thực nghiệm đã được cấp phát một cách rộng rãi để khi trở về có thể trèo cao trong guồng máy chính quyền, hay ít nữa để gây ảnh hưởng văn hóa… như một slogan trên tờ bìa của tạp chí Tiền Phong (cộng sản): “một khi văn hóa đã đi sâu vào đại chúng sẽ tác động như một sức mạnh vật chất”. Một hiện tượng nghịch lý là ở tại miền Bắc cộng sản, một người dân thuộc thành phần trung bình có thể hiểu rằng việc liên hệ với người ngoại quốc dù đó là Nga hay Tàu mà không báo cáo nội dung với chính quyền là một hành động phản quốc, thì trái lại tại miền Nam quốc gia việc liên hệ kể cả làm gián điệp cho Mỹ không cần phải dấu diếm mà còn được xem là một thứ hậu thuẫn chính trị.

Đối với ông Thiệu, Mỹ là kẻ thù dấu mặt nguy hiểm hơn cộng sản, còn cộng sản chỉ là kẻ thù đối mặt có thể nhận diện. Ông không bao giờ tin tưởng vào những người liên hệ xa gần với Mỹ, dù đó là bà con của ông và được ông ủy thác làm công tác giao liên với Mỹ. Cũng như những người cộng sản trong cuộc đấu tranh giai cấp bất khoan nhượng, ”thà chết oan 10 người còn hơn bỏ sót một”, ông vẫn thường nói với tôi một nguyên tắc làm việc của ông: “thừa mới là đủ, đủ là còn thiếu.”

 

Trần Phong Vũ: Nhiều nhân vật chính trị cho rằng ông Thiệu thuộc loại gian trá, thiếu sòng phẳng, ăn người v.v…Ông nghĩ sao về nhận định này?

 

Đáp: Tôi làm việc với ông Thiệu từ lúc ông làm tổng trưởng quốc phòng (1965) nghĩa là khởi đầu bước vào quyền lực chính trị và ở cương vị Tổng Thống sau này có nhiều việc ông không thể trực tiếp mà phải do người phụ trách công tác chính trị hậu trường thực hiện, tôi không hề thấy sự gian trá hay thiếu sòng phẳng….. Điều tôi thấy rõ là các đối thủ chính trị của ông Thiệu thiếu bản lãnh, thông minh và mưu lược, về các phương diện này ông Thiệu hơn hẳn họ cả một cái đầu.

Tôi lấy một trường hợp điển hình mà ông Thiệu bị xem là tráo trở:

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống 1967, Hội Đồng Tướng lãnh quyết định sáp nhập liên danh Thiệu – Kỳ làm một và để đánh đổi việc ông Thiệu làm ứng cử viên Tổng Thống, họ đã thành lập “Quân Ủy Hội” do tướng Kỳ làm chủ tịch  để buộc tướng Thiệu sau khi đắc cử phải lãnh đạo đất nước dưới sự tuân phục tổ chức này. Vào lúc quyết định thành lập Quân Ủy Hội, Hội đồng Tướng lãnh chỉ còn hơn 12 tiếng đồng hồ là hết hạn nộp đơn ứng cử theo luật định nên một Tướng Lãnh đã xé vội tờ giấy trong cuốn tập để thảo tay văn kiện cho cả hai ông Thiệu – Kỳ cùng ký vào cam kết. Đây là một tổ chức vượt trên Hiến Pháp 01-4-67 đương nhiên bị vô hiệu sau đó. Việc buộc ông Thiệu, một Tổng Thống dân cử theo Hiến Pháp phải tuân phục Quân Ủy Hội thì chẳng khác gì buộc ông Thiệu phải tuân phục một thứ tổ chức Mafia vì Quân Ủy Hội tự nó là một tổ chức “đen” bất hợp pháp và bất hợp hiến.

