Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
NỘI LỰC VIỆT NAM |
Tiến bộ khoa học của loài người phát triển nhanh chóng vô cùng vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, đến nỗi nhiều người không nhận diện kịp những phát minh mới và bị tụt hậu càng ngày càng xa.
Cục diện chính trị cũng vậy, thay đổi như chong chóng giữa các quốc gia, nay bạn mai thù, thế giới vừa trải qua đa cực thì tới lưỡng cực, rồi đơn cực và có phần lại trở lại lưỡng cực với một đầu là ông Mỹ đang mạnh đủ mọi mặt nhưng cũng đang khốn đốn vì những chiêu thế do chính mình gây nên. Đầu bên kia tuy chưa rõ rệt nhưng nhiều phần sẽ do ông Tầu, ông bạn khổng lồ sát nách Việt nam, một ông láng giềng đã từng truyền bá nền đạo đức đầy đủ Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cho thiên hạ nhưng riêng mình thì luôn luôn tự cho quyền chơi trội qua sự tự phong vai trò Thiên tử.
Với 2 ông anh cả đang gườm nhau từng khe hở sơ sót của đối phương, thế giới rồi đây sẽ đưa nhau đi về đâu, có cùng chia nhau chiếc bánh hay sẽ dẫn nhau tới đấu trường để tái phân ngôi thứ. Nhưng lần này cuộc đấu đá sẽ diễn ra không có máu me xuất hiện, vũ khí quân sự chỉ là khí giới răn đe, còn các đòn thế sẽ là kinh tế-chính trị- ngoại giao-pháp lý... mà kinh tế sẽ đi đầu nổi bật.
Với thân phận một nước nhược tiểu, Việt nam sẽ né tránh làn tên mũi đạn ra sao để tự cứu mình thoát hiểm trước những đòn phép ngàn cân của 2 ông anh lớn, nhất là Việt nam lại bất hạnh nằm sát 1 ông anh chỉ biết nói nhân từ hòa hợp nơi cửa miệng, thực chất thì đàn anh tàn bạo cả với thần dân mình thì làm sao còn “rủ lòng” tới thằng em nhỏ bé bên cạnh, nhất là thằng em này đã nhiều lần làm mất mặt đàn anh trong nhiều thế kỷ qua mà đặc biệt là bị quân dân nhà Trần củaViệt nam biểu lộ tinh thần yêu nước, bắt đàn anh phải cụp tai bịt mắt trốn chạy trong thế kỷ 13 mà chúng ta sắp mổ xẻ dưới đây. Gần đây đàn anh chơi trò bỉ ổi, cậy lớn ăn hiếp nhỏ, dành đất dành biển của đàn em, thằng đàn em nín khe vì không có khí giới chơi lại nên đành cúi mặt về nhà tiếp tục ăn hiếp đám dân đen.
Về vấn đề tự kháng, những người quan tâm tới vận nước nổi trôi hy vọng là những người trách nhiệm tất nhiên đã nhìn thấy trước mắt bầu trời u ám cho dân tộc và đã có đối sách lâu dài. Nhưng đó mới chỉ là niềm hy vọng, còn thực tế thì chỉ thấy người trách nhiệm chưa đưa ra được những kế sách để đối đầu với những khó khăn to lớn nói trên mà chỉ thấy giải quyết những tranh dành nội bộ được coi là vấn đề quốc gia siêu nghiêm trọng, những trục trặc xã hội thông thường đối với các quốc gia khác đáng lẽ không tạo nên những vấn đề trọng đại thì Việt nam vẫn ngày đêm vấp ngã vì những vướng mắc do mình tự tạo ra. Cứ gặp đâu làm đó, để mặc tình thế đưa đẩy, không cần lưu tâm và có lẽ họ không có khả năng để lưu tâm tới ngày mai.
Giới lãnh đạo Việt nam hiện tại về mặt đối ngoại đã tỏ ra lép vế trước đàn anh láng giềng một cách rõ rệt mà ngay về mặt đối nội cũng không đưa ra được một phương án khả dĩ giúp đất nước thoát ra khỏi vòng kim cô do chính họ tự ràng buộc vào đất nước, không có ngay cả những giải pháp hiện thời về kinh tế tối thiểu để đưa cuộc sống dân sinh tiến gần các quốc gia tiến bộ mà cứ để khoảng cách về phương diện tiến bộ, văn minh, phát triển giữa Việt nam và các nước phía trước càng ngày càng xa thêm, không đưa được ra được 1 đổi mới nào có kết qủa đáng gía mà chỉ đi theo sau các đột phá của dân chúng đã xé rào khỏi trói chằng của nhà nước, tự khởi phát và thành công. Chính phủ chỉ ăn có bằng cách theo đuôi đề cao, khuyến khích và ra lệnh nhân rộng với tất cả rủi ro của cá nhân người dân.
