Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 19.11.2005 Công an Saigon xô xát với Hòa thượng Thích Quảng Ðộ - Nhà cầm quyền Công sản cấm Giỗ Tổ Nguyên Thiều và tung đợt tấn công mới vào các Ban Ðại diện GHPGVNTN tại Bình Ðịnh, Huế, Ðà Nẵng, An Giang, Saigon... |
Trên tạp chí "Văn hóa Văn nghệ công an" số 9-1999, chúng tôi đã viết bài " Cần trả lại giá trị nghệ thuật đích thực cho kiệt tác Cung Oán Ngâm Khúc ", nhằm phê bình PGS Nguyễn Lộc giảng chưa đúng tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều trong bộ giáo trình "VĂN HỌC VIỆT NAM nửa cuối thế kỷ thứ XVIII nửa đầu thế kỷ thứ XIX "( NXB ĐH và GDCN -1992, đã tái bản nhiều lần sau) với ngót một nghìn trang sách . Cũng trong bộ giáo trình đại học đó, PGS Nguyễn Lộc dành cho Nguyễn Du - Truyện Kiều gần 300 trang, và từng được một số báo chí ca ngợi những bài giảng này là mẫu mực. Nhận thấy phần viết về Truyện Kiều gồm 222 trang còn nhiều điều chưa chuẩn xác, chúng tôi dành bài phê bình này trao đổi với ông Nguyễn Lộc một số điều như sau.
1- ) CẦN ĐỌC KỸ TRUYỆN KIỀU
Trang 128, Nguyễn Lộc viết :" Trong Truyện Kiều có ba tên quan và có cả một gia đình quan lại"..."Gia đình Hoạn Thư là gia đình quan lại duy nhất trong tác phẩm này "(132). Nguyễn Lộc viết như trên chứng tỏ ông chưa đọc kỹ truyện Kiều. Ông chỉ kể ba tên quan là : quan đẩy gia đình Kiều vào cảnh oan khuất trong vụ thằng bán tơ, quan thứ hai là quan ngồi xử kiện, quan thứ ba là Hồ Tôn Hiến. Nguyễn Lộc quên rằng còn có những ông quan khác như sau : "Ép tình mới gán cho người thổ quan", tức thổ quan, quan địa phương; Kim Trọng, Vương Quan sau này đều đỗ đạt làm quan to cả :"Chế khoa gặp hội tràng văn / Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày ". Thế nên trong truyện Kiều, chí ít cũng có sáu ông quan, ấy là chưa kể gia đình Vương viên ngoại cũng là một gia đình quan, dù là chức quan mua bằng tiền, thế mà Nguyễn Lộc chỉ cho có một gia đình quan lại là gia đình Hoạn Thư thôi. Trang 158, Nguyễn Lộc viết :" Trong cuộc đời Thúy Kiều, những ngày sống hạnh phúc nhất là những ngày sống trong mối tình của Kim Trọng ". Mối tình đầu Kim-Kiều dù say đắm đến đâu nhưng chưa thể gọi là hạnh phúc, nhất là việc Kiều còn bị Đạm Tiên ám ảnh. Đây là mối tình bất hạnh chứ sao lại hạnh phúc ? Những ngày hạnh phúc nhất của Kiều là khi nàng sống với Từ Hải, hay chí ít cũng sống trong tình vợ chồng với Thúc Sinh. Nguyễn Lộc viết tiếp ở trang 163 :" Như thế rõ ràng nói như sư Tam Hợp, tu là cội phúc hoàn toàn không đúng trong truyện Kiều. Chẳng có một lần nào con người đi tu trong truyện Kiều cảm thấy mình hạnh phúc cả ". Tam Hợp, Giác Duyên xuất hiện như hai niềm cứu vớt, chẳng có dấu hiệu nào hai nhà sư này bất hạnh cả. Bằng vào những câu thơ rất đẹp này, ta biết các vị đều hạnh phúc với Phật pháp :" Đánh tranh chụm nóc thảo đường / Một gian nước biếc mây vàng chia đôi "..."Bốn bề bát ngát mênh mông / Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau "..."Sư