Việc sáp nhập Thiệu – Kỳ trong cuộc bầu cử Tổng Thống 1967 là một cuộc hôn nhân cưỡng ép đã khiến chính quyền gần như bị tê liệt trong suốt nhiệm kỳ 1967-71 trong khi quốc gia đòi hỏi phải có những cải tổ triệt để, cấp thiết và yêu tố thời gian có tính cách quyết định không còn chờ đợi chúng ta. Ông Kỳ từng là một thủ tướng toàn quyền, đã lập pháp trường cát bắn cộng sản, đã dẫn đầu nhiều phi vụ oanh tạc bắc vĩ tuyến 17, nhưng suốt thời gian giữ cương vị Phó Tổng Thống vì “mất ăn” ông chỉ làm công việc kết bè tụ đảng âm mưu đảo chánh ông Thiệu, tệ hại hơn nữa vì chống ông Thiệu nên đã chống phá chế độ, đâm sau lưng các chiến hữu của ông bằng cách tiếp tay cho nhóm cộng sản Hồ Ngọc Nhuận - Ngô Công Đức, các thành phần phản chiến…., dùng dinh Phó Tổng Thống (Dinh Công Lý) chứa chấp các phần tử cộng sản Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi…, lúc bị cảnh sát truy nã sau vụ sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát. Chính quyền ngày đó ở trong tình trạng “xấu chàng hổ ai” phải im thin thít như “gái ngồi phải cọc” vì không muốn gây hoang mang trong quần chúng.

Trần Phong Vũ: Ông Thiệu nói với ông:…bọn “ xịa “ ngồi trong Hội đồng An-ninh Quốc-gia; ông muốn ám chỉ ai?

Đáp: Ông Thiệu đâu cần phải ám chỉ. Trong số nầy, một nhân vật then chốt và thường trực của hội đồng an-ninh quốc-gia là ông Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng mà cả nước đều biết là một công cụ trung thành của Mỹ, là nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chánh 1/11/63.                                    

Trước đây, ô.ô. Diệm, Nhu cũng biết ông Khiêm là người của CIA nhưng đã lầm lẫn về con người của ông Khiêm nên đã giao chức vụ Tham mưu trưởng liên quân với mục đích “neutraliser“ các âm mưu đảo chánh của người Mỹ, cuối cùng cả hai anh em đều bị thảm sát dưới tay ông Khiêm. Các ông Diệm, Nhu là những người được giáo dục và lớn lên trong môi trường có tính cách khuôn mẫu, kinh điển, vẫn tưởng rằng những ân sủng của chế độ, những tình cảm xử sự như con cháu trong gia đình, cùng sự biến cải từ một sĩ quan cấp thấp trong quân đội đánh thuê của Pháp thành một tướng lãnh đứng đầu trong quân đội quốc gia có lý tưởng, có nhân cách, nhân phẩm…..., sẽ hết lòng bảo vệ chế độ.

Trần Phong Vũ: Thế còn những người đứng đầu các cơ quan an ninh, tình báo Việt Nam? Họ có phải là người của CIA hay không

Đáp: Họ đều là những cọng sự viên của CIA, hoặc tự nguyện hoặc tự tề. Danh từ “tự tề” là danh từ của ông Thiệu dùng khi nói chuyện với tôi. Các công tác tình báo do người Mỹ trực tiếp chi tiền; người nào chi tiền thì người đó làm chủ và kiểm soát.

Sau nầy ở hải ngoại có một lần tôi hỏi ý kiến của ông Thiệu về cái chết của Tổng Thống Park Chung Hee, ông trả lời: “bọn Mỹ chứ còn ai vào đó, có bao giờ giám đốc tình báo quốc gia là người tin cẩn do Tổng Thống bổ nhiệm lại bắn Tổng Thống!”

Tôi nhắc lại chuyện nầy để cho thấy tinh thần cảnh giác của ông Thiệu và hoàn cảnh bị “trói tay trói chân” của ông Thiệu ngày đó.

Trần Phong Vũ: Có bao giờ ông và ông Thiệu nói chuyện với nhau về vụ đảo chánh 1/11/63, cụ thể là những người liên hệ đến quyết định hạ sát Tổng Thống Diệm?  Một nhân chứng có thẩm quyền là trung tướng Trần văn Đôn trong hồi ký tiếng Anh vào năm 1976 chỉ đích danh tướng Dương văn Minh là người ra lệnh nhưng trong hồi ký tiếng Việt sau nầy ông hoàn toàn im lặng với một thái độ mơ hồ và quanh co. Theo báo chí ngoại quốc thì có lần ông Thiệu đã minh thị ông Minh là người đã ra lệnh?  \

Đáp: Trong thời gian làm việc nhiều khi chúng tôi có đề cập đến cuộc đảo chánh 1/11/63 ở những khía cạnh khác nhau và trong những dịp khác nhau.     

