Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


'' Những điều chưa biết về Mao ''(XII,XIII, XIV)
''Mao -The Unknown Story''

 

 Đọc sách:

'' Những điều chưa biết về Mao ''(XII,XIII, XIV)

23.10.2007- JUNG CHANG -JON HALLIDAY-Bùi Tín đọc: '' Những điều chưa biết về Mao ''(IX,X,XI)

 16.10.2007- JUNG CHANG -JON HALLIDAY-Bùi Tín đọc: '' Những điều chưa biết về Mao ''(V,VI, VII, VIII)

JUNG CHANG -JON HALLIDAY-Bùi Tín đọc: "Những điều chưa biết về Mao" (I, II, III,IV)

Đọc sách:

Những điều chưa biết về Mao

               XII - MAO trong những ngày tháng cuối đời

1-. Những ngày tháng cuối đời của Mao từ 1974 đến 1976 là thời gian Mao ốm đau, lo nghĩ trong tình trạng bấp bênh nhằm duy trì quyền lực cho đến chết - theo đúng nghĩa -, với ước mong không bị mất quyền khi còn sống, sau khi mình tắt thở diễn biến ra sao cũng mặc.

Với một sự trùng hợp ngẫu nhiên, thời gian cuối đời này, Mao chứng kiến cái chết của nhiều nhân vật từng gắn bó với mình, từ Bành Đức Hoài, Vương Minh, Hạ Long, Chu Đức, Khang Sinh, đến Chu Ân Lai, Tưởng Giới Thạch...Bẩy cái chết của những nhân vật này gợi lại các mối quan hệ khác nhau với Mao.

2-. Cũng trong thời gian 3 năm cuối của Mao, cuộc đấu tranh khi ngấm ngầm khi quyết liệt diễn ra giữa 2 thế lực: một bên là ''liên minh bộ 3'' gồm Đặng Tiểu Bình - Chu Ân Lại - Diệp Kiếm Anh với một bên là '' lũ 4 tên '' gồm Giang Thanh - Trương Xuân Kiều - Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn. Cả 2 bên đều tự nhận là trung thành, chí cốt với Mao, đứng về phía đảng, dân tộc, nhân dân và cách mạng.

Thái độ của Mao trong thời gian này biến chuyển theo kiểu chập chờn lên xuống thất thường không dứt khoát, nhưng theo xu hướng gắn bó chặt với ''lũ 4 tên'' do chính Mao đẻ ra, với Cách mạng Văn hoá do chính Mao đề xướng, để rồi buộc phải từ bỏ dần những quái thai tệ hại ấy, đi đến nhượng bộ từng bước ''liên minh bộ 3 '' được công luận và quần chúng ủng hộ ngày càng mạnh mẽ, với cuối cùng là lời trối trăng trứ danh : lật đổ, đảo chính cũng được, nhưng hãy dành cho vợ ta và lũ chúng nó (chỉ lũ 4 tên), nhưng phải để sau khi ta chết đã !

3-. Dưới đây là những diến biến cụ thể.

Từ tháng 5-1972, bác sỹ phát hiện Chu Ân Lai bị ung thư bọng đái, báo cáo với Mao. Mao ra lệnh : dấu kín Chu và gia đình Chu, không được mổ vì Chu đã cao tuổi; đến tận tháng 5-1974 - 2 năm sau, bệnh quá nặng, Chu đái ra máu nhiều, Mao mới cho mổ thì quá muộn rồi. Thật ra Mao có mối thâm thù với Chu là vào những năm 1931,32 khi Chu là thường trực bộ chính trị của đảng Cộng sản đóng ở Thượng hải, Chu đã ra quyết định khai trừ Mao ra khỏi đảng vì Mao để cho quân lính có những hành động thổ phỉ ở vùng Giang Tây. Sau này Chu đã cúi đầu phục vụ Mao hết mức, nhưng mối hận cũ Mao không quên. Mao chỉ muốn Chu chết trước mình và giữ cho Chu không phản mình khi Chu còn sống.

Thế là ngay khi Chu ốm nặng, Mao triệu tập 300 cán bộ cấp cao đưa ra một tài liệu từ năm 1932 lấy từ báo Thượng Hải lá thư công khai từ bỏ đảng CS ký tên bí danh của Chu lúc ấy, và bắt Chu kiểm thảo. Chu bị nhục, mất ngủ suốt mấy đêm, viết những lời tự xỉ vả mình và thề trung thành đến cùng với Mao. Để thấy Mao thâm độc chừng nào khi Chu từng phục vụ Mao như một tên nô lệ, theo dư luận nhận xét.

Vẫn chưa hết. ngày 22-6-1973 hiệp ước Mỹ - Xô được ký về ngăn ngừa cuộc chiến tranh hạt nhân, thế là Mao dồn tất cả giận dữ lên đầu Chu. Sau đó Mỹ quay lại không từ bỏ sự công nhận chính quyền Đài loan như Kissinger từng hứa với Chu, Mao cũng gọi Chu đến mắng mỏ. Thái độ quá đáng của Mao đã là giọt nước làm tràn ly, và cuối cùng Chu đã tách mình dần ra khỏi Mao và ''lũ 4 tên'' để gắn gó ngày càng chặt với Đặng Tiểu Bình và Diệp Kiếm Anh thành ''liên minh bộ 3'' , theo cách gọi của giới tướng lãnh hồi ấy.

Chu còn rất cay vì bị Mao đối xử ác độc. Vợ chồng Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu (Deng Yong Chao) không có con, có một con nuôi rất cưng là Tôn Duy Thể (Sun Wei Shi), phiên dịch tiếng Nga và tiếng Anh loại xuất sắc. Tôn lại đẹp kiểu kiêu sa quý phái, Mao có lần tán tỉnh không được. Trong cao trào chống xét lại Liên Xô, Giang Thanh vốn ganh ghét với Tôn mang cô ra đấu, cô bị tra hỏi về những cuộc dịch cho Staline, bị nhục hình và chết thảm trong tù.

4-. Thời gian cuối của Mao cũng được đánh dấu bằng thái độ luôn lo sợ Liên Xô tấn công xâm lược hay hãm hại mình. Nỗi lo này ngày càng lớn kể từ dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Mười ở Moscow năm 1964 khi nguyên soái Malinopski rỉ tai Chu và nguyên soái Hạ Long gợi ý gạt bỏ Mao như Liên xô vừa gạt bỏ Khrouchtchev. Từ đó quan hệ Trung - Xô đóng băng, Hạ Long và mấy trăm bộ hạ bị tra tấn cầm tù đến chết. Tháng 6-1969 Hạ Long chết trong tù sau khi bị tra khảo và tra cung hàng trăm lượt. Tháng 6-1975 vợ con Hạ Long tổ chức truy điệu chồng và cha, Mao ra lệnh không được đọc diễn văn và không được có vòng hoa nào trong cuộc truy điệu. Thế nhưng lệnh Mao không được tôn trọng nữa và chính Chu Ân Lai đến dự và đọc điếu văn.

Mao sợ Liên xô đến mức từ cuối 1964, không một cán bộ Trung quốc nào được sang Liên xô; và cuối 1975 khi đoàn Liên xô sang Bắc kinh để đàm phán về vấn đề biên giới 2 nước sau xung đột quân sự trên sông Issouri năm 1969, Mao phải sơ tán xuống Hoa Nam, luôn ở dưới hầm tránh bom nguyên tử. Mao tính rằng từ Ngoại Mông đến biên giới Trung Hoa chỉ 5 trăm kilômét lại bằng phẳng, xe tăng Liên Xô có thể tiến công sang nên Mao ra lệnh dựng lên nhiều dãy ''núi nhân tạo'', cao chừng 30 , 40 mét, rộng chừng 4 , 5 trăm mét ở bên ngoài Bắc kinh, cho đến phía ngoài khu Trung Nam Hải, tốn nhiều công sức của quân lính và dân công.

6-. Sang năm 1974 cách mạng văn hoá đã chấm dứt, các trường học đã mở lại, nhưng không ai được nhận định cuộc cách mạng ấy là sai lầm và thất bại. ''Lũ 4 tên'' vẫn được Mao bảo vệ, bọn Giang Thanh vẫn lộng hành.