đà hái thuốc phương xa / Mây bay hạc lánh biết là về đâu "... Nguyễn Lộc viết về Hoạn Thư không đúng như sau :" Đối với Hoạn Thư, chẳng có chỗ nào ghen vì cảm thấy tình yêu bị mất mát"(195). Hoạn Thư nghe tin chồng có vợ bé đã sôi sục ghen tuông :"Lửa tâm càng dập càng nồng / Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa "... " Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen / Nghĩ rằng ngứa ghẻ hờn nghen"..."Rằng tôi chút phận đàn bà / Ghen tuông thì cũng người ta thường tình "...Hoạn Thư hành hạ Kiều là vì ghen, làm đau lòng chồng mình cũng vì ghen, sao lại bảo Hoạn Thư hành động chỉ nhằm thỏa mãn "cái uy quyền của mụ "? (196)...Thúy Kiều là con quan viên ngoại, thuộc hàng ngũ qúy tộc sa sút. Cứ xem dáng dấp qúy phái, học hành đến nơi đến chốn đủ cả cầm kỳ thi họa thì đủ biết Kiều mang phẩm hạnh giai tầng trên, giai tầng quý tộc kiểu " Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần ". Vậy mà Nguyễn Lộc chỉ căn cứ vào một câu giới thiệu khiêm tốn về gia thế Vương viên ngoại "...thường thường bậc trung ..." mà kết luận rằng Kiều " ...Xuất thân từ một thành phần không phải lớp trên... "(198) để hạ thành phần nàng xuống thì lạ thật. Nếu cứ kết luận kiểu máy móc như thế , ta có thể bảo Truyện Kiều chỉ là thứ quê mùa, ba láp, dông dài dùng mua vui qua chuyện, vì căn cứ vào chính lời Nguyễn Du đấy thôi :" Lời quê góp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh ..." ?
Nguyễn Lộc đã viết những dòng rất không thỏa đáng về tính độc tôn của Từ Hải trong tình yêu thương với Thúy Kiều như sau :" Trong cái xã hội ấy chỉ có một người duy nhất thật sự thấy được giá trị của Thúy Kiều, thật sự yêu Thúy Kiều. Đó là Từ Hải ...(99)...Ngoài Từ Hải ra còn có hàng tá người thấy được giá trị và yêu thương Thúy Kiều ví như : cha mẹ, hai em của nàng, Kim Trọng, Thúc Sinh, Giác Duyên...đó sao ? Ngay cả Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Hồ Tôn Hiến, Thổ Quan, quan xử kiện, thậm chí Hoạn Thư ...đều "thấy được giá trị Thúy Kiều" không ở mặt này thì mặt khác. Nguyễn Lộc còn viết sai đến mức này nữa :"Chính là nhờ Từ Hải mà lần đầu tiên trong cuộc đời lưu lạc của mình, Thúy Kiều được trả lại nhân phẩm, được làm người "(113). Nguyễn Lộc quên rằng lần đầu Thúy Kiều được trả lại nhân phẩm là bởi mối tình của Thúc Sinh . Lần thứ hai mới đến Từ Hải. Lần thứ ba Thúy Kiều được trả lại nhân phẩm là do sư Tam Hợp, sư Giác Duyên cậy thuyền chài vớt nàng lên từ sông Tiền Đường. Lần thứ tư Thúy Kiều được trả lại nhân phẩm là bởi tình yêu trời biển của Kim Trọng ngày đoàn viên :" Thân tàn gạn đục khơi trong / Là nhờ quân tử khác lòng người ta". Trang 119, Nguyễn Lộc viết không chính xác như sau :" Trong xã hội Truyện Kiều, Từ Hải là người duy nhất thông cảm với những con người đau khổ ...". Sư Tam Hợp, sư Giác Duyên, Mã Kiều, người quản gia nhà mẹ Hoạn Thư, kể cả Thúc Sinh, Kim Trọng và chính Thúy Kiều đều là những người "thông cảm với những người đau khổ ", chứ cứ gì Từ Hải ?
