Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Nhân danh công lý |
GS.TS. Nguyễn Vân Nam
Giám đốc Công ty Luật Nam Hùng
Minh bạch ở đâu?
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=162&Sobao=880&SoTT=15&sotrang=2
Một xã hội thiếu niềm tin vào công lý cũng sẽ không xây dựng nổi nhà nước pháp quyền. Người dân cảm nhận, “sờ thấy” được công lý - một cách trực tiếp nhất - qua hoạt động của tòa án. Vì thế, cải cách ngành tòa án là then chốt và phải được ưu tiên để cải cách tư pháp, cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng, chúng ta không được phép xây dựng nó theo những tiêu chuẩn chủ quan - vẫn thường được gọi một cách mỹ miều là mang đặc trưng Việt Nam - mà phải theo tiêu chuẩn tối thiểu của WTO. Không phải ngẫu nhiên mà WTO có quy định cụ thể - một cách đặc biệt khác thường nếu so với những quy định chung khác của WTO - về trách nhiệm đảm bảo tính công minh, bình đẳng cho hoạt động của tòa án (điều 41 TRIPS).
Điều 42 TRIPS (TRIPS: Hiệp định về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ) quy định điều kiện tối thiểu để bảo đảm tính công minh, bình đẳng của quá trình xét xử dân sự là: a) Bị đơn phải được thông báo kịp thời bằng văn bản về đơn kiện; b) Thông báo này phải nêu lý do bị kiện kèm theo hồ sơ chứa toàn bộ các thông tin, bằng chứng, chi tiết cần thiết khác phục vụ việc bảo vệ quyền lợi của bị đơn; c) Bảo đảm quyền của các bên tiếp cận, trình bày bằng chứng, lý giải và lập luận bảo vệ... Điều 41 quy định các phán quyết của tòa án phải khách quan, dựa trên bằng chứng và phải nêu rõ lý do.
Ở ta, trước tiên bị đơn chỉ nhận được mỗi thông báo về việc kiện; nếu may mắn thì kèm theo đơn kiện. Anh ta bị đánh đố, phải trả lời tòa về đơn kiện trong khi không hề có đủ dữ kiện cần thiết để biết mình bị kiện trên cơ sở pháp lý, bằng chứng và theo lập luận gì. Cần cải cách thủ tục ban đầu này cho giống với các nước khác và tuân thủ quy định của WTO: gửi toàn bộ những gì nguyên đơn gửi đến tòa cho bị đơn.
Thủ tục đầu tiên tại tòa là các bên khai vào “tờ khai”, trong đó nêu yêu cầu, lập luận của mình, rồi ký “Tôi xin cam kết... là đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Điều vô lý ở đây là: a) Bị đơn viết tờ cam kết này trong khi vẫn chưa hề được tiếp cận với bằng chứng và các lập luận chống lại mình của nguyên đơn; b) Yêu cầu và lập luận của các bên có thể được thay đổi bất cứ lúc nào, chúng mang tính chủ quan và vì vậy không thể buộc người viết chịu hoàn toàn trách nhiệm; c) Nếu các yêu cầu và lý do của chúng là đúng sự thật như cam kết thì có lẽ chúng ta cũng chẳng cần đến thẩm phán làm gì.
Sau khi ký tờ khai, các bên mới có quyền làm đơn xin sao chép hồ sơ để biết đối phương có những bằng chứng, lập luận gì. Thực tế cho thấy, chỉ sau khi được sao chép hồ sơ, bị đơn mới có thể trình bày chính xác các yêu cầu, lập luận phản bác nguyên đơn và chúng thường có những thay đổi căn bản so với trong bản tự khai. Nhưng không ai phải chịu trách nhiệm cả! Tuy nhiên, như một cựu chánh án Tòa Kinh tế TPHCM thừa nhận, việc cho sao chép hồ sơ rất dễ bị lợi dụng để thẩm phán - hay thư ký - “hành” bên nào không làm vừa lòng họ và hậu quả có thể là rất tai hại. Có thể thấy rõ dấu ấn của thủ tục tố tụng hình sự trong trong thủ tục tố tụng dân sự của ta và rõ ràng nó vi phạm điều 42 TRIPS. Nên cải cách theo hướng bỏ “tờ khai”, cung cấp đầy đủ hồ sơ cho các bên ngay từ đầu, đồng thời yêu cầu họ trình bày chi tiết, cụ thể, các lập luận bảo vệ hay phản bác bằng văn bản gửi lên tòa. Tòa có trách nhiệm gửi chúng kịp thời cho các bên.
Thẩm phán không phải là cha, là mẹ
Ở châu Âu, ít cử nhân luật muốn trở thành thẩm phán, dù nghề này rất được tôn kính. Bởi là thẩm phán cũng đồng nghĩa với ý thức phải sống hai vai trò. Là con người, anh ta cũng tức giận, bực bội, thậm chí ghét vị luật sư tranh tụng kia không biết phải trái với mình. Nhưng khi xử lý công việc của thẩm phán, anh ta không được phép mang theo những cảm xúc con người đó vào phán quyết của mình. Điều đó thật khó và vì vậy, nếu được tự do lựa chọn, rất ít cử nhân luật giỏi chọn nghề thẩm phán.