Ngoài ra nếu đất nước bị phê phán là tụt hậu thì nhà nước đổ tội cho dân trí còn thấp. Không lẽ dân trí Việt nam thế kỷ 21 lại thấp hơn thế kỷ 13. Cách đây 800 năm Việt nam đã biết tôn trọng ý dân là ý trời qua sức mạnh của Hội nghị Diên Hồng, không lẽ bây giờ chúng lại ngần ngại trong việc sử dụng vũ khí đó. Dân chủ của Việt nam sau gần 1000 năm không lẽ lại đi thụt lùi.
Nếu bức tranh nêu trên mà đúng sự thực thì tương lai Việt nam qủa thực rất đáng lo ngại, vì vậy, chỉ là thứ dân cũng cần đóng góp dù sự đóng góp ấy nhỏ bé tới đâu cũng còn hơn là khoanh tay nhìn thế cuộc xoay vần bất lợi cho tổ quốc trong mai hậu.
Nhưng để tinh thần tỉnh táo và hứng khởi trước khi tự ghé vai hưởng ứng gánh vác việc dời non lấp bể, chúng ta hãy đọc qua phần “Trước khi vào chuyện” dưới đây.
Trước khi vào chuyện : ( Đoạn văn trao đổi trong câu chuyện được cụ Hoàng văn Chí viết lại trong tác phẩm “From Colonialism to Communism” nguyên tác tiếng Anh do chính cụ dịch sang Việt ngữ “Từ Thực dân tới Cộng sản”)
Trong một buổi đàm đạo về tình hình Đông Nam Á, giữa Chủ tịch Tôn dật Tiên, Trung hoa Quốc dân Dảng và Chủ tịch Khuyển dưỡng Nghị, Nhật bản Quốc dân Đảng, ô Nghị đặt câu hỏi :
- Thưa ngài, thế ngài nghĩ thế nào về nước Việt nam ?
- Thưa ngài, đó là 1 quốc gia chỉ làm nô lệ cho thiên hạ, trưóc đây thì làm nô lệ cho Tầu, sau này làm nô lệ cho Pháp...., theo tôi đó là 1 quốc gia không có tương lai.
- Thưa ngài, về điểm này tôi xin không được đồng ý với ngài. Như ngài đã rõ, Việt nam là 1 nước nhỏ trong nhóm Bách việt, trong khi các nước khác bị tiêu diệt hoặc bị Hán hóa thì chỉ một mình quốc gia này can trường chống lại và chống lại một cách thành công đối với hàng nghìn năm đô hộ của người phương Băc, đối với 1 dân tộc có 1 lịch sử oai hùng như vậy, tôi không dám coi thường.
Tới đây thì ông Tôn dật Tiên im lặng và đỏ mặt vì ông tự biết tổ tiên của ông cũng nằm trong nhóm Bách việt kia và đã bị Hán hóa từ lâu. Ông không ngờ mình lại nông cạn đến thế.
Bây giờ xin mời chư vị trở lại với câu chuyện đang dang dở của chúng ta: Việt nam sẽ cần thái độ nào để đối phó với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là 2 ông anh, nhất là ông anh hàng xóm.
Ông bạn vàng Mỹ quốc.: Người bạn giầu có, rộng lượng, đã từng cưu mang nhiều quốc gia khi có khó khăn, đã nhiều lần tỏ ra dễ thương nhưng cũng đã có nhiều lần không dấu được những điểm đáng ghét. Bởi thế, chúng ta không lấy làm lạ là Mỹ mang đồng đô la tới nhiều nơi, có nơi mang cả xương máu tới cứu giúp các nơi này, nhưng kết qủa không phải là Mỹ nhận được những hành động biết ơn mà trái lại Mỹ quốc phải đón nhận những căm thù và uy tín giảm sút một cách thảm hại. Lý do đơn giản vì Mỹ chủ trương là chỉ cần có bạn trong giai đoạn mà không đặt nặng vấn đề làm bạn lâu dài. Khi còn chung quyền lợi với Mỹ thì Mỹ bắt tay thật chặt, không nới lỏng 1 ly, nhưng khi đã không còn cùng quyền lợi thì chúng ta cần đề phòng cẩn thận ông bạn này. Ông ấy sẵn sàng đứng trên bờ vẫy tay bye-bye mình dù mình đang chới với sồi sụp giữa dòng sông, nếu ông ta thấy việc gắn bó với mình không còn có lợi cho ông ta nữa.
Việt nam có qúa đủ kinh nghiệm để biết lúc nào nên làm bạn và lúc nào không nên làm bạn với người Mỹ hào phóng tùy hứng này.