2-) THÚC SINH ĐÂU PHẢI NHÂN VẬT PHẢN DIỆN :
Mối tình Thúc Sinh-Thúy Kiều là mối tình được Nguyễn Du tả bằng những câu thơ hay và đẹp nhất Truyện Kiều. Thúc Sinh vì tình yêu vô hạn, đã cứu một gái lầu xanh ra khỏi nơi nhơ nhớp để cưới nàng làm vợ. Và Thúy Kiều cũng yêu Thúc Sinh da diết. Cả Nguyễn Du và người đọc đều có cảm tình sâu đậm với Thúc Sinh. Chàng chỉ có một nhược điểm là yếu đuối và sợ vợ. Thử hỏi trong đời này, ai là người không sợ vợ, nhất là trường hợp chàng Thúc lại làm rể quan thượng thư ? Thế mà nhà nghiên cứu và giảng dạy truyện Kiều lâu năm như ông Nguyễn Lộc lại không đọc kỹ Truyện Kiều, nên đã hiểu rất sai nhân vật này, đẩy chàng Thúc Sinh tội nghiệp vào cùng một giuộc với Mã Giám Sinh và Sở Khanh. Chúng tôi xin nêu lên một loạt dẫn chứng là những dòng Nguyễn Lộc mạ lị Thúc Sinh đến vô lý và vô căn cứ như sau :" Thúy Kiều đã tìm thấy tình thương và sự cứu vớt ấy ở Thúc Sinh, một con người lắm tiền nhiều của nhưng cạn lòng và có cánh tay qúa yếu "(102)... " Trong ý nghĩ của Thúc Sinh, Thúy Kiều là đối tượng để hưởng lạc " (98)... " Nhưng với Thúc Sinh, khuây nhớ thương chẳng phải vì câu vận mệnh nào cả, mà vì bản chất hời hợt của Thúc " (153)... " Những nhân vật phản diện như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, đặc biệt là cặp vợ chồng Hoạn Thư-Thúc Sinh trên căn bản được xây dựng theo lối điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực "(171)..." Thúc Sinh yêu Kiều, nhưng đó là tình yêu của một kẻ lắm tiền, nhiều của, vị kỷ và hưởng lạc. Trong số ba người yêu Kiều, Thúc Sinh là người duy nhất không phải yêu Kiều vì tài, vì tình, hay vì cảnh ngộ của nàng, mà vì sắc đẹp của nàng, vì mục đích hưởng lạc "(186,187)..."Thúc Sinh ba hoa không kém Sở Khanh, có điều Sở Khanh ba hoa là cố ý đánh lừa Thúy Kiều, còn Thúc Sinh ba hoa mà tưởng mình nói thật"..." Thúc Sinh từ địa vị một người cứu nạn trở thành một tên nói khoác, từ địa vị một hiệp sĩ trở thành một kẻ phản bội xấu xa, thực chất không khác gì Sở Khanh cả "(188)..."Đối với Thúc Sinh, mối tình của Kiều không có bao nhiêu đằm thắm, đó là tính cách của Thúc"(202). Đánh đồng Thúc Sinh với Sở Khanh như cái nhìn của Nguyễn Lộc trên đây, phải chăng là điều xúc phạm đến chính Thúy Kiều, xúc phạm Nguyễn Du và tình cảm người đọc, xúc phạm mối tình đẹp nhất Truyện Kiều :"Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc lửa soi dặm trường" với những "Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng "...?
3-) CÓ THẬT NGUYỄN DU " LÚNG TÚNG TRONG TÌNH CẢM, TRONG NHẬN THỨC ĐƯA ĐẾN LÚNG TÚNG TRONG KẾT CẤU", "KẾT CẤU GIẢ TẠO" KHÔNG ?