Ở ta, có nhiều trường hợp thua kiện chỉ vì làm mất lòng thẩm phán. Có thể nói, chất lượng xét xử của tòa án phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thẩm phán. Đây cũng là vấn nạn lớn nhất của ngành tòa án Việt Nam. Nó bao gồm cả chất lượng thẩm phán, quan điểm về nghề thẩm phán, hoạt động của thẩm phán và con người thẩm phán . Đang tồn tại quan niệm thẩm phán là cha là mẹ, là công lý. Vì vậy ra tòa không nên cãi lại ông ta. Thẩm phán ra tòa trong tư thế người truy xét và không có nghĩa vụ tranh luận cùng luật sư. Được giao quyền to như thế, nhưng thẩm phán của chúng ta chỉ là một công chức nhà nước với những quy trình bổ nhiệm, kỷ luật, không khác công chức hành chính bao nhiêu. Nói một cách khác, quyền của thẩm phán ở ta rất lớn mà trách nhiệm lại quá bình thường.
Thẩm phán là người được ủy quyền nhân danh công lý (hay pháp luật) đưa ra quyết định cuối cùng công nhận, hay bác bỏ, quyền chính đáng của các bên tham gia tranh chấp. Hiển nhiên thẩm phán không phải là công lý, ông ta chỉ được quyền nhân danh công lý khi công nhận một giải pháp giải quyết tranh chấp - kết quả tranh luận, làm việc chung giữa ba bên - là giải pháp gần với công lý nhất. Nghĩa vụ và trách nhiệm của thẩm phán, vì vậy, là cùng với hai bên thảo luận, tranh luận, nhằm tìm ra giải pháp hợp lý, đúng luật và tiếp cận gần nhất với công lý cho vấn đề đang xét xử. Cần có quy định rõ ràng về trách nhiệm và nghĩa vụ như vậy cho thẩm phán, đồng thời luật hóa các điều kiện bảo đảm các bên nhận được đầy đủ và kịp thời toàn bộ thông tin cần thiết cho sự phối hợp ba bên.
Chất lượng thẩm phán là một vấn đề đáng báo động. Tuy vậy, giải quyết nó không đơn giản và nếu không khéo sẽ vi phạm nguyên tắc hoạt động độc lập chỉ tuân theo pháp luật của thẩm phán. Quan điểm lấy số lượng án đúng/sai để đánh giá chất lượng thẩm phán như hiện nay không những không thích hợp để nâng cao chất lượng thẩm phán, mà còn không khuyến khích họ nâng cao năng lực hoạt động độc lập qua việc không ngừng tự nâng cao trình độ.
Nên cải cách theo hướng chung của các nhà nước pháp quyền hiện đại là: a) Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thẩm phán không phải là án đúng/sai, mà là việc bỏ qua (không xử lý hoặc không lập luận) các khía cạnh, vấn đề pháp lý của vụ tranh chấp; b) Tạo môi trường công chúng để các thẩm phán, luật sư, luật gia được công khai bình luận, tranh luận về các phán quyết của tòa án (kể cả tòa án quốc tế). Từ đó hình thành những quan điểm áp dụng luật theo đa số, thiểu số của họ, giúp thẩm phán định hướng khi xét xử; c) Tiến tới bỏ hoàn toàn các thông tư, nghị định, chỉ thị hướng dẫn kết quả xét xử; d) Việc công nhận, bổ nhiệm, kỷ luật thẩm phán phải do các tổ chức độc lập, chuyên ngành tòa án đảm nhiệm.
Với tình trạng hiện tại, xây dựng lòng tin của người dân vào tòa án sẽ cần nhiều thời gian. Nhưng chắc chắn bước đầu tiên phải thực hiện là hạn chế hậu quả tiêu cực bằng cách: a) Tạo điều kiện để có thể sửa chữa ngay sai lầm của bản án. Song song với quy định giám đốc thẩm, cần có quy định cho phép tạm hoãn thi hành án (kể cả cấp phúc thẩm) ngay khi có dấu hiệu cho thấy hội đồng xét xử bỏ qua một khía cạnh pháp lý; b) Hủy bản án nếu xác định hội đồng xét xử cố tình làm điều đó; c) Sa thải thẩm phán nào hai lần bị hủy bản án.
|
Thẩm phán là người được ủy quyền nhân danh công lý (hay pháp luật) đưa ra quyết định cuối cùng công nhận, hay bác bỏ, quyền chính đáng của các bên tham gia tranh chấp. Hiển nhiên thẩm phán không phải là công lý, ông ta chỉ được quyền nhân danh công lý khi công nhận một giải pháp giải quyết tranh chấp - kết quả tranh luận, làm việc chung giữa ba bên - là giải pháp gần với công lý nhất. |