Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Khủng hoảng giáo dục tại Việt Nam: Hệ quả của độc đảng, giáo điều và thiếu tự do ngôn luận |
27.10.2007
Giao Ngọc Lê
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11297&rb=0501
Trong văn hoá cổ truyền Việt Nam, giáo dục
và kẻ sĩ luôn luôn được kính trọng như gia tài quý báu nhất của dân tộc.
Từ 1945, giáo dục tại Việt Nam đã trải qua nhiều dâu bể. Vào giai đoạn
1954-1975, trong khi Bắc Việt Nam có nền giáo dục định hướng theo chủ nghĩa cộng
sản, miền Nam Việt Nam đã xây dựng căn bản giáo dục dựa trên tiêu chuẩn tự do
của quốc tế. Nhờ đó, đa số người Việt bỏ nước ra đi từ 1975 đã có thể tiếp tục
việc học tại nước ngoài một cách thành công. Cho đến nay, có khoảng 300.000
người Việt sống ở ngoài nước đã hoàn tất bậc cao học, với bằng thạc sĩ hay tiến
sĩ. Nhiều người trong giới trí thức này đã trở thành các khoa học gia nổi tiếng
thế giới, như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh với bom áp nhiệt
[1] và tiến sĩ Dương Thị Lệ, người góp công trong việc tìm ra
công thức điều chế thuốc Fosamax
[2] .
Ngược lại, từ 1975, nền giáo dục tại Việt Nam đã tuột dốc không phanh. Cho đến
năm 2006, cả nước chỉ có vỏn vẹn 2% dân số đạt trình độ học vấn đến lớp 12, và
chỉ 10% trong số này đạt trình độ đại học
[3] .
Hai giai đoạn lịch sử gây nhiều thiệt hại nặng nề và lâu dài nhất cho giới trí
thức trung lưu trong xã hội Việt Nam xảy ra ngay sau khi Đảng Cộng sản kiểm soát
được dân chúng: tại Bắc Việt Nam từ 1955-1956 (The Nhân văn Affair)
[4] , tại Nam Việt Nam từ 1975-1985 (giới trí thức miền Nam phải
đi học tập cải tạo): tầng lớp trí thức trung lưu của Việt Nam hầu như bị xoá sổ
trong xã hội, và mọi tư duy độc lập đều bị ngăn cấm, trừng phạt gắt gao.
Hôm nay, khi Việt Nam đang trên đường hội nhập với quốc tế, sự thiếu hụt chất
xám trở thành một vấn nạn hàng đầu. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục và Đào
tạo Nguyễn Thiện Nhân, ngày 28/8/2007 đã nêu lên trường hợp một công ty Đài Loan
mở hai nhà máy tại Bắc Giang và Bắc Ninh, với nhu cầu trên 300.000 kỹ sư cùng
thợ chuyên nghiệp, mà Việt Nam không thể cung ứng. Hãng này đã phải quyết định
huấn luyện chuyên viên của họ ở nước ngoài.
[5]
Khi thế giới vào Việt Nam để đầu tư, vấn đề càng trở nên phức tạp vì tệ nạn tham
nhũng tràn lan khắp nơi, trong mọi tầng lớp
[6] . Ngày 16/8/2007, Intel đã đòi hỏi các viên chức Việt Nam
phải ký nhận cam kết sẽ tôn trọng nguyên tắc làm việc minh bạch, cương quyết tẩy
chay tham nhũng do công ty Intel đưa ra
[7] .
Vượt trên kiến thức, xây dựng lại tư cách và đạo đức cá nhân là một thách thức
lớn cho tất cả các nhà giáo dục chuyên nghiệp nhất.
Nền giáo dục tại Việt Nam đang bị khủng hoảng. Lý thuyết giáo điều và lỗi thời
chỉ cốt củng cố quyền lực của một Đảng Cộng sản suốt 62 năm qua đã tạo ra bao
thảm họa khi chen chân với quốc tế. Sự thiếu tự do ngôn luận và nền thông tin
một chiều càng làm tăng thêm nhiều dây trói cho cố gắng thúc đẩy suy luận và
sáng kiến trong lúc khuyến khích thái độ vô trách nhiệm, tham nhũng, và vô đạo
đức của lớp có quyền.