Giang Thanh vẫn sống trong xa hoa, kiêu ngạo và buông thả. Giang từng nịnh Mao đến độ vênh váo: ''Tôi là con chó của Mao chủ tịch, chủ tịch bảo tôi cắn ai là tôi cắn ''; Giang mê chơi chụp ảnh, dùng những ống kính đắt tiền nhất; Giang từng bắt hải quân cho 4 tàu chiến biểu diễn trên biển và pháo binh bắn đạn thật để chụp ảnh chơi; Giang bắt các cô phục vụ mình luôn quỳ, cúi rạp đầu, không được để đầu cao hơn đầu mình; nghĩ rằng  các bà được truyền máu thanh niên sẽ khoẻ lên mọi mặt, nhất là về sinh lý, Giang lệnh cho bốn thanh niên hầu cận để bác sỹ của Giang lấy máu truyền cho mình, khi Mao biết được liền ra lệnh cấm; Giang bắt xây bể tắm lấy nước từ suối cách xa gần chục kilômét; Giang còn bắt người phục vụ đuổi bắt hết chim, ve sầu ở quanh nhà để bà lớn ngủ được yên...

Trong năm 1975, Mao còn nhượng bộ ''lũ 4 tên '' cử Trương Xuân Kiểu,  mưu sĩ thâm hiểm được gọi là '' Rắn hổ mang '' - Cobra , làm phó cho Chu trong việc nắm chính quyền và nắm quân đội, nhưng bị Chu từ chối, cho Mao biết Trương từng làm việc cho cơ quan tình báo Quốc dân đảng.

7-. Từ sau sinh nhật lần thứ 80 tháng 12-1973, sang năm 1974 sức Mao giảm sút trông thấy. Mắt như mù hẳn, chân đi không vững, phải ăn nằm nghiêng trên giường. Tháng 7-1974 Mao đi nghỉ ở phía Nam trong 9 tháng. Các bác sỹ phát hiện Mao đã mắc một bệnh hiếm có, hiểm nghèo. Đặc điểm của căn bệnh này là một số tế bào thần kinh bị hủy hoại dần không ngăn chặn được, liệt từ bắp thịt chân tay, lên đến liệt họng, lưỡi, không nhai, không nói, không nuốt được, cuối cùng là liệt phổi đến tắt thở. Bệnh này gọi là bệnh Charcot, cực hiếm nhưng chưa có cách chữa, diễn biến trong 2 năm là chết. Chu và một số lãnh đạo chủ trương không để Mao biết, cũng không cho '' lũ 4 tên '' biết chuyện này.

8-. Trên giường bệnh Mao được biết Bành Đức Hoài chết trong tù ngày 29-11-1974. Bành là tử thù của Mao dám chống Mao quyết liệt nhất ở Lư Sơn. Mao ra lệnh không được báo tin ngày chết của Bành, cũng như trước đó Lưu Thiếu Kỳ chết ngày 12-11-1969 ở trại tù Khai Phong, Mao cũng ra lệnh không được loan tin, không có lễ tang hay lễ kỵ mấy năm sau, dù Lưu từng là Chủ tịch nước.

Ngày 5-4-1975, Tưởng Giới Thạch, tổng thống và lãnh tụ Quốc dân đảng chết ở Đài Bắc, thọ 89 tuổi; được tin Mao có thái độ hơi khác thường. Suốt cả ngày Mao gần như không ăn uống, mở băng ghi âm nghe nhạc buồn, cả ngày không gặp một ai, có lúc còn lau nước mắt. Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng từng hợp tác kháng Nhật, Mao có lúc ở trong cơ quan lãnh đạo Quốc dân đảng, nhưng cũng nói, viết không biết bao nhiêu câu chửi rủa Tưởng nặng lời nhất. Thật khó hiểu. Chỉ biết rằng Mao coi kẻ thù dân tộc, kẻ thù giai cấp nhẹ hơn kẻ thù trong nội bộ đảng, nhẹ hơn những đồng chí cộng sản cũ của mình rất nhiều.

9-. Giữa năm 1975 , Mao để Đặng Tiểu Bình từ nơi quản thúc trở về giúp Chu Ân Lai, vì việc quản lý nhà nước quá trì trệ. Đặng rất cay đắng với cách mạng văn hóa tàn phá đất nước, phá nát đảng, sắn tay cùng Chu ổn định tình hình, khôi phục sản xuất bình thường ở thành thị và nông thôn. Đặng rất bất bình với Mao, chống '' lũ 4 tên '' nhưng không dám đi xa hơn.

Đặng rất chê Chu đã tỏ ra cơ hội, mềm yếu trong chống bất công, còn tham gia thanh trừng tàn bạo theo lệnh Mao, nhưng nay thấy Chu có phần tách khỏi Mao, bất bình với '' lũ 4 tên '', nên đứng ra liên kết với Chu và Diệp Kiếm Anh , hình thành nhóm ''liên minh tay ba'', theo cách gọi hồi ấy của một số tướng lĩnh tiến bộ. Diệp từ 4 năm nay không mặn mà với cách mạng văn hóa, bị Mao bắt về hưu vì lý do sức yếu, nay thấy tình hình chuyển biến, liền quay lại chính trường. Nhà Diệp nhộn nhịp suốt ngày, các tướng lĩnh và sỹ quan tiến bộ nôn nóng muốn sớm loại bỏ lũ 4 tên tập hợp ở đây. Diệp nói chuyện thân mật với các sỹ quan, không gọi Mao là Mao chủ tịch như trước mà gọi là '' người số 1 '', còn nói theo tiếng Anh là '' năm bơ oăn '' (number one). Các viên tướng đòi hành động gấp, Diệp chìa ngón tay cái ra xoay 1,  2 vòng rồi chỉ xuống đất, ý nói để khi Mao chết đã.

Liên minh tay ba Đặng - Chu - Diệp ngày càng có ưu thế, đến độ có lúc Đặng đập bàn quở mắng Giang Thanh về các tội vô kỷ luật, ''làm trái lời Mao chủ tịch''. Mao vẫn không chịu thừa nhận cách mạng văn hóa là sai lầm, còn cố đưa Vương Hồng Văn vào chính quyền để làm phó cho Chu nắm cả quân đội. Chu bỏ mặc Vương ngồi đó mà không giao một việc gì.

10-. Tháng 5-1975, Mao dự cuộc họp bộ chính trị cuối cùng trong đời mình. Mao thều thào nói, rất khó nghe. Nhiều lúc không hiểu Mao muốn nói gì. Mao kêu gọi: hãy giữ đoàn kết, xin đừng chia rẽ , chớ là kẻ xét lại..., chớ có âm mưu ...rồi cuối cùng nói như trăn trối với số ngồi cạnh, trong đó có Đặng và Chu : nếu có tính đến một cuộc đảo chính thì hãy dành cho mụ vợ ta và lũ chúng nó (chỉ lũ 4 tên), sau khi ta chết (in ngiêng trong sách)

10-. Chu bị ngất xỉu rồi chết ngày 8-1-1976, thọ 78 tuổi. Mao lo sợ nhân tang lễ của Chu tình hình sẽ diễn biến xấu cho mình, liền ra lệnh quản thúc Đặng. Thế là Đặng lại bị giam lỏng một lần hơn 3 tháng nữa. Mao cử Hoa Quốc Phong một con người mờ nhạt chỉ biết vâng dạ mình thay Chu làm thủ tướng và cử tướng Trần Tích Liên, một viên tướng còn mờ nhạt hơn nữa nắm quân đội.

10-. Đầu tháng 6-1976 Mao bị liệt họng và lưỡi, khó thở rồi bị một cơn đau tim nặng, bước vào thời kỳ hấp hối, chỉ thở bằng máy; tử thần đã gõ cửa. Cũng vào lúc này, Chu Đức chết vào ngày 6-6-1976, thọ 90 tuổi. Chu Đức là Nguyên soái đứng đầu 10 vị nguyên soái của Hồng Quân từng bị Mao kết bè với Lâm Bưu để hạ thấp trong cuộc trường chinh. Trong cách mạng văn hóa, Mao để cho Chu bị đấu rất tàn nhẫn rồi cho về nghỉ hưu trong bần hàn và cô đơn. Mao rất e ngại uy tín và đức tính thẳng thắn ngay thật của Chu Đức. Mao sợ tang lễ Chu Đức sẽ tạo nên rối loạn. Sau khi lễ tang ổn, Mao mới đồng ý cho Đặng trở về.