Ông anh hàng xóm khổng lồ khó chơi. Tổ tiên ta đã dậy bảo chúng ta cách đối xử tốt với hàng xóm láng giềng, “ Bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Tự ngàn xưa, ông hàng xóm đã kiêu ngạo tự đặït tên cho mình là Trung quốc, tự cho mình là Trung tâm, là Thiên tử, còn các nước xa gần đều là nước Mọi, nước Rợ, nước Ngụy...., nước chư hầu hàng năm phải cúi đầu cống hiến. Với thái độ này của Trung hoa, chúng ta đã bất hạnh khi phải làm hàng xóm với ông ta.
Nhưng bây giờ dời chuyển nước đi đâu ? Chỉ còn cách phải bảo vệ đất đai, tài nguyên của ông cha để lại với tài trí thông minh sẵn có của giòng giống Việt và trong bài viết này, chúng ta đặc biệt ôn lại bài sử qúy mà tổ tiên đã trìu mến để lại cho con cháu để áp dụng trong công cuộc dựng nước và nhất là giữ nước.
Rút kinh nghiệm từ cận đại lịch sử, trong khi Việt nam đã tiến xa hơn các nước xung quanh khá nhiều nhất là đối với Thái lan thì thế hệ đàn anh chúng ta lại dại dột đi vào con đường chiến tranh còn Thái lan thì cứ âm thầm phát triển, khi bừng con mắt dậy, Việt nam thấy Thái lan đã vượt mình khá xa, bây giờ đuổi kịp người anh em nhỏ bé này cũng không phải là dễ. Thế hệ chúng ta ngồi nghiên cứu lại lịch sử cận kề và thấy rằng các bậc đàn anh đã làm qúa nhiều sai lầm làm thiệt hại trầm trọng cho đất nước và bây giờ thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau phải tiếp tục gánh chịu. Nếu các bậc đàn anh mà hàng ngày giới truyền thông trong và ngoài nước thường xuyên đề cập, không nhúng tay vào việc chia cắt đất nước, nếu các bậc đàn anh dám từ chối việc xúi bẩy của ngoại bang, biết lắc đầu khi người ta dí súng vào tay và xúi dục anh em chúng ta đánh nhau đi, xem súng đạn của đàn anh có tốt không, thử ngay trên đất nước đàn em cho tiện, khỏi phải đi xa, phí tổn đã có đàn anh chịu. Quyền lãnh đạo đất nước sau đó là của các chú chứ còn của ai, anh bảo đảm điều đó mà. Chỉ một hành động lắc đầu đúng lúc là hàng con cháu như chúng ta đã tránh được biết bao nhiêu khốn khổ hàng nửa thế kỷ nay và không biết bao giờ mới hoàn toàn chấm dứt.
Giờ đây chúng ta đã thấm đòn, đang ngày đêm gánh chịu những kết qủa sai lầm mà đàn anh đã dại dột tạo nên rồi trao lại cái gia tài rách nát đó cho chúng ta. Với những kinh nghiệm vô cùng đau đớn nhưng cũng vô cùng qúy báu, chúng ta có đủ sáng suốt để bước ra khỏi vết xe sai lầm mà đàn anh đã chọn hay lại cũng im lặng tiếp tục con đường chông gai có sẵn rồi trao lại gia tài què quặt cho con cháu. Chúng ta nhất định không. Muốn vậy, chúng ta phải làm gì ?. Đứng trước hoàn cảnh hiện tại, một câu hỏi đặt ra ra là chúng ta phải chọn con đường nào trước mắt, lựa chọn thể chế nào, hợp tác với quốc gia nào trong tinh thần nào nhất là đối với 2 ông anh khổng lồ đang sờ sờ trước mặt, có muốn ngoảnh mặt đi cũng không được.
Ông Tầu thì từ bao đời chỉ muốn bắt chúng ta cùng dùng ngôn ngữ “Nỉ, Ngộ” với họ, ông Mỹ khi vui, khi cần thì gắn bó lắm, cái gì cũng ô –kê, nhưng khi không vui là coi chú em đồng minh như kẻ xa lạ, sẵn sàng phủi tay để nắm chặt người bạn mới, bất kể anh bạn mới này là ai ?. Xin nhớ nhé, không nên ngã 2 lần tại cùng 1 lỗ chân trâu.
Thân phận thì nhỏ bé lại nằm giữa địa điểm oái oăm, anh Mỹ năng ghé, anh Tầu năng thăm, ví như cô gái đẹp trong làng của thi bá Vũ hoàng Chương
“Em là cô gái làng trong”
“Em đi đàng dưới mất lòng đàng trên”
hoặc muốn dùng văn chương ngoại hóa một chút :
“Quay đầu về Sở e Tề giận”
“Ngoảnh mặt sang Tề sợ Sở ghen”.