Tôi nhớ lần đầu tiên vào đầu năm 1965 lúc ông Thiệu là Phó Thủ tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc phòng và tôi là sĩ quan thuộc Phòng Nghiên Cứu/Bộ Quốc phòng, nhân một phiếu trình về bình định lãnh thổ, ông Thiệu nói với tôi: “ông Minh (Dương văn Minh) đã phạm sai lầm lớn sau 1/11/63 là đã phá bỏ ấp chiến lược và giải tán Thanh niên Cộng hòa…”. Trong cảnh “dậu đổ bìm leo“ và sự hồ hởi của những người vừa lật đổ chế độ cũ lúc đó, nhận xét và lượng giá khách quan của ông Thiệu đã tạo cho tôi một ấn tượng đặc biệt về ông.

Về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Nhu, trong phạm vi trách nhiệm của người chỉ huy tấn công dinh Gia Long, ông Thiệu nói: “nếu ông cụ và ông Nhu còn trong dinh thì tôi sẽ bảo vệ an ninh bằng cách đưa các ông về Tổng Tham mưu trên một xe jeep lật mui và sẽ không ai dám làm gì hết…”. Tôi biết điều ông nói là thực, ít nữa là với cương vị bấy giờ là một sĩ quan thừa hành cấp đại tá, ông đủ thận trọng và khôn ngoan – ông không thuộc loại người “múc nước ch. uống”. Đây là thành ngữ đôi khi ông dùng trong khi nói chuyện riêng với tôi nhân vài vụ trao đổi chính trị.

                                         Hình cố Tổng Thống Diệm bị thảm sát trong thiết vận xa (2/11/63)

Chỉ một lần duy nhất vào dịp tranh cử Tổng Thống 1971 tôi và ông Thiệu đã đề cập một cách cụ thể vấn dề có tánh cách “cấm kỵ“ nầy vì những nhân vật liên hệ còn nắm giữ những vai tuồng chính trị quan trọng. Lúc bấy giờ ông Dương Văn Minh muốn tranh phiếu của khối Công-giáo đã lên tiếng quy trách cái chết của Tổng Thống Diệm cho ông Thiệu do việc thi hành chậm trễ lệnh bao vây dinh Gia Long đưa đến sự đào thoát và cái chết sau đó. Ông Thiệu đã trả lời trong cuộc họp báo tại Tổng Tham Mưu: “…..việc một trung tướng “đổ thừa” cho một đại tá là một hành động hèn, khiếp nhược, không xứng đáng tư cách một quân nhân và một cấp chỉ huy…”

Trong cuộc thảo luận này chúng tôi đã đề cập và phân tách đến các danh từ: thủ phạm, chính phạm, tòng phạm, người trách nhiệm v. v… Tôi nói với ông Thiệu: trung tướng Dương Văn Minh là chủ tịch Hội-dồng Quân-nhân Cách-mạng, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Diệm, hơn nữa chính sĩ quan cận vệ của ông Minh đã trực tiếp hạ sát Tổng Thống Diệm và ông Nhu; tuy nhiên, thủ phạm chính và giấu mặt là người chủ chốt thực hiện vụ 1/11/63 tức ông Khiêm – là người đã triệu tập Hội đồng tướng lãnh, điều động lực lượng an ninh của Tổng Tham Mưu và nắm giữ lực lượng chủ lực của cuộc đảo chánh tức sư đoàn 5. Vào lúc ông Diệm quyết định ra trình diện đã chỉ thị cho sĩ quan tùy viên phải cố liên lạc trực tiếp với ông Khiêm như một bảo đảm cho sinh mạng, và chính ông Khiêm đã nhận điện thoại của đại úy Đỗ Thọ nhưng đã cố tình bất động, mượn tay ông Minh và nhóm tướng lãnh bất mãn để thi hành chỉ thị của người Mỹ.

Ông Thiệu im lặng một lúc, hoàn toàn không phản bác mà chỉ hỏi lại một cách thụ động: anh nghĩ như vậy sao?

Tôi đáp: không phải tôi nghĩ như vậy mà sự thực là như vậy. Nếu Tổng Thống ở vào địa vị ông Khiêm, Tổng Thống sẽ xử sự như thế nào? Chức vụ Tham mưu trưởng liên quân là chức vụ được Tổng Thống tín nhiệm và trực tiếp bổ nhiệm để cầm đầu quân đội, bảo vệ chế độ, thế mà lại làm tay sai cho ngoại bang, lợi dụng chức vụ lật đổ chế độ – ông Khiêm thừa hiểu đó là một hành động phản quốc nếu ông Diệm sống sót; hơn nữa với những ân sủng của ông Diệm cho ông Khiêm cùng sự xử sự như con cháu trong gia đình thì sự phản trắc cũng đủ để ông Khiêm phải thủ tiêu ông Diệm hầu khỏi thấy mặt.

