Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Sau chuyến viếng thăm của chủ tịch Hồ Cẩm Đào: Cộng sản Việt Nam chọn sự an tòan dưới bước chân Trung Quốc |
Saturday, November 19, 2005
Nguyễn Xuân
Nghĩa(Ngày Nay, Texax)
LTS – Sau chuyến viếng thăm Việt Nam gần đây của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, dư luận
trong nước bàn tán nhiều đến việc lãnh đạo Hà Nội đã quyết định ngả về phía Bắc
Kinh. Trong bài phân tách cho Ngày Nay, nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa, một bỉnh bút
chính trị của Ngày Nay, trình bày những yếu tố giải thích sự chọn lựa ấy.
FOUNTAIN VALLEY, CA (NN) – Đã từ rất lâu, từ nhiều thế kỷ rồi, giới lãnh đạo
chính trị và văn hóa của Việt Nam không nhìn ra một giải pháp trị quốc nào khác
hơn là của hệ thống tư tưởng Trung Hoa.
Từ ngàn năm nay cứ đánh thắng một đợt xâm lăng từ phương Bắc thì lãnh đạo Việt
Nam lại càng học theo Bắc phương về cả văn hóa lẫn chính trị để củng cố chế độ.
Lâu dần rồi, chế độ ấy chẳng cần có Tiết độ sứ người Hán ngồi ở Hà Nội mà Việt
Nam vẫn khó bước ra khỏi trật tự Trung Hoa. Cách đây 150 năm, con người nổi
tiếng tài hoa và có tinh thần “cách mạng”, nhân tài chung thân nổi loạn vì tánh
kiêu mạn là Cao Bá Quát còn luận rằng mình chẳng cần học theo Tây dương. Tây
dương không có Thánh hiền, không biết Vương đạo. Việt Nam không tiến hóa được vì
lẽ ấy. Cao Chu thần mà còn vậy thì triều đình có hủ lậu và xứ sở bị mất chủ
quyền cũng là điều dễ hiểu.
Vẫn tư duy cũ
Ngày nay, thế giới đã đổi thay mà nếp tư duy đó vẫn còn, và còn được củng cố bởi
“xã hội chủ nghĩa”.
Thực ra, khi đối chiếu những gì xảy ra tại Trung Quốc quanh vụ Thiên An Môn năm
xưa và động loạn nước Pháp đang gặp vì thất bại trong việc hội nhập di dân, lãnh
đạo đảng Cộng sản Việt Nam càng thấy giải pháp của Trung Quốc là thượng sách. Ta
không gửi người đi xin cầu phong thì vẫn có lãnh đạo của họ sang tận nơi đề bạt
lãnh đạo của mình. Vì vậy, việc ông Hồ Cẩm Đào có qua Việt Nam nếu có cố vấn Hà
Nội về những ai nên lãnh đạo, để làm những gì, không là một điều ngạc nghiên.
Từ vài chục năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh đã tìm ra con đường xây dựng xã hội chủ
nghĩa theo lý luận Mác-Lênin, nhưng với phong thái Trung Hoa, bằng cách phát
triển tư bản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng. Họ gọi đấy là “xã hội chủ
nghĩa với màu sắc Trung Hoa”. Tháng 10 vừa rồi, lần đầu tiên đảng này còn công
bố một Bạch thư về “Xây dựng Dân chủ”, với định nghĩa tiên thiên “dân chủ là sự
lãnh đạo của đảng”. Đảng Cộng sản Trung Quốc là yếu tố đảm bảo dân chủ cho người
dân.
Nghịch lý ấy được Hà Nội rập khuôn, cũng “kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa”, và đảng là sức mạnh đảm bảo dân chủ cho toàn dân, còn dân chủ
gấp triệu lần các nước Tây phương.
Đằng sau những lý luận có vẻ khiên cưỡng ngược ngạo này là rất nhiều yếu tố hợp
lý.
Thoát khỏi khuôn khổ tư duy thời phong kiến, người cộng sản đã học được cái
“thuật”, phương pháp hành động, của chủ nghĩa Mác-Lênin để nắm chính quyền. Sau
khi thất bại trong việc cải tạo để xây dựng bằng chủ nghĩa ấy, họ tiếp tục duy
trì chủ nghĩa nhằm biện minh cho quyền lực của thiểu số và vạch ra một hướng đi
khác. Hướng đi của cái “đạo” cũ, một thiểu số sáng suốt nhất xã hội sẽ dẫn cả
nước tiến theo trào lưu mới.