Trong “Phúc trình về giáo dục” cho APEC 2006, phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Lộc của
Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định rằng cho đến đầu thập niên 1990, giáo dục tại
Việt Nam vẫn còn bị định hướng theo một nền kinh tế tập trung, và đã gặp rất
nhiều khó khăn trong giai đoạn chuyển hướng sang kinh tế thị trường.
[8]
Tiến sĩ Trần Hải giải thích rằng sự tập quyền toàn trị của Trung ương Đảng đã
bóp chết mọi tư duy độc lập, sáng kiến cá nhân; và hệ thống hành chính song song
giữa Đảng và nhà nước với Đảng có quyền quyết định tối thượng đã tạo ra nhiều
trì trệ và tham nhũng.
[9]
Vào đầu thập niên 1990, UNESCO đã làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo để nhận
diện các vấn đề chính trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam như sau:
Các nhà nghiên cứu đã gọi đây là giai đoạn
“xuống dốc và băng hoại của nền giáo dục Việt Nam”.
[10]
Ý tưởng “Chấn hưng” giáo dục được đưa ra. Hai quan niệm chính được kiến nghị
nhằm giúp sửa sai các vấn nạn do chính sách trung ương tập quyền gây ra.
Song song với sự thay đổi chính sách này,
Việt Nam cũng cho phép các trường bán công, tư thục, và dân lập được phép phát
triển bên cạnh hệ thống giáo dục công lập.
Bộ Giáo dục và Đào tạo viết trong “Phúc trình về giáo dục” cho APEC 2006 như
sau: “Mục đích của chính sách này là để tạo ra môi trường thuận lợi cho tất cả
mọi người có thể tham dự vào sự quản lý giáo dục, hầu vượt qua vấn nạn “độc
quyền quản lý giáo dục” hiện nay.
[11]
Với sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Hoa Kỳ và các quốc gia
liên hệ, từ 1996, hệ thống giáo dục tại Việt Nam bắt đầu một số chương trình cải
tổ
[12] chuyển hướng sang phục vụ kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Danh từ “Xã hội hóa giáo dục” được sử dụng. Đây là quan niệm bắt đầu từ cố gắng
đưa giáo dục thoát ra khỏi nạn “trung ương tập quyền” của Đảng, vì thực tế cho
thấy đã thất bại. Ý tưởng này được đề nghị cho bậc đại học và cao học, nhằm cho
phép các đại học quyền tự quyết về quản lý và tài chánh
[13] . Nhờ đó, các cơ quan nước ngoài có thể trực tiếp tài trợ
bậc đại học và cao học về tài chánh và chương trình học.
Tuy nhiên, sự áp dụng quan niệm này đã đi sai với ý tưởng ban đầu, và đi quá đà
xuống đến các bậc trung và tiểu học. Trái với kiến nghị tản quyền, Trung ương
Đảng vẫn còn kiểm soát chặt chẽ việc quản lý và chương trình học, chỉ có gánh
nặng tài chánh là “được” chuyển giao cho người dân. Điều này viết rõ ràng trên
mạng điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 2/10/2006:
d) Nhằm mục đích gia tăng sự lãnh đạo của Đảng trong giáo dục, Hội đồng Đảng
từ trung ương tới địa phương phải hướng dẫn và thường xuyên kiểm soát sự áp dụng
các chính sách giáo dục, đặc biệt là sự tham gia của xã hội trong giáo dục,
chính trị học và chủ nghĩa Mác Lê, sự xây dựng một hệ thống có trật tự, kỷ luật,
và phải xem sự phát triển cùng gia tăng chất lượng giáo dục như dấu hiệu xây
dựng một Đảng bao trùm và mạnh mẽ. Phải kết nạp thêm nhiều Đảng viên, thanh lọc
và kiên cố hoá tổ chức Đảng, nâng Đảng thành hạt nhân lãnh đạo trong mọi trường
học.