Đặng trở thành người hùng của Trung quốc từ đó và nhất là sau khi Mao chết. Đặng (1904 - 1997) là người Tứ Xuyên, từ tuổi trẻ đã di cư sang Pháp lao động và học tập. Đặng cùng Chu Ân Lai vào đảng cộng sản tại Pháp rồi sang Liên xô hoạt động. Đặng nhỏ nhắn, chỉ cao 1 mét 55, thông minh, chơi bài bridge khá cao. Đặng tham gia cuộc trường chinh, năm 1949 chỉ huy chiến dịch lớn Hoài - Hải, Nam tiến giải phóng miền phía Nam sông Dương Tử. Năm 1955 Đặng vào Bộ chính trị, làm tổng bí thư từ năm 1956 đến năm 1966, bị gạt khỏi quyền lực trong cách mạng văn hóa, đến năm 1975 trở lại giúp Chu Ân Lai ít lâu, năm 1976 lại bị quản chế 3 tháng để tháng 6-1976 lại trở lại tham gia xoay chuyển tình thế.

11-. Trên giường bệnh Mao vẫn muốn tiếp khách để chứng tỏ mình vẫn còn là nhân vật lớn trên thế giới. Ba tháng trước khi tắt thở Mao còn gặp Julie Nixon, con gái tổng thống Nixon bị truất phế sau vụ Watergate, đến chào, trên ngực mang huy hiệu hình Mao; Mao sung sướng như trẻ nhỏ lắc tay Julie hồi lâu. Sau đó là đoàn khách Thái lan đến, khi Mao đang ngáy một cách khó nhọc; rồi thủ tướng Singapo Lý Quang Diệu vào phòng Mao, Mao ngồi trên ghế nệm, đầu ngả ra phía sau, há mồm, dãi chảy ra, ú ớ không thành tiếng. Khách cuối cùng là thủ tướng Bhutto của Pakistan vào tháng 5-1976, khi Mao thấy ảnh mình chụp lúc ấy trông tiều tụy quá, Mao quyết định thôi không tiếp ai nữa.

12-. Mấy tuần lễ cuối cùng Mao được đưa sang ngôi nhà ở phía Tây trong khu Trung Nam Hải, được xây dựng gấp từ mấy năm nay cho Mao, mang tên '' Dinh 202 '', rộng lớn, có thang máy đưa xuống hầm bê tông sâu chống bom nguyên tử và chống động đất. Ngay trước đó một cuộc động đất lớn xảy ra tại thị trấn công nghiệp Đường Sơn, cách Bắc kinh 160 kilômét về phía Đông, làm chết 14 vạn dân (có con số lên đến 60 vạn). Ngày 5-9 Mao lịm đi, không tỉnh lại nữa. Hoa Quốc Phong, thủ tướng thay Chu Ân Lai từ 5 tháng trước cùng một số cận thần thay nhau túc trực. Giang Thanh đứng sau rèm gần giường Mao nằm, không dám lộ mặt vì nhiều lần thấy mặt bà là Mao nổi cơn tức giận. Không có một người con hay cháu nào ở gần Mao lúc này.

Cô Mạnh Cẩm Vân (Meng Jin Yun) là cô y tá được Mao ưa nhất có mặt đến phút chót, nghe Mao nói nhỏ : ta rất khó chịu, gọi bác sĩ . Rồi Mao lịm đi hẳn.

Lúc ấy là quá nửa đêm rạng ngày 9 tháng 9- 1976, 12 giờ đêm và 10 phút.

Bùi Tín  phỏng dịch và tóm tắt              [ còn nữa ]  

____________________________________________________

Đọc sách:

Những điều chưa biết về Mao

          XIII -  Chân dung con người thật của Mao

1-. Nhìn chung con người thật của Mao là thế nào. Chân dung tinh thần của nhân vật lịch sử này ra sao? Jung và Jon để gần 10 năm trời, đi hàng chục vạn dặm, hỏi chuyện hàng nghìn nhân chứng sống, tra khảo hàng mấy nghìn trang tư liệu hiếm, trong hàng chục kho lữu trữ cực quý  để vẽ nên chân dung tinh thần của Mao. Có gì quý hơn là những trang ghi tốc ký và ghi âm những buổi đối thoại của Staline, Dimitrov, Khrouchtchev...với các nhân vật Trung quốc như Vương Minh, Chu Ân Lai, Mao, Lưu Thiếu Kỳ... Có gì thú vị hơn là những mẩu chuyện sống động Jung và Jon thu được từ miệng cô bán đậu phụ bên đầu cầu sông Đại độ hơn 60 năm trước nay là bà cụ hơn 90 tuổi, hay cuộc trò chuyện với nhân vật Trương Học Lương hay Trương Quốc Đào khi đã trên dưới 1 trăm tuổi.

2-. Mao Trạch Đông đã có hàng tỷ cuốn Mao tuyển, hàng tỷ tỷ cuốn sách đủ thứ tiếng, tranh chuyện, bài thơ, vở ca kịch, luận văn lịch sử, chính trị viết về mình. Ngoài dân Trung quốc lại con bao nhiêu đảng phái, nhóm vũ trang Mao-ít ở rừng rậm hay thành phố Á Phi Mỹ la-tinh sùng bái Mao như thần như thánh. Nhân vật vĩ đại, đại cứu tinh, anh hùng dân tộc, siêu nhân, nhà chính trị khổng lồ. Thế mà Jung và Jon cho ta một chân dung khác lạ, một Mao chưa từng biết rõ, từng chân tơ kẽ tóc, như ta thường nói, một Mao như là bằng xương bằng thịt, làm cho tỷ tỷ tài liệu và nhận thức cũ chỉ là cái bóng mờ ảo của Mao, chỉ là tấm ảnh bị lóa lòa méo mó hoàn toàn giả tạo, không thật. Khối người sẽ giật mình. Ta đã bị lừa. Khối người sảng khoái, vỗ đùi đen đét : à ra thế,  sự thật đây rồi. Mà có gì thích hơn, mừng hơn, sướng hơn là tìm ra sự thật, sự thật đúng như có thật, sự thật bướng bỉnh và trần trụi.

3-. Sự thật Mao là con người ra sao. Có thể nhìn, ngắm Mao trên nhiều góc độ khác nhau. Mao như là một con người bình thường, với những tình cảm yêu ghét buồn vui. Mao như một nhà lãnh đạo cộng sản, như một lãnh tụ, đòi hỏi tài năng lãnh đạo, đạo đức gương mẫu, quan hệ với đồng chí, đồng bào. Mao như một nhà lý luận với những trước tác và quan điểm, tư tưởng, sáng tạo của mình. Mao trong cuộc sống gia đình riêng, với cha mẹ, vợ con, cháu, anh em họ hàng gần xa của mình.

Vậy thì qua hơn 800 trang sách '' Những điều chưa biết về Mao '', tác giả vẽ nên cho ta thấy một chân dung Mao ra sao? Tất nhiên chỉ trong khuôn khổ cuốn sách này. Không nên thêm thắt tô vẽ thêm điều gì khác.

4-. Về con người. Mao hiền lành hay ác độc. Mao vì người, vì nhân dân, vì giai cấp vô sản cùng cực hay vì ta, vì bản thân mình? Mao luôn có ước vọng và mưu đồ cho Trung Quốc phát triển nhanh, thật nhanh, trở thành một siêu cường rồi thành cường quốc vô địch của thế giới. Nhưng đi sâu vào ý đồ ấy vẫn nổi lên tham vọng cá nhân là động lực chính, quyền lực cá nhân Mao vẫn là mục tiêu chính. Cái ác ngự trị trong con người Mao rật đậm đặc. Trong chiến tranh Triều tiên, Mao tính đến cái chết của hàng chục vạn binh lính trong bom đạn như một bài tính giữa phiên chợ đầy hàng hóa. Thật đáng sợ.