Về mặt tài nguyên, Việt nam là 1 quốc gia khá phong phú về mọi mặt, : Biển cả, sông ngòi, rừng núi, hầm mỏ, đất đai đều là những tài sản qúy báu do ông cha để lại, con dân lại cần cù chịu khó, khá thông mình lại hiền lành, đạo đức, tôn trọng kỷ luật (cứ xem vụ cấm đốt pháo thì rõ, Trung hoa mất 3 năm mới thực hiện được lệnh cấm đốt pháo, còn Việt nam ngay năm đầu tiên dân chúng đã ý thức và hưởng ứng ngay), một điều rất hiếm qúy nữa là quốc gia Việt nam hiện nay vốn liếng cũng rất khá và khối người Việt ở hải ngoại là 1 kho tài nguyên to lớn vô cùng, nếu sử dụng được kho tài nguyên dồi dào về mọi mặt như vừa nêu trên thì Việt nam sẽ có một lực đẩy kinh tế mà không một quốc gia nào có thể so sánh được. Việt nam bây giờ giống như một đội banh với những cầu thủ hòan hảo mọi mặt chỉ thiếu 1 ông bầu thích hợp. Ông bầu này ngoài khả năng còn cần có đạo hạnh thì mới có thể dìu dắt và nắm vững được số cầu thủ tài ba đang có. Ông bầu hiện tại thì nên cho hưu sớm là tốt nhất.
Ôi vui sướng qúa nhưng thực tại lại oái oăm qúa. Thật đáng tiếc, muôn ngàn lần đáng tiếc cho con cháu Lạc Hồng.
Trở lại thực tế với đề tài đang đề cập, chúng ta nên giao hảo với tất cả mọi quốc gia trên thế giới, không phân biệt chủng tộc, mầu gia, địa lý và giao hảo một cách thành thật và công minh, không mang một chút ẩn ý nào dù tốt hay xấu, còn đối với 2 ông anh hắc ám ta lại cần lưu tâm hơn nhưng cần giữ thế trung dung, không năng đi ngang làng trên, cũng chẳng thường ghé kề làng dưới, chẳng mặn mà ngoảnh mặt về Tề hay sốt sắng đăm đăm ngó Sở. Nhưng nếu đứng hiên ngang như vậy, liệu chúng ta có thể sống bình yên được hay không. Xin thưa ngay là, sống bình yên hay không là do tự chúng ta. Chúng ta có thể sống bình yên nếu chúng ta vận động được NỘI LỰC của chúng ta. Với nôị lực này chúng ta vẫn vững vàng trước phong ba bão táp xung quanh. Để chứng minh, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử giữ nước của tiền nhân mà điển hình là lịch sử đời Trần và đặc biệt là danh tướng lẫy lừng Trần hưng Đạo với tài nghệ văn võ tuyệt vời và đạo hạnh nghìn thu sáng tỏ.
Lịch sử đời Trần và tấm gương sáng chói của Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn
- Thế kỷ 13, khi nhà Nguyên đang cai quản nước Tầu, vó ngựa quân Mông Cổ san bằng bình địa các nước từ Âu sang Á. Nơi nào lực lượng Nguyên Mông đi ngang cỏ không mọc được, thiên hạ đều giáp giới quy hàng trừ lãnh địa Việt nam, 3 lần binh tướng Hốt tất Liệt kéo quân sang thì đủ 3 lần binh tướng Nguyên Mông đành chịu nhục rút lui, nhục đến nỗi Thoát Hoan, con trai của Nguyên Mông phải chui vào ống đồng để quân lính kéo về Tầu và hủy bỏ giấc mộng thôn tính Việt nam.
Tại sao ông cha ta lại tạo được những chiến công hiển hách như vậy. Và nếu không có những chiến công tương tự thì giải đất Vliệt nam đã trở thành quận huyện mang tên Hán từ lâu rồi và chúng ta ngày nay cũng đang “Ngộ,ngộ, Nỉ nỉ” như con em của ông Tôn Dật Tiên mà chúng ta đã đề cập ở đoạn trên.
- Chúng ta cũng cần biết thêm yếu tố nội tại khó khăn của nhà Trần thời bấy giờ. Với quan niệm không muốn ngôi báu lọt sang giòng họ khác trong trường hợp nhà vua không có con trai nối dõi nên nhà Trần chỉ kết hôn trong cùng giòng họ mà thôi.
- Trong hoàng tộc còn có những mối thù cá nhân sâu đậm, An Dương Vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Vương, bị ép buộc phải nhường vợ cho vua trong lúc bà đang có thai như lịch sử có ghi chép. Khi thân phụ lâm chung Trần hưng Đạo đã được cha căn dặn phải trả mối thù này. Mặt khác giữa Trần quang Khải, một trong những rường cột của triều đình và Trần hưng Đạo cũng có sự hiềm khích riêng tư.