Khi nói về việc Nguyễn Du cho Kim Kiều tái hợp, Nguyễn Lộc phê phán đại thi hào như sau :" Mặt khác, ông thành thật ca ngợi cuộc đoàn viên ấy, mặc dù nhà thơ chỉ viết được những câu thơ rất ít trọng lượng. Cái khó khăn của ông chính là tinh thần hiện thực, là logic của cuộc sống. Trong truyện cổ tích hay truyện Nôm bình dân nói chung, nhân vật được xây dựng nhằm chuẩn bị để đi đến một kết thúc có hậu;cho nên truyện Kiều kết thúc có hậu đã bộc lộ rất rõ tính chất giả tạo của kết cấu này. Nguyễn Du không thể viết "những dòng thơ tươi xanh"giữa lúc cuộc đời vẫn đang lửa cháy. Thúy Kiều ý thức là thế, làm sao có thể phút chốc quên hết ô nhục của đời mình để vui duyên mới với Kim Trọng"(105)..."Lúng túng trong tình cảm, trong nhận thức, đưa đến lúng túng trong kết cấu. Kết cấu của ông có tính chất giả tạo, như tác phẩm ông dựa vào để sáng tác, mà tinh thần của ông thì hiện thực..." (106) ..."TrongTtruyện Kiều trường hợp duy nhất định mệnh chi phối lại là trường hợp duy nhất mà kết cấu của tác phẩm có tính chất giả tạo, không thực. Những câu thơ ca ngợi hạnh phúc trong đoạn tái hồi Kim Trọng mặc dù Nguyễn Du cố viết cho chân thành, vẫn cứ thấy nó gượng gạo, lên gân thế nào ấy "(152).
Trước hết, chúng ta thử xem đoạn kết Kim Kiều tái hợp trong truyện Kiều có qúa non kém về nghệ thuật như Nguyễn Lộc cho rằng "Nhà thơ chỉ viết được những câu thơ rất ít trọng lượng ", "gượng gạo, lên gân " ? Xin bạn đọc hãy mở truyện Kiều ra, bắt đầu từ câu 3007 :" Giác Duyên lên tiếng gọi nàng " đến câu 3254 kết thúc:"Mua vui cũng được một vài trống canh", vị chi là 247 câu thơ tả việc đoàn viên Kim-Kiều. Trong từng câu thơ ấy, câu nào cũng nặng nỗi lòng Nguyễn Du, chẳng hề "rất ít trọng lượng" như Nguyễn Lộc chê bai, rẻ rúng. Nếu cần phải chọn một câu thơ triết luận hay nhất trong Truyện Kiều, chúng tôi xin chọn câu này ở đoạn chót :" Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao ". Nếu phải chọn một câu thơ mà nghệ thuật tu từ, dùng từ láy, từ kép hay nhất Truyện Kiều chúng tôi chọn câu ở đoạn chót này, đoạn ông Nguyễn Lộc chê là "rất ít trọng lượng" :" Dở dang nào có hay gì / Đã tu, tu trót qua thì thì thôi ". Nếu phải chọn câu thơ tả nỗi sung sướng đến kinh ngạc, đến không thể ngờ hay nhất Truyện Kiều, chúng tôi xin chọn câu ở đoạn Kim Kiều tái hợp này :" Tưởng bây giờ là bao giờ / Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao "... Và còn rất nhiều câu thơ trong đoạn này hay không hề thua kém bất kỳ câu thơ nào ở đoạn trước, ví như :" Trời còn để đến hôm nay / Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời ". Thậm chí nếu có người hứng lên bảo "Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời" là câu bát hay nhất truyện Kiều phỏng mấy ai còn dám bắt bẻ ? Việc Nguyễn Lộc chê bai 247 câu Kiều trong đoạn cuối là "rất ít trọng lượng", là "gượng gạo, lên gân " chứng tỏ ông chưa tiếp nhận được thi pháp Nguyễn Du vậy.