Ông Thiệu im lặng khá lâu, cuối cùng ông nói: nếu ông cụ nán lại đến trưa không ra mặt thì bọn họ lên máy bay chạy hết, có ai tin ai đâu.

Trong những trường hợp tế nhị, ông Thiệu thường có thái độ lấp lửng hoặc những câu nói nửa vời thay cho sự xác nhận. Và do cuộc thảo luận nói trên nên tại cuộc họp báo ở Tổng Tham Mưu ông Thiệu nói: …” trung tướng Dương văn Minh, nguyên Chủ- tịch Hội- đồng quân- nhân cách- mạng, là người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong cuộc chính biến ngày 1/11/63…”

Việc giết Tổng Thống Diệm là một tội phạm lịch sử. Những người nhúng tay vào máu của ông Diệm không bao giờ dám ngẩng mặt lên nhận trách nhiệm: những người bị lộ diện đã sống một cách lén lút cho đến cuối đời như Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, những kẻ ném đá dấu tay thì vẫn tiếp tục ẩn mặt và trút trách nhiệm lên đầu những người đã chết. Sau 30/4/1975, ông Dương văn Minh được cộng sản cho xuất ngoại. Có một thời gian ở Pháp ông Minh đã từ chối không tiếp ông Đôn vì lý do trong cuốn Our Endless War xuất bản 1976 ông Đôn minh thị ông Minh như là một chính phạm. Ông Minh cho rằng đây là một sự quy trách bất công có tính cách gian trá vì ngày đó ông ta thực ra chỉ là một thứ “bung xung“ không quân, không tướng được đưa ra làm chủ tịch HĐQNCM một tư thế cưỡi cọp vì những kẻ chủ động không tin sẽ thành công rồi mượn bàn tay ông ta để dứt hậu hoạn. Đây là lý do trong bản Việt ngữ sau nầy, cuốn Việt Nam Nhân Chứng, ông Đôn đã không đề cập đến tên ông Minh hay bất cứ người Việt Nam nào mà chỉ nhắc đến câu nói của Lou Conein là phải tìm bắt ô. ô. Diệm, Nhu với chỉ thị “on ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs“ và chỉ nói một cách tổng quát là người nào đã quyết định việc hạ sát là người thấy xa. “Người thấy xa“ mà ông Đôn muốn ám chỉ là người Mỹ. Khi gởi cuốn “Việt Nam Nhân Chứng“ cho tôi, ông Đôn nói: “người ta trách móc tôi nhiều quá nên không muốn đụng chạm nữa“.     

Ông Khiêm là con người của những âm mưu trong bóng tối, lén lút, không bao giờ dám đối đầu công khai trừ phi có người Mỹ sau lưng và chắc ăn, vì vậy ông đã mất nhiều cơ hội để nắm vai trò lãnh đạo sau đảo chánh 1/11/63, sau chỉnh lý 30/1/64 là những biến cố ông có vai trò chủ động, và vì “mất ăn” nên các cuộc binh biến dưới thời Nguyễn Khánh đều có ông Khiêm đứng sau lưng giật dây.

Để rõ thêm con người của ông Khiêm, đây là câu chuyện ông Thiệu đã kể lại cho tôi lúc gặp tại Londres năm 1983. Tôi hỏi ông Thiệu: Tổng Thống vẫn liên lạc với ông Khiêm?

- Không.

- Lý do?            