- Khi giăc Nguyên sang xâm chiếm, trong triều một số quan lại muốn dâng vua xin hàng để cứu vớt dân tình vì thế giặc qúa mạnh so với lực lượng nước ta lúc bấy giờ
- Biết bao khó khăn đang chồng chất trên vai mà vị anh hùng có một không hai của lịch sử nước nhà thủa đó, Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn đã làm sao chiến thắng kẻ thù dũng mãnh bên ngoài để cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than, đưa nước nhà thoát khỏi cảnh đô hộ của phương Bắc.
Một mặt ngài trấn an nhà vua và đồng thời ra tối hậu thư cho những ông quan hèn nhát : Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã.. Mặt khác , ngài nhún nhường, quên mình và dùng những lời lẽ chân tình nhất, đề cao vai trò tối thượng của đất nước. Ngài cũng cương quyết một lòng vì nước trước sự nhắc nhở đến thù nhà của 4 người con sau khi Hưng Đạo Đại Vương đã đươc phong thống lĩnh mọi binh quyền để chống giặc.
Tạm yên được những khúc mắc trong hoàng tộc và trong gia đình, ngài vận động tới lực lượng chính để chống giặc, đó là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Với uy danh sáng chói, ngài đã phủ dụ đươc toàn quốc, từ trẻ tới già, từ miền đồng bằng tới miền cao nguyên, trên dưới nức lòng nhất quyết chống ngoại xâm để bảo vệ giang sơn. Hội nghị Diên Hồng , một yếu tố tâm lý vũ bão đã lôi cuốn được toàn dân hăng say một lòng vì nước, không những trong dân gian, trai tráng như Trần quốc Toản vì mới 16 tuổi nên không được tham gia Hội nghị Bình Than nhưng cũng tự lập nhóm chiến đấu trai trẻ với quyết tâm “Phá cường địch, báo Hoàng ân” mà các cụ già râu tóc bạc phơ cũng nức lòng dơ cao tay thề chống giặc đến cùng trong ngày Hội nghị.
Thủa bấy giờ khi quân Nguyên sang xâm lăng nước ta thì chỉ có một mình nước ta tự cường chiến đấu, không có sự can thiệp của một quốc gia nào như hiện nay, nếu chống lại được thì thoát cảnh nô lệ bằng ngược lại thì vua quan đành đóng vai kẻ tôi đòi. Vì vậy chỉ có 1 giải pháp duy nhất là chiến đấu, dùng nội lực của quân dân mà chiến đấu
Ở đây người viết tự biết mình không đủ tư cách để trình bầy về tài thao lược quân sự của Đại Vương trong chiến thuật đánh đuổi giặc Mông hung hãn đang đè bẹp toàn cõi Á Âu (cắt lương thực bằng cách đánh đắm tầu bè chở quân lương của chúng khiến địch lao đao, chặn đường liên lạc khiến chúng mất phương hướng, không thống nhất được hành động, kêu gọi được chiến sĩ vùng núi với khí giới dao quắm ngăn chặn thương dài của tướng Tầu Trình bàng Phi, viên tướng này chuyên chiến đấu trên lưng voi, Hưng đạo Vương đã dựng trận dùng bộ binh của ta với khí giới Câu liêm giật chân ngưạ để diệt kỵ binh của quân Mông bằng cách bắt ép kỵ binh giặc với gươm dài phải xuống ngựa chiến đấu sát lá cà với bộ binh ta, quân ta dùng đoản đao giáp chiến nên có lợi thế hơn. Ngoạn mục và thành công lớn lao là dùng cây gỗ lim vót nhọn, cắm giữa lòng sông để lợi dụng nước thủy triều xuống, quân ta tràn ra đuổi giặc khiến chúng phải rút lui, thuyền chúng bị cọc đâm thủng, thuyền đắm xác giặc chết ngổn ngang. Biết bao chiến lược tuyệt vời do chính Đức Hưng Đạo Vương bầy trận để bắt đối phưong phải ở thế thụ động...................tiếc rằng những tài liệu trong Vạn Kiếp Bí Truyền do ngài soạn thảo, sau này đã bị quân Minh thu cướp mang về Tầu hoặc cho đốt hết nên ngày nay con cháu không được học hỏi những thế trận mà ngài đã áp dụng để lấy yếu thắng mạnh.. Cho nên chúng ta chỉ đề cập dưới đây lý do khiến ngài huy động được Nội lực toàn dân.