Chưa hết, Nguyễn Lộc còn chê Nguyễn Du trong đoạn cho Kim Kiều tái hợp là giả tạo như vừa trích trên rằng :"Truyện Kiều kết thúc có hậu đã bộc lộ rất rõ tính chất giả tạo của kết cấu này ", "kết cấu của ông có tính chất giả tạo", " lúng túng trong tình cảm, trong nhận thức đưa đến lúng túng trong kết cấu "...Marx từng nói " Tư tưởng chính thống của thời đại là tư tưởng của giái cấp thống trị ". Xét về mặt triết học, những tư tưởng chi phối Nguyễn Du trong Truyện Kiều là tư tưởng của thời đại ông : Nho, Phật, Lão, nhất là Nho và Phật. Chúng ta không thể mang tư tưởng của thời đại ta để gán ghép lên hành trình nghệ thuật của ông một cách thô thiển, bất chấp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Dĩ nhiên, một nghệ sĩ vĩ đại như Nguyễn Du, người mà tầm vóc vượt ra ngoài không gian và thời gian của thời đại phong kiến, thậm chí vóc dáng khổng lồ của ông không thời đại nào chứa nổi, thì chuyện tự mâu thuẫn về tư tưởng và tình cảm trong sáng tác nghệ thuật là việc bình thường, thậm chí là điều bắt buộc phải có của một thiên tài như ông. Nhưng không vì thế mà bảo ông " lúng túng trong tình cảm, trong nhận thức, đưa đến lúng túng trong kết cấu " nơi Truyện Kiều như Nguyễn Lộc viết trên. Nguyễn Du rất thoải mái, rất bay bướm tuyệt chiêu và tự nhiên khi thể hiện thiên tài của mình trong nghệ thuật truyện Kiều, bảo ông lúng túng là chưa hiểu nổi nghệ thuật của ông. Còn việc bảo Nguyễn Du cho Kim Kiều tái hợp là kết cấu giả tạo là chưa nghiên cứu kỹ tuyệt tác này. Theo Nguyễn Lộc, việc kết thúc có hậu như Kim Kiều tái hợp là không tuân theo logic cuộc sống, là chỉ mới "viết những dòng sông tươi xanh" khi "đời đang lửa cháy". Nghĩa là Nguyễn Du phải cho Kiều chết đi thì mức bi thảm mới xứng với cái tàn bạo của xã hội phong kiến, tác phẩm mới mang tính tố cáo cao, hiện thực cao. Những ý tưởng chê bai Nguyễn Du kiểu này đều là con đẻ của lối phê bình xã hội học dung tục, tất cả chỉ quy vào ý nghĩa xã hội của tác phẩm mà không biết rằng vấn đề trung tâm, gan ruột của Truyện Kiều là vấn đề con người, vấn đề nghệ thuật thể hiện tâm hồn con người, vấn đề thẩm mỹ của một thi pháp bậc thầy. Nguyễn Lộc và một số nhà phê bình xã hội học dung tục khác vẫn lầm lẫn gọi việc kết cấu có hậu của Truyện Kiều là giả tạo, vì họ chỉ thấy cây mà chẳng thấy rừng, chỉ nhìn hiện tượng mà không thấy bản chất. Thực ra, kết thúc Truyện Kiều tưởng có hậu mà không có hậu, ấy mới là nghệ thuật trác việt của Nguyễn Du. Kim Kiều tái hợp làm đám cưới với nhau sau 15 năm lưu lạc, giỏi lắm Kim - Kiều lúc ấy cũng chỉ trên 30 tuổi, cái tuổi chín tới của niềm hạnh phúc chăn gối lứa đôi. Cái bi thảm của vợ chồng Kim -Kiều khi tái hợp là ở đây : có đám cưới, có vợ chồng, có động phòng hoa chúc mà không có chuyện gối chăn vì Kiều cự tuyệt. Chính thời đại phong kiến đã cướp mất khát vọng gối chăn