[14]
Sau gần hai thập niên cải tổ, cái ách trung ương tập quyền và sự quan liêu của
hệ thống hành chánh chủ nghĩa xã hội vẫn đè nặng khắp nơi
[15] . Tiến sĩ Lê Đăng Doanh – nguyên Bộ trưởng Kinh tế - trong
bài nói chuyện với Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngày 11/2/2004, đã nhấn mạnh: “Hệ
thống chính trị của chúng ta nhìn vào thấy là Đảng dày đặc luôn. Chính phủ có bộ
nào, cục ban nào, Đảng có hết tất cả thứ ấy... rất tốn kém… Thế bây giờ, bộ máy
quan hệ giữa Đảng và Nhà nước của chúng ta, theo tôi, còn có tình trạng vừa lẫn
lộn, vừa để trống trách nhiệm… Đó là điều rất nguy hiểm, làm cho bộ máy của
chúng ta kém hiệu quả… Tức là có nhiều việc cần phải làm nhưng chúng ta làm
nhiều việc quá chồng chéo, có nhiều việc không ai làm cả.”
[16]
Hệ thống hành chánh Đảng song song với nhà nước do đó rất tốn kém và không hữu
hiệu. Hệ quả của điều này là sự trì trệ của mọi kế hoạch, rút ruột mọi công
trình xây dựng và tiêu phí ngân khoản quốc gia, thâm thủng vào ngân quỹ đáng ra
phải dành cho các dịch vụ căn bản như giáo dục và y tế.
Trong cố gắng chuyển giao gánh nặng tài chánh của giáo dục sang vai người dân,
Việt Nam đã quy định học sinh mọi cấp phải đóng học phí và phụ phí
[17] . Ngày 11/9/2007, VnExpress báo cáo rằng trên nguyên tắc mỗi
học sinh phải trả 4 triệu đồng Việt Nam một niên học, nhưng tổng số phụ phí có
thể tăng lên đến 13 triệu (tương đương 809 đô-la, hối suất ngày 10/12/2007)
[18] . Vào tháng 9/2007, chính phủ Việt Nam đưa ra GDP là 835
đô-la/người/năm, nhưng lương công nhân chỉ khoảng 30 – 40 đô-la/tháng hay 480
đô-la/một năm. Như vậy một gia đình hai vợ chồng cùng đi làm sẽ không đủ trả
tiền học cho một đứa con.
Bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc MDGs “Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2006 - 2010 của Việt Nam” đưa ra nhận xét rằng học phí đã biến giáo
dục thành một “dịch vụ theo túi tiền” và tạo ra nhiều bất bình đẳng giữa người
giàu kẻ nghèo trong xã hội. Theo bản phúc trình này, trung bình một gia đình khá
giả có thể trả tiền nhiều gấp 4 lần và học trò nhà giàu có thể nhận được giáo
dục tốt hơn trong các lớp dạy kèm. Hậu quả là chỉ một thiểu số có tiền nhờ có
liên hệ với Đảng mới có cơ hội học cao lên và sau này nắm giữ quyền lực trong
guồng máy
[19] .
Tạp chí Kinh tế Viễn đông (Far Eastern Economic Review) số tháng 9/2007
có đăng bài của Jago Penrose, Jonathan Pincus, và Scott Cheshier, tóm tắt hiện
tượng này bằng câu: “Quyền lợi chính trị thì tư nhân hoá, tổn thất kinh tế
thì xã hội hoá”
[20] . Bài báo cũng nêu rõ lý do cho sự trì trệ trong việc cải tổ
giáo dục tại Việt Nam: “… Những lực lượng chống lại cải tổ, bắt nguồn từ bên
trong hệ thống nhà nước hay guồng máy Đảng cấu kết với những phe liên hệ có
những quyền lợi kinh tế đặc biệt, hầu như chắc chắn là thành phần không muốn có
thay đổi…”
[21]
Trong bài diễn văn ngày 6/8/2007, nguyên Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Michael
Marine nói: “Vai trò căn bản của trường đại học là cung ứng giáo dục hữu ích
cho xã hội và kinh tế quốc gia, cũng như nâng cao trí tuệ và óc sáng tạo. Trên
mọi phương diện, Đại học Việt Nam đã không hoàn thành các trách nhiệm tối cần
yếu này.”