Song song với đảm lược xuất chúng về quân sự, về mặt xã hội ngài đã áp dụng triệt để “Đạo làm người” cho mọi giai tầng của xã hội, từ vua quan trở xuống, nhất là giai cấp lãnh đạo, cá nhân ngài đã biểu lộ rõ rệt nhất tinh thần “Tổ quốc trên hết”. Ngài bỏ hẳn thù nhà khi binh quyền đang nằm gọn trong tay, mặc dù lời căn dặn của cha vẫn còn văng vẳng bên tai, lại còn lời nhắc nhở ngày đêm của 4 người con. Không những thế và vẫn trong tinh thần “Tổ quốc trên hết”, ngài dẹp bỏ cả tự ái cá nhân, tạo hòa khí thân thiện với Tướng Trần quang Khải để sức mạnh quân sự của bên ta không bị sứt mẻ, Tướng Trần quang Khải cảm phục lòng dạ của ngài mà quên đi dị hiềm, góp toàn lực với ngài trong sứ mạng cao cả, một lòng chống ngoại xâm.
Trong quân ngũ, ngài lấy lòng độ lượng , bao dung đối xử với quân sĩ như tình cha con (Phụ tử chi binh) khiến quân sĩ lại thêm dâng cao lòng hy sinh cho Tổ quốc
Bài hịch tướng sĩ của ngài đã lay động được sự sôi sục củaba quân, gây nức lòng cho tướng sĩ các cấp, lòng yêu nước chân tình của ngài đã được toàn dân thấm nhuần, mọi người, mọi nhà từ giới sĩ phu tới giới bình dân, từ già tới trẻ đã một lòng hưởng ứng. Bởi thế mới xuất hiện những tấm lòng vì dân-vì nước với nhữ ng tấm gương ngàn thu không tắt:
- Phạm ngũ Lão ngồi đan sọt mà lo việc nước đến nỗi giáo đâm chẩy máu mà cũng chẳng hay
- Trần khánh Dư lần lữa đốt than, nung nấu lá gan anh hào đợi chờ ngày xảø thân cứu nước,
- Trần quốc Toản mới 16 tuổi nên không được tham dự hội nghị Bình Than, tay cầm qủa cam bóp bẹp lúc nào không biết, đã tự thành lập bè bạn ngăn cản quân thù dưới ngọn cờ “Phá cường địch , báo hoàng ân”
- Kỳ tướng Yết kiêu, Dã Tượng có tài lặn dưới nước đục thuyền giặc, khi bị bắt và bị hỏi là có bao nhiêu người tài giỏi như ông thì Yết Kiêu đã làm điên đầu giặc “Giỏi hơn ta đã lắm mà tài hơn ta lại nhiều” rồi thừa lúc quân giặc sơ ý, ông đã nhẩy khỏi thuyền và lặn mất.
- Trần bình Trọng lại càng làm đối phương kính phục vì tấm lòng cao cả tôn thờ đất Việt khi chúng bắt được ông và muốn phong chức tước cho nếu ông chịu hàng :
“Ta thà làm qủy nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”
Hơn thế nữa, toàn quân Việt đã khắc vào tay 2 chữ “Sát Đát” có nghĩa là quyết giết quân Mông xâm lược. Và thêm 1 yếu tố tạo sức mạnh cho nước ta lúc đó là toàn dân lại nhất tề một lòng chống quân xâm lược trong Hội nghị Diên Hồng với sự góp mặt của tất cả các vị bô lão trong nước. Thủa ấy nước ta cũng như hầu hết các quốc gia khác đều theo chế độ Quân chủ, nghĩa là mọi quyền hành, mọi quyết định đều nằm trong tay nhà Vua, chẳng có công việc nào dù to lớn tới đâu người mà người dân lại được hỏi ý kiến, nhưng Đùức Hưng Đạo đã hiểu được gía trị sức mạnh của ý dân nên ngài đã dùng ý dân để để làm khí giới chống quân thù qua Hội Nghị Diên Hồng. Mỉa mai thay, cho tới ngày nay mà người ta lại chỉ đề cao gía trị của dân chủ trên giấy tờ tại quê hương con cháu của vị Đaiï vĩ nhân Trần quốc Tuấn.
Thế cho nên trong cuộc đọ sức bất cân xứng về lực lượng thủa đó, thắng lợi lại lọt về nước Nam nhỏ bé :
- Các tướng Tầu như Toa Đô, Ô mã Nhi đành bỏ xác nơi chiến trường
- Thoát Hoan, viên tướng Tổng chi huy 1/2 triệu quân hung hãn Mông Cổ đành chịu nhục chui vào ống đồng để quân lính lôi chạy về Tầu, và phải chịu hình phạt của vua cha là bị đầy lên miền cực bắc, không được trở về triều
- Hốt tất Liệt, ông vua của xứ Mông Cổ uy danh vang trấn đã từng làm cỏ cả vùng trời Á- Âu nay đành bỏ mộng xâm lăng phía Nam. Theo sử ghi thì sau khi thất trận 3 lần ở Việt nam, Nguyên Mông bỏ luôn cả ý đồ lấn chiếm Nhật bản. Như vậy nhờ chiến công oai hùng của Đức Hưng đạo Vương tại Việt nam mà Nhật bản cũng thoát được nạn can qua.