- Anh nghĩ xem tôi và ông ta cùng đi qua Đài Loan một lúc; ở Đài Loan, tôi qua Anh thăm thằng Lộc (con trai ông Thiệu) để giải thích và an ủi nó về vụ 30/4, người lớn còn “xấc bấc, xang bang”, huống gì nó là một đứa nhỏ. Trong khi tôi vắng mặt, ông Khiêm đến chào bác Sáu để đi Mỹ (ông Kiểu, đại sứ tại Đài Loan - anh ông Thiệu). Ông Khiêm nói với bác Sáu: trong hai anh em phải có một người qua bên đó để nói lên tiếng nói của mình… Bác Sáu cười mỉa mai: “:…  thế thì tôi chúc chú lên đường bình an…”. Trong thời gian tôi ở Đài Loan, ông Khiêm không hề nói với tôi về việc ông làm thủ tục đi Mỹ…”

Cũng cần biết là sau 30/4/75, bà Anna Chennault có qua Đài Loan cho ông Thiệu biết là chánh phủ Mỹ không hoan nghênh việc ông Thiệu vào Mỹ; chín năm sau ông Thiệu mới vào Mỹ và định cư tại Boston.

Đến nay đã hơn 30 năm, ông Khiêm vẫn “thủ khẩu như bình“, như ngày nào ông là một thủ tướng “ngậm miệng ăn tiền“, một thủ tướng lâu nhất trong các thủ tướng kể từ thời Bảo Đại.

Câu chuyện ông Thiệu nói với tôi về ông Khiêm ở trên làm tôi liên tưởng đến một câu nói từ rất lâu của một nhân vật trong nhóm đảo chánh 1-11-63 đã phản ảnh với tôi về cái tình huynh đệ chi binh của họ bằng câu “bạn nhà binh, tình nhà thổ”. Một nhân vật then chốt khác cũng trong vụ 1-11-63 vào những ngày cuối đời cũng đã than với tôi: “… ông Ngân ạ, trên đời này làm gì có tình nghĩa!” Có lần ông Thiệu phàn nàn với tôi về tướng Nguyện Khánh: “Anh nghĩ xem… “thằng” Khánh tệ đến mức đã đuổi ông Khiêm đi (1964) thế mà khi gập lại ông Khiêm ở Hoa Thịnh Đốn (đại sứ) còn ngửa tay xin tiền  “mày  có tiền đưa tao một ít”… Tôi nghĩ bụng có gì tệ đâu, họ cùng một phường với nhau …“tao không còn cơ hội ăn cắp, mày còn cơ hội thì chia cho tao với”…

Ngày đó tôi vẫn tự hỏi: tại sao sáng 2-11-63 ông Thiệu lại không dùng binh lực có sẵn trong tay để thanh toán nhóm tướng lãnh phản loạn tại Bộ Tổng Tham Mưu hầu thực hiện một cuộc cách mạng triệt để mà quốc gia đang cấp thiết đòi hỏi cho cuộc đấu tranh sinh tử với cộng sản. Đám họ chỉ là sản phẩm của thực dân để lại, hèn nhát, bất tài và bất xứng. Ông Thiệu vẫn là người khá hơn hết và ông đã bỏ lỡ mất “cơ hội ngàn năm một thuở” vì sau 1965 khi quân đội Mỹ đã trực chiến thì chúng ta chỉ còn chờ chết!

Trần Phong Vũ: Trong thời gian làm việc có bao giờ ông đặt câu hỏi trên với ông Thiệu không?

Đáp: Không. Vì việc đã qua rồi.

Tình hình chính trị ngày đó luôn luôn bất ổn. Có những việc chỉ nên làm mà không nên nói, có những cơ hội bị bỏ lỡ cũng không nên nhắc lại khi thời gian và điều kiện không còn nữa, nói ra chẳng những vô ích mà nếu bị tiết lộ còn gây ra những trở ngại, khó khăn cho những dự tính và công việc sắp tới.

Trần Phong Vũ: Về vai trò của trung tướng Trần Văn Đôn trong vụ 1/11/63?

Đáp: Người Mỹ không tin ông Đôn nhưng bắt buộc phải xử dụng ông Đôn trong vụ 1/11/63 vì lúc bấy giờ ông Đôn giữ chức vụ quyền Tổng Tham mưu trưởng thay đại tướng Lê Văn Tỵ đi Mỹ trị ung thư. Ông Đôn đã được người Mỹ xử dụng “công tác món“ và sau đó đã bị loại trong vụ chỉnh lý 30/1/64.

      Ông Đôn và Lou Conein đã biết nhau từ 1946 tại Hà Nội: Conein là sỹ quan của OSS, cơ quan tiền thân của CIA, trong phái bộ của Archimedes Patti, còn ông Đôn là sĩ quan của phòng nhì Pháp làm việc dưới quyền đại úy Duprat trưởng ban phản gián thuộc Bộ Tham mưu của tướng Leclerc.