Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Chủ nghĩa cộng sản |
10.9.2007
Richard Pipes
Phạm Minh Ngọc dịch
Lời
nói đầu
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10911&rb=08
Đây là cuốn sách nhập môn và đồng thời cũng là lời ai điếu cho chủ nghĩa cộng
sản. Vì rõ ràng rằng nếu một lúc nào đó trong tương lai, việc tìm kiếm một sự
bình đẳng hoàn toàn, một tư tưởng từ thời cổ đại đã thúc đẩy các chiến sĩ đấu
tranh vì chủ nghĩa cộng sản không tưởng, có được tái tục thì cơ sở của những sự
tìm kiếm như thế sẽ không phải là chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Chủ nghĩa này đã
không còn một chút hấp dẫn nào, ngay cả những người cộng sản thời hậu Xôviết ở
Nga cũng như tại nhiều nước khác, trong các chiến dịch tranh cử, đã phải thay nó
bằng cương lĩnh dân chủ xã hội pha trộn thêm màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Vì thế
hôm nay chúng ta đã có đủ điều kiện lập bảng tổng kết cái phong trào đã từng giữ
thế thượng phong trong suốt thế kỉ XX và xác định xem liệu sự sụp đổ của nó có
phải là hậu quả của những sai lầm của một số người nào đó hay đây là kết quả của
những khiếm khuyết trong chính bản chất của nó.
Từ chủ nghĩa cộng sản xuất hiện ở Paris vào năm 1840, liên quan đến ba khái niệm khác nhau nhưng gắn bó mật thiết với nhau: lí tưởng, cương lĩnh hành động và chế độ nhận lãnh trách nhiệm biến lí tưởng thành hiện thực.
Lí tưởng bình đẳng tuyệt đối (thí dụ trong một số trước tác của Platon) đòi hỏi cá nhân phải tan biến vào tập thể. Vì bất bình đẳng về mặt xã hội và kinh tế có nguyên nhân chủ yếu từ sự bất bình đẳng về tài sản, muốn bình đẳng thì từng người phải từ bỏ “của tôi” và “của anh”, nói cách khác từ bỏ tư hữu. Lí tưởng này có nguồn gốc lịch sử lâu đời và thỉnh thoảng lại tái xuất hiện trong lịch sử tư tưởng phương Tây, kể từ thế kỉ thứ VII trước công nguyên cho đến tận ngày nay.
Cương lĩnh cộng sản xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XIX và gắn bó trước hết với tên tuổi của Karl Marx và Friedrich Engels. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, Marx và Engels viết: “những người cộng sản có thể tuyên bố học thuyết của mình bằng một câu thôi: bãi bỏ tư hữu”. Engels khẳng định rằng bạn ông đã đưa ra một lí thuyết khoa học chứng minh tính tất yếu của sự cáo chung của những xã hội dựa trên khác biệt về mặt giai cấp.
Mặc dù trong lịch sử loài người lí tưởng cộng sản cũng đã đôi ba lần được đưa ra thực hiện, nhưng sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước cho một thí nghiệm như thế chỉ mới được thực hiện lần đầu tiên ở nước Nga từ năm 1917 đến năm 1991. Vladimir Lenin, người sáng lập chế độ đó, cho rằng đấy là một xã hội bình đẳng, không còn tư hữu, sinh ra nhờ chuyên chính vô sản, một nền chuyên chính gánh trên vai trách nhiệm bãi bỏ tư hữu và đặt nền móng cho con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Chúng ta sẽ theo dõi chủ nghĩa cộng sản theo đúng trình tự như thế vì như thế là hợp lôgích và vì chủ nghĩa này cũng xuất hiện theo trình tự: đầu tiên là lí tưởng, sau đó là kế hoạch thực hiện và cuối cùng là biến lí thuyết thành hiện thực. Nhưng chúng ta sẽ quan tâm chủ yếu đến việc thực hiện bởi vì tự bản thân lí tưởng và cương lĩnh là những thứ vô hại, trong khi việc thực hiện chúng, nếu lại sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước, có thể dẫn tới những hậu quả không thể lường được.
I. Lí thuyết và cương lĩnh của chủ nghĩa cộng sản
Tư tưởng về một xã hội phi giai cấp xuất hiện lần đầu tiên tại Hy Lạp cổ đại. Hy Lạp cổ đại là nước đầu tiên trên thế giới công nhận quyền tư hữu ruộng đất, ruộng đất được coi là hàng hoá vì vậy cũng là nơi đầu tiên đối mặt với sự bất bình đẳng xã hội có nguồn gốc từ quyền tư hữu. Hesiodos, một người đương thời với Homer (thế kỉ thứ VII trước công nguyên), trong trường ca Lao động và ngày tháng đã ca ngợi “Thời hoàng kim” huyền thoại, khi con người chưa “nhiễm thói xấu là chạy theo đồng tiền”, khi của cải vẫn còn dư thừa và mọi người đều được quyền sử dụng như nhau, nhân loại sống trong một nền hoà bình vĩnh viễn. Đề tài “Thời hoàng kim” còn trở lại trong tác phẩm của hai thi sĩ người Roma là Vergilius và Ovidius; Ovidius viết về những giai đoạn khi con người chưa biết đến các khái niệm như “cột mốc biên giới và hàng rào”.
Lí tưởng cộng sản lần đầu tiên được Platon định danh về mặt lí luận trong các trước tác của mình. Trong tác phẩm Cộng hoà, thông qua Socrates, Platon khẳng định rằng bất hoà và chiến tranh có nguồn gốc từ sở hữu:
“Sự khác nhau như thế thường xảy ra do bất đồng về những từ như ‘của tôi’ và ‘không phải của tôi’, ‘của anh ta’ và ‘không phải của anh ta’… Chả lẽ việc xây dựng một nhà nước, nơi đa số người cùng sử dụng những từ như ‘của tôi’ và ‘không phải của’ đối với cùng một loại đồ vật không phải là cách làm tốt nhất hay sao?”
Trong các phẩm Các qui luật, Platon còn dự báo một xã hội, nơi người ta không những sở hữu chung tất cả, kể cả vợ con mà còn:
“riêng tư và tư hữu bị loại bỏ khỏi đời sống, những thứ về bản chất là riêng, thí dụ như mắt và tay cũng trở thành của chung và ở mức độ nào đó người ta cùng nhìn, cùng nghe và cùng hành động, tất cả mọi người cùng ca tụng hay cùng lên án, cùng vui cùng buồn vì cùng những lí do như nhau”
Aristotle, học trò của Platon, lại ngờ rằng cái Utopia cộng sản đó sẽ không đem lại hoà bình vì một lí do đơn giản là khi cùng sở hữu thì người ta dễ sinh ra cãi cọ hơn là tư hữu. Hơn nữa, ông khẳng định rằng nguồn gốc của các tranh chấp không nằm ở sự tư hữu mà ở ước muốn được sở hữu: “không cần cào bằng sở hữu mà phải san bằng ước muốn của con người”.
Nhiều người có quan niệm lầm lẫn rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chỉ là kiến giải mang tính thế tục, hiện đại, của Thiên chúa giáo mà thôi. Nhưng sự khác nhau, như Vladimir Sovoliev đã chỉ rõ, nằm ở chỗ nếu Chúa Giêsu chỉ kêu gọi các đồ đệ của ông từ bỏ sở hữu của chính họ thì các nhà xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa lại muốn tước đoạt sở hữu của người khác. Hơn nữa, Chúa Giêsu chưa bao giờ kêu gọi người ta phải sống trong nghèo đói, ông chỉ nói rằng người nghèo thì dễ được cứu chuộc hơn mà thôi. Câu nói nổi tiếng của Thánh Phao Lồ về tiền bạc cũng hay bị người ta trích dẫn sai: ông không nói rằng “tiền là nguồn gốc của tội lỗi” mà cho rằng nguồn gốc của tội lỗi là “tình yêu đối với tiền bạc”, nói cách khác, nguồn gốc của tội lỗi là lòng tham. Thánh Augustine từng hỏi: “Vàng là vật không tốt sao?” và ông đã trả lời: “Không, vàng là tốt. Nhưng kẻ ác dùng vàng để làm điều ác, còn người thiện thì dùng vàng vào việc thiện”.
Những người sáng lập nhà thờ Thiên chúa giáo và các nhà thần học sau này đều có quan điểm thực dụng đối với vấn đề sở hữu. Theo Thánh Augustine, xã hội không có sở hữu chỉ có thể tồn tại trên Thiên đường, chỉ tồn tại trong “Thời hoàng kim”, do mắc tội tổ tông mà loài người đã đánh mất. Vì sự thiếu hoàn thiện của chính con người cho nên sở hữu là phù hợp với đạo lí nếu người ta sử dụng nó một cách thông minh và cho những mục đích từ thiện. Nhà thờ Thiên chúa giáo không những không cổ xuý cho sự nghèo đói mà còn từ bỏ, thậm chí săn đuổi những kẻ cố tình làm như thế. Những người sáng lập đạo Tin lành, đặc biệt là Calvin, coi giầu có là hạnh phúc và dấu hiệu của lòng nhân từ của Chúa.
Nhưng quan niệm về “Thời hoàng kim” luôn luôn hiện diện trong tâm trí người châu Âu. Các nhà hàng hải thời xa xưa khát khao tìm kiếm không chỉ eldorado [1] và các vùng đất huyền thoại khác, nơi vàng bạc nằm đầy dưới chân chẳng khác gì bụi đất mà còn khát khao tìm kiếm những hòn đảo thiên đường trên trái đất, truyền thuyết về những vùng đất như thế từng lưu hành ở châu Âu thời Trung cổ. Và, khi lần đầu tiên cập cảng châu Mĩ, nhìn thấy những người da đỏ trần truồng thì họ tin chắc rằng đã thành công: không có cảm giác xấu hổ không phải là dấu hiệu của cuộc sống trước khi phạm tội tổ tông đó ư? Nếu quả thật các thổ dân đó sống trong thiên đường thì nhất định họ không có khái niệm gì về sở hữu. Khi quay trở về, Columbus thông báo rằng thổ dân ở đấy là những người “chất phác” và “nếu hỏi xin thì không bao giờ họ từ chối chia sẻ những thứ họ có; ngược lại, ai họ cũng mời”. Ông không rõ họ có khái niệm về tư hữu hay không, nhưng nhận xét thêm: “Tất cả mọi người đều dùng chung, đặc biệt nếu nói về thức ăn”.
Những cảm giác ngây thơ đầu tiên về người da đỏ châu Mĩ mau chóng nhường chỗ cho những đánh giá thực tế hơn, nhưng chúng đã kịp giúp tạo ra một nền văn chương không tưởng, một phần không thể tách rời của tư tưởng phương Tây từ đó đến nay. Vùng đất Utopia đặc trưng nhất được mô tả trong tác phẩm cùng tên của Thomas More, xuất bản năm 1516, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, chính là lấy cảm hứng từ báo cáo của Columbus và các nhà thám hiểm khác. Nhưng đấy không phải là vùng đất tốt đẹp như ngày nay ta quan niệm về Utopia, đấy là một xã hội rất nghiêm khắc và tuân theo các qui định rất khắt khe, tất cả mọi người đều mặc như nhau, đều sống trong những ngôi nhà giống nhau, không được đi đâu nếu chưa có giấy thông hành, không được tự ý thảo luận các vấn đề xã hội, hình phạt có thể là tử hình. Tiền bị bãi bỏ, vàng bạc được dùng để chế tạo ra những cái bô dùng vào ban đêm. Đề tài chung của những tác phẩm không tưởng sau này, cũng như của More, đều xoay quanh việc thiếu vắng sự giàu sang cá nhân, cũng như việc sử dụng bạo lực của xã hội đối với cá nhân con người: cả trong lí thuyết lẫn trên thực tế, Utopia nghĩa là cá nhân phải khuất phục chính quyền, con người buộc phải làm cái mà nếu được tự do anh ta có thể không muốn làm.
Cần phải nói rằng lí tưởng về một “Thời kì vàng son” mà không có tư hữu chỉ là một huyền thoại, một sản phẩm của ước mơ chứ không phải là sản phẩm của trí nhớ vì các nhà sử học, các nhà khảo cổ học và các nhà nhân chủng học đã thống nhất rằng chưa ở đâu và chưa bao giờ có chuyện tư liệu sản xuất từng là của chung. Tất cả các sinh vật sống, từ những thực thể đơn giản nhất cho đến những sinh vật phát triển nhất đều cần phải kiếm thức ăn, mà như thế, phải có quyền sở hữu không gian sinh tồn. Trong hàng ngàn năm, trước khi định cư và chuyển sang chăn nuôi và làm nông nghiệp, con người đã sống bằng săn bắn và hái lượm, các nhóm người gắn bó với nhau bằng quan hệ họ hàng đã khẳng định độc quyền chiếm hữu của mình trên những vùng đất nhất định, họ luôn luôn xua đuổi hoặc giết hại những kẻ ngụ cư. Yêu sách về sở hữu càng căng thẳng thêm khi người ta chuyển sang sản xuất nông nghiệp, tức là cách đây khoảng mười ngàn năm về trước, vì làm đất là một công việc nặng nhọc và không thể có kết quả tức thời.