[22]
Tuy đã có rất nhiều nỗ lực cải tổ giáo dục từ 1986, bản “Phúc trình về phát
triển thế giới 2006” của Ngân hàng Thế giới báo cáo rằng Việt Nam chỉ có 2% dân
số đạt trình độ lớp 12, 89% học đến lớp 5, và chỉ 10% trong số 2% có trình độ
lớp 12 là theo đuổi đại học. Năm 2006, Đại học Seoul xuất bản 4556 nghiên cứu
khoa học, Đại học Peking có khoảng 3000; trong khi cả Đại học Quốc gia Hà Nội và
Đại học Bách khoa Hà Nội chỉ vỏn vẹn có 34 nghiên cứu khoa học tương đương. So
với 40.000 đơn xin bằng sáng chế tại Trung Quốc, Việt Nam chỉ có 2
[23] .
Ngày 14 và 15 tháng 9/2007, hội nghị các nhà giáo dục Việt Nam đã tỏ ra quan tâm
đến sự thất bại của “Giáo dục trường chuyên” do Đảng Cộng sản đề xướng và hỗ trợ
trong suốt 42 năm qua. Học sinh tốt nghiệp từ chương trình giáo dục này trở
thành “gà nòi”, với kiến thức hạn hẹp trong một số cách giải bài thi cao cấp,
không có óc sáng tạo, và thiếu kiến thức phổ thông
[24] .
Năm 2007, giáo dục trung học phổ thông cũng phải đối mặt với thực tế là chỉ
66.7% học trò đậu kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông lần 1
[25] . 400.000 học sinh phải được nhận lại vào hệ thống đã quá
sức chứa. 600.000 học sinh thi trượt kỳ tuyển vào đại học
[26] .
Phúc trình của Liên hiệp quốc báo cáo 96% học sinh nhập học lớp 1, nhưng chỉ 89%
tiếp tục học đến lớp 5
[27] . Với chính sách “xã hội hoá giáo dục” đồng nghĩa với học
trò mọi cấp phải trả học phí và phụ phí, nhiều cha mẹ đã lên tiếng lo ngại họ
không đủ khả năng lo học phí cho con. Giáo Sư Hoàng Tuỵ, nguyên Khoa trưởng Khoa
Toán tại Việt Nam, cho rằng đây là một hình thức vô trách nhiệm mà chính phủ lạm
dụng để chuyển gánh nặng tài chánh giáo dục lên vai người dân. Với các dữ liệu
thống kê năm 2006 của Liên hiệp quốc, người dân Việt đã phải đóng góp 40% vào
ngân quỹ giáo dục, trong khi tại các nước khác, dân chúng chỉ phải đóng góp 20%
[28] . Với sự lạm phát năm 2007, dân Việt phải chi 57% cho ngân
quỹ giáo dục! Giáo sư Hoàng Tuỵ tin rằng ngân khoản giáo dục phải được kết toán
minh bạch và nếu áp dụng các biện pháp thay đổi phù hợp, có thể đủ để miễn tiền
học cho trẻ em các bậc trung học và tiểu học
[29] .
Ngày 31/8/2007, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tuyên bố học phí chắc chắn sẽ
phải tăng trong niên học 2008-2009
[30] . Tiến sĩ Vũ Quang Việt – Chief of National Accounts
Section, United Nations Statistics Division – đưa ra bản nghiên cứu cho thấy với
sự tăng học phí, 60% học sinh Việt Nam có thể phải bỏ học
[31] . Tất cả mọi điều trên cho thấy cơ hội được đi học tại Việt
Nam ngày nay dựa vào tiền và thế lực. Việt Nam chưa đem lại giáo dục đồng đều và
công bằng cho mọi trẻ em ở tuổi đến trường.
Hiến pháp Việt Nam điều 59 nói: Giáo dục tiểu học là bắt buộc và phải miễn phí
cho mọi trẻ em. Liên Hiệp Quốc cũng khuyến cáo giáo dục phải miễn phí cho trẻ em
ít nhất ở bậc tiểu học
[32] .