Mao còn tính đó là dịp đẩy hàng triệu binh lính cũ của Quốc dân đảng vào chỗ chết, mình khỏi mất công thủ tiêu; rồi vấn đề trao đổi tù binh, Mao đòi đối phương trả về không thiếu một binh sỹ từng bị bắt và đầu hàng để Mao trị tội bằng hết. Thật may mà đòi hỏi của Mao không được chấp nhận.Các cuộc khủng bố trắng ở Giang Tây, Hồ Nam, rồi ở Diên An, rồi trong Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa đều được Mao trực tiếp chỉ đạo, từ treo người, xẻo tai, cắt gân chân, cho đến đầu độc Vương Minh, hành hạ vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ, tra tấn Bành Đức Hoài, Hạ Long đều được thực hiện bởi mối thù cá nhân tàn ác nhất. Mao tỏ ra dửng dưng khi số người chết do đói kém lan tràn ở nông thôn những năm 1960, 61 và 62 lên đến gần 30 triệu đồng bào mình, tất cả chỉ vì những chính sách phiêu lưu nhảy vọt, làm lò cao, công xã nhân dân của Mao gây nên.

5-. Mao không ngớt nói đến nhân dân, buộc đảng viên luôn tự phê bình, cán bộ luôn kiểm thảo tìm ra tội lỗi để sửa chữa, dạy đảng viên về tinh thần hy sinh cao độ, vì dân vì tập thể, vì vô sản toàn thế giới, nhưng Mao lại sống một cuộc sống hoàn toàn vì cá nhân mình, cho cá nhân mình, một cuộc sống ích kỷ cao độ, hoàn toàn đạo đức giả. Nói một đằng làm một nẻo đã thành nếp sống của Mao. Mao bảo người khác, dạy người khác làm điều hay, điều phải nhưng bản thân thì không làm, còn làm trái lại. Mao không bao giờ tự phê bình, nhận ra sai lầm của mình để sửa chữa. Như Đại nhảy vọt, cách mạng văn hóa sai rành rành rõ ràng nhưng Mao vẫn sỹ diện kéo dài. Trong cuộc trường chinh, Mao chuyên nằm trên võng gần như suốt cả năm. Nơi Mao ở được thiết kế công phu theo sở thích riêng của Mao. Mao chuyên ăn cơm riêng trong phòng riêng của mình, với hàng chục người đứng phục vụ, với những cao lương mỹ vị quý hiếm nhất. Mao sống cuộc sống như một hoàng đế xưa. Xung quanh phải diệt hết chó mèo, ếch nhái, gà qué để không ảnh hưởng giấc ngủ. Đoàn tàu đặc biệt của Mao đến đâu là cấm xe cộ ở quanh hàng buổi. Mao ưa thức đêm, ngủ ngày, buộc cận thần phải theo thời gian biểu của mình. Nửa đêm Mao triệu tập bộ chính trị đến ngồi quanh ghế đệm Mao ngồi hay quanh giường Mao nằm.

6-. Đặc tính của Mao là đa nghi, vì biết mình làm nhiều điều bất công, thất đức, quái ác nên luôn sợ bị trả thù ám hại. Do đa nghi nên Mao trừng trị tra khảo oan ức biết bao đồng chí của mình. Vì nghi Hạ Long có âm mưu cùng Liên xô hãm hại Mao hành hạ tra tấn Hạ long và hàng trăm người từng quen thân Hạ Long. Mao nhiều lần nghi Đặng Tiểu Bình lật đổ mình nên loại bỏ Đặng khi bắt đầu cách mạng văn hóa, sau còn quản chế và giam lỏng Đặng 2 lần nữa, mà thật ra Đặng không có âm mưu lật Mao. Mao còn nghi Liên xô có ý định kéo quân sang bằng bộ binh, xe tăng, cả ném bom bằng không quân, cho đến cả bom nguyên tử, để bắt dựng hàng hàng ''núi nhân tạo '', nhiều lúc xuống hầm sâu, đi tránh về phía Nam. Càng về già Mao lo sợ bị ám sát, hay giật mình khi nghe tiếng động lạ, thấy người lạ, cho nên quy định ai đến gần phải nói to vừa phải - to quá hay thầm thì đều làm Mao hoảng sợ, -  phải báo trước, có người dẫn vào.

7-. Đặc tính khác rất sâu đậm ở Mao là giữ thù riêng, thù cá nhân rất dai dẳng. Ta thường gọi là thù dai. Mao quyết trả thù cá nhân đến cùng. Chu Ân Lai phục vụ Mao hết mình, như một kẻ nô lệ, thế mà Mao nhớ mãi chuyện từ những năm 1930 Mao đã bị Chu thi hành kỷ luật vì Mao để quân lính cướp phá dân như thổ phỉ, để hành hạ Chu, không cho Chu mổ, bắt Chu phải chết trước mình và bắt Chu kiểm điểm về một bài báo từ năm 1932. Mao còn thâm thù Vương Minh, Bành Đức Hoài và Lưu Thiếu Kỳ và tìm cách hành hạ 3 người này cho đến chết với những cực hình rùng rợn nhất mới hả dạ.

8-. Ở Mao cũng nổi lên sự dối trá, dối trá có hệ thống, có nghệ thuật. Tất cả những chuyện Mao kể cho Edgar Snow về cuộc đời hoạt động của mình và về cuộc trường chinh thì phần lớn là thêu dệt và bịa đặt. Trái với điều Mao kể, Hồng quân không hề có chuyện có nhiều chiến công đánh Nhật hơn là quân Quốc dân đảng. Trong cuộc trường chinh việc đánh quân Quốc dân đảng cũng rất ít vì chính Tưởng Giới Thạch gián tiếp quy định hành trình và khu vực dành cho Hồng quân. Trận đánh oai hùng Mao kể diễn ra rực lửa ở cầu Đại độ là chuyện hoang đường do Mao bịa đặt trăm phần trăm, bị nhân chứng còn sống là bà cụ bán đậu phụ ở quán hàng ngay đầu cầu ngày xưa bác bỏ.

9-. Trong cuộc sống gia đình, Mao tỏ ra rất ít tình cảm. Mao tỏ ra tự thương mình nhất, tự yêu mình nhất. Bà vợ thứ nhất là ''cô La'' (họ La) cưới khi Mao 15 tuổi cô La gần 20 tuổi, đến khi 22 tuổi thì cô La chết. Bà vợ thứ hai là Dương Khai Tuệ, sinh năm 1901, con thày giáo của Mao ở Trường Sa (Hồ Nam), có học, sanh với Mao 3 con trai là Mao Ngạn Anh, Mao Ngạn Thanh và Mao Ngạn Long; Ngạn Anh sang Nga học về làm phiên dịch cho Bành Đức Hoài ở Triều tiên, chết trong một trận ném bom của Mỹ. Ngạn Thanh bị bệnh tâm thần bẩm sinh, sang Nga cùng Ngạn Anh rồi ở lại trong trại tâm thần (mới chết gần đây theo báo Nga, thọ gần 80 tuổi); con út là Ngạn Long chết khi 4 tuổi ở Thượng Hải. Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng bắt ở Trường Sa rồi bi giết ngày 14-11-1930. Năm 1990 ở Trường Sa phát hiện 8 lá thư của Dương Khai Tuệ viết trước khi chết được dấu và bảo quản kỹ gói trong giấy dầu gắn trong tường, lời rất tình cảm, thương nhớ Mao và 3 con, mong Mao từ bỏ chủ nghĩa cộng sản hung bạo. Vợ thứ ba của Mao là Hạ Tử Trân, bí danh là Quế Viên, xuất thân gia đình tiểu thương tiểu chủ, lấy Mao năm 1928 khi 18 tuổi, có với Mao 7 con, kể cả 2 lần xẩy thai trên đường hành quân, đến mức có lần Mao bảo vợ mình sinh đẻ như gà. Hạ cùng dự cuộc trường chinh với Mao, đi ngựa, đi bộ, nằm võng, mặc quân phục hồng quân, mũ két có sao đỏ, cầm súng, có lần bị thương nặng ở vai. Hạ sống với Mao ở Diên An. Khi Mao có tình ý với Giang Thanh là diễn viên ca kịch từ Thượbg hải mới đến Diên An vào năm 1937, Mao liền cho Hạ đi sang Nga để dưỡng bệnh khi Hạ vừa  có mang, để lại con gái nhỏ tên là Li Mẫn (Ly Min) sinh năm 1936, còn gọi là '' Kiều - Kiều '' - ''Chiao Chiao'' . Ở Moscow năm 1938 Hạ sinh con trai, rất giống Mao, đặt tên là Lyova, được 6 tháng thì chết vì sưng phổi. Năm 1939 Hạ biết Mao lấy vợ khác khi tình cờ xem phim thời sự do Karmen quay từ Diên An gửi về trong đó Giang Thanh được giới thiệu là '' Bà Mao '', Hạ lên cơn tâm thần rồi sức khỏe suy sụp. Năm 1940 Mao cho ''Chiao Chiao '' sang Moscow ở với mẹ. Chiao Chiao mừng nhưng bệnh mẹ cô ngày càng nặng, hay đánh mắng con khi lên cơn. Về sau hai mẹ con về Trung quốc, Mao không gặp Hạ, không cho Hạ đến Bắc kinh, bà sống cô đơn ốm yếu cho đến chết (1984) khi 74 tuổi. Chiao Chiao có hồi đến Bắc kinh gặp Mao, Mao muốn cô quan tâm đến chính trị nhưng cô không theo ý muốn ấy, thế là Mao cấm cửa, không cho cô đến gặp nữa. Vợ thứ tư là Giang Thanh, trên đã nói về con người này. Giang ở với Mao lâu nhất, gần 40 năm. Mê mệt nhau rất sâu sắc rồi cay đắng vì nhau cũng nhiều, làm hại nhau cũng lắm, đi đến ghét bỏ và thù hận nhau cho đến chết. Giang là công cụ chính của Mao trong cách mạng văn hóa, Mao cho Giang vào bộ chính trị, đứng đầu Tiểu tổ cách mạng văn hóa với quyền sinh quyền sát kinh người, để rồi Mao không thèm nhìn mặt Giang và đồng tình triệt hạ trừng phạt Giang sau khi mình chết yên ổn. Đầu năm 1977, Giang cùng ''lũ 4 tên '' bị bắt, khai trừ khỏi đảng, ra trước vành móng ngựa, Giang bị tội tử hình rồi chuyển xuống chung thân; bà tự sát trong tù, thắt cổ vào năm 1991.