Nếu không có quyết tâm vì nước quên mình của Hưng Đạo đại Vương tạo nên một chất keo sơn gắn bó thì các nhân tài như trên cũng chỉ là nhân vật trong “Lục tiên Đào cốc” mà tác gỉa Kim Dung đã đề cập trong tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ, trong đó 6 cao thủ võ lâm đã đạt tới khả năng thượng thừa nhưng khi ngồi lại với nhau thì thay vì tạo nên sức mạnh hợp quần, các cao thủ chỉ tranh cãi tới mức xâu xé lẫn nhau, tiêu diệt luôn cả việc lớn. Lịch sử cận đại và ngay trong hiện tại, Việt nam đã và đang có rất nhiều nhóm Lục tiên Đào cốc, thật đáng tiếc thay.
Áp dụng bài học vủa đời Trần vào tình thế hiện tại của nước nhà (2007).
Tình trạng đất nước thế kỷ 13 tất nhiên khác hẳn với hiện tại, các hình thức khó khăn cũng không giống nhau, bây giờ đối phương không mang quân xâm chiếm nước ta nhưng lại dùng các đòn phép kinh tế, chính trị, giao thương, pháp lý... để tấn công chúng ta nhiều mặt
Khó khăn của nước ta đời nhà Trần nguy kịch hơn vì phải trực tiếp đối đầu bằng võ lực với một kẻ thù cực kỳ hung hãn lại thiện chiến trong khi quân lực của nước nhà thủa đó thì yếu kém rõ rệt mọi mặt, nhưng nhà Trần đã sử dụng một khí giới đặc biệt và rất hữu hiệu, đó là Nội Lực tức Lòng dân, Hưng đạo Vương đã huy động được nội lực này một cách hoàn hảo nhờ uy tín của cấp lãnh đạo và nhất là nhờ tài đức song toàn, nổi bật là đạo hạnh của ngài trước, trong và ngay cả sau trận chiến.
* * Trước trận chiến, ngài đã xếp bỏ tình riêng, dứt khoát bỏ thù nhà mà chỉ lo việc nước. Đồng thời ngài tạo niềm tin cho nhà vua và loại hẳn đầu óc đầu hàng của những ông quan hèn nhát trong triều khi quả quyết : Nếu bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước.
* * Trong trận chiến, ngài áp dụng binh pháp về mọi mặt (quân sự, chính trị, tâm lý, kể cả ngoại giao...) một cách tuyệt vời khiến địch quân dù đông đảo và dũng mạnh cũng phải bó tay.
* * Sau trận chiến, ngài dùng đức độ khuyên can vua bỏ qua những lỗi lầm của những kẻ hèn nhát đã xin vua hàng địch. Lòng bao dung đó đã một lần nữa làm cho hàng ngũ nước nhà thêm gắn bó.
Tài năng đức độ có một không hai ấy đã là tấm gương rọi sáng cho mọi thế hệ sau này. Nếu biết áp dụng thì đất nước sẽ luôn luôn vượt qua được những khó khăn dù ở mức độ nào. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện tại, nếu chúng ta áp dụng được tấm gương hành xử của ngài thì khó khăn nào chúng ta cũng vượt được. Vì có khó khăn nào có thể so sánh được với khó khăn của Việt nam khi quân Mông cổ sang xâm lăng vào thế kỷ 13, thế mà ngài đã hướng dẫn toàn dân chiến thắng vẻ vang trước quân thù mạnh gấp nhiều lần. Khi ngài đã nhiều tuổi, nhà vua hỏi là sau này nếu giặc dữ lại sang xâm lăng thì phải làm thế nào. Ngài điềm nhiên tự tin như trước khi chiến tranh sẩy ra. Ngài đã làm nhà vua yên tâm và tự tin hơn khi tâu vua là giặc có dữ cách mấy thì cũng thua nội lực của cả dân tộc, khi bệ hạ có được lòng dân rồi thì chẳng có giặc nào áp chế được.