Ngày xưa, đảng Cộng sản là đại biểu tiên tiến của giai cấp công nhân. Đó là lý
luận Mác-Lênin nguyên thủy, khi Marx còn mờ về kinh tế và Lênin cần tối đa quyền
lực bằng lý luận đấu tranh giai cấp. Ngày nay, đảng Cộng sản đổi mới tư duy với
một lý luận rất gần với Machiavelli và Hàn Phi Tử: đảng là đại biểu của những
động lực tiên tiến nhất trong xã hội. Vừa quy tụ các phần tử ưu tú nhất – kể cả
doanh gia – vừa chủ động tạo ra những thay đổi giúp cho xã hội tiến hóa. Kinh tế
thị trường vì vậy cần phải có định hướng xã hội chủ nghĩa, do đảng định ra cái
hướng. Cũng vậy, khi xã hội cần dân chủ thì đảng sẽ chủ động xây dựng nền dân
chủ ấy, từ trong đảng ra đến ngoài, từ cơ sở lên tới thượng tầng, theo định
hướng “tập trung” do bộ Chính trị vạch ra.
Phân tách cho đúng thì vẫn là cái đạo cũ: “trong bá ngoài vương”. Ngoài thì dùng
khái niệm nhân trị, đạo đức, được hiện đại hóa thành “công bằng xã hội”, “dân
chủ từ cơ sở”, “thăng tiến hòa bình”. Trong là hàng loạt những thủ đoạn trí trá
lẫn hành vi bạo lực để duy trì quyền lực cho một thiểu số tự ban cho mình sứ
mệnh trị quốc, sứ mệnh lãnh đạo và cầm quyền. Những kỹ thuật mới về thông tin,
tuyên truyền hay kiểm soát và đàn áp được tận dụng để tráng lên hệ thống độc tài
tham ô một lớp men đạo đức. Tột cùng là lớp men “bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc
lập dân tộc”. Những thành quả kinh tế sau thời “mở cửa” tại Trung Quốc hay “đổi
mới” tại Việt Nam minh chứng giá trị của hệ thống lãnh đạo bá đạo này.
Tại sao ngả theo Trung Quốc?
Tuy nhiên, câu hỏi mọi người đều đặt ra, và đã đặt ra từ trong đảng, là làm sao
thiểu số ấy chọn ra định hướng đúng đắn nếu không có công khai tranh luận – đối
lập - và sự phán xét của quần chúng – tự do ngôn luận và bầu cử?
Cả hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều đã trải qua khủng hoảng khi
tranh luận nảy sinh trong đảng. Chúng ta không nói đến những hoang tưởng điên rồ
của thời “cải cách ruộng đất”, của “bước nhảy vọt vĩ đại”, của “Đại văn cách”
hay “cải tạo”. Chúng ta nói đến những đắn đo chọn lựa và tranh luận sau thời mở
cửa và đổi mới.
Thiểu số ưu tú ấy không biết hết được mọi sự và đã từng có những chọn lựa sai
lầm, đắt đỏ. Cái giá của sự sai lầm ấy, người dân phải trả, vẫn đang trả và
nhiều thế hệ nối tiếp sẽ còn trả. Bên trong, thành phần nào muốn tiến quá nhanh
để bắt kịp đà tiến hóa của thế giới và gây nguy cơ sụp đổ cho tập thể thì bị bay
chức. Nếu biết im thì bay chức mà toàn mạng, thanh danh được bảo vệ và con cái
vẫn còn đặc lợi trong bóng tối của quyền lực. Nếu không chịu im và đe dọa sự
đoàn kết trong đảng thì sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc, thân bại danh liệt. Khác
với các tổ chức đạo tặc, mafia, thiểu số này coi trọng cái hình thức của sự đoàn
kết trong đảng. Đấy là biểu hiện cần thiết của thiểu số ưu tú: đảng không hề sai
bao giờ. Tội nặng nhất không phải là đòi đổi mới nhanh hơn tập thể còn lại, mà
là gây chia rẽ trong đảng. Các bài phát biểu gần đây của cựu thủ tướng Võ Văn
Kiệt minh diễn sự thận trọng ấy một cách ngoạn mục.