Giang có với Mao một con gái, đẻ ở Diên An ngày 3-8-1940, đặt tên là Lý Nạp (Li Na). Li Na được nuông chiều, kiêu ngạo, trong cách mạng văn hóa Giang và Mao cho Li Na làm chủ bút báo quân đội. Li Na tự phụ hống hách, có lần bắt tướng tá lớn tuổi dơ tay chào mình kiểu nhà binh. Li Na khó lấy chồng, 31 tuổi đành lấy một anh hầu hạ Mao, cả Mao và Giang không đồng tình, không dự đám cưới, cho là anh ta thuộc loại hèn kém; khi Li Na sanh con trai, Giang không bao giờ bế, Mao cũng không ưa gì cháu ngoại.

10-. Về bạn bè hầu như cả cuộc đời Mao không có bạn, chưa nói gì đến thân thiết. Bạn theo đúng nghĩa, hợp với mình, để tâm sự, trao đổi tâm tình. Mao như chẳng viết thư cho ai. Việc gì cũng tự mình giải quyết. Mao chỉ có '' bạn '' theo mưu đồ riêng, kết liên minh với kẻ này để cô lập, hãm hại kẻ khác, ''bạn'' theo từng thời kỳ, giai đoạn. Tin cậy Bành Đức Hoài cử Bành làm tư lệnh quân tình nguyện rồi quay lại coi Bành là tử thù. Gắn với Lưu Thiếu Kỳ, cử Lưu làm chủ tịch nước rồi quay lại dùng cực hình với Lưu. Liên minh với Lâm Bưu, đề cao Lâm, nâng Lâm thành người kế thừa mình, rồi quay sang đe dọa trừng trị Lâm đẩy Lâm phải chạy trốn. Không một ai là bạn dài lâu của Mao. Đây cũng là một nét khác thường trong chân dung tinh thần của Mao.

11-. Về mặt hoạt động sinh lý Mao có những nét độc đáo. Bành đã nhân xét Mao có cung tần mỹ nữ quanh mình như những hoàng đế Trung hoa dâm dật nhất. Trong hàng ngũ cán bộ quan chức cộng sản thời nay, không ai có hoạt động sinh lý gấp gáp, vô độ, bất kể đạo đức, bất cần dư luận như Mao. Mao cho tuyển những cô văn công quân đội, văn công binh chủng không quân, 17, 18 tuổi, bằng con bằng cháu mình, ít hơn Mao đến 35, 40 tuổi cũng không từ. Mao còn cho thiết kế ngay trong Đại lễ đường Nhân dân một phòng riêng của mình để giữa những cuộc họp trung ương, giữa đại hội đảng vẫn có thể hú hí với gái trẻ khi muốn, Mao còn hướng dẫn đóng giường gỗ quý dài rộng, lót nệm lông quý, có độ ngiêng, để cùng một lúc làm tình với 2, 3 cô, với các loại tư thế khóai cảm nhất. Về mặt này, có thể coi Mao là quán quân quốc tế của mọi thời đại. Cá nhân ích kỷ về sinh lý của Mao càng thêm nặng khi dưới chế độ Mao, việc quan hệ nam nữ cực kỳ nghiêm khắc, một vợ một chồng là triệt để, cán bộ viên chức phần lớn chỉ được gần nhau 12 ngày đêm mỗi năm.

12-. Cũng không thể bỏ qua một nét nữa không giống ai của Mao, đó là một số nét hủ lậu kiểu nông dân cổ lỗ. Mao không đánh răng bằng bàn chải và xà phòng đánh răng; chỉ xỉa răng và lấy bã chè xúc miệng. Mao hầu như không tắm chỉ lấy khăn nhúng nước ấm lau mình. Mao không quen ngồi bệ vệ sinh để đi cầu, mà chuyên ngồi xổm như khi còn ỉa ngoài đồng. Mao không muốn học một ngoại ngữ nào, hoàn toàn mù ngoại ngữ giữa thời toàn cầu hóa; ngay tiếng bạch thoại đúng kiểu Bắc kinh Mao cũng ngọng, nói theo giọng Hồ nam. Mao không hề đi một nước nào khác ngoài 2 lần đến Moscow gặp Staline và họp các đảng cộng sản năm 1949 và năm 1957.

Có lẽ do sự hủ lậu, khép kín, tự mãn như thế mà tư tưởng của Mao cũng cổ lỗ tăm tối, thiển cận theo, như chủ trương dựng lò cao ở sân nhà nông dân và đánh trống chiêng phèng la và hò hét để diệt chim sẻ, nhằm vượt nước Anh và vượt Nhật bản sau đó.

13-. Nhưng nét trội nhất trong con người của Mao mà ít người biết đến là gì ? Ngay từ trang mở đầu và đến trang bìa sau cùng của cuốn sách, Jung và Jon đều đưa ra con số 70 triệu người chết mà Mao đã trực tiếp và gián tiếp gây nên, mà Mao phải chịu trách nhiệm trước lịch sử Trung quốc và lịch sử loài người. Tác giả không đưa ra con số ấy một cách tùy tiện, phỏng đoán. Trong cuốn sách, mỗi sự kiện, mỗi nhận định, mỗi con số đều được cân nhắc, thẩm tra, có bằng chứng, nhân chứng hẳn hoi, như trong một công trình lịch sử và khoa học chính xác. Tác giả đã thống kê và cộng lại vô vàn nạn nhân của thanh trừng và chiến tranh, khủng bố trắng và cải cách ruộng đất, đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, chiến tranh Triều tiên, biên giới Trung - Xô và chiến tranh Trung - Việt năm 1979, nạn nhân của nạn đói hoành hành triền miên hàng chục năm, mấy triệu nạn nhân diệt chủng của Pôn Pôt theo học thuyết của Mao, và vô vàn nạn nhân của các đảng, các nhóm từng suy tôn Mao là bậc thày, từ châu Á sang châu Phi và Mỹ la tinh, áp dụng học thuyết đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản của xã hội loài người, chính quyền từ đầu ngọn súng..