Ngân hàng Thế giới, trong “Phúc trình về phát triển thế giới 2006”, nhấn mạnh
đến sự quan trọng của bình đẳng và phát triển: “Sự bất bình đẳng đưa tới sự
thiếu hữu hiệu trong việc sử dụng các nguồn tài trợ hay tài nguyên, dẫn tới sự
thiếu hiệu quả của các cơ quan, bất bình đẳng là kẻ thù của sự phát triển bền
lâu.”
[33]
Ngày 5/9/2007, Đại tướng Võ Nguyên Giáp công bố sự quan tâm của ông với hiện
tình giáo dục tại Việt Nam, mà ông nhận định là: “Đã tụt hậu rất xa so với
các nước láng giềng.” Đại tướng Giáp, trong một nghiên cứu chung với nhóm
chuyên viên khoa học giáo dục Việt Nam, đã đưa ra một số nhận định và đề nghị
cho vấn nạn giáo dục tại Việt Nam.
[34]
Đa số các dữ kiện và ý tưởng do Đại tướng Giáp trình bày đã từng được nêu lên,
thảo luận, với nhiều đề nghị giải quyết từ đầu thập niên 1990 qua các nghiên cứu
của UNESCO với Bộ Giáo dục và Đào tạo
[35] , năm 2002 do chuyên viên giáo dục Phạm Minh Hạc
[36] , năm 2006 qua một nghiên cứu thực nghiệm do VEF tiến hành
với 2 nhóm chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ
[37] , và đã được viết rõ ràng trên mạng điện tử của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, phần Anh ngữ, ngày 2/10/2006.
[38]
Trên phần thông tin chính thức này, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ các nguyên do
chính của sự thiếu hiệu quả trong nỗ lực cải tạo giáo dục: “Sự trì hoãn
trong việc cải tổ bộ máy nhà nước, trong sự thay đổi cách quản lý kinh tế, quản
lý tài chánh, sử dụng lao động, và chính sách lương bổng, v.v…, là những nguyên
tố chính ngăn cản sự hiệu quả trong các giải pháp cho vấn đề giáo dục.”
[39]
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng phát biểu: “Lương tâm nghề nghiệp của một số
công chức quản trị và thầy cô giáo đã bị băng hoại.”
[40] Nhiều nhà giáo thiếu khả năng, không tư cách, không đạo đức
đã không ngừng tạo ra những vụ án nhục dục và có những hành động vô ý thức, phản
giáo dục tại các trường học khắp nước. Tệ nạn tham nhũng xảy ra tại mọi cấp bậc
trong hệ thống xã hội đã làm hao mòn lòng tin của dân chúng vào truyền thống “kẻ
sĩ” của dân tộc.
[41]
Nhiều bậc phụ huynh đã cố gắng gửi con du học tại nước ngoài, mặc cho học phí
cao đến đâu. 30 ngàn đô la là giá trung bình tối thiểu để lo chạy giấy tờ cho
một học sinh được ghi danh học tại một đại học cộng đồng hay đại học nước ngoài
qua dịch vụ của các văn phòng tư vấn. Khoảng 20 ngàn học sinh du học mỗi năm qua
các học bổng hay bằng tiền cha mẹ.
Các du học sinh này rất ít được theo dõi đến nơi đến chốn, và nhiều chuyện không
hay xảy ra cho họ đã tạo thành một quan tâm lớn cho mọi người.
Một lãnh vực đáng chú ý liên quan đến du học sinh là ngành nghề họ chọn và liệu
họ có trở về Việt Nam sau khi thành tài. Dần dần ai cũng hiểu rằng đa số các du
học sinh bị mất động lực trở về vì họ sẽ bị trả lương thấp, phải làm việc dưới
quyền của các cấp quản lý thiếu khả năng, và cơ quan họ phục vụ không cho phép
họ thi thố tài năng và kiến thức họ đã học được tại nước ngoài.