Sự chọn lựa của đảng Cộng sản Việt Nam vì vậy là một sự an toàn chính trị cho
chế độ.
Về kinh tế – tư bản, kỹ thuật, tổ chức, ngoại thương – Việt Nam không có lợi
nhiều khi ngả theo Trung Quốc. Nhưng, đấy là lý luận thô thiển của kẻ đứng
ngoài, của dân đen ngồi dưới. Chứ thiểu số ưu tú đang cầm quyền nhìn ra nhiều
mối lợi khác quan trọng hơn. Mối lợi cho chính họ. Lanh quanh mãi rồi họ cũng
lại tự ý hành xử như những Tiết độ sứ hiện đại. Trung Quốc không cần đào tạo
đảng viên cán bộ cho Hà Nội, đảng tự đào tạo lấy thành phần không hề dám bước ra
khỏi trật tự Trung Hoa, vì đấy là một trật tự an toàn cho chính họ.
Sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử có một truyện ngụ ngôn: ông nhà giàu kia sợ kẻ
trộm nên cất tài sản cho kỹ trong hòm, bên ngoài còn đóng đai cho chặt. Khi kẻ
trộm vào là cứ ôm hòm mà chạy và còn mừng là đai không bung! Ngày nay, cái đai
ấy là cái đảng đang cầm quyền tại Hà Nội. Những Nam Quan, Bản Giốc, Hoàng Sa,
Trường Sa hay cả Cam Ranh chỉ là vật nhỏ nằm trong cái rương lớn mà thôi.
Đi hết biển rồi lại chui vào ống cống. Làm cách mạng thần thánh rồi cũng cúi đầu
bước dưới chân Thánh hiền phương Bắc. Chúng ta đã qua thế kỷ 21 rồi mà thấy
truyện xưa vẫn còn mới. Đáng sợ chừng nào.
(10 thámg 11, 2005)
ĐÀI RFA PHỎNG VẤN
Ô. NGUYỄN XUÂN NGHĨA
LTS – Mặc dù được Trung Quốc ủng hộ nhưng VN vẫn không thể được gia nhập Tổ chức
Mậu dịch Thế giới (WTO) trong năm nay như phó Thủ tướng Vũ Khoan đã phải lên
tiếng xác nhận. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa trong Diễn Đàn Kinh Tế của đài Á Châu Tự
Do (RFA) đã phân tích vấn đề trên cũng như việc lợi hại theo Tầu hay theo Mỹ như
sau:
RFA: Nói đến hồ sơ WTO, giới chức Hà Nội cho là Hoa Kỳ thiếu thiện chí dù Tổng
thống Bush đã lên tiếng ủng hộ Việt Nam khi gặp Thủ tướng Phan Văn Khải tại Mỹ.
Ông nhận xét ra sao về chuyện này?
Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây là vấn đề văn hóa vì là một ngộ nhận lớn của giới lãnh
đạo lẫn nhiều người Việt ở nhà. Hoa Kỳ là xứ tư bản và dân Mỹ muốn làm ăn buôn
bán với mọi người theo nguyên tắc tự do, nên ai cũng muốn mở rộng phạm vi hợp
tác của WTO. Tuy nhiên đây cũng là xứ dân chủ, dù có thiện cảm với việc Việt Nam
gia nhập WTO, ông tổng thống không thể ra lệnh thuộc cấp và doanh nghiệp phải
đón Việt Nam vào nếu ta chưa hội đủ điều kiện. Phải nói thêm là nếu ông đại sứ
Mỹ quá chiều lòng chính quyền Hà Nội mà không bảo vệ được quyền lợi của tư doanh
cho xác đáng thì chính ông ta có khi mất chức; chứ không có chuyện ngược lại là
ông ta sẽ cấm phòng thương mại hay doanh nghiệp Mỹ làm khó chính phủ Hà Nội.
Ngược lại, nếu tính sai trong đầu tư thì doanh nghiệp có thể lỗ lã phá sản và
rút khỏi thị trường Việt Nam. Đấy là quy luật vận hành của một xứ tự do về kinh
tế và dân chủ về chính trị, chứ không là sự thiếu thiện chí của chính quyền để
mình hiểu lầm và oán thán người ta!