Cuộc sống con người là của quý nhất. Một mạng sống là vô giá. Riêng Mao chịu trách nhiệm về 70 triệu mạng sống bị hủy diệt. Có ai trên cuộc đời này, cổ kim đông tây, có ai tham gia giết người nhiều đến vậy, kinh khủng đến vậy. Hit-le thua xa. Staline kém xa. Tần thủy hoàng như bé lại.

Lời kết của cuốn sách chỉ có 2 câu ngắn, chưa đến 3 giòng rưỡi:

   '' Ảnh và thi hài của Mao vẫn ngự trị tại quảng trường Thiên An Môn, giữa trái tim của thủ đô Trung quốc. Chế độ cộng sản hiện tại vẫn tự nhận kế thừa Mao, và vẫn ra sức kéo dài huyền thoại về Mao ''.

Một lời kết luận tra vấn sự mụ mị của mỗi người bất cứ ở đâu đến nay vẫn còn mù quáng lầm lẫn và hoang tưởng về Mao.

Bùi Tín  phỏng dịch và tóm tắt                       [  còn nữa  ]

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      

  ________________________________________________________________

 

Đọc sách:

Những điều chưa biết về Mao

                                      XIV  -   MAO với Việt nam

1-.Mao là một nhân vật không xa lạ gì với người Việt nam chúng ta. Đảng viên đảng cộng sản, cán bộ nhà nước, học sinh, sinh viên, già trẻ lớn bé đều nhiều lần nghe nói về Chủ tịch Mao Trạch Động, đồng chí Mao Trạch Đông, lãnh tụ Mao Trạch Đông, cụ Mao, bác Mao, ông Mao...với những mức độ tình cảm khác nhau.

Có thời Mao có mặt đậm nét ở nước ta. Hầu như nhà nào cũng có ảnh Mao. Ở cơ quan, ảnh lớn của Mao cạnh ảnh lớn của Staline là bắt buộc. Sách của Mao chiếm vị trí hàng cao nhất trong mọi thư viện và tủ sách. Mâu thuẫn luận, Thực tiễn luận, Trì cửu chiến, Bàn về chủ nghĩa Dân chủ mới... của Mao được coi là sách kinh điển. Rồi Mao Trạch Đông tuyển tập, Sách bìa đỏ cầm tay, huy hiệu Mao đỏ chót, nhỏ hay có khi to bằng miệng bát có mặt khắp nơi.

Biết bao bài thơ ca ngợi Mao, từ Tố Hữu, đến Hoàng Trung Thông, Bảo Định Giang, rồi Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư ...Mao là mặt trời, là cưú tinh, là ngôi sao sáng nhất, là cây đại thụ, là ngọn hải đăng, là người Ông hiền từ, là người Bác nhân ái, là vị lãnh tụ anh minh. Đoàn nhà văn Việt nam thăm Hồ Nam, đoàn Văn công quân đội sang Bắc kinh quay phim Xô viết Nghệ Tĩnh được gặp Mao, những bài báo, luận văn kể lại được nhìn thấy Mao, được cầm tay Mao, được tận tai nghe được lời Mao nói, được nhận một điếu thuốc từ tay Mao là những nỗi niềm hạnh phúc quý báu nhớ đời.

2-. Trong các cuộc chỉnh huấn, kiểm thảo, trong cải cách ruộng đất, các lớp học trưởng đảng Nguyễn Ái Quốc, lời Mao dạy về đấu tranh giai cấp, về chính quyền từ họng súng, sùng bái đấu tranh vũ trang, đề cao bần cố nông, xỉ vả trí thức tư sản không bằng cục phân... được coi là những chân lý tuyệt đối và vĩnh cửu.

Tại Đại hội đảng lần thứ II ở Việt Bắc tháng 2- 1951, ông Hồ Chí Minh từng chỉ tay lên ảnh Staline và ảnh Mao treo cao trên hội trường và nói :'' 2 vị lãnh tụ này của chúng ta không bao giờ phạm sai lầm, Bác có thể bảo đảm chắc chắn như thế ''. Đến Đại hội đảng lần thứ III tháng 9-1960 ở Hànội, tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào Điều lệ của đảng làm''nền tảng lý luận và tư tưởng''.

3-. Trong Đại nhảy vọt của Trung quốc, ông Hồ Chí Minh là người hưởng ứng đầu tiên; ông đọc hàng ngày các báo Trung quốc, sưu tầm những tin ''hay nhất'', có nghĩa là ly kỳ, - người thường khó tin nhất -, gửi ngay sang báo Nhân dân để đăng. Như tin về nông dân xây lò cao trong sân nhà. Như bài Mao viết dạy rằng năng xuất lúa có thể tăng gấp 3 lần không khó khăn, chỉ cần giống tốt, đủ nước, đủ phân, từ nay trồng lúa năng xuất cao sẽ nhàn hạ như trồng hoa, làm vườn, diện tích có giảm một nửa vẫn thừa ăn. Một thời gian ngắn cuốn sách ''Kinh nghiệm Đại nhảy vọt của Trung quốc'' tác giả Trần Lực (bút danh ông Hồ) ra với số bản in cao nhất, trong đó nói về đủ thứ về sau bị coi là hoang đường, như thảm lúa năng xuất gấp 5 lần bình thường, từng đoàn văn công nhảy trên thảm lúa mà cây lúa vẫn đứng thẳng, như diệt chim sẻ bằng chiêng trống. ''Chí Minh'' có nghĩa là cực sáng mà có lúc cũng mụ mị tin vào những chuyện nhảm nhí đến vậy thì con cháu có mụ mị lầm lẫn cũng là dễ hiểu.

4-. Đọc cuốn sách của Jung và Jon về Mao, độc giả Việt nam dễ dàng đối chiếu và liên tưởng đến Việt nam, đến đảng Cộng sản Việt nam, đến những người lãnh đạo ở Việt nam vì 2 đảng đều chung một lò Đệ tam quốc tế Cộng sản mà ra, cùng coi Moscow là đất thánh của mình, cùng suy tôn Staline là lãnh tụ đàn anh, lại cùng chung nền văn hóa khổng giáo kiểu Nho gia, chung nền tảng kinh tế tiểu nông...Gần đây, trong năm 2007 này, 4 vị tứ trụ triều đình cộng sản Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, cũng như các vị cầm đầu các đại ban của trung ương đảng Hồ Đức Việt (ban tổ chức trung ương ), Tô Huy Rứa (ban tưyên giáo) đều sang tận thủ đô Đỏ Bắc kinh để học hỏi kinh nghiệm đàn anh, và nhắc đi nhắc lại sẽ luôn theo gót chân những kẻ đang kế thừa Mao, đổi mới chứ không đổi màu...

5-. Hai đảng cộng sản Trung quốc và Việt nam sao mà giống nhau đến thế. Ví dụ khi Mao kể cho nhà văn và nhà báo Edgar Snow về cuộc chiến đấu rực lửa của Hồng quân qua cầu Đại độ rằng 6 hàng xích sắt lớn nối 2 đầu cầu bị nung đỏ, phía trước là các ụ súng máy không ngừng nhả đạn, mà Hồng quân vẫn bò qua, thì người cả tin nhất cũng phải thấy có cái gì không ổn, không hợp lý, không thể có thật, không thể '' nuốt trôi được ''. Quả nhiên đây là chuyện Mao bịa ra, dựng đứng lên để thần tượng hóa quân lính mình. Ta có thể liên tưởng đến chuyện ở Việt nam ta, về em Lê Văn Tám ở cầu Thị Nghè Sài gòn năm 1946 đã tẩm xăng vào người thành đuốc sống để chạy thẳng vào kho đạn ở phía trong doanh trại địch cách hàng trăm thước làm kho đạn nổ tung. Câu chuyện được truyền tụng suốt nửa thế kỷ, thành kịch, tranh, thành ''vườn hoa Lê Văn Tám'', ''giải thưởng Lê Văn Tám'', để rồi cuối đời tác giả của nó phải lên tiếng cải chính là chuyện bịa 100%. Triệu triệu con người đã mụ mị, kể cho nhau chuyện phi lý: làm sao bật lửa tẩm xăng vào người thành đuốc sống mà còn có thể bước nổi đến một bước ngắn, chưa nói đến chạy hàng trăm mét.