Trong những nền văn minh cổ đại, cách đây khoảng năm ngàn năm về trước, tại Ai-Cập và Lưỡng Hà, ruộng đất là tài sản của triều đình. Chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Israel cổ đại là nước đầu tiên có sở hữu tư nhân về ruộng đất. Chúa Trời trong Cựu Ước nguyền rủa bất cứ kẻ nào dám di chuyển các phiến đá ngăn cách, trong Kinh Cựu Ước còn có mấy cuốn có những đoạn nói về các gia đình hoặc một số người có ruộng đất và bãi chăn thả riêng. Nhưng việc sở hữu ruộng đất ở Israel cổ đại còn bị hạn chế bởi một loạt qui ước về tôn giáo và chủng tộc. Chỉ ở Hy Lạp cổ đại là từ xa xưa đất đai đã là tài sản riêng. Nói cách khác, không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng ở một thời rất xa nào đó đã từng có những xã hội không biết đến “cột mốc biên giới và hàng rào”, chưa từng có xã hội nào không công nhận “của tôi” và “của anh”.
Bằng cách đưa ra quan niệm về bản chất của con người, các nhà tư tưởng thời Khai sáng đã có đóng góp to lớn vào lí thuyết của chủ nghĩa xã hội. Tại phương Tây người ta thường quan niệm rằng con người gồm có hai phần là thể xác và tinh thần, do Chúa Trời sáng tạo nên; người ta tin rằng tinh thần đã mang sẵn các tư tưởng và giá trị ngay từ khi lọt lòng mẹ. Đấy là quan điểm bảo thủ vì nó khẳng định sự bất biến của bản chất con người: bản chất của một người đã và sẽ mãi mãi như thế. Nói cách khác nếu một người nào đó có máu tham thì anh ta sẽ mãi mãi là một người tham lam.
John Locke, triết gia người Anh đã phản đối quan điểm như thế; trong tác phẩm Kinh nghiệm về nhận thức của con người, ông đã phủ nhận sự tồn tại của “các tư tưởng bẩm sinh”. Theo Locke, trí não (hay tâm hồn) khi mới sinh ra vốn là một tờ giấy trắng: tất cả các tư tưởng và giá trị đều có nguồn gốc từ kinh nghiệm. Lí thuyết này cho rằng bản chất của con người là mềm dẻo, không cố định, vì vậy có thể giáo dục được, trong khuôn khổ mà tính thiện của họ - các nhà triết học công nhận rằng bản chất con người vốn là thiện – có thể lấn lướt được thói ích kỉ. Claude Adrien Helvetius, một tư tưởng gia người Pháp thế kỉ XVIII còn chứng minh rằng việc giáo dục đúng cách và pháp luật không những có thể tạo điều kiện mà còn bắt buộc người ta đạt được phẩm hạnh hoàn hảo. Lí thuyết về tâm lí học cực kì đáng ngờ này đã trở thành di sản của chủ nghĩa tự do phóng khoáng, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; các chủ nghĩa này, ở những mức độ khác nhau, đều dựa vào giáo dục và/hoặc bạo lực nhằm đạt được các mục đích của mình. Ở một số khía cạnh nào đó, nhà nước cộng sản do Lenin thành lập ở nước Nga vào tháng 11 năm 1917 chính là một cuộc thí nghiệm vĩ đại trong việc giáo hoá xã hội, theo mô hình của Helvetius nhằm tạo ra con người hoàn toàn mới, con người đã giải thoát khỏi những thói hư tật xấu cũ, kể cả ước muốn tìm kiếm sự giầu sang.
Các nhà tư tưởng cấp tiến người Pháp thế kỉ XVIII là những người đầu tiên đưa ra cương lĩnh cộng sản, kêu gọi bãi bỏ tư hữu vì đấy là nguyên nhân của mọi tai hoạ trên đời. Morelly, trong bản luận văn Le Code de la Nature, đã viết như sau:
“Thói xấu duy nhất ở trên đời mà tôi biết chính là lòng tham, tất cả những cái khác, dù có gọi là gì thì cũng chỉ là hình thức hoặc mức độ của nó mà thôi… Hãy phân tích thói háo danh, tính kiêu ngạo, giả dối, đạo đức giả, sự độc ác; hãy tự khảo sát phần lớn các đức tính tốt của chúng ta, hoá ra tất cả đều hoà tan trong cái bản năng quỉ quyệt và tai hại, là khát vọng chiếm hữu.”
Như vậy, luận điểm cho rằng tâm lí của con người được quyết định bởi các điều kiện kinh tế chính là nền tảng của tất cả các học thuyết xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Cho đến giữa thế kỉ XIX lí tưởng bình đẳng vẫn chỉ là hoài bão, đôi khi cũng gây ra những vụ bạo lực, nhưng chưa hề có lí luận hay chiến lược gì. Thí dụ, thế kỉ XVII ở Anh có Winstanley, lãnh tụ của một nhóm cấp tiến lấy tên là Digger, kêu gọi những ngưởi ủng hộ mình chiếm các công điền và biến chúng thành các khu chăn nuôi gia súc. Ông ta đưa ra lí luận tương tự như học thuyết cộng sản: bãi bỏ việc buôn bán đất đai và các sản phẩm của nó. Một thế kỉ rưỡi sau, trong thời Cách mạng Pháp, một nhà cách mạng cấp tiến tên là Francois-Noel Babeuf đã thành lập một tổ chức gọi là “Âm mưu vì sự công bằng”, kêu gọi tập thể hoá toàn bộ tài sản. Nhưng cả hai ông này đều không thể đưa ra được lí luận chứng tỏ cho người ta thấy cuộc cách mạng xã hội mà họ hướng tới sẽ được thực hiện như thế nào. Vào đầu thế kỉ XIX, những nhà xã hội không tưởng khác như Saint-Simon Fourier hi vọng có thể thuyết phục được những người giàu có từ bỏ một phần tài sản của mình.
Thỉnh thoảng ở phương Tây lại xuất hiện các công xã cộng sản tự nguyện. Một trong những công xã như thế là Công ty Virgin ở Jamestown, được thành lập vào năm 1607; năm 1825 Robert Owen thành lập một công xã lấy tên là “Sự hoà hợp mới” ở Indiana. Tất cả các thử nghiệm như thế trước sau gì cũng thất bại vì không thể giải quyết được vấn đề “những kẻ lười biếng”, tức là những thành viên công xã chỉ muốn ăn mà không muốn làm.
Đóng góp của Karl Marx và Friedrich Engels cho chủ nghĩa xã hội là lí thuyết chứng tỏ rằng thiên đường bình đẳng không những là đáng mong muốn mà còn có thể xây dựng được, hơn nữa còn là tất yếu. Để chứng minh, họ đã sử dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên là những môn khoa học đã có uy tín rất cao trong xã hội lúc đó.
Marx và Engels đưa ra học thuyết “chủ nghĩa xã hội khoa học”, nói rằng lí tưởng về một xã hội bình đẳng không còn tư hữu không những có thể thực hiện được mà nhất định sẽ phải được thực hiện, đấy chỉ là kết quả phát triển tự nhiên của nền kinh tế mà thôi. Quan điểm Mác-xít về tiến hoá xã hội xuất hiện dưới ảnh hưởng của học thuyết Darwin, được trình bày trong Nguồn gốc các loài (1859). Cuốn sách của Darwin giải thích sự xuất hiện của các loài sinh vật như là kết quả của chọn lọc tự nhiên, chính sự chọn lọc này đã giúp cho các loài thích nghi với môi trường thù địch. Đây là một quá trình động, các loài phát triển từ thấp lên cao theo các qui luật đã được xác định. Các nhà nghiên cứu về hành vi của con người lập tức chớp lấy lí thuyết này, họ còn thành lập cả trường phái gọi là “Tâm lí học tiến hoá”, mô tả lịch sử như là quá trình phát triển theo “giai đoạn”, từ thấp đến cao. Ảnh hưởng của Darwin đối với Marx và Engels cao đến nỗi Engels, trong đám tang bạn mình, đã nói: “Giống như Darwin phát minh ra qui luật phát triển của thế giới hữu cơ, Marx phát minh ra qui luật phát triển của lịch sử loài người”.
Đưa tư duy về sự tiến hoá vào lí thuyết xã hội chủ nghĩa làm nảy sinh khái niệm không thể đảo ngược. Theo “chủ nghĩa xã hội khoa học” thì hoạt động của con người chỉ góp phần thúc đẩy hay làm chậm lại sự tiến hoá của xã hội nhưng không thể làm thay đổi được xu hướng vì xu hướng tiến hoá phụ thuộc vào các nhân tố khách quan. Như thế, theo các nguyên nhân sẽ được trình bày dưới đây, chủ nghĩa tư bản nhất định phải nhường chỗ cho chủ nghĩa xã hội. Tác động về mặt tình cảm của niềm tin này cũng chẳng khác gì niềm tin vào ý Chúa, nó là nguồn động viên rất lớn đối với những người tin tưởng tuyệt đối rằng dù có phải vượt qua biết bao nhiêu trở ngại, nhất định họ sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Lí thuyết này đã có một hấp lực rất mạnh đối với các nhà trí thức, vì nó hứa hẹn sắp xếp lại cuộc đời đầy lộn xộn này, biến đời sống thành ra có trật tự mà trí thức chính là những người thày, người hướng dẫn cho cái trật tự đáng mong ước đó. Marx đã giải thích điều đó bằng một câu nổi tiếng sau đây: “Các nhà triết học giải thích thế giới bằng những cách khác nhau, nhưng vấn đề là cải tạo nó”. Ai là người sẵn sàng cho việc cải tạo thế giới? Không phải trí thức thì còn ai nữa?
Dù tuân theo phương pháp khoa học nhưng chủ nghĩa Marx đã vi phạm một yêu cầu căn bản của phương pháp này, đấy là không định kiến và sẵn sàng làm cho lí thuyết thích nghi với các nhân tố mới. (Theo lời của Bertrand Russell thì chủ nghĩa Bolshevik, con đẻ của chủ nghĩa Marx, là một “tôn giáo” vì “không được phép tranh luận ngay cả khi nói về những vấn đề còn chưa rõ ràng về mặt khách quan”). Đây là một học thuyết cứng nhắc, không chấp nhận bất kì một quan điểm khác biệt nào. Marx không hề che giấu thái độ đối với những người bất đồng ý kiến với ông: phê bình, có lần ông đã viết “không phải là con dao mổ mà là vũ khí. Đối tượng của nó cũng là kẻ thù của nó, một đối tượng mà nó không muốn cải chính mà là muốn tiêu diệt”. Vì vậy có thể khẳng định rằng chủ nghĩa Marx là một giáo điều đeo mặt nạ khoa học.
Làm cho chủ nghĩa Marx thích nghi với truyền thống khoa học chỉ là một trong những khía cạnh hấp dẫn của nó mà thôi. Khía cạnh khác có liên quan đến những biến đổi của điều kiện xã hội diễn ra trong thời gian đó. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, sản xuất nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế thế giới. Cho đến lúc đó, 80 cho đến 90 phần trăm người châu Âu và Mĩ sống bằng canh tác nông nghiệp hoặc nhờ canh tác nông nghiệp: họ giầu là nhờ thu hoạch từ ruộng đất hoặc phát canh thu tô. Dĩ nhiên là công thương nghiệp đã từng tồn tại từ những ngày xa xưa, nhưng chỉ có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế. Đất là tài sản chủ yếu cho nên các phong trào đòi bình đẳng cũng dành nhiều sức lực cho đòi hỏi bãi bỏ quyền tư hữu ruộng đất.
Quan điểm của các phong trào đòi bình đẳng đã thay đổi hoàn toàn kể từ khi xuất hiện nền sản xuất công nghiệp đại trà. Tiền từ công thương nghiệp, chứ không phải địa tô, đã trở thành tài sản chủ yếu. Xuất hiện một hình thức nghèo đói mới vì quá trình cơ khí hoá làm hạ giá thành sản phẩm, các nghề sản xuất truyền thống trở nên lỗi thời, nhiều thợ thủ công thất nghiệp.