của Thúy Kiều, khiến nàng không thể là người đàn bà đúng nghĩa được nữa.Giữa nàng và chàng Kim giờ tưởng một nhà mà vẫn là hai thế giới, tưởng chỉ cách nhau sợi tóc mà lại nghìn trùng xa thẳm, như một câu thơ Xuân Diệu :" Em vẫn là em, anh vẫn là anh / Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành ". Nàng cứ sống để làm vợ chàng Kim mà tuyệt nhiên vẫn là đôi vợ chồng Ngâu. Vợ chồng còn trẻ mà không có chuyện gối chăn thì chỉ là chuyện vợ chồng hờ, vợ chồng giả mà thôi. Cho nên, giữa Kim Trọng và Thúy Kiều vẫn còn một ranh giới ghê gớm hơn cả cái chết là nỗi đớn đau, khổ ải, nhục nhã vô cùng tận không sao gột rửa nổi trong tâm hồn nàng. Nỗi bất hạnh đó sâu thẳm hơn cả sông Tiền Đường, ngăn cản hạnh phúc đích thực của họ. Kiều đã bị tước mất khả năng hưởng thụ hạnh phúc. Sống như thế còn khổ đau hơn là chết. Đọc đến đây, ai cũng nghẹn ngào, tức tưởi. Phải chi giá mà sông Tiền Đường đưa Kiều về cõi Đạm Tiên còn dễ chịu hơn để nàng sống như vậy, đoàn viên, làm vợ như vậy. Truyện Kiều tưởng kết thúc có hậu mà vẫn không có hậu là ở chỗ đó. Nguyễn Lộc không hiểu được điều sâu xa này nên đã vội trách Nguyễn Du "kết cấu giả tạo", thơ " rất ít trọng lượng", " gượng gạo, lên gân "(!)
4-) NHỮNG NGỘ NHẬN ĐÁNG TIẾC
Trang 160, tác giả viết :" Bằng hình tượng nghệ thuật, Nguyễn Du đã đi đến một kết luận rất cơ bản : thực chất vấn đề xã hội trong truyện Kiều là vấn đề chế độ phong kiến". Không, thực chất vấn đề của Truyện Kiều, hay " vấn đề xã hội trong Truyện Kiều " không phải là " vấn đề chế độ phong kiến " như Nguyễn Lộc lầm tưởng mà là vấn đề con người, vấn đề thi pháp. Giờ đây, chế độ phong kiến đã qua lâu rồi nhưng thân phận người phụ nữ, thân phận Kiều, tính Kiều của người phụ nữ vẫn còn làm chúng ta nhức nhối. Báo chí đã chẳng khui ra hàng trăm vụ buôn bán phụ nữ đưa ra nước ngoài làm điếm đó sao ? Lại còn những ổ chứa chính hiệu bị công an bắt, và cả những ổ chứa trá hình trong tiệm karaôkê, tiệm mát-xa hay hớt tóc thanh nữ, trong khách sạn, nhà hàng... đầy rẫy trước mắt ta đó sao ? Trang 136, phê phán xã hội truyện Kiều quyết liệt hăng hái qúa, đến mức Nguyễn Lộc vơ đũa cả nắm :" Đạo đức phong kiến làm cho con người trở thành tàn bạo và giả dối". Chỉ tính từ Ngô Quyền đến 1858 là ngót một nghìn năm ông cha ta theo chế độ phong kiến kiểu phương Bắc, mới làm nên nền văn hóa, văn hiến rực rỡ này của dân tộc. Nếu ông cha chúng ta thảy đều tàn bạo và giả dối như Nguyễn Lộc viết thì chúng ta làm gì có Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, làm gì có Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, làm gì có truyện Kiều, "Chinh phụ ngâm"... cho Nguyễn Lộc viết giáo trình văn học cổ ? Trang 141, quá cực đoan khi tuyệt đối hóa khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa trong truyện Kiều, Nguyễn Lộc đã rất phiến diện khi viết :"Truyện Kiều không phải biểu hiện tâm tình mà là bức tranh cuộc sống, mâu thuẫn trong thế giới quan Nguyễn Du thể hiện ở đây lại càng khó nắm bắt ". Nguyễn Du viết :" Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh " để nhấn mạnh truyện Kiều là câu chuyện "phong tình". Nhờ câu chuyện "phong tình", truyện tình yêu trai gái này xảy ra mới có "bức tranh xã hội". Khi Nguyễn Lộc phủ nhận tính chất "phong tình" của tác phẩm, coi "Truyện Kiều không phải biểu hiện tâm tình" thì có khác gì ông phủ nhận cái nhân, cái rốt ráo bên trong của tính hiện thực là "bức tranh xã hội " vậy ? Nguyễn Lộc chừng như quên rằng Nguyễn Du đã tự vượt lên thuyết định mệnh Nho, Phật bằng một câu thơ rất chói lọi về tư tưởng triết học bước đầu mang tinh thần duy vật, rất nhân đạo về mặt con người :" Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều " để quy kết tác giả truyện Kiều một cách không thể tất như sau :" Nguyễn Du đi từ chủ nghĩa định mệnh của Nho giáo sang chủ nghĩa định mệnh của Phật giáo và kêu gọi tu tâm, thực tế nhà thơ đã lún sâu hơn trong vũng bùn của tư tưởng duy tâm "(145). Nguyễn Lộc chưa hiểu được nguyên tắc triết học nhất nguyên luận Đông phương. Ông lại dùng phương pháp triết học nhị nguyên luận phương Tây để lý giải chữ Tâm của Nguyễn Du nên mới đẩy Nguyễn Du rơi xuống "vũng bùn của tư tưởng duy tâm". Quan niệm triết học phương Đông nghiêng về sự hài hòa, trung dung nên không có chữ "DUY"; nghĩa là không tách TÂM ra khỏi VẬT và ngược lại. Không hề ba phải, nhưng trong sâu thẳm triết học phương Đông hằng coi trong VẬT có TÂM và trong TÂM có VẬT. Muốn nghiên cứu chữ TÂM của Nguyễn Du thì phải nắm được cái rốt ráo của triết học DỊCH và ĐẠO phương Đông, chứ không thể nói à uôm rồi xúc phạm Nguyễn Du như Nguyễn Lộc vừa viết. Chính vì vậy, ở trang 161, Nguyễn Lộc thể hiện sự chưa trưởng thành trong nhận thức về chữ TÂM và cả chữ TÀI, chữ MỆNH nơi truyện Kiều như sau :" Nhưng chữ Tâm của Nguyễn Du cũng rối rắm không khác gì chữ Tài, chữ Mệnh ". Thật không ngờ, nhận thức của Nguyễn Lộc về chữ TÌNH và chữ HIẾU trong Truyện Kiều cứ rối bòng bong theo lý luận "Kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông..." như sau :"Nội dung thật sự của chữ Hiếu ở đây là nhân đạo chủ nghĩa, chứ không phải chữ Hiếu khô khan theo quan niệm của đạo đức phong kiến. Và như thế, thực chất nó là chữ Tình. Mà chữ Tình thì chính Tam Hợp đã kết án là dây oan, còn ở đây, mang tên chữ Hiếu, nhà thơ ca ngợi là sự giải thoát. Đó là mâu thuẫn " (165)
5-) CẦN PHẢI VIẾT ĐÚNG CÂU VĂN TIẾNG VIỆT