Cũng như mới đây chuyện nữ bác sỹ Đặng Thùy Trâm chiến đấu một mình một súng, đọ sức một buổi với 120  lính Mỹ cường tráng, bị bắn vỡ trán còn hô 2 lần Bác Hồ muôn năm!  Thật ra trong hồi ký của cô không hề có chuyện cô cầm súng, không hề có chuyện cô được huấn luyện để chiến đấu; mấy trang cuối cô chỉ tả nỗi lo sợ, làm sao bảo vệ mấy thương binh nặng trong khi cô mệt rũ đói lả, bộ đội địa phương huyện Đức Phổ bỏ chạy hết. Cứ theo như cuốn hồi ký Trâm đã nêu cao gương hy sinh tận tuỵ đáng quý rồi. Việc tô vẽ thêm nghe theo lời kể vu vơ của một anh lính Mỹ vớ vẩn nào đó để thêm một chiến công ''dỏm '' để rồi phong Anh hùng, thì thật là quá lố! Làm hại cả một tấm gương quý, làm gia đình cô khó xử, cũng làm hại uy tín Bộ quốc phòng, nhẹ dạ cả tin ấu trĩ khờ khạo đến vậy.

6-.Để có những quyết định cá nhân ngông cuồng, và bắt buộc toàn đảng phải chấp nhận những ''sáng kiến'' tối tăm của mình, Mao trì hoãn các cuộc đại hội đảng theo quy định trong Điều lệ đảng là cứ 5 năm phải họp đại hội đảng một lần; lẽ ra sau Đại hội VIII họp tháng 9-1956, thì Đại hội IX phải họp vào khoảng tháng 9-1961, Mao trì hoãn cho đến tháng 8-1969 mới triệu tập đại hội IX, nghĩa là chậm đến 9 năm. Chính trong khoảng cách 13 năm ấy, Mao tự mình đề ra những chính sách ngông cuồng'' Đại nhảy vọt '' và '' Cách mạng văn hóa '' đưa đất nước vào tình trạng bi thảm.

Ở Việt nam cũng vậy. từ Đại hội đảng I (tháng 3 -1935) ở Ma Cao - Trung quốc, đến tháng 2-1951 mới họp Đại hội II ở Việt Bắc, nghĩa là cách đến 16 năm, sau đó đến tháng 9-1960 mới họp Đại hội III , cách 9 năm, rồi lại đến năm 1976 mới họp Đại hội IV , nghĩa là cách đến 16 năm. Hoàn cảnh chiến tranh không phải là lý do chính đáng, vì chiến tranh vẫn có thể và lại càng cần họp đại hội một cách thiết thực để có những quyết định sắc bén, xác thực, tập trung trí tuệ của tập thể, tránh độc đoán, chủ quan, tùy tiện. Ở Việt nam, nếu như những vấn đề cực lớn như Cải cách ruộng đất (với đặc điểm chiếm hữu ruộng đất và phân chia giai cấp rất khác biệt ở nông thôn nước ta), cải tạo công thương nghiệp (cũng với những đặc điểm riêng ở Việt nam ta), chính sách sau kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước (đặc biệt là chính sách với chính quyền và quân đội cũ ở miền Nam) đều không có thảo luận tập thể, một hay vài vị tự cho là thông minh sáng suốt nhất, không ai bằng, còn xung quanh toàn những kẻ xu nịnh tâng bốc lãnh tụ, cúi đầu vâng dạ, làm sao đất nước không lạc hậu, dân không lầm than, để cho bi kịch thuyền nhân bi thảm xảy ra làm chấn động thế giới mà lãnh đạo vẫn cho là điều tốt, còn nhân dân bị nhồi sọ vẫn dửng dưng vô cảm.

7-.Bên cạnh Mao, những quần thần cương trực khảng khái yêu nước thương dân thì ít, cực hiếm, còn gian thần xiểm nịnh thì quá thừa. Những Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Vương Minh, Chu Đức... đều bị thanh trừng, tra khảo, đầy đọa thể xác và tinh thần đến chết thảm thương. Còn những gian thần như Lâm Bưu thì xu nịnh, tâng bốc Mao, cứu Mao khỏi nguy cơ trông thấy rồi cũng bị thải loại và bỏ chạy. Cũng như ở Việt nam, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Chu Văn Tấn, Dương Bạch Mai, Trần Xuân Bách, Đặng Kim Giang, những trí thức khá lớn Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo..., những văn nghệ sỹ quý tự do như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Hữu Loan, Bùi Minh Quốc, Hà Minh Tuân, Việt Phương... đều bị từ kiểm điểm, tra khảo đến hành hạ, tù đầy, quản thúc, gia đình bị đày đọa, phân biệt đối xử theo. Rõ ràng ở Việt nam cũng như ở Trung quốc, những người bị thải loại nhìn chung đều có trí tuệ, tấm lòng với đất nước và đạo đức cao hơn những kẻ cầm quyền. Thiệt hại cho quê hương, đất nước không sao kể xiết.

8-. Cho đến thời kỳ đổi mới hiện nay, ở Trung quốc và Việt nam vẫn còn những kẻ cơ hội sùng bái Mao và chế độ độc đảng, dị ứng với những giá trị của thời đại. Họ đàn áp những chiến sỹ dân chủ, bỏ tù những chiến sỹ dũng cảm dám đứng dậy đòi tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do bầu cử cho nhân dân. Điều rất đáng trách là vẫn còn những kẻ tự nhận là trí thức mà còn mụ mị làm thầy cãi cho chế độ độc đảng tệ hại kiểu Mao. Tiêu biểu gần đây là Phạm Toàn nào đó viết bài trên Talawas lập luận rằng chớ nên đòi quyền dân chủ vội, hãy đợi 15, 20 năm nữa. Anh ta lại còn như thích thú lấy mấy cái trung tiện (đánh rắm) hôi hám làm bài học chính trị nhớ đời của mình; dân chủ hóa cũng như trung tiện(!), phải chờ cho đến đúng lúc, không sớm quá, không muộn quá. Cái gian xảo của anh trí thức ''dỏm'' này là đưa một hiện tưởng thuộc bản năng hoàn toàn sinh lý áp dụng vào một vấn đề thuộc trí tuệ sáng tạo trong lãnh đạo chính trị. Sự mụ mị đến tận cùng dơ dáy về trí tuệ và nhân cách! Mà hình như còn là nhà sư phạm ! Anh ta hoàn toàn vô cảm không thấy trì hoãn trả lại tự do, dân chủ, trì hoãn luật pháp chỉ một ngày thì hàng triệu người dân bị khổ cực oan ức ra sao. Một anh trí thức mụ mị coi Mao là thần tượng ắt bệ rạc như thế.

9-.  Điều quan trọng hơn nữa với bạn đọc Việt nam khi nghiền ngẫm về cuốn sách của Jung và Jon là cái mô hình quản lý xã hội mà Staline và Mao đã chọn sau Cách mạng tháng mười - 1917 ở Nga và sau 1-10-1949 ở Trung quốc, đồng thời ứng dụng mô hình ấy ở Việt nam và hơn 10 nước ''xã hội chủ nghĩa '' khác ở Đông Âu, Mông cổ, Bắc Triều tiên, Cuba, cái mô hình ấy liệu vẫn còn sức sống nào, dù có cải tiến chút ít ?

Đặc điểm của cái mô hình ấy là: duy nhất một đảng cộng sản thống trị xã hội không chia sẻ với một đảng phái nào khác; được gọi là độc quyền đảng trị; thực hiện công nghiệp hóa vội vàng gấp gáp, lấy công nghiệp nặng làm trung tâm; hạn chế sở hữu cá nhân, tiêu diệt quyền tư hữu; nghiêm cấm tụ do báo chí và thủ tiêu quyền tụ do tín ngưỡng. Thủ tiêu nền văn hóa truyền thống dân tộc, thực hiện văn hóa vô sản, thực tế là nền văn hóa cổ xúy đấu tranh giai cấp tàn bạo, đẫm máu, đầy bạo lực, bất công.