Những lời khuyên hết sức sáng suốt đó là kim chỉ nam cho triều đình lúc bấy giờ và cho cả mọi thế hệ sau này. Nhưng điều quan trọng là làm sao tập trung đươc được Nội Lực. Bài học và gương sáng nơi ngài là : Giới lãnh đạo phải tỏ ra xứng đáng để quần chúng tụ hợp xung quanh. Khi nhóm lãnh đạo đã tỏ ra xứng hợp với vai trò của mình thì các hàng lớp thứ dân sẽ tự động được xếp vào hàng ngũ quy củ một cách không khó khăn. Khi người phất cờ đã quy tụ được Nội lực rồi, sức hợp quần đã được hình thành thì ngoại cảnh không có cơ hội xâm nhập. Trong khung cảnh đó thì đơn vị to lớn như quốc gia sẽ luôn luôn bền vững, nhỏ như gia đình sẽ mãi mãi yên vui.
Kết luận
Một vài kinh nghiệm rõ rệt và gần cận nhất mà chúng ta đã học được qua những bài học đau đớn nhưng qúy báu :
Việc chung phải được ưu tiên trên hết- Chuyện đảng phái, tôn giáo, gia đình, cá nhân .....cần được xếp vào đúng vị trí thích hợp. Cụ thể hóa vấn đề là cần tạo Nội Lực và gìn giữ Nội Lực cho đất nước, khi cần đối phó với ngoại bang thì chỉ trông cậy vào Nội Lực của đất nưóc là chính, không nên đề cao thế lực nào khác. Nội Lực là gì ? Như trên đã đề cập, xin thưa đó là Lòng dân, theo như lời nhắn nhủ của Đức Hưng Đạo Đại Vương. Có lòng dân tức là có Nội Lực tốt, muốn có Lòng dân thì Lãnh đạo phải biết nhiệm vụ và phải tỏ ra xứng đáng trong vai trò lãnh đạo, dân phải biết nhiệm vụ của dân. Đó là bài học qúy gía mà lịch sử đời Trần để lại cho hậu thế chúng ta. Bài học và tấm gương sáng của Hưng Đạo Đại Vương đã tỏ ra vô cùng hữu dụng trong thế kỷ 13 và cần được áp dụng trong thế kỷ này một cách tuyệt đối truớc những ngăn trở bước tiến của Việt nam trên con đường bắt kịp đà tiến hóa của nhân loại.
Nếu so sánh những khó khăn đời nhà Trần trước sức tấn công vũ bão về quân sự của Nguyên Mông với khó khăn của Việt nam trong giai đoạn hiện tại thì qủa là khác biệt rất nhiều. Sức mạnh chiến tranh của nhà Trần không đáng kể về nhiều mặt so với Nguyên Mông trừ một loại khí giới nổi bật ,với khả năng và đức độ của người lãnh đạo, với tài dụng binh xuất sắc tuyệt vời và sức thuyết phục toàn dân, toàn quân một cách hữu hiệu của Đức Trần Hưng Đạo. Việt nam trong thế kỷ 13 đã tạo được những chiến công hiển hách không những đã bảo vệ được đất nước trước nước láng giềng khổng lồ mà còn khiến lịch sử thế giới phải kiêng nể. Còn hiện tại, Việt nam có sức mạnh khá lớn (Giầu tài chánh, nhiều nhân lực kể cả nhân lực dầy chất xám trong và ngoài nước) nhưng khả năng giới lãnh đạo của Việt nam thì lại qúa thấp, không hẳn chỉ thấp về tài năng mà nhất là qúa kém cỏi về mặt đạo hạnh. Chính vì vậy mà Việt nam hiện tại đã không thu phục được nhân dân. Điểm yếu là ở chỗ đó. Biết được căn nguyên thì sẽ chữa được bệnh. Toàn dân Việt có quyền lạc quan và vững tâm lạc quan như vậy.
Bài học tương đối đơn giản nhưng người lãnh đạo muốn thực hiện hoài bão to lớn cần thắng mình trước khi muốn làm nên đại sự, Lo việc quốc gia thì Tổ quốc phải được đặt lên trên hết, một lần nữa xin được nhắc lại là tất cả những lý do khác như đảng phái, tôn giáo, gia đình , cá nhân sẽ chỉ là thứ yếu, vì một khi việc nước đã được hoàn tất tốt đẹp thì những thứ phụ thuộc kia cũng sẽ đương nhiên được giải quyết ổn thỏa. Đức Hưng Đạo Đại Vương đã nêu gương trước, con cháu muốn gìn giữ đất nước và muốn làm rạng rỡ dân tộc, xin hãy ngày đêm học tập và áp dụng đúng theo lời dậy của ngài, nhất là đối với những người đang có phương tiện và đang nắm trách nhiệm. Làm ngược lại thì hậu qủa đưa đến là đất nước thua kém, dân tình nghèo khổ, các thế hệ sau sẽ trách móc và thế giới rẻ khinh.
Xin tất cả những người đang mang giòng máu Việt nam hiểu cho như vậy.
Vũ Nguyễn Hoà Hiệp
Những ngày ngắn, đêm dài
Thu 2007 tây bắc Hoa kỳ