Công nghiệp hoá không chỉ tạo ra những xáo động đầy đau đớn trong xã hội mà còn dẫn đến những thay đổi căn bản và thường xuyên trong quan hệ giữa người sử dụng lao động và kẻ làm thuê. Điền chủ và tá điền là những người hàng xóm và theo một nghĩa nào đó thì họ chính là những đối tác của nhau. Mặc dù thỉnh thoảng tá điền vẫn bị đuổi hàng loạt, thí dụ như ở Anh thời kì có Luật hàng rào, nhưng nói chung cuộc sống nông thôn tương đối ổn định, đặc biệt là những nước như Mĩ, nơi đa số nông dân cũng là chủ mảnh đất mà họ canh tác.
Trong các xã hội kĩ nghệ, mối liên hệ giữa chủ tư sản và người làm thuê đã yếu hơn lại không bền vững vì người chủ có thể cho công nhân thôi việc khi nhu cầu giảm. Sự khác biệt lối sống là một thách thức đối với xã hội, những tên nhà giầu mới cố tình trưng ra tài sản của mình.
Sự phát triển như thế đã làm phát sinh lòng căm thù đối với “chủ nghĩa tư bản”. Chủ nghĩa xã hội, cho đến lúc đó mới là một lí tưởng được giới trí thức chia sẻ, bắt đầu nhận được sự ủng hộ của những nhóm công nhân nhất định.
Các trước tác của Marx và Engles gồm hàng chục tập, riêng bộ Tư bản đã là một ngàn bốn trăm trang in với rất nhiều thuật ngữ chuyên môn. Ít người đủ sức đọc hết những tác phẩm cực kì khó như thế, giải thích cho dễ hiểu lại càng khó khăn hơn. Nhưng vấn đề là các nguyên lí căn bản của học thuyết “chủ nghĩa xã hội khoa học” có thể qui về một vài luận điểm tương đối đơn giản.
Trong điếu văn đọc tại đám tang của Marx, Engles đã trình bày “qui luật của lịch sử nhân loại”, theo lời ông là được Marx phát minh như sau:
“Người ta trước hết phải ăn, uống, có nhà ở và quần áo mặc, trước khi có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v…, nghĩa là sản xuất các tư liệu trực tiếp của đời sống và như vậy mỗi một nấc phát triển kinh tế của một dân tộc hay một thời đại đều tạo ra hạ tầng cơ sở, trên đó sẽ phát triển các cơ quan nhà nước, các quan điểm pháp lí, nghệ thuật và ngay cả các quan niệm tôn giáo của người dân, vì vậy chúng phải được giải thích trên cơ sở đó chứ không phải ngược lại như người ta vẫn làm lâu nay.”
… Tóm lại kinh tế là hạ tầng cơ sở của một đời sống có tổ chức, tất cả những cái khác đều là “thượng tầng kiến trúc”.
Từ tiền đề đó, Marx và Engels đã đưa ra lí thuyết về sự phát triển của xã hội mà luận điểm cơ bản của nó nói rằng chính tư hữu tư liệu sản xuất đã dẫn đến việc hình thành các “giai cấp” xã hội. Khởi kì thuỷ chưa có tư hữu tư liệu sản xuất: mọi người cùng nhau sở hữu ruộng đất. Nhưng cùng với thời gian, chế độ “cộng sản nguyên thuỷ” nhường chỗ cho sự phân chia giai cấp, một nhóm người đã giành được độc quyền đối với các nguồn tài nguyên quan trọng sống còn và sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để bóc lột và áp bức nhân dân thông qua các thể chế chính trị và pháp lí, những thể chế chỉ có nhiệm vụ bảo vệ những quyền lợi giai cấp của họ. Nhóm người này đã sử dụng văn hoá bao gồm tôn giáo, luân lí, văn học và nghệ thuật cho cùng mục đích như thế. Các phương tiện này đã tạo điều kiện cho giai cấp cầm quyền bóc lột nhân dân.
Dĩ nhiên là các giai cấp hạ lưu không chấp nhận bị bóc lột; họ luôn đấu tranh chống lại, nhưng khi còn tư hữu thì thành quả của họ chỉ là thay một hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác mà thôi. Vì vậy, nói theo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, cho đến nay lịch sử xã hội loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp.
Những suy tư như thế về quá khứ chỉ là khúc dạo đầu của vấn đề mà Marx quan tâm hơn cả, đấy là phân tích thế giới “tư bản” đương thời với ông. Ông đã bỏ ra nhiều năm ròng rã để nghiên cứu lịch sử kinh tế nước Anh nhằm tìm cách chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản là giai đoạn tột cùng của xã hội có giai cấp và chế độ này sẽ phải sụp đổ trong một cuộc cách mạng do những người công nhân công nghiệp đang bị bóc lột tiến hành. Đấy sẽ là cuộc cách mạng cuối cùng vì nó sẽ dẫn đến việc thành lập xã hội không còn giai cấp nữa. Và đấy sẽ là sự cáo chung của lịch sử.
Hệ thống tư bản đặt cơ sở trên sự bóc lột lao động làm thuê theo ý nghĩa là nhà tư sản chiếm đạt “giá trị thặng dư” của món hàng mà người công nhân sản xuất ra. Theo Engels thì khái niệm “giá trị thặng dư” là phát hiện vĩ đại thứ hai của Marx, giúp ta hiểu được xã hội loài người. Toàn bộ giá trị đều được tạo ra bởi lao động. Nhưng trong hệ thống tư bản, người sử dụng lao động chỉ trả cho công nhân một phần nhỏ giá trị mà người công nhân này làm ra, chỉ đủ cho người lao động sống qua ngày mà thôi. Phần còn lại, tức là “thặng dư” thì người chủ đút vào túi mình.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, lãi suất của nhà tư sản cũng như tiền lương trả cho công nhân sẽ liên tục giảm. Đấy là do trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, nhà tư bản phải chi tiêu nhiều hơn cho việc trang bị máy móc, nguyên liệu v.v… và phải trả lương cho người lao động ít đi. Giá nhân công rẻ đi, tiền lương hạ xuống, mức sống sẽ thấp đi. Thêm nữa, trong các cuộc khủng hoảng, xuất hiện thường xuyên do kết quả của sản xuất thừa, các xí nghiệp lớn sẽ nuốt chửng các xí nghiệp nhỏ hơn, năng lực sản xuất công nghiệp sẽ ngày càng tập trung vào tay một số ít người hơn. Như vậy nghĩa là nhà tư bản và người công nhân cùng ngồi trên một con thuyền: tư bản thì bị mất nghiệp vào tay những kẻ giàu có hơn, còn công nhân thì trở thành nạn nhân của quá trình “bần cùng hoá”. Cùng với thời gian, tiến trình này nhất định sẽ dẫn đến cách mạng:
“Cùng với việc giảm liên tục số nhà đại tư bản, những kẻ chiếm đoạt và giữ độc quyền tất cả các món lợi của quá trình chuyển hoá này thì quần chúng nghèo khổ, bị áp bức, nô lệ, suy đồi, bị bóc lột cũng tăng thêm, nhưng đồng thời cũng gia tăng sự bất mãn của giai cấp công nhân, một giai cấp đang ngày càng tăng về số lượng, họ sẽ học tập, sẽ liên kết lại và tham gia tổ chức theo đúng cơ chế của chính quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Độc quyền tư bản sẽ trở thành gông cùm đối với phương thức sản xuất đã từng phát triển bên trong và bên dưới nó. Việc tập trung phương tiện sản xuất và xã hội hoá lao động sẽ đạt đến mức mà tự chúng sẽ trở thành không còn phù hợp với vỏ bọc tư bản chủ nghĩa nữa. Nó sẽ nổ tung. Giờ cáo chung của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ tước đoạt sẽ bị tước đoạt.” [2]
Những cuộc cải cách của chủ nghĩa tư bản cũng không có khả năng ngăn chặn cái kết cục ấy: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản là tất yếu.
Kết quả cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ là sự giải phóng hoàn toàn con người. “Tự do” trong quan niệm của Marx và Engels không có gì chung với quan điểm phóng khoáng về quyền công dân và sự bảo vệ những quyền đó từ phía nhà nước: “Tự do chính trị là tự do ảo”, Engels đã viết như thế, “là một dạng nô lệ thấp kém nhất; nó chỉ có vẻ tự do và vì vậy mà trên thực tế là nô lệ [3] ”. Tương tự như Engels, Marx cũng coi các quyền tự do và quyền công dân là sự lừa mị vì chúng làm cho con người trở thành nô lệ của phúc lợi vật chất; tự do chân chính sẽ giải phóng con người khỏi tình trạng nô dịch như thế. George Lukacs, một lí thuyết gia Mac-xít giải thích điều đó như sau:
“Tự do” của những người đang sống hiện nay là tự do của các cá nhân, bị phân tán bởi sở hữu… Đấy là tự do của những cá nhân vis-à-vis (so với) những người khác. Tự do của một kẻ ích kỉ; tự do của một người tự tách mình khỏi những người khác.” [4]
Vì vậy việc loại bỏ tư hữu chính là điều kiện cần thiết của tự do chân chính. Phải giải thoát khỏi sự phụ thuộc đó thì nhân loại mới đạt đến sự tự thể hiện hoàn toàn. Phân công lao động sẽ biến mất và người ta có thể tự do chuyển từ công việc này sang công việc khác. Marx mơ mộng:
“Trong xã hội cộng sản, nơi không có ai bị giới hạn lĩnh vực hoạt động nhất định… xã hội điều tiết toàn bộ quá trình sản xuất và vì vậy sẽ tạo điều kiện cho tôi hôm nay làm việc này, ngày mai làm việc khác, sáng đi săn, giữa trưa đi câu cá, chiều chăn gia súc, sau bữa ăn tối thì làm phê bình - tuỳ thích – và không vì thế mà biến tôi thành thợ săn, ngư dân, người chăn nuôi hay nhà phê bình.” [5]
Lí thuyết của Marx và Engels đặt nền móng cho cương lĩnh của Hiệp hội Công nhân Quốc tế, vẫn thường được gọi là Quốc tế I, do họ lập ra ở London vào năm 1864 nhằm chuẩn bị cho người lao động ứng phó với cuộc khủng hoảng tư bản chủ nghĩa đang đến gần. Tổ chức này đã bị chia rẽ ngay từ đầu bởi những cuộc tranh cãi bất tận giữa những người xã hội và những người vô chính phủ. Mặc dù những người vô chính phủ và những người xã hội có chung mục đích, đấy là xã hội phi giai cấp, không còn chính phủ và cùng coi cách mạng bạo lực là phương tiện, nhưng họ lại khác những người xã hội ở ba điểm. Những người vô chính phủ cho rằng không chỉ công nhân công nghiệp mà nông dân không có ruộng và những người vô nghề nghiệp cũng là lực lượng tiềm tàng của cách mạng. Thứ hai, những người xã hội cho rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một giai đoạn chuyển tiếp (đôi khi vẫn được gọi là “chuyên chính vô sản”), đấy là giai đoạn mà giai cấp cầm quyền mới sử dụng sức mạnh cưỡng bức của nhà nước nhằm tước đoạt giai cấp tư sản và tiến hành quốc hữu hoá tư liệu sản xuất. Trong khi đó những người vô chính phủ phủ nhận mọi hình thức nhà nước, họ tiên đoán rằng “chuyên chính vô sản” sẽ biến thành phương tiện nô dịch mới, lần này là do những người trí thức giật dây vì quyền lợi của chính họ. Cuối cùng, nếu những người xã hội tin vào sự tiến bộ diễn ra một cách tự nhiên của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và chính sự tiến bộ này sẽ dẫn tới cách mạng thì những người vô chính phủ lại kêu gọi “hành động trực tiếp”, nói cách khác, tấn công ngay lập tức vào hệ thống hiện hành.
Thời gian đã chứng tỏ rằng những người vô chính phủ đã dự đoán đúng cả ba vấn đề: các cuộc cách mạng xã hội không bùng nổ trong các nước công nghiệp mà diễn ra trong các nước nông nghiệp, còn “chuyên chính vô sản” thì biến nhà nước cộng sản thành một nền chuyên chính vĩnh cửu của những người không phải là công nhân đối với những người lao động chân tay và tầng lớp nông dân. Cuộc cách mạng Bolshevik vào năm 1917 ở Nga là kết quả của một cuộc tấn công trực diện vào chính phủ của một nước, nơi mà chủ nghĩa tư bản còn đang ở trong giai đoạn phát triển ban đầu.
Như vậy nghĩa là, hoá ra trên thực tế tất cả các dự đoán của Marx đều sai, ngay từ khi Marx còn sống điều đó càng ngày càng trở nên rõ ràng và sau khi ông mất thì trở thành sự kiện không thể tranh cãi.
Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã trải qua những giai đoạn khủng hoảng, nhưng khủng hoảng có thể dẫn tới sụp đổ thì chưa. Đấy là nhờ một phần ở các bộ luật chống độc quyền, phần khác là nhờ sự phát triển của kĩ thuật, mở ra khả năng mới cho các doanh nghiệp nhỏ, phần nữa là nhờ sự phát triển không ngừng của lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn ngành công nghiệp chế biến, quá trình tập trung tư bản và sản xuất đã không dẫn đến việc bóp chết các xí nghiệp nhỏ và chỉ còn lại các tập đoàn khổng lồ. Sự ra đời của các công ty cổ phần lại góp phần vào việc tái cấu trúc tài sản của xã hội.
Còn về những người lao động thì họ cũng không trở thành nạn nhân của quá trình bần cùng hoá. Ngay lúc Marx đang viết Tư bản, ở Anh đã có những bằng chứng chứng tỏ tiền lương của người lao động đã gia tăng, nhưng Marx cho rằng đấy là điều không đáng quan tâm. Một sự kiện còn quan trọng hơn, đấy là sự ra đời của các chương trình bảo trợ xã hội của chính phủ. Các nước có nền dân chủ đã công nghiệp hoá lo lắng về thành tựu của các tổ chức của người lao động cũng như việc các đại biểu của họ trúng cử vào quốc hội đã phải ban hành các đạo luật về bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế cũng như các ưu tiên ưu đãi khác, không để giai cấp công nhân bị chìm đắm mãi trong cảnh bần hàn. Đức là nước đầu tiên bước chân lên con đường ấy, Đảng Dân chủ Xã hội Đức là một đảng rất mạnh có thể đạt được đa số trong quốc hội. Cùng với việc nhiều nước châu Âu theo gương Đức, công nhân cũng ngày càng quan tâm hơn đến việc bảo tồn hiện trạng (Status-Quo), họ không còn nghe theo lời hiệu triệu cách mạng của những người xã hội nữa: họ có thái độ hoàn toàn ngược lại với khẳng định của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản rằng “giai cấp vô sản không có tổ quốc”. Người lao động đã không còn là vô sản theo nghĩa ban đầu của từ này nữa, nghĩa là không còn là giai cấp chỉ có nhiêm vụ sinh con (cu li) cho nhà nước nữa. Người lao động coi trọng hoạt động công đoàn hơn, họ chấp nhận trật tự tư bản và hướng tất cả cố gắng của mình vào việc giành thêm phần từ lợi nhuận mà chủ nghĩa tư bản mang lại. Như vậy là người lao động đã trở thành một phần của chính cái hệ thống mà theo Marx là phải bị tiêu diệt.
Vì tất cả những lí do đó mà cách mạng đã không nổ ra ở bất cứ nước tư bản chủ nghĩa phát triển nào: trong suốt một trăm năm sau khi Marx qua đời, những cuộc cách mạng như thế chỉ diễn ra, theo đúng dự đoán của những người vô chính phủ, trong các nước thuộc thế giới thứ ba, những nước có nền kinh tế tư bản vừa mới thành hình, với khối quần chúng nông dân không ruộng đất hoặc có rất ít ruộng đất và chế độ độc tài.
Các khiếm khuyết của học thuyết Mác-xít sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó vẫn nằm trên giấy như một sơ đồ lí luận. Nhưng đây còn là một cương lĩnh hành động cho nên ngay khi các dự đoán của nó mới có vẻ là sai - chuyện này đã trở nên rõ ràng ngay sau khi Marx mất – thì những người xã hội và sau đó là chính những người cộng sản, dù vẫn tuyên bố trung thành với học thuyết, đã bắt đầu xem xét lại học thuyết Mác-xít. Trong các nước dân chủ phương Tây việc xét lại này thường chỉ làm giảm đi tinh thần cách mạng và đưa chủ nghĩa xã hội đến gần hơn với chủ nghĩa tự do phóng khoáng mà thôi. Kết quả là sự xuất hiện của phong trào dân chủ xã hội. Ngược lại, trong các nước Đông Âu và các nước thuộc thế giới thứ ba việc xét lại lại làm nổi rõ thêm thành tố bạo lực trong chủ nghĩa Marx. Chủ nghĩa cộng sản đã xuất hiện như thế. Còn chủ nghĩa Marx nguyên chất, không pha tạp thì chưa được chấp nhận ở bất kì đâu như một cương lĩnh chính trị vì nó không phù hợp với thực tế.
Quốc tế thứ nhất tan rã vào năm 1876, nhưng được tái sinh vào năm 1889, sau khi Marx đã qua đời. Đấy là Quốc tế II, tổ chức tập hợp các đảng xã hội tất cả các nước (không còn những người vô chính phủ nữa), với hạt nhân là Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Cách mạng trên các biểu ngữ, tiệm tiến trong thực tế, trước Thế chiến thứ nhất, Quốc tế II đã giữ thế thượng phong trong chính sách của những người xã hội. Cương lĩnh chính thức của tổ chức này, thường được gọi là Cương lĩnh Erfurt, được thông qua vào năm 1891, tuyên bố rằng quyền lợi của nhà nước “tư bản” và quyền lợi của giai cấp công nhân là không thể dung hoà, người công nhân không có trách nhiệm gì đối với đất nước: họ chỉ trung thành với giai cấp mình mà thôi. Cương lĩnh khẳng định tình đoàn kết quốc tế của những người lao động và tính tất yếu của cách mạng, một cuộc cách mạng sẽ đập tan chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản trên toàn thế giới.
Không phải tất cả những người xã hội đều chấp nhận cương lĩnh cấp tiến này. Trên khắp châu Âu đã vang lên những lời cảnh báo rằng điều kiện sống của giai cấp công nhân sẽ được cải thiện bằng các biện pháp chính trị và kinh tế chứ không phải bằng một cuộc cách mạng bạo lực. Jean Jaures, một đảng viên xã hội người Pháp tiên đoán:
“Giai cấp vô sản sẽ giành được quyền lực không phải bằng một cú bùng nổ bất ngờ của công tác cổ động chính trị mà phải dựa vào việc tổ chức công khai, có phương pháp lực lượng của mình trong điều kiện của nền dân chủ và phổ thông đầu phiếu. Xã hội chúng ta sẽ tiến dần đến chủ nghĩa cộng sản không phải bằng cách đập tan chế độ tư bản mà bằng việc tăng cường lực lượng của giai cấp vô sản một cách thường xuyên và liên tục.”
Ủng hộ mạnh mẽ nhất cho đường lối này là tổ chức gọi là Fabian ở Anh, trong đó có những thành viên vốn là những danh nhân văn học như George Bernard Shaw và Herbert George Wells. Cương lĩnh của tổ chức này yêu cầu “thuyết phục” đất nước giải thoát khỏi chủ nghĩa tư bản bằng cách quốc hữu hoá nền công nghiệp; cũng như các nhà xã hội chủ nghĩa tiền Mác-xít, những người Fabian cũng hướng đến lương tâm của dân tộc.
E. Bernstein là người tiến hành một cuộc công kích táo bạo nhất vào các nguyên lí và cương lĩnh của chủ nghĩa Marx. E. Bernstein là một yếu nhân của Đảng Dân chủ Xã hội Đức, người sáng lập ra “chủ nghĩa cải lương” trong phong trào xã hội. Ông đã sống nhiều năm ở Anh và đã từng tiếp xúc với phong trào Fabian. Cuối những năm 1890 ông kêu gọi những người dân chủ xã hội cải tiến lí thuyết của mình cho phù hợp với thực tiễn là chủ nghĩa tư bản chưa thể sụp đổ, còn quần chúng lao động cũng không rơi vào cảnh bần hàn. Vẫn tin vào chủ nghĩa xã hội, nhưng giống như Jaures, ông coi đấy là kết quả của quá trình phát triển kinh tế và chính trị một cách hoà bình trong lòng chủ nghĩa tư bản
Đảng Dân chủ Xã hội Đức, đảng mạnh nhất và có ảnh hưởng nhất ở châu Âu phủ nhận lí thuyết xét lại của Bernstein và tiếp tục đi theo cương lĩnh cách mạng được thông qua tại Erfurt. Nhưng trên thực tế, đảng này lại làm chính những điều mà Bernstein bảo vệ, tức là dành nhiều sức lực cho phong trào công đoàn và các cuộc bầu cử vào quốc hội. (Mãi đến năm 1959 đảng này mới chính thức li khai chủ nghĩa Marx).
Như vậy là trong giai đoạn sung sức nhất, tức là khoảng một phần tư thế kỉ trước khi nổ ra Chiến tranh Thế giới I, phong trào xã hội chủ nghĩa ở phương Tây trên thực tế đã từ bỏ con đường bạo lực và chuyển sang đường lối cảo tạo xã hội một cách hoà bình, tuy về mặt lí luận không phải lúc nào họ cũng nói như thế. Phong trào giữ vững niềm tin vào tình đoàn kết quốc tế của những người lao động. Quốc tế II cho rằng công nhân tất cả các nước đều là anh em và nhiệm vụ cao cả nhất của họ chính là ngăn chặn các cuộc chiến tranh mà chủ nghĩa tư bản cố tình gây ra. Đề tài này thường được đưa ra thảo luận tại các cuộc hội nghị của Quốc tế. Người ta đã đưa ra nhiều đề nghị nhằm ngăn chặn chiến tranh cũng như đã thảo luận về các hành động cần phải làm nếu chiến tranh vẫn cứ bùng nổ. Nghị quyết được thông qua tại Hội nghị ở Stuttgart vào năm 1907 (có V. Lenin và L. Martov tham gia) kêu gọi, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, “phát động quần chúng và bằng cách đó đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chính quyền tư sản”, nói cách khác, biến chiến tranh giữa các nước thành nội chiến giữa các giai cấp. Trong hội nghị tiếp theo vào năm 1910 các đại biểu thống nhất thông qua nghị quyết đòi các nghị sĩ xã hội biểu quyết phản đối ngân sách chiến tranh.
Nhưng hoá ra các đảng viên xã hội cũng như Quốc tế II của họ không đủ sức ngăn chặn sự bùng phát của cuộc chiến tranh trên toàn châu Âu vào mùa hè năm 1914. Những câu chuyện về một cuộc tổng đình công chẳng đưa đến đâu. Hơn thế nữa, cả những người dân chủ xã hội Đức lẫn các đảng viên xã hội Pháp, trái ngược với những thề bồi trước đây, đều biểu quyết thông qua ngân sách chiến tranh và bằng cách đó đã làm mất uy tín của chính tư tưởng về tình đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản. Lòng trung thành với tổ quốc hoá ra cao hơn tình hữu ái giai cấp; A. Hitler và B. Mussolini, hai kẻ mị dân và rất háo danh, sau khi chiếm được chính quyền dựa vào cơ sở cương lĩnh hợp nhất giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc, đã không bỏ qua sự kiện này.
Số phận của Quốc tế II đã được định đoạt khi nó không có khả năng thực hiện những lời hứa chống chiến tranh của mình. Chiến tranh rồi cũng qua đi, các đảng xã hội vẫn còn tồn tại nhưng càng ngày họ càng gắn bó với đất nước của mình hơn.
Sự nghiệp của quốc tế xã hội chuyển từ phương Tây, lúc đầu là sang Nga và sau đó là sang các nước càng ngày càng xa phương Tây hơn.
Bản tiếng Việt © 2007 talawas
[1]Vùng đất
thần tiên (ND)
[2]Karl Marx, Tư bản,
Q 1, XXIV
[3]K. Marx, F. Engels,
Toàn tập, tập 1, Moskva 1955, trang 526
[4]George Lukacs,
History and Class Consciousness. Cambridge, Mass, 1971, p. 32
[5]K. Marx, F. Engels,
Toàn tập, tập 3, Moskva 1955, trang 32
II. Chủ nghĩa Lenin
Bắt đầu từ năm 1709, khi Peter Đại Đế đánh bại người Thuỵ Điển tại Poltava và chấm dứt giai đoạn bá quyền của họ ở vùng Ban-tích, nước Nga được coi và cũng tự coi là một siêu cường và đòi hỏi vị trí của mình như một siêu cường trên lục địa châu Âu.
Ở khía cạnh nào đó, đòi hỏi này là chính đáng. Saint-Peterburg, thủ đô của nước Nga được xây dựng theo hình mẫu của Amsterdam, trên thực tế là một thành phố châu Âu, còn giới thượng lưu Nga, nói thông thạo tiếng Pháp, không xa lạ gì với văn hoá phương Tây. Văn học, nhạc, nghệ thuật và khoa học Nga xuất hiện vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX có thể so sánh với văn hoá châu Âu và trong một vài lĩnh vực còn đi tiên phong, điều này dễ gây ra ngộ nhận.