Cả mô hình này đã đổ vỡ, phá sản tận gốc ở Liên xô; Staline đã bị hạ bệ, bị cả thế giới và dân Liên xô nhận ra là kẻ sát nhân tàn bạo hơn phát xít Hitler, nay đến lượt Mao đang được dân Trung quốc và thế giới nhận định lại cho thật đúng với thực tế. Các nhà lãnh đạo đảng cộng sản Trung quốc có thái độ nửa vời, đổi mới chút ít về chính trị và văn hóa, đổi mới nhiều hơn về kinh tế, nhưng vẫn duy trì chế độ độc quyền đảng trị. Họ không dám hạ bệ Mao, họ đưa ra luận thuyết: ''Mao có 2 phần đúng, một phần sai'' có nghĩa về cơ bản vẫn là nhân vật lịch sử có nhìêu thành tích và cống hiến. Công trình của Jung và Jon chính là một công trình khoa học lịch sử đồ sộ, đáng tin cậy, chứng minh Mao là một nhân vật hoàn toàn tiêu cực, là kẻ giết người hàng loạt, là tên đao phủ sô 1 trong lịch sử loài người, là tên dâm loạn, kẻ vô đạo đức, đầy thú tính, chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh mạng Trung quốc và các nước, trong đó có nhân dân Việt nam, Triều tiên, Cambốt, Lào, Mông cổ, Tây tạng ... Cuốn sách đang đi dần, ngấm dần vào nhận thức của hàng tỷ nhân dân Trung Hoa, lay động lương tri và trách nhiệm của họ đối với hiện tại và tương lai đất nước Trung hoa. Đây có thể là cuốn sách có sức lôi cuốn và lay động sâu rộng nhất trong lịch sử hiện đại của Trung quốc. Jung và Jon đã làm nên một việc tốt đẹp và cao quý, lại rất thiết thực..

10-. Cuốn sách cho ta bài học lớn. Hãy tìm cho ra sự thật. Hãy cùng nói lớn lên sự thật. Sự thật và nhân dân quý hơn tất cả, đáng trọng hơn tất cả. Dù là Staline, dù là Mao, dù bất cứ ai khác một thời được nể trọng, được sùng bái cũng phải đặt dưới nhân dân. Nhân dân nuôi sống chúng ta. Nhân dân làm nên lịch sử. Cuộc sống tự do hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao quý nhất. Kẻ ngự trị trên đầu nhân dân, đẩy dân vào lầm than tủi cực chết chóc không thể là người tốt, đáng kính được. Phải biết hoài nghi một cách khoa học. Tự mình tập độc lập suy nghĩ, tự tìm ra sự thật và chân lý cho mình, cho đồng bào mình. Jung và Jon đã lật nhào thần tượng, không chửi bới, không thóa mạ, không đao to búa lớn. Lời lẽ ôn tồn, đưa ra nhân chứng, bằng chứng, để cho bạn đọc suy nghĩ và kết luận.

11-. Cuốn sách một số lần nói đến Việt nam. Đến Hồ Chí Minh gặp Mao và gặp Staline ở Moscow cuối năm 1949. Tác giả kể rằng cuối đời mình, Mao tỏ ra hài lòng với Chu Ân Lai ngay khi Chu đang bị bệnh ung thư hành hạ, vào cuối năm 1974, Chu vẫn chỉ đạo việc cho quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Paracels) do quân đội Việt nam cộng hòa ở miền Nam đóng giữ, trước khi quần đảo này kịp rơi vào tay các đồng chí của họ ở Bắc Việt nam.

Chỉ một nét ấy thôi là đủ để thấy rõ và sâu tham vọng của Mao, của Chu, của Đặng Tiểu Bình đối với Việt nam ta. Chưa nói đến chuyện 5 năm sau đó, Đặng xua quân vào 6 tỉnh miền Bắc giáp giới với Trung quốc tàn phá tan hoang từ nhà ở của dân, phá tan từ giường tủ, nồi niêu, bát đĩa cho đến nhà máy, trường học, bệnh xá, cầu cống, đường sắt... đến hàng vạn xác chết đồng bào và chiến sỹ ta; vậy mà đảng vẫn không cho nhắc đến những ngày '' kỷ niệm đen tối '' hằng năm này, không cho đặt vòng hoa trước các mộ liệt sỹ, sợ làm phật lòng các đồng chí Trung quốc đàn anh.

Jung và Jon gợi ý cho người Việt ta một suy nghĩ sâu xa, ta được hưởng lợi gì khi suy tôn Mao làm lãnh tụ chính trị và tinh thần, khi lấy tư tưởng Mao làm nền tảng, để đến bây giờ vẫn tôn những người kế thừa Mao là đồng chí, là anh em, là nguồn kinh nghiệm quý.

Cuốn sách của Jung và Jon nhắn nhủ người Việt chúng ta rằng: người Trung quốc chúng tôi đã nhận ra bộ mặt thật của Mao rồi đó, dù cho những người cầm quyền ở Bắc kinh vẫn còn giả đui giả mù. Mao thực sự chịu trách nhiệm về cái chết của 70 triệu sinh linh, trong đó có hàng triệu đồng bào Việt nam của các bạn rồi đó. Các bạn có nên tiếp tục theo tư tưởng của Mao, mô hình quản lý xã hội của Mao, vừa gia giảm lại vừa giữ gìn học thuyết Mao, phi Mao hóa một cách nửa vời, vừa nói dân chủ vừa giữ độc quyền một đảng, vừa nói dân chủ vừa cấm tư nhân làm báo, ông Nguyễn Minh Triết nói y như Hồ Cẩm Đào, ông Nguyễn Tấn Dũng nói y như Ôn Gia Bảo, có nên như vậy mãi chăng?

Cuốn sách này, các đảng viên cộng sản Việt nam cần đọc, trí thức Việt nam cần đọc, tuổi trẻ Việt nam cần đọc. Những người lãnh đạo, cầm quyền cần đọc. Để rồi tìm cho ra sinh lộ cho nước ta, cho dân ta.

Giữa lúc một số trí thức văn nghệ sỹ có tâm huyết đề ra tổ chức một cuộc trao đổi về tình hình và lối ra cho dân tộc ta, khởi đầu bởi các bạn Bùi Minh Quốc, Hà Sỹ Phu, Lê Hồng Hà, Phan Đình Diệu, Lê Đăng Doanh, Mai Thái Lĩnh... cuốn sách '' Những điều chưa biết về Mao '' ra mắt thật đúng lúc, vì mối quan hệ Việt - Trung luôn có ý nghĩa quyết định đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt nam ta. Độc lập, tự chủ, chủ quyền toàn vẹn, quan hệ hợp tác bình đẳng, hội nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ văn minh phải chăng là con đường phải theo của nhân dân ta trong quan hệ Việt - Trung. Từ bỏ dứt khoát thái độ sùng bái, phụ thuộc, bất bình đẳng, quỵ lụy đàn em, để bị lấn lướt hiếp đáp miệt thị, thiệt hại đủ đường và không sao lường hết...

Khi biết và đọc những bài này, từ trong nước một số người còn nặng lòng với '' bác Mao '' sẽ lại vu cáo tôi là theo lập trường phản động, bôi xấu đảng và nhà nước ta, rồi lải nhải là tôi bất mãn, phá hoại. Xin thưa cả làng: tôi cất công phỏng dịch và tóm tắt công trình này chỉ vì lòng ngay dạ thẳng, vì thương dân mình chưa có tự do, yêu đồng bào mình chưa hoàn toàn giải thoát khỏi nạn độc quyền đảng trị, xót xa với tuổi trẻ mình còn bị mê hoặc, nên quê hương ta vẫn hèn kém so với thiên hạ. Cái nhục lớn này toàn dân ta hãy tỉnh dậy. Cuốn sách này là lọai sách thức tỉnh. Cần và quý lắm.

Các bạn hãy tìm đọc toàn bộ cuốn sách đồ sộ, phong phú, biên tập cực kỳ công phu, với tâm huyết tràn đầy này. Không gì thay được nguyên bản. Trong khi chờ đợi, xin hãy vui lòng với bản phỏng dịch và tóm tắt trong 14 bài này, tôi làm gấp trong 3 tháng qua, miệt mài, say mê, ở tuổi 80, không tránh khỏi sơ xuất, xin được miễn thứ.

Một số tên Trung quốc trong sách này, là do anh Phùng Nguyên ở Paris phiên âm giúp ra tiếng Việt, xin cám ơn anh.

Xin chân thành cám ơn các bạn.

Bùi Tín.

Paris; tháng 10-2007.