Nguyễn Lộc qủa tình ít triệt để làm gương về việc viết câu văn sao cho trong sáng tiếng Việt. Thỉnh thoảng, ông vẫn viết những câu văn tối nghĩa, khi thì thiếu thành phần chủ ngữ , lúc lại thiếu mệnh đề vị ngữ. Chúng tôi xin dẫn vài thí dụ sau. Trang 96, ông viết bốn câu văn liền nhau mà mỗi câu đều què, cụt, hoặc tối nghĩa :"...Nhưng ở mút tận cùng của cuộc đời cũng như lần đầu tiên đi vào cuộc đời, Thúy Kiều vẫn không thôi ý thức. Có điều bây giờ hoàn cảnh eo hẹp, Thúy Kiều phải suy nghĩ trong giới hạn cụ thể của nó . Vả lại thấy được giới hạn cụ thể để suy nghĩ đó cũng là một cách ý thức rồi. Thúy Kiều tài sắc và Thúy Kiều ý thức, đó là hai nét đặc trưng mà Nguyễn Du muốn làm nổi bật về một con người lý tưởng." Ở câu thứ nhất của đoạn trích trên, tác giả viết thiếu thành phần vị ngữ "....Thúy Kiều vẫn không thôi ý thức."Ý thức về cái gì, về bản thân mình hay ý thức về xã hội, về thế giới ? Câu thứ hai vẫn thiếu vị ngữ :"...Thúy Kiều suy nghĩ trong giới hạn cụ thể của nó ": Thúy Kiều suy nghĩ về cái gì ? "Giới hạn cụ thể của nó " là cái gì ? Nếu chữ "nó" được thay bằng chữ "mình" thì còn khả dĩ. Câu thứ ba tác giả viết thiếu chủ ngữ :" Vả lại thấy được giới hạn cụ thể để suy nghĩ..." : ai thấy được giới hạn cụ thể ? Câu thứ tư vẫn sai ở chỗ "Thúy Kiều ý thức ". Tác giả phải viết "Thúy Kiều tự ý thức về bản thân mình" thì câu văn mới đúng ngữ pháp. Ví như ở trang 100, tác giả vẫn viết câu văn chưa chuẩn, kiểu như trên vừa phân tích :" ...Điều đó không phải là sai nhưng phiến diện, nhất là nó chưa nói hết được tính chất ý thức đẹp đẽ của Thúy Kiều, do đó cũng không nói hết được cái tàn bạo xấu xa của xã hội phong kiến. Phải nói Thúy Kiều ý thức cho nên sống trong xã hội ấy Thúy Kiều trở thành chống đối." Ngay cả khi bình từng câu thơ cụ thể của Truyện Kiều, tác giả còn bình thiếu chính xác. Ví như khi bình hai câu tả Tú Bà :"Thoắt trông nhờn nhợt màu da / Ăn chi cao lớn đẫy đà làm sao ", Nguyễn Lộc tán khá tức cười một cách dung tục và khiên cưỡng như sau :"...Là gái làng chơi, Tú Bà thường sống bằng đêm, lấy đêm làm ngày, không lao động và thiếu ánh sáng, cho nên da dẻ của mụ mới "nhờn nhợt" "(73) .
Tóm lại, phần giảng văn về Nguyễn Du và Truyện Kiều trong bộ giáo trình đại học của mình, Nguyễn Lộc còn viết khá nhiều điều chưa chuẩn xác khác, chủ quan, khá sai lạc với tinh thần tác phẩm mà khuôn khổ bài báo này chưa cho phép chúng tôi lý giải. Chúng tôi hẹn trong dịp khác sẽ trở lại vấn đề còn tồn đọng này. Nay, chỉ bằng vào những chứng cứ chúng tôi đưa ra, mới thấy việc giảng dạy truyện Kiều nói riêng và văn học cổ cha ông nói chung trên các giảng đường đại học quả tình đang có vấn đề. Một việc hệ trọng dường ấy, sao lại đi giao cho một người chưa thật sự hiểu đúng truyện Kiều, thậm chí có cảm tưởng chưa đọc kỹ kiệt tác là PGS Nguyễn Lộc? Mặc cho ông này viết giáo trình với quá nhiều sai sót, nhiều kết luận thiếu tính khoa học, thậm chí có phần xúc phạm tới cả Nguyễn Du, lại được tái bản hàng chục lần như thế, thử hỏi làm sao sinh viên khoa văn có thể tiếp nhận được tinh thần thẩm mỹ tuyệt vời của thi ca Tố Như ?
Sài Gòn ngày 12-10-1999