Nhưng nền văn hoá cao đó chỉ là tài sản của một giai tầng hạn hẹp của xã hội, đấy là giới quí tộc, trí thức và tầng lớp quan chức cao cấp. Ba phần tư dân chúng của đế chế là nông dân, mà phần đông trong số họ vẫn sống trong một thế giới riêng, chưa hề bị nền văn minh châu Âu đụng chạm tới. Họ không có tiếng nói chung với những người có học, thậm chí còn coi giới trí thức như người ngoại quốc. Đa số nông dân Nga không phải là các điền chủ, tự canh tác trên khoảnh đất của mình; họ là thành viên của các công xã nông thôn và thường phân chia lại ruộng đất theo định kì, tuỳ thuộc vào sự thay đổi số nhân khẩu trong từng gia đình. Theo quan niệm của nông dân thì ruộng đất không phải là hàng hoá mà là nguồn sống; chỉ có những người canh tác mới có quyền sở hữu ruộng đất.
Nông dân còn có đặc điểm là bảo thủ, trung thành với Hoàng đế và nhà thờ Chính thống giáo. Chỉ có một khía cạnh và là khía cạnh duy nhất, trong đó người nông dân có thể trở thành động lực của cách mạng, mà cụ thể là: họ là những người không đủ ruộng đất canh tác. Người nông dân Nga không phải là giai cấp vô sản bị áp bức ở nông thôn: vào năm 1916 họ chiếm tới 89,1% đất canh tác tại phần châu Âu của nước Nga [1] . Nhưng số lượng nông dân lại tăng nhanh hơn phần diện tích canh tác nằm dưới quyền sử dụng của họ: nếu giữa thế kỉ XIX một diện tích đất dành cho hai nhân khẩu thì sau 50 năm phải nuôi đến ba nhân khẩu. Phương pháp quảng canh truyền thống cùng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt làm cho năng suất không cao. Nông dân tin rằng một ngày nào đó Sa hoàng, mà họ coi là người chủ hợp pháp của toàn bộ đất đai, sẽ thu hồi đất của địa chủ và cả những nông dân sở hữu ruộng đất để phân chia cho các công xã. Nếu ông ta không làm như thế, đầu những năm 1890 đã xuất hiện những mối ngờ vực là ông ta không làm như thế, thì nông dân sẵn sàng chiếm ruộng đất bằng bạo lực. Các tác nhân khác cũng góp phần ngăn chặn việc biến Nga thành một nước phương Tây. Trong suốt quá trình lịch sử của mình chính quyền Nga là một chính thể chuyên chế, Sa hoàng không chỉ có toàn quyền trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp mà còn sở hữu toàn bộ đất nước theo đúng nghĩa đen của từ này, ông ta có thể sử dụng cả nhân tài và vật lực của quốc gia theo ý mình; đấy là một chế độ mà Marx Weber, nhà xã hội học Đức, gọi là “làng xã”. Việc quản lí đế chế được giao cho tầng lớp quan lại, cùng với lực lượng cảnh sát và quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự, họ không bao giờ phải báo cáo hay chịu trách nhiệm gì trước dân chúng. Cho đến năm 1905, khi các phong trào nổi dậy của dân chúng buộc Sa hoàng phải ban bố hiến pháp và các quyền dân sự, người dân Nga có thể bị bắt và lưu đày mà không cần xét xử chỉ vì những suy tư về việc thay đổi chế độ đương thời.
Cuối thế kỉ XVIII sở hữu tư nhân về ruộng đất mới được áp dụng ở nước Nga, mà cũng chỉ giới quí tộc mới được hưởng quyền này, còn trước đó tất cả ruộng đất đều là sở hữu của nhà vua. Trong khi đó ở phương Tây, ngay từ thời Trung cổ phần lớn ruộng đất đã thuộc quyền sở hữu tư nhân. Các thiết chế pháp lí, thường phát triển song hành với quyền tư hữu, cũng xuất hiện muộn: các bộ luật đầu tiên xuất hiện vào năm 1830 và mãi đến năm 1860 mới có các toà án thực sự. Cho đến lúc đó đa số người dân Nga vẫn là nông nô của nhà nước hay của tầng lớp quí tộc, nông dân không được hưởng quyền tư pháp và quyền sở hữu tài sản. Các cơ quan đại diện có mục đích ngăn chặn bớt quyền lực của ngai vàng xuất hiện vào năm 1906, nghĩa là chậm một thế kỉ so với quốc hội phương Tây. Chưa có bộ luật dân sự. Điều đó chứng tỏ rằng đa số người Nga cũng như các dân tộc bị họ cai trị không thể trông cậy gì được nơi chính phủ của mình. Họ phục tùng vì không có con đường nào khác, lí tưởng của họ là vô chính phủ.
Các Sa hoàng, trong khi bóp nghẹt đất nước như thế nhưng lại muốn giữ địa vị siêu cường, đã buộc phải thực hiện những bước đi mà chắc chắn sẽ làm lung lay quyền lực của chính hoàng gia. Các trường đại học Nga, trong khi tiến hành công việc phổ biến kiến thức và phương pháp tư duy có tính phê phán, đã góp phần tạo ra một tầng lớp công dân không chấp nhận việc bóp nghẹt tự do ngôn luận. Alexander Herzen đã viết về nan đề của thế hệ ông như sau:
“Người ta dạy chúng tôi kiến thức, người ta gieo vào lòng chúng tôi ước mơ, khát vọng và nỗi đau của thế giới đương đại, nhưng sau đó họ lại hạ lệnh: ‘Hãy tiếp tục làm nô lệ, tiếp tục là những người câm, những người bất động nếu không các ngươi sẽ chết’.”
Chính sách mâu thuẫn như thế đã tạo ra một tầng lớp trí thức đặc trưng bởi thái độ thù địch với tất cả trật tự xã hội và thể chế chính trị hiện hành; họ tin rằng hành động như thế chính là cách nói thay cho người dân thấp cổ bé miệng. Môi trường hoạt động của các nhà cách mạng, từ những “thánh tông đồ” của các biện pháp bất bạo động đến những kẻ khủng bố cực đoan, không phải là công trường hay nhà máy mà chính là các trường đại học.
Các Sa hoàng còn khuyến khích phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, đây cũng là chính sách góp phần làm lung lay hệ thống quyền lực của ngai vàng. Nước Nga đã thua các nước dân chủ và công nghiệp hoá trong cuộc chiến tranh Krym năm 1854-1855, cuộc chiến tranh được tiến hành ngay trên lãnh thổ của mình. Thất bại nhục nhã này một lần nữa chứng tỏ rằng trong thế giới hiện đại, một nước thiếu nền công nghiệp và hệ thống giao thông vận tải phát triển thì không thể tranh giành hay giữ được vị thế siêu cường. Thất bại đã thúc đẩy các Sa hoàng khuyến khích phát triển cả công nghiệp lẫn hệ thống giao thông bằng nguồn vốn trong và ngoài nước. Hậu quả là đã xuất hiện các trung tâm ra quyết định không còn phụ thuộc vào chính phủ và bộ máy quan liêu nữa.
Giáo dục phát triển, công nghiệp hoá và nguồn nhân vật lực đáp ứng cho tham vọng của nước Nga đã xói mòn quyền lực của chế độ đối với đất nước.
Chính hoàn cảnh như thế giúp ta hiểu được vì sao cách mạng cộng sản, theo Marx phải diễn ra ở các nước phương Tây công nghiệp hoá, lại nổ ra ở nước Nga nông nghiệp. Ở Nga không có các tác nhân ngăn chặn những cuộc cách mạng xã hội: đấy là sự tôn trọng pháp luật và tôn trọng quyền tư hữu, ngoài ra ở phương Tây dân chúng còn có tinh thần tôn trọng chính phủ vì chính phủ của họ luôn bảo vệ quyền tự do của người dân và các thiết chế xã hội. Tầng lớp trí thức cấp tiến say mê lí tưởng một bên và giai cấp nông dân, những người luôn khát khao chiếm đoạt lấy một mảnh ruộng riêng, một bên, đã tạo ra tình trạng căng thẳng thường trực, sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào, nhất là khi chính phủ trung ương rơi vào tình trạng khó khăn. Ở đây các tác nhân kinh tế mà Marx và Engels đưa ra chẳng có vai trò gì.
Các điều kiện đưa nước Nga đến cách mạng cũng chính là các điều kiện quyết định hình thức của chế độ cộng sản sẽ xuất hiện tại đây. Hoá ra chủ nghĩa xã hội được đưa vào đất nước chưa hề biết đến những truyền thống có thể giúp đạt được lí tưởng do Marx đặt ra sẽ tự phát và nhanh chóng tiếp thu những khía cạnh xấu xa nhất của chế độ Sa hoàng mà nó vừa lật đổ. Ở phương Tây các khẩu hiệu xã hội chủ nghĩa ngày một mờ nhạt dần và trở thành một phần không thể tách rời của những người theo phái tự do phóng khoáng thì ở Nga và các nước ngoài phương Tây lại được lái theo những khái niệm quen thuộc về quyền lực vô giới hạn của nhà nước đối với các công dân và tài sản của họ. Chủ nghĩa toàn trị Xôviết, sinh ra từ hạt giống Mác-xít, nhưng được gieo trên cánh đồng làng xã của chế độ Sa hoàng, đã hình thành như thế đấy.
Phong trào cách mạng Nga xuất hiện trong những năm 1870, dưới ảnh hưởng của các học thuyết vô chính phủ và xã hội chủ nghĩa phương Tây, đã tìm được các đồ đệ chủ yếu trong hàng ngũ sinh viên. Những người trẻ tuổi đó thâm nhập về nông thôn, tưởng rằng sẽ được nông dân đón tiếp nồng hậu, nhưng họ đã thất vọng. Hoá ra nông dân không chỉ căm thù những người hàng xóm giầu có hơn, những người được gọi là “kulak”, mà chính họ cũng lại muốn trở thành những người như thế. Họ tin Sa Hoàng, tin rằng ông ta sẽ chia ruộng đất cho họ.
Thất vọng, đa số những người trẻ tuổi đã bỏ về thành phố và rời bỏ phong trào. Nhưng một nhóm nhỏ, liên kết thành đảng gọi là “Ý dân”; đảng này tập trung tất cả cố gắng vào việc làm cho nhân dân không còn sợ hãi và kính trọng Sa hoàng nữa. Để đạt mục đích đó họ bắt đầu bằng những vụ ám sát các viên chức cao cấp của chính phủ. “Ý dân” là tổ chức đầu tiên trong lịch sử gây ra hàng loạt các vụ khủng bố chính trị. Tháng 3 năm 1881 đảng này đã ám sát Sa hoàng Alexander II, một ông vua mà trước đấy 20 năm đã thực hiện việc giải phóng những người nông nô Nga. Vụ ám sát không đạt được mục đích. Nó còn có tác dụng ngược: không những không kêu gọi được nhân dân vùng lên chống lại chế độ, vụ ám sát còn làm cho nhiều người bất mãn và làm mất niềm tin vào các biện pháp cách mạng trong một thời gian.
Phong trào dân chủ-xã hội thâm nhập vào nước Nga trong những năm 1890. Phong trào này có sức hấp dẫn vì trong mười năm đó nước Nga đã trải qua quá trình công nghiệp hoá một cách nhanh chóng, khả năng xuất hiện một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với những hậu quả xã hội đi kèm với nó, được Marx mô tả trong Tư bản, đang đến rất gần. Tại các trường đại học, các nhóm thanh niên có xu hướng dân chủ-xã hội mọc lên như nấm sau mưa, các nhóm này coi khủng bố là sách lược không có tương lai, họ hi vọng vào quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế. Cùng với thời gian, thành viên của các nhóm này tin rằng nước Nga đang trải qua tất cả các mâu thuẫn đặc trưng của chủ nghĩa tư bản và nhất định sẽ nổ ra cách mạng.
Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga được thành lập tại một đại hội bí mật, bị cảnh sát giải tán, vào năm 1898. Tuyên ngôn của đại hội, do Peter Struve viết, nói rằng nước Nga sẽ giành được tự do không phải bằng những cố gắng của giai cấp tư sản khiếp nhược mà bằng sức mạnh của giai cấp công nhân công nghiệp. Giai cấp công nhân sẽ giải phóng đất nước khỏi chế độ độc tài và khai phá con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ý tưởng này sẽ trở thành luận điểm chủ yếu của phong trào dân chủ xã hội Nga: cách mạng sẽ trải qua hai giai đoạn; giai đoạn thứ nhất có nhiệm vụ lật đổ chế độ chuyên chế Sa hoàng và thành lập chế độ dân chủ “tư sản”, giai đoạn hai có nhiệm vụ lật đổ chính chế độ này và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là chiến lược sao chép phương châm của Marx và Engels, hai ông này từng kêu gọi lập các liên minh chiến thuật với các lực lượng dân chủ tự do trong cuộc đấu tranh chống lại các chế độ độc tài.