[42]
Các tín hiệu thực sự về đổi mới tư duy đến với Việt Nam dưới hình thức mâu
thuẫn, tranh đấu, và đàn áp. Nhiều trí thức trẻ sau khi hấp thụ kiến thức và
cách sống nước ngoài bắt đầu đặt câu hỏi với chủ thuyết cộng sản và chế độ độc
đảng toàn trị. Trong số những người trẻ này có Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Hoàng
Lan, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Đài, … những người đã trở thành kẻ tranh đấu cho
nhân quyền tại Việt Nam và bị xem là người chống đối chính quyền. Lê Quốc Quân
và Nguyễn Văn Đài đều đã bị giam cầm vì lòng tin vào nhân quyền của họ. Quân đã
được thả trước khi Chủ tịch Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Thịnh Đốn. Đài vẫn
còn tiếp tục bị giam giữ trong tù. Những nhà trí thức trẻ trong nước có can đảm
mơ tới tự do dân chủ cũng bị chính quyền trù dập. Luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà
văn Trần Khải Thanh Thủy, Bác sĩ Lê Nguyên Sang, nhà báo Trương Minh Đức, sinh
viên Đặng Hùng…, và biết bao người khác đã đang bị giam cầm chỉ vì tranh đấu cho
bình đẳng, công lý, và nhân quyền.
Chính quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tự mâu thuẫn với chính các điều họ nói
và đang muốn làm trong việc cải tổ giáo dục khi tiếp tục bắt bớ giam cầm lớp trí
thức trẻ vừa mới được đào tạo, chỉ vì tầng lớp này dám suy nghĩ độc lập với
đường lối của Đảng Cộng sản. Lớp trí thức trẻ này biết sử dụng quyền tự do ngôn
luận của họ dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và dám nói lên các suy tư
ích quốc lợi dân mà bất lợi cho ảng. Dư luận có thể nhìn thấy sự tương đồng với
trường hợp vụ án Nhân văn-Giai phẩm năm 1955 đang được lập lại vào năm
2007.
Hiển nhiên là có sự nhân quả giữa cách Việt Nam triệt hạ tầng lớp trí thức của
dân tộc vì không tôn trọng nhân quyền, dân quyền, và vấn nạn thiếu chất xám mà
đất nước dân tộc Việt đang gặp phải.
Jonathan E London, trong bài viết cho Asia Pacific Journal of Education,
Vol. 26, No.1, May 2006, nhận xét rằng cải tổ giáo dục tại Việt Nam xảy ra một
cách bị động để đuổi theo nhu cầu của sự chuyển hướng kinh tế, do đó không phải
là một cuộc cải tổ thực sự, rốt ráo, và sâu rộng của cả một hệ thống - điều này
tạo ra nhiều vấn đề mới và nhiều bất bình đẳng.
[43]
Vào tháng 10/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự định sẽ tổ chức hội thảo về “Triết
lý Giáo dục” để đi tìm các đáp án thực sự cho thảm cảnh giáo dục hiện nay.
Ngày 26/01/2007, ông Phạm Hoàng Hải đã lên tiếng bày tỏ ý kiến: “Điều cần
thay đổi trước tiên là chấm dứt ngay nạn độc quyền, lạm quyền, đưa đến đặc lợi
cho một thiểu số trong lúc tạo ra nhiều bất công xã hội và ngăn cản các cải tổ
thực sự của nền giáo dục.”
[44]
Tổng quát, giáo dục Việt Nam đang phải trực diện với nhiều thách thức vốn là hệ
quả của hệ thống tập quyền toàn trị với hai nhóm điều hành song song là Đảng và
nhà nước, cả hai đều có đặc lợi và làm hao mòn ngân quỹ, nhưng thiếu tinh thần
trách nhiệm với công việc và đưa đến các hậu quả sau:
Trên thực tế, các vấn nạn chính là:
Đề nghị
Nhà cầm quyền Việt Nam sẽ có lợi thế hơn nếu thi hành các đề nghị sau:
1. Cải tổ hành chánh giữa nhà nước và Đảng theo đường lối “phân
quyền” và “dân chủ hoá” do chính quyền đề ra vào đầu thập niên 1990.
Chấp nhận và tuân thủ các nguyên tắc đề nghị của Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế
giới, và ASEAN. Áp dụng các giá trị quốc tế về nhân quyền, dân quyền, bình đẳng
và công lý cho mọi người dân, đồng thời mang các giá trị này vào chương trình
giáo dục mọi cấp. Thả các người trí thức bị bắt chỉ vì cổ động cho hiến chương
Liên hiệp quốc và nhân quyền.