Phải nói thêm, lần nữa, rằng WTO là một câu lạc bộ bình đẳng, muốn là hội viên
thì phải thỏa mãn mọi hội viên chứ không chỉ vuốt ve mua chuộc viên công chức
quốc tế phụ trách hồ sơ Việt Nam là đủ. Thay vì bực bội thì Việt Nam nên lợi
dụng thời gian chờ đợi này để thông tin và chuẩn bị cho tư doanh biết luật chơi
kinh doanh sau này, hầu cạnh tranh thắng lợi và dự trù trước những biện pháp trợ
giúp cần thiết khi mình hội nhập vào luồng trao đổi quốc tế.
RFA: Bây giờ, ta bước qua chuyến thăm viếng chính thức của ông Hồ Cẩm Đào. Khác
với Hoa Kỳ, Trung Quốc đã mau chóng đón nhận Việt Nam vào WTO và không thấy lãnh
đạo Bắc Kinh phê phán gì về những vấn đề dân chủ hay nhân quyền tại Việt Nam,
cũng chả thấy doanh gia của họ than phiền gì về việc đầu tư vào Việt Nam như
doanh gia của các nước Tây phương, qua việc ba phòng thương mại vừa lên tiếng
tuần trước. Trong khung cảnh ấy, thưa ông, liệu giới lãnh đạo Việt Nam có thấy
là hợp tác với Trung Quốc là có lợi hơn hay không?
Ô. Nghĩa: Có thể lắm và như trong mọi vấn đề kinh tế, ta phải hỏi thêm là “có
lợi cho ai?” Và nếu người Việt thấy bị thiệt thòi bất công khi làm ăn với Trung
Quốc thì họ có quyền lên tiếng không?
Trung Quốc không là xứ dân chủ nên có thể vì lý do chính trị đón nhận Việt Nam
vào WTO dễ dàng hơn. Nhưng để làm gì? Ta cần nêu câu hỏi vì xét trên lãnh vực
thuần túy kinh tế, mối lợi của Việt Nam, của người dân và kinh tế Việt Nam,
trong quan hệ với Trung Quốc là những gì? Xứ này không là một nhà đầu tư lớn, ở
hàng thứ hai chục trở xuống với loại dự án rất nhỏ, lại bán nhiều hơn mua với
Việt Nam, chưa kể đến bán lậu thuế qua biên giới. Về chuyển giao công nghệ, tức
là cho ta học hỏi thêm về khoa học kỹ thuật và tổ chức hiện đại, thì họ cũng
chẳng có gì. Nếu có thì chỉ có chuyển giao công nghệ về kỹ thuật bảo vệ chế độ,
là điều có thể có lợi cho giới lãnh đạo ở Hà Nội chứ không chắc là có lợi cho
người dân.
RFA: Ông nói vậy với hàm ý là Việt Nam không nên ngả theo Trung Quốc mà có thể
là nên ngả theo Hoa Kỳ?
Ô. Nghĩa: Tôi hiểu là sự đắn đo ấy đang ám ảnh nhiều người trong nước. Có người
thừa uyên bác còn ngầm khuyên dân ta là “bán anh em xa mua láng giềng gần”,
huống hồ chắc gì Mỹ đã là anh em, lại ở xa! Tôi e rằng câu trả lời không đơn
giản vì một thực tế lịch sử hơn là kinh tế.
Đó là từ ngàn năm nay cứ đánh thắng một đợt xâm lăng từ phương Bắc thì lãnh đạo
Việt Nam lại học theo Bắc phương về cả văn hóa lẫn chính trị để củng cố chế độ.
Lâu dần rồi, chả cần có Tiết độ sứ người Hán ngồi ở Hà Nội mà Việt Nam vẫn khó
bước ra khỏi trật tự Trung Hoa. Ngày nay, thế giới đã đổi thay mà nếp tư duy ấy
vẫn còn, và còn được củng cố bởi “xã hội chủ nghĩa”. Ta không gửi người đi xin
cầu phong thì vẫn có lãnh đạo của họ sang tận nơi đề bạt lãnh đạo của mình.
Vấn đề không phải là mình nên ngả theo Mỹ hay theo Tầu mà là ngả về dân. Phải
làm sao để đa số người Việt Nam có thể quyết định lấy về cuộc sống của mình về
tương lai của xứ sở thay vì bị chi phối bởi lãnh đạo xứ khác.