Về mặt hình thức, Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga được thành lập tại đại hội ở London vào năm 1903. Ngay tại đây phong trào đã chia thành hai phái, một phái do Martov đứng đầu được mệnh danh là “Menshevik”, phái kia do Lenin đứng đầu, mệnh danh là “Bolshevik”. Dù đã có những cố gắng hoà giải nhưng hai phái này không bao giờ hoà thuận được vì thái độ thù địch không khoan nhượng của Lenin đối với bất kì người nào có ý chống lại sự lãnh đạo của ông ta. Vì người ta thường liên tưởng “chủ nghĩa cộng sản” với tên tuổi của Lenin và Đảng của ông ta, xin dừng lại một chút và xem xét kĩ hơn con người này, một người từng có ảnh hưởng bao trùm đối với nền chính trị thế giới trong suốt thế kỉ XX.
Vladimir Ilych Ulyanov Lenin sinh năm 1870 tại thành phố Simbirsk; bố ông vốn xuất thân từ thành phần quí tộc nên được bổ nhiệm làm thanh tra viên trong ngành giáo dục và cũng là một người có quan điểm bảo thủ và rất trung thành với nhà thờ Chính thống giáo. Trong buổi hoàng hôn của đế chế Nga, rõ ràng là con cái của những gia đình quan chức cao cấp như thế cảm thấy như có lỗi vì những đặc quyền đặc lợi và dễ trở thành những người có tư tưởng cấp tiến. Năm 1887 người anh của Lenin tên là Alexander đã bị kết án tử hình vì tham gia vào vụ mưu sát Sa hoàng Alexander III. Các chị em gái của Lenin cũng không tránh được rắc rối và cũng từng bị tù đày. Nhưng trong những năm còn học phổ thông Lenin không hề quan tâm đến chính trị: là một học sinh có năng khiếu, cậu học trò Volodia mỗi năm lại lên một lớp và năm nào cũng được nhận bằng khen không những vì đã có thành tích trong học tập mà còn chứng tỏ là một học trò ngoan.
Rắc rối xuất hiện vào năm 1887, đấy là năm Lenin thi vào trường đại học tổng hợp Kazan. Cảnh sát bắt đầu chú ý đến Lenin khi ông tham gia vào những vụ lộn xộn của sinh viên nhằm phản đối các qui định của nhà trường. Sau khi bị nhận diện là em của một kẻ khủng bố đã bị tử hình, Lenin bị đuổi học và mặc dù bà mẹ đã nhiều lần làm đơn xin, ông ta không bao giờ được nhận trở lại trường nữa. Lenin phải ăn không ngồi rồi suốt ba năm trời, lòng căm thù chế độ cũng ngày một dâng cao. Chỉ vì một lỗi nhỏ mà chế độ trừng phạt một cách quá nghiêm khắc và như thế đã chặn đứng vĩnh viễn con đường hoạn lộ của ông ta. Ông ta không chỉ căm thù chế độ mà còn căm thù “giai cấp tư sản”, giai cấp đã chối bỏ gia đình ông chỉ vì có một người anh bị tử hình. Điều đó đã biến ông ta thành một nhà cách mạng cuồng tín, một người quyết tâm đập phá tan tành chế độ chính trị và xã hội hiện hành. Như vậy nghĩa là nhiệt tình cách mạng của Lenin không phải xuất phát từ lòng yêu thương giai cấp cần lao. Trên thực tế, năm 1891-1892 ở vùng Volga xảy ra nạn đói thì chỉ có ông ta là người trí thức duy nhất trong vùng phản đối việc giúp đỡ những người nông dân nghèo đói vì cho rằng nạn đói có vai trò tích cực trong việc phá huỷ nền kinh tế tiểu nông cổ truyền, dọn đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệt tình cách mạng của ông ta cũng không được hâm nóng bởi viễn kiến về một tương lai tươi sáng hơn. Struve, người từng cộng tác với Lenin trong những năm 1890, sau này đã viết rằng đặc điểm chủ yếu của Lenin là lòng hận thù. Tố chất bẩm sinh đó của con người Lenin, một người mà động lực chủ yếu là sự ác cảm và thù địch đối với tất cả những gì xa lạ, dù đấy là những giai cấp hay các dân tộc và sắc tộc khác, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống chính trị thế giới trong suốt thế kỉ XX .
Năm 1891 chính quyền đã tỏ ra độ lượng và cho phép Lenin thi lấy bằng luật sư như một thí sinh tự do. Lenin thi đỗ và chuyển về sống tại Saint-Petersburg. Ông ta có làm công việc tranh tụng một thời gian, nhưng đấy chỉ là bức bình phong cho hoạt động cách mạng của ông ta mà thôi. Những người dân chủ xã hội ở đây không những không coi Lenin là một người Mác-xít mà còn coi là một người thuộc phái “Ý dân”, một kẻ ủng hộ khủng bố, một kẻ nôn nóng, muốn bắt đầu cách mạng ngay mà không chờ cho chủ nghĩa tư bản phát triển chín muồi. Qua giao tiếp với những người được chuẩn bị kĩ lưỡng hơn về mặt lí luận, có thời gian Lenin đã ngả sang tư tưởng về hai giai đoạn cách mạng. Là một người có kỉ luật, năng nổ và hết mình vì sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội, Lenin nhanh chóng giành được địa vị cao trong phong trào dân chủ xã hội đang còn trong vòng bí mật.
Vì những vụ sách động công nhân đình công, năm 1896 Lenin bị bắt và bị đầy đi Sibiri. Ông ta sống trong ngôi nhà thuê của một gia đình nông dân, tiện nghi khá đầy đủ, với người vợ chưa cưới là Nadezhda Krupskaya. Trong ba năm đó ông ta chuyên tâm vào việc viết lách, dịch và trao đổi thư từ với bạn bè. Trong những năm Lenin bị lưu đầy (1897-1900) thì ở Đức nổi lên phong trào xét lại chủ nghĩa Marx và từ đó phong trào này thâm nhập vào nước Nga. Cương lĩnh xét lại làm Lenin choáng váng, coi đây là sự phản bội lại cái học thuyết đã biến ông ta thành một người xã hội chủ nghĩa. Ông ta còn cảm thấy cay đắng hơn khi nhận ra rằng phong trào công nhân đang hình thành ở Nga lại thiên về các hoạt động công đoàn theo đường lối hoà bình chứ không có ý định lật đổ chủ nghĩa tư bản. Diễn biến của các sự kiện như thế đã làm Lenin rơi vào một cuộc khủng hoảng nội tâm sâu sắc. Cuối cùng ông ta tự khẳng định rằng nếu không đưa được những người dân chủ xã hội quay sang con đường cách mạng thì chính ông ta sẽ li khai và thành lập đảng riêng của mình.
Vừa ra khỏi tù, Lenin lập tức đi sang Đức và cùng với Martov lập ra tờ báo Tia lửa nhỏ nhằm truyền bá chủ nghĩa Marx chính thống, chống lại trào lưu xét lại lúc đó. Nhưng chính cách hiểu chủ nghĩa Marx của ông ta lại chẳng chính thống một chút nào. Năm 1902, với tác phẩm Làm gì?, Lenin đã đưa ra những luận điểm chủ yếu của cái học thuyết mà sau này được gọi là chủ nghĩa Bolshevik. Trong tác phẩm này ông ta đã phủ nhận một cách dứt khoát quan điểm chủ yếu của chủ nghĩa Marx nói rằng nhất định giai cấp công nhân sẽ nổi dậy: tự giai cấp công nhân sẽ không vượt qua khuôn khổ của các hoạt động công đoàn, ông ta khẳng định như thế. Nhiệt tình cách mạng phải được đưa vào từ bên ngoài, phải nhờ vào một đảng cố kết của những nhà cách mạng chuyên nghiệp. Mặc dù Lenin không nói rõ, nhưng những nhà cách mạng chuyên nghiệp phải là các trí thức, vì công nhân không có thì giờ và cũng chẳng có kiến thức để làm các công việc như thế. Trên thực tế, ban lãnh đạo đảng của Lenin chỉ có một người từng là công nhân, nhưng lại là chỉ điểm của cảnh sát.
Năm 1903, Lenin đến đại hội với tinh thần sẵn sàng chia rẽ đảng và đoạn tuyệt với đa số có xu hướng hoà bình chủ nghĩa. Về mặt hình thức thì nguyên nhân của sự chia rẽ là do Lenin đòi hỏi rằng một người muốn trở thành đảng viên thì không những phải ủng hộ cương lĩnh của đảng mà còn phải cống hiến trọn đời cho hoạt động cách mạng nữa. Một đảng được tổ chức như một đạo quân, với hệ thống kỉ luật và phục tùng tuyệt đối sẽ lãnh đạo chứ không phải theo đuôi phong trào công nhân. Vừa giành được một đa số tạm thời tại đại hội, Lenin lập tức gọi phái của mình là “Bolshevik”, nghĩa là đa số, còn những người phản đối ông ta, dưới sự dẫn dắt của Martov, đành chấp nhận nhãn hiệu “Menshevik” (thiểu số).
Lịch sử mười năm tiếp theo của Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga chứa đầy các âm mưu và những cuộc cãi vã nhảm nhí. Lenin gọi những người Menshevik là “bọn phản bội”, “bọn đầu hàng” và những danh từ mang tính nhục mạ tương tự như thế. Muốn lập đảng của những nhà cách mạng chuyên nghiệp thì cần phải có tiền, Lenin đã kiếm tiền bằng những cách phải nói là chẳng hay ho gì, kể cả cướp bóc và tranh đoạt tài sản của người khác.
Ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Lenin đã đưa ra hai lí thuyết mới. Thứ nhất, nước Nga không cần cách mạng tư sản vì chủ nghĩa tư bản đã làm đất nước chấn động và đã sẵn sàng thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa rồi. Thứ hai, trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ hiện hành, những người xã hội có thể tham gia liên minh tạm thời với mọi lực lượng, tức là những lực lượng vì quyền lợi của mình mà đấu tranh chống lại chế độ hiện hành, đặc biệt là nông dân và các dân tộc thiểu số.
Những người Mác-xít coi nông dân là giai cấp “tiểu tư sản” và vì vậy về bản chất là kẻ thù của giai cấp công nhân công nghiệp. Nhưng Lenin lại cho rằng người nông dân chỉ ước mong có ruộng đất và sẵn sàng đứng lên làm cách mạng, ông ta tin rằng chỉ cần nắm được quyền lực là có thể buộc nông dân phải đi theo bằng cách quốc hữu hoá ruộng đất. Còn về các sắc dân thiểu số thì Lenin cũng như tất cả những người theo trường phái xã hội chủ nghĩa đều coi thường mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc. Nhưng ông ta cũng cho rằng tinh thần dân tộc của người Ba Lan, người Phần Lan và các sắc dân thiểu số khác lại góp phần vào việc lật đổ chế độ. Vì vậy, ông ta đã hứa bảo đảm cho tất cả các dân tộc nằm dưới sự cai trị của người Nga quyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền thành lập nhà nước độc lập. Trả lời câu hỏi có phải như thế là “Ban-căng hoá” nước Nga, ông ta nói rằng các mối liên kết kinh tế gắn bó đế chế Nga mạnh đến nỗi khuynh hướng phân liệt không thể có cơ may thành công, mà nếu có một hai khu vực biên thuỳ nào đó làm được chuyện này thì vẫn có thể dùng vũ lực để bắt họ quay trở lại vì “quyền vô sản tự quyết” phải cao hơn “quyền dân tộc tự quyết”.
Từ năm 1900 đến năm 1917 Lenin hầu như chỉ sống ở nước ngoài. Dù ở Đức, ở Áo, Ý hay Thuỵ Sĩ ông ta đều tìm cách chia rẽ Quốc tế II như đã từng chia rẽ Đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Nga, nhưng kết quả không đáng là bao. Ông ta vẫn giữ mối liên hệ với các đệ tử ở Nga và dành nhiều thời gian viết báo để mạt sát những người bất đồng quan điểm. Trừ những học trò gần gũi – ông ta thường cố gắng thuyết phục khi những người này lầm lạc – tất cả những người bất đồng ý kiến đều bị ông ta gọi là bọn phản bội giai cấp công nhân.
Suốt thời gian đó ông ta chỉ về Nga có một lần, đấy là trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng năm 1905. Lợi dụng những quyền tự do được chế độ nới rộng trong thời kì cách mạng, các đảng viên Bolshevik lập tức công khai thành lập các tổ chức của mình. Quần chúng không ủng hộ bất kì phái dân chủ xã hội nào: năm 1907 tổng số đảng viên của tất cả các phái cũng chỉ là 84.000 người, khi cách mạng rơi vào thoái trào thì con số này cũng giảm, năm 1910 chỉ còn lại 10.000 đảng viên, đấy là trong một nước có 150 triệu dân. Những người ủng hộ Bolshevik đa phần là dân Nga, còn những người thiểu số, thí dụ như người Do Thái hoặc Gruzia, thì ngả về phía Menshevik. Cả hai phái đều chẳng có mấy công nhân, đa số đảng viên đều thuộc tầng lớp trí thức.