Thanh lọc và cắt giảm bộ máy hành chánh, trao thực quyền cho những chuyên gia
giáo dục trong các lãnh vực cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Việc thu
nhỏ bộ máy hành chánh, cắt giảm chi tiêu sẽ giúp giảm tham nhũng và cho phép sử
dụng ngân quỹ vào các mục tiêu giáo dục.
2. Giáo dục miễn phí cho học sinh trung và tiểu học toàn quốc
để giảm sự bất bình đẳng trong xã hội.
3. Tăng lương và quyền lợi của giáo chức đến mức tương đối
thoải mái để động viên tinh thần thầy cô và cắt giảm tham nhũng.
4. Áp dụng các chương trình giáo dục đổi mới với trọng tâm là
tự do tư duy và xây dựng tư cách theo căn bản dân tộc, khai phóng, và thực
nghiệm.
5. Hợp tác với các chuyên gia giáo dục Việt Nam tại hải ngoại
để soạn lại các chương trình học cho thích hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Nếu Việt Nam thực thi các đề nghị căn bản này, hy vọng sẽ nhận được sự tiếp tay
và hỗ trợ của người dân trong và ngoài nước trong việc xây dựng một căn bản mới
cho dân tộc đất nước Việt.
Virginia - USA
Bản gốc viết bằng Anh ngữ:
http://www.vietnamreview.com/english/modules.php?name=News&file=categories&op=newindex&catid=2
© 2007 talawas
[1]Nguyêt Anh Duong,
Scientist, and the Thermo baric weapon -
http://en.wikipedia.org/wiki/Nguyet_Anh_Duong
[2]Le Thi Duong, PhD. and Fosamax -
http://en.wikipedia.org/wiki/Alendronate
[3]World Development Report 2006 -
http://econ.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/EXTDEC/EXTRESEARCH/EXTWDRS/
EXTWDR2006/0,,contentMDK:20586898~pagePK:64167689~piPK:64167673~theSitePK:477642,00.html
[4]“The Nhân Văn Affair” - Wikipedia
http://en.wikipedia.org/wiki/The_Nh%C3%A2n_V%C4%83n_Affair
[5]VietNamNet –28/08/2007 – Ha Anh & Kiêu Oanh - “Pho Thu
Tuong doc giang tai lop hoc hieu truong”
[6]Transparency International – Vietnam_NIS_2006-pdf pg 11
http://www.transparency.org/news_room/in_focus/2007/nis_in_east_and_southeast_asia#pr
[7]SBTN – Intel refused to tolerate corruptions in its
company in Viet Nam
http://www.sbtn.net/?catid=193&newsid=21790&pid=157
[8]MOET - Nguyen Loc, PhD, Assoc. Prof – Vietnam’s Education
in the Transitional Period. PDF - APEC2006/SOM2/HRDWG/057
[9]Tran Hai, PhD – Education in Vietnam – VSG report,
09/2007
[10]MOET - Nguyen Loc, PhD, Assoc. Prof – Vietnam’s Education
in the Transitional Period. PDF - APEC2006/SOM2/HRDWG/057
[11]Ibid, pg 4.
[12]MOET- Vietnam’s educational reform projects since 1999
– http://en.moet.gov.vn/?page=1.1
[13]MOET - Nguyen Loc, PhD, Assoc. Prof – Vietnam’s Education
in the Transitional Period. PDF – APEC2006/SOM2/HRDWG/057
[14]MOET - Solutions for Education Development - 5.3 (d)
- 2006 - http://en.moet.gov.vn/?page=6.4&view=3461
[15]Transparency International - Vietnam_NIS_2006.pdf. pg 10
[16]Le Dang Doanh’s Speech in front of the Communist
Political Politburo – on February 11, 2004 .
http://www.thienlybuutoa.org/Misc/LeDangDoanh.htm
[17]MOET – Solutions for Education Development – 5.3 (d)
- 2006 http://en.moet.gov.vn/?page=6.4&view=3461
[18]VNExpress, 11/09/2007 - Tiên Dung & Lan Huong: “Phu huynh oan
lung voi cac khoan phi dau nam” -
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2007/09/3B9FA104/
[19]The United Nations – MDGs’ Social Economic Development
Programs for Viet Nam 2006-2010, pg 6.
http://www.un.org.vn/undocs/sedp/mdgsedpv.pdf
[20]Far Eastern Economic Review, September 2007, Vietnam:
Beyond Fish and Ships-
by Jago Penrose, Jonathan Pincus and Scott Cheshier.
