Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Phỏng vấn Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Tư Pháp về khả năng gia nhập WTO của Việt Nam |
Gia Minh, phóng viên đài RFA
|
Giới Thiệu:
Thưa quý thính giả, hồi đầu năm Hà Nội thường nói đến mục tiêu sẽ gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO vào cuối năm 2005. Thế nhưng gần đây có ý kiến đoán quyết mục tiêu ấy sẽ không đạt được. Phó thủ tướng Vũ Khoan của Việt Nam lên tiếng bào chữa cho là không thể gia nhập tổ chức này với bất cứ giá nào. Đến nay thì chỉ còn khoảng 4 tuần lễ nữa sẽ diễn ra hội nghị Bộ trưởng WTO tại Hồng Kông thì khả năng mà Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức thương mại thế giới xem ra còn khó thành hơn nữa. Gia Minh hỏi chuyện Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ tư pháp, ông Hoàng Phước Hiệp là một thành viên trong đoàn đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Trước hết ông cho biết một số điểm đạt được trong phiên đàm phán đa phương lần thứ 10 diễn ra ở Geneva vừa qua cũng như những tồn tại chưa cho phép Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới ngay lúc này: |
Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.
Ô Hoàng Phước Hiệp: Vòng đàm phán thứ 10 thì tôi thấy nói chung là có rất nhiều tiến triển tốt, các nước đã gần như là cam kết được với Việt Nam về những vấn đề Việt Nam gia nhập WTO. Riêng chỉ còn một vài nước thôi đặc biệt trong đấy có Hoa Kỳ, Australia, New Zealand và một số nước khác nữa hiện tại chưa kết thúc được. Chúng tôi hy vọng rằng trong thời gian tới thì sẽ kết thúc sớm với các nước này.
Gia Minh: Những điểm khó nhất các nước đó họ đưa ra mà Việt Nam chưa đồng ý đó là những điểm nào, thưa ông?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ vấn đề lớn nhất là vấn đề mở cửa thị trường. Theo ý kiến của những nước này là phải mở cửa thị trường rộng rãi hơn, phải thông thoáng hơn nữa. Nhưng về phía chúng tôi thì thấy rằng các doanh nghiệp và những người dân trong nước chúng tôi thì sức chịu đựng nó cũng có hạn thôi, không thể nào đáp ứng được ngay một lúc tất cả những ý nguyện của các doanh nghiệp của các nước hiện tại đang có đàm phán. Cho nên chúng tôi đang còn cân nhắc, lấy ý kiến lại của các doanh nghiệp, của cộng đồng kinh doanh của chúng tôi để đàm phán tiếp với các nước còn lại.
Gia Minh: Trước đây có mục tiêu là Việt Nam cần gia nhập WTO trong năm nay, nhưng vừa rồi cũng có ý kiến nói là có thể chưa được. Có phải những điều vừa rồi là những nguyên nhân dẫn đến việc không đạt được mong muốn lúc ban đầu đó, phải không thưa ông?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ nếu như 5, 6 nước còn lại đợt vừa rồi mà kết thúc được với chúng tôi thì mục đích gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2005 là đạt được rồi, nhưng các nước ấy chưa kết thúc đàm phán với chúng tôi cho nên đấy cũng là một trong những nguyên nhân mà tôi nghĩ rằng Việt Nam khó có thể kết nạp được vào cuối năm nay.
Gia Minh: Năm nay thì khó. Nhưng theo ông sang năm thì ra sao ạ?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Bản thân tôi thì tôi rất muốn sang năm Việt Nam sẽ được kết nạp vào WTO. Bởi vì chúng tôi hy vọng vào được WTO càng sớm càng tốt để hội nhập cùng cộng đồng thương mại toàn cầu. Nhưng còn vào được WTO sang năm hay không lại còn phụ thuộc vào các đối tác đàm phán của chúng tôi, chứ không phải riêng về phía Việt Nam chúng tôi đâu. Tôi hy vọng rằng các nước thành viên WTO sẽ ủng hộ chúng tôi để sớm gia nhập trong năm 2006.
Gia Minh: Cũng có ý kiến từ phía Việt Nam, như ông Phó thủ tướng Vũ Khoan nói là không thể vào với bất cứa giá nào... thì những điểm còn yếu về phía Việt Nam, về phía cộng đồng doanh nghiệp cái gì yếu nhất và cần phải nỗ lực trong một thời gian không thể dài được, thưa ông ạ?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ rằng đấy là sức cạnh tranh của các hàng hóa, của các dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Hiện tại cũng có một vài điểm chưa đáp ứng được độ quyết liệt của cạnh tranh hiện nay, và đặc biệt chất lượng của các hàng hóa của các dịch vụ cũng có thể chưa đáp ứng được một số yêu cầu cạnh tranh. Đấy là điểm lớn nhất mà chúng tôi thấy.
Gia Minh: Trong một thời gian ngắn, 1 năm 2 năm thì điều đó làm sao có thể rút ngắn lại được và để mọi doanh nghiệp đều có đủ sức cạnh tranh khi đứng trong tổ chức WTO thưa ông?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ rằng bản thân các doanh nghiệp người ta cũng đã nhận thấy thách thức rất lớn như vậy trong quá trình gia nhập WTO và người ta cũng đã có những chuẩn bị nhất định. Tôi hy vọng rằng các doanh nghiệp sẽ chuẩn bị tích cực hơn, phải hăng hái hơn nữa trong việc giữ vững vị thế của mình trên thương trường, cũng như cố gắng hơn nữa để vươn lên kịp với các doanh nghiệp khác và vượt các doanh nghiệp khác của các nước thành viên WTO.
Gia Minh: Nói thì dễ nhưng trong thực hiện thì họ cần có những biện pháp nào mà qua đàm phán ông gặp gỡ các đối tác và ông thấy là cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện ngay, thưa ông?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ rằng có rất nhiều vấn đề mà cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải tính toán ngay. Ví dụ như vấn đề thâm nhập thị trường vào nước khác như thế nào. Kiến thức của doanh nghiệp Việt Nam về thị trường các nước, pháp luật của các nước trong khi làm ăn như thế nào là một vấn đề lớn và cần phải làm ngay.
Vấn đề thứ hai là các hàng hóa, các dịch vụ cần phải làm thế nào để có sức hấp dẫn hơn, có sức cạnh tranh lớn hơn, đấy là những vấn đề mà các doanh nghiệp có thể làm được ngay.
Thứ ba nữa là phải chuẩn bị một lực lượng cán bộ đặc biệt