Chiến tranh thế giới xảy ra. Những người dân chủ xã hội Nga, cả Bolshevik lẫn Menshevik, là những người duy nhất, nếu không kể đến người Serbi, biểu quyết phản đối ngân sách chiến tranh. Các đảng viên Bolshevik, đại biểu quốc hội đều bị bắt và bị lưu đầy vì tội hoạt động đối lập. Tổ chức đảng của họ gần như không còn.
Lập trường của Lenin là rất rõ ràng: phải biến chiến tranh giữa các nước thành chiến tranh giữa các giai cấp. Giai cấp công nhân các nước không được bắn giết lẫn nhau mà phải quay súng chống lại những kẻ bóc lột mình. Có một số người thuộc Quốc tế II ủng hộ quan điểm này, họ lập tức tụ họp ở Thuỵ Sĩ, một nước giữ thái độ trung lập. Người Nga có một phái đoàn rất mạnh tại các cuộc gặp gỡ này và Lenin đã giành được quyền lãnh đạo các thành phần cấp tiến cánh tả. Mặc dù các nghị quyết do ông ta đề xuất đã không được thông qua, nhưng ông đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các cuộc thảo luận và những cuộc thảo luận này là cơ sở cho việc thành lập Quốc tế III hay còn gọi là Quốc tế Cộng sản vào năm 1919.
Nước Nga là đồng minh của Anh và Pháp. Nga tham gia liên minh vì sợ rằng Đức và Áo sẽ mở rộng sang phía Đông và phía Nam và sẽ chiếm một phần lãnh thổ, biến Nga thành một nước loại hai. Pháp phải hợp tác với Nga là vì sợ Đức, Pháp chỉ có thể đứng vững được nếu Đức phải chiến đấu trên cả hai mặt trận. Thoả thuận Pháp kí với Nga có điều khoản là Nga sẽ tấn công Đức và tiến nhanh về hướng Berlin một khi quân Đức tràn vào Pháp.
Nhưng hoá ra kế hoạch của các bên tham chiến đều không được thực hiện. Kế hoạch của Đức là giành thắng lợi nhanh chóng trên mặt trận phía Tây và sau đó chuyển sang mặt trận phía Đông để tiêu diệt quân Nga đã thất bại: chiến dịch bên phía Tây trở thành những trận đánh giành giật nhau từng chiến hào và không biết bao giờ mới kết thúc. Trong khi đó quân Nga tấn công mãnh liệt trên mặt trận Đông Phổ, nhưng bị rơi vào bẫy và thất bại.
Cuối năm 1914 Bộ Chỉ huy tối cao Đức kết luận rằng họ chỉ có thể chiến thắng nếu đánh bại Nga và sau đó sẽ tập trung toàn lực cho mặt trận phía Tây. Mùa xuân năm 1915 liên quân Đức-Áo tấn công Ba Lan, lúc đó thuộc Nga, và đẩy quân Nga lùi sâu hàng trăm kilomet. Mặc dù lực lượng quân sự chủ yếu vẫn được bảo toàn và trên danh nghĩa Nga vẫn còn tham chiến nhưng nước này đã đánh mất những khu vực giầu có và đông dân nhất.
Thất bại đã làm cho cả những người phóng khoáng lẫn những người bảo thủ bất bình. Các đại biểu quốc hội (Duma) thuộc phe phóng khoáng đòi chính phủ giao chọ họ quyền bổ nhiệm các bộ trưởng. Những người bảo thủ thì muốn Sa hoàng Nikolai II thoái vị và nhường ngôi cho một hoàng thân có năng lực hơn. Trong quân đội cũng như trong dân chúng loan truyền các tin đồn về những hành động phản bội trong tầng lớp chóp bu: người ta nghi ngờ Hoàng hậu, vốn là một người Đức, chuyển bí mật quân sự cho kẻ thù. Chính phủ còn gặp khó khăn hơn nữa vì nạn lạm phát ở các thành phố, hoạt động đường sắt bị rối loạn gây ra nạn thiếu lương thực và nhiên liệu, nhất là tại Petrograd (Saint-Petersburg cũ). Các tin tức xấu từ mặt trận đưa về cùng với những bất mãn về chính trị và khó khăn về kinh tế trong các thành phố (nông thôn vẫn yên tĩnh vì nông dân được lợi khi giá lương thực leo thang) đã tạo ra tình thế cách mạng ngay trong những tháng cuối năm 1916.
Có thể nói rằng cuộc Cách mạng năm 1917 đã bắt đầu vào tháng 11 năm trước khi chính phủ chịu áp lực rất lớn từ cả thành phần phóng khoáng lẫn thành phần bảo thủ trong Duma quốc gia. Maliukov, lãnh tụ phe phóng khoáng, tố cáo chính phủ phản bội. Những cuộc tấn công như thế của giới chính trị cao cấp làm cho đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn, mọi người đều tin rằng đã đến lúc phải có những biện pháp quyết liệt. Trong khi đó Sa hoàng, một người tin vào số mệnh, đã chẳng đưa ra được biện pháp củng cố quyền lực nào.
Sự bất mãn của đơn vị đồn trú ở Petrogard vào tháng 3 năm 1917 đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng. Đơn vị này gồm toàn lính quân dịch đã lớn tuổi, đáng lẽ không còn phải đi nghĩa vụ nữa; họ đã nổi loạn khi được lệnh bắn vào đám đông tay không tấc sắt. Vì sợ cuộc bạo loạn sẽ lan ra mặt trận, để cứu nước Nga khỏi thất bại nhãn tiền, các tướng lĩnh đã thuyết phục Sa hoàng thoái vị. Là một người yêu nước, ông nghe theo lời khuyên và thoái vị vào ngày 15 tháng Ba.
Ngay sau khi Sa hoàng thoái vị, quyền lực được chuyển vào tay chính phủ lâm thời. Cũng thời gian đó những người trí thức theo phái xã hội chủ nghĩa thành lập ở Petrogard Xôviết đại biểu binh lính và thợ thuyền. Xôviết có trách nhiệm theo dõi hoạt động của “chính phủ tư sản”, không để cho nó thực hiện chính sách phản động. Trong suốt bảy tháng sau đó, nước Nga được quản lí bởi - nếu có thể gọi đó là một sự quản lí – hai chính quyền song song tồn tại, trong đó Xôviết luôn tìm cách làm mất uy tín của chính phủ nhưng lại chẳng chịu bất kì trách nhiệm nào. Những người trí thức xã hội chủ nghĩa nắm các Xôviết đã cố tình phá hoại quân đội bằng cách giảm bớt quyền lực của các sĩ quan, họ cho rằng các sĩ quan chính là lực lượng phản cách mạng. Trong khi đó họ lại đòi phải chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.
Chính phủ lâm thời hứa sẽ sớm tổ chức bầu cử quốc hội lập hiến để tạo ra các cơ quan quyền lực của nền cộng hoà, nhưng vì có quá nhiều việc khẩn cấp nên cuộc bầu cử cứ bị hoãn đi hoãn lại mãi. Công việc cải cách ruộng đất cũng được tiến hành rất chậm. Quá sốt ruột, nông dân bắt đầu tấn công các trang trại, còn binh lính thì bỏ mặt trận về nhà để không lỡ dịp nhận phần trong vụ tái phân phối ruộng đất đang sắp diễn ra. Các dân tộc thiểu số cũng bắt đầu đòi quyền tự quản, có cả những trường hợp đòi được độc lập hoàn toàn. Trong lúc đó chính phủ lâm thời tiếp tục kêu gọi tiến hành chiến tranh, một cuộc chiến ngày càng mất lòng dân hơn. Chính quyền chứ không phải tình đoàn kết xã hội đã giữ cho nước Nga thống nhất trong hàng thế kỉ, nay quyền lực ấy không còn, đất nước trượt dần vào cảnh hỗn loạn vô chính phủ.
Đấy chính là vận may của Lenin. Đầu năm 1917 ông ta vẫn còn sống ở Thuỵ Sĩ. Vừa nhận được tin về cuộc Cách mạng tháng Ba, ông ta lập tức đánh điện cho các đồ đệ ở Nga, hạ lệnh cho họ bất tín nhiệm chính phủ lâm thời, không được liên minh với các đảng xã hội chủ nghĩa khác và tiến hành vũ trang cho công nhân. Ông ta chỉ muốn mau chóng quay về để nắm trực tiếp quyền điều hành cách mạng.
Người Đức và người Áo, bị kìm chân trên mặt trận phía Tây trong một cuộc chiến hao người tốn của, đã theo dõi rất kĩ mọi động tĩnh của các di dân phản chiến người Nga, trong đó có Lenin. Lenin đã liên hệ với đại sứ quán Đức ở Thuỵ Sĩ để nhờ giúp đỡ trong chuyện trở về nước. Berlin không chỉ cho ông ta và những người xã hội chủ nghĩa khác đi qua nước Đức mà còn cung cấp cho ông ta tiền để khôi phục hoạt động của đảng. Lenin, một người không bao giờ quan tâm đến nguồn gốc của đồng tiền, miễn là đồng tiền đó phục vụ cho mục đích của ông ta, đã nhận lời. Sau đó, qua trung gian và rất kín đáo, ông ta được người Đức bảo trợ suốt một năm rưỡi.
Vừa về đến Petrograd, Lenin đã vội vã tập trung tấn công một cách không khoan nhượng vào chính phủ lâm thời, đòi phải lật đổ chính phủ này ngay lập tức: không được để cho nó thiết lập ở Nga chế độ “tư bản”, tức là ông ta có ý kiến trái ngược hẳn với những người Menshevik và đa số ủng hộ viên của chính mình. Tháng 7 năm 1917 Đảng Bolshevik đã thực hiện một cuộc đảo chính, nhưng chính phủ đã kịp thời đập tan vụ bạo loạn và sau đó cho công bố một loạt thông tin tình báo về mối liên hệ của Lenin với Đức. Đã có lệnh bắt giam Lenin và một loạt lãnh tụ Bolshevik khác, kể cả Trotsky, một người vừa ra nhập đảng của Lenin trước đó không lâu. Trotsky bị bắt, nhưng Lenin thì kịp trốn qua Phần Lan và ẩn náu ở đó cho mãi đến sát ngày đảo chính vào tháng 11 năm 1917 mới trở về.
Lenin không được nhiều người ủng hộ, nhưng họ là những người rất đoàn kết và thực hiện nghiêm chỉnh mọi chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương. Không đảng nào có tổ chức chặt chẽ như thế: Đảng Dân chủ Cách mạng tuy được lòng quần chúng hơn, nhưng tổ chức lại lỏng lẻo, không đủ sức động viên quần chúng. Menshevik và những đảng theo đường lối dân chủ lập hiến khác cũng ở trong tình trạng tương tự. Hơn nữa, chỉ có Lenin là có khát vọng nắm quyền lực, ngoài ông ta ra thì không có chính khách nổi tiếng nào sẵn sàng nhận lãnh trách niệm quản lí một đất nước đã mất kiểm soát về mọi phuơng diện. Lenin, người suốt đời chuẩn bị cho giây phút ấy, đã theo dõi sát sao sự phát triển của các sự kiện và chọn được đúng giờ phút ra đòn.
Đấy là cuối mùa hè, khi Aleksander Kerensky, trên danh nghĩa là một nhà độc tài nhưng ít quyền lực, bất hoà với tướng Lavr Kornilov, tổng chỉ huy quân đội Nga, vu cho ông ta chuẩn bị đảo chính. Vì những hành động thiếu trách nhiệm như thế, Kerensky đánh mất sự ủng hộ của quân đội, một điều tối quan trọng nếu những người Bolshevik có ý định cướp chính quyền. Ông ta lại còn dung túng Đảng Bolshevik như thả họ ra khỏi nhà tù và phát vũ khí để họ chiến đấu chống lại cuộc bạo loạn giả định của Kornilov. Đảng Bolshevik đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử Xôviết, Lenin coi đây là tín hiệu để ra đòn quyết định. Nghị quyết về việc cướp chính quyền được thông qua tại cuộc họp bí mật của các lãnh tụ Bolshevik vào đêm ngày 23 sáng ngày 24 tháng 10 năm 1917. Lenin phải đấu tranh rất lâu mới thuyết phục được những người dao động, họ sợ sẽ lại thất bại như hồi tháng 7.