[21]Ibid.
[22]Ambassador Michael W. Marine - “Challenges of Higher
Education in Vietnam: Possible Roles for the United States” – Speech on
08/06/2007 at the University of Hawaii’s Shadier College of Business Executive
MBA Program Ho Chi Minh City
[23]WDR 2006 -
http://econ.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/EXTDEC/EXTRESEARCH/EXTWDRS/EXTWDR2006/
0,,contentMDK:20586898~pagePK:64167689~piPK:64167673~theSitePK:477642,00.html
[24]VietNamNet, 14/09/2007 – Bao Anh – “Truong chuyen: Tao
nhan tai hay luyen ga noi?”
http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/09/741045/
[25]BBC, 19/09/2007 – “Khong the chap nhan tang hoc phi”
Giao Su Hoang Tuy -
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/09/070918_viet_tuitionfees.shtml
[26]VietNamNet – 18/06/2007 - Thủy Oanh- Tỷ lệ Tốt nghiệp
Trung Học Phổ Thông: 66,7%
http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/tuyensinh/tintuc-sukien/2007/06/707768/
[27]VietNamNet – 23/08/2007 - Kiều Oanh: Cố theo đuổi Đại
Học: Lãng phí http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/tuyensinh/
huongnghiep/2007/08/732852/
[28]United Nations – MDGs: Trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế
- Xã hội 5 năm 2006-2010 của Việt Nam, pg 11
http://www.un.org.vn/undocs/sedp/mdgsedpv.pdf pg 11
[29]DienDan – 14/08/2007 - Hoàng Tuỵ: “Xã hội hoá” hay là đẩy
gánh nặng cho dân?”
http://www.diendan.org/viet-nam/xa-hoi-hoa-giao-duc/
[30]VietNamNet – 30/08/2007 - Kiều Oanh: Tăng học phí năm
2008 http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2007/08/735768/
[31]Vu Quang Viet, PhD – Tăng học phí: bao nhiêu học sinh bỏ
học? – VietnamNet – 14/07/2007.
http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/07/718033/
[32]The United Nations: Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
(MDGs),
http://www.un.org.vn/undocs/sedp/mdgsedpv.pdf pg 41
[33]http://go.worldbank.org/91KYPZ0S30
[34]General Vo Nguyen Giap contributed ideas about education in
Vietnam http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/09/738921/
[35]The Documents of the Ninth Congress of the Communist Party of
Vietnam. National Political Publishing House. Hanoi, 2001, (p. 29-31).
2 Sector Review in Education and Human Resource Analysis. MOET, 1994, Hanoi
[36]MOET/ NIESC/ APEC 2006 Nguyên Loc, Assoc. Prof, PhD -
Vietnam’s Education in the Transitional Period - 2006/SOM2/HRDWG/057
[37]http://home.vef.gov/download/Higher_Education_in_Vietnam.pdf
[38]MOET – Solutions for Education Development.
http://en.moet.gov.vn/?page=6.4&view=3461
[39]MOET – Current Situation of Vietnamese Education
http://en.moet.gov.vn/?page=6.1&view=3451
[40]Ibid
[41]Tuong Binh Minh – Giao duc va tham hung tai Viet Nam
- BBC interview
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/09/050907_vieteducationproblems.shtml
[42]http://home.vef.gov/download/Higher_Education_in_Vietnam.pdf
[43]Asia Pacific Journal of Education, Vol. 26, No.1,
May 2006
[44]Viet NamNet, 26/07/2007 - Phạm Hoàng Hải: “Triết lý giáo
dục: Không cần thiết”
http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/01/657803/