Cuộc đảo chính diễn ra vào ngày 7 tháng 11, các đơn vị thân Bolshevik đã chiếm được tất cả các công sở ở thủ đô mà không phải bắn một phát súng nào. Ở Moskva có xảy ra vài cuộc đụng độ, còn tại các vùng khác việc chuyển giao quyền lực diễn ra một cách êm thấm. Sau này Lenin nói rằng việc cướp chính quyền ở Nga dễ dàng chẳng khác gì “nhặt một cái lông chim”. Nguyên nhân ở đây là việc cướp chính quyền được ông ta che đậy một cách khéo léo bằng khẩu hiệu “tất cả chính quyền về tay Xôviết”, một khẩu hiệu hứa hẹn nền dân chủ nhân dân chứ không phải một chính quyền chuyên chính. Ngay cả những đảng theo xu hướng xã hội chủ nghĩa cạnh tranh với Lenin, những người vốn nghi ngờ ông ta cũng không tỏ ra lo lắng vì họ tin rằng chế độ chuyên chính độc đảng không thể đứng vững được lâu, trước sau gì cũng sẽ phải nhường chỗ cho liên hiệp các đảng xã hội chủ nghĩa mà thôi. Họ chấp nhận để Lenin sử dụng quyền lực một thời gian, miễn là không xảy ra nội chiến vì như thế sẽ chỉ có lợi “cho lực lượng phản cách mạng”.
Kết quả là những người Bolshevik nắm được quyền lực trong suốt 74 năm trời. Như vậy nghĩa là chế độ cộng sản được thiết lập ở Nga không phải là do kết quả của một cuộc khởi nghĩa của quần chúng: nó được áp đặt từ trên xuống bởi một nhúm người nấp sau các khẩu hiệu dân chủ. Yếu tố mà ai cũng thấy đó đã ghi dấu ấn lên toàn bộ lịch sử chế độ cộng sản tại Nga.
Xem xét vụ cướp chính quyền của những người cộng sản trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó ta sẽ cảm thấy kinh ngạc vì sự liều lĩnh của họ. Tất cả các lãnh tụ cộng sản đều chưa hề có kinh nghiệm quản lí hành chính trong bất kì lĩnh vực nào, thế mà họ sẵn sàng nhận trách nhiệm quản lí đất nước có diện tích lớn nhất thế giới. Không hề có kinh nghiệm kinh doanh, nhưng họ lập tức tiến hành quốc hữu hoá toàn bộ nền kinh tế đứng thứ năm thế giới, nghĩa là họ sẵn sàng nhận trách nhiệm lãnh đạo nó. Về nguyên tắc họ coi giai cấp tư sản và các điền chủ là kẻ thù, còn trên thực tế đa số nông dân và trí thức cũng bị coi là kẻ thù của giai cấp công nhân công nghiệp, họ tự nhận mình là người đại diện của giai cấp này. Công nhân chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, nhiều nhất cũng chỉ từ một đến hai phần trăm dân số. Công nhân đã ít như thế, mà số công nhân theo Bolshevik còn ít hơn nhiều: ngay trước cuộc đảo chính tháng 11 chỉ có 5,3% công nhân là đảng viên Bolshevik [2] . Điều đó có nghĩa là chính quyền mới không có sự lựa chọn nào khác ngoài chế độ chuyên chính, nhưng đấy không phải là chuyên chính vô sản mà là chuyên chính đối với giai cấp vô sản và tất cả các giai cấp khác. Sau một thời gian nền chuyên chính này đã biến thành chế độ toàn trị. Như vậy nghĩa là chuyên chính xuất phát từ bản chất của cuộc đảo chính Bolshevik. Nếu những người cộng sản muốn giữ quyền lực thì họ buộc phải cai trị bằng những biện pháp chuyên chế tàn bạo, không bao giờ họ dám buông lỏng. Và đây cũng trở thành nguyên tắc của các chế độ cộng sản sinh ra sau này.
Lenin hiểu là đang áp đặt cho đất nước một chế độ độc tài cực kì tàn nhẫn, nhưng lương tâm ông ta không hề cắn rứt. Lenin định nghĩa mọi chế độ “chuyên chính”, trong đó có “chuyên chính vô sản” là “một chính quyền dựa trực tiếp vào vũ lực, không bị hạn chế bởi bất cứ luật lệ nào, không bị gò bó bởi bất cứ nguyên tắc nào [3] ”. Ông ta sẵn sàng áp dụng những biện pháp khủng bố khốc liệt nhất nhằm tiêu diệt các kẻ thù cũng như doạ dẫm dân chúng. Ông ta làm như thế một phần là do thái độ thờ ơ đối với đời sống của con người và một phần là do lịch sử đã dạy rằng các cuộc cách mạng trong quá khứ thường thất bại là vì đã dừng lại ở giữa đường, không tiêu diệt hết kẻ thù giai cấp, để cho chúng tập hợp lại lực lượng. Bạo lực – dùng bạo lực một cách phổ biến và tàn bạo (hình dung từ thường được ông ta sử dụng) - sẽ tạo nền móng cho chế độ mới. Nhưng ông ta tin rằng bạo lực sẽ không kéo dài: có lần ông ta đã dẫn lời Machiavelli: “Nếu vì mục đích chính trị mà cần áp dụng một số biện pháp tàn bạo thì phải làm một cách kiên quyết và thật nhanh vì quần chúng không thể chịu nổi bạo lực trong một thời gian dài”. Trái ngược với dự đoán của ông ta, bạo lực đã trở thành đặc điểm thường trực của chế độ do ông ta lập nên.
Thái độ quyết liệt và năng lực hoạt động của Lenin trái ngược hoàn toàn với sự bất lực của chính phủ lâm thời vừa bị lật đổ. Ông ta lập tức quyết định ngày bầu cử quốc hội. Đảng Bolshevik chỉ nhận được 24% số phiếu, trong khi Đảng Xã hội Cách mạng có số phiếu bầu hơn gấp hai lần rưỡi. Nhưng đấy không phải là điều ông ta bận tâm: tuyên bố rằng đa số binh lính và công nhân bầu cho Đảng Bolshevik, ông ta chỉ để cho quốc hội vừa được bầu họp đúng một ngày và sau đó giải tán. Chính phủ do ông ta thành lập, gọi là Xôviết Dân uỷ, lúc đầu còn có những người thuộc Đảng Xã hội Cách mạng cánh tả, nhưng sau đó chỉ gồm toàn đảng viên Bolshevik. Thực chất đây chỉ là cơ quan-bình phong, có trách nhiệm thực hiện các mệnh lệnh của Đảng Bolshevik mà thôi. Ông ta bãi bỏ tất cả các thủ tục pháp lí, chuyển công việc xét xử vào tay các toà án cách mạng, do những người không có kiến thức nhưng “giác ngộ cách mạng” lãnh đạo, cũng như vào tay cảnh sát mật vừa được thành lập, lấy tên là Uỷ ban Khẩn cấp (Cheka). Khủng bố bắt đầu ngay từ khi Lenin vừa cướp được chính quyền.
Nhận thức được rằng việc thành lập một cơ sở chính trị vững chắc và thực hiện cương lĩnh cách mạng phải cần thời gian, tháng 3 năm 1918 Lenin hạ lệnh cho các cộng sự kí ở Brest-Litovsk một hoà ước rất mất lòng dân với Đức, Áo, Thổ và Bulgaria, nhường cho các nước này những vùng lãnh thổ rộng lớn.
Ông ta phát động cuộc nội chiến như là một cách khơi mào cách mạng thế giới. Sau này những người Bolshevik đã gán cho bọn phản cách mạng trong và ngoài nước là đã gây ra cuộc nội chiến làm tan hoang nước Nga và giết chết mấy triệu mạng người. Nhưng như chúng ta đã thấy, từ trước năm 1917 việc biến chiến tranh giữa các nước thành nội chiến giữa các giai cấp là một trong những luận điểm cơ bản của đường lối Bolshevik. Trotsky đã công nhận như thế khi viết: “Chính quyền Xô viết là một cuộc nội chiến có tổ chức”. Có thể nói rằng những người Bolshevik cướp chính quyền ở nước Nga là để phát động cuộc nội chiến. Ban đầu, Lenin đã sử dụng các khẩu hiệu vô chính phủ nhằm tranh thủ sự ủng hộ hay ít nhất cũng vô hiệu hoá giai cấp công nhân và nông dân. Ông ta khuyến khích nông dân cướp và chia nhau ruộng đất không chỉ thuộc quyền sở hữu của nhà nước hay địa chủ mà cả ruộng đất của những người nông dân khác. Sắc lệnh, công bố vào ngày đảo chính, tuyên bố quốc hữu hoá toàn bộ ruộng đất, nhưng tạm thời không động đến phần đất do nông dân canh tác. Ông ta khuyến khích công nhân chiếm các nhà máy xí nghiệp; đây là lập trường của các công hội, chẳng liên quan gì đến chủ nghĩa Marx. Nhưng đấy chỉ là những biện pháp tạm thời, một khi chính quyền được củng cố ông ta sẽ đoạn tuyệt ngay. Vì mục đích cuối cùng của ông ta là quốc hữu hoá toàn bộ nhân tài vật lực của quốc gia, buộc toàn bộ nền kinh tế phải tuân theo một kế hoạch duy nhất.
Chúng ta sẽ không dừng lại lâu trong giai đoạn lịch sử từ năm 1917 đến năm 1920. Chỉ xin nói rằng cộng sản - từ năm 1918 những người Bolshevik tự gọi mình như thế - đã thắng, một phần vì kiểm soát được các khu vực dân cư đông đúc với những nguồn lực to lớn về công nghiệp (và quân sự), một phần vì các nước phương Tây đã không dành cho “Bạch vệ” một sự ủng hộ đúng mức. Trong thời gian nội chiến và sau đó không lâu chế độ của Lenin đã giành lại phần lớn vùng biên thuỳ như Ukraine, Kavkaz và Trung Á, là những vùng trước đó đã tách khỏi Nga. Các vùng này được hợp nhất với Nga và hình thành Liên bang Cộng hoà Xô viết Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1924. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Nga với tổng hành dinh ở Moskva đã quản lí tất cả các vùng đất của đế chế vừa được thành lập. Đại diện của các tổ chức Đảng có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, thực hiện nhiệm vụ “mao mạch” của chế độ - theo cách nói của Mussolini, kẻ đã xây dựng chế độ phát xít theo mô hình của Lenin. Không một tổ chức xã hội nào có thể tránh được sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhà nước độc đảng đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện như thế đấy.
*
Cộng sản đã giữ được chính quyền nhưng lại chịu thất bại trong hầu hết các lĩnh vực khác. Hoá ra cuộc sống chẳng ăn nhập gì với lí thuyết. Nhưng họ không chịu công nhận rằng mình sai: nếu công việc diễn ra không như ý, họ không những không chịu nhân nhượng mà còn sử dụng bạo lực điên cuồng hơn. Việc công nhận sai lầm nhất định sẽ làm lung lay toàn bộ cơ sở học thuyết vì họ cho rằng các bộ phận cấu thành học thuyết đã được kiểm chứng một cách khoa học.
Trước hết xin nói về nhà nước.
Việc xuất hiện bộ máy quan liêu đồ sộ, tự tư tự lợi và không thể kiểm soát nổi là một trong những thất vọng của Lenin. Theo lí thuyết Mác-xít thì nhà nước chỉ là công bộc của giai cấp nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất, bản thân nhà nước không có quyền lợi riêng tư nào. Chỉ có thể nói đấy là một sự ngu tín vì lịch sử thế giới, kể từ thời các Pharaoh Ai Cập, có đầy dẫy các chứng cớ chứng tỏ rằng các viên chức nhà nước quan tâm trước hết đến quyền lợi của chính mình, họ đã từng tạo ra những nhóm ảnh hưởng có quyền lực, nhiều khi còn mạnh hơn cả giai cấp hữu sản. Sự phát triển với tốc độ chóng mặt của bộ máy quan liêu Xôviết, một bộ máy do Lenin tạo ra, đã làm ông ta phát hoảng. Cùng với việc Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo toàn diện đời sống của đất nước, quốc hữu hoá toàn bộ nền công nghiệp, hệ thống bán buôn và bán lẻ, phương tiện giao thông vận tải và dịch vụ, văn hoá và giáo dục thì tầng lớp viên chức thay thế cho các chủ sở hữu tư nhân và các nhà quản lí cũ cũng phát triển theo cấp số nhân. Chỉ xin dẫn ra một thí dụ, đấy là tổ chức chịu trách nhiệm quản lí ngành công nghiệp, gọi là Hội đồng Kinh tế Tối cao, vào năm 1921 đã có hai trăm năm mươi ngàn viên chức, trong khi sản xuất công nghiệp chỉ bằng một phần năm năm 1913. Năm 1928 bộ máy quan liêu của Đảng và nhà nước có tổng số 4 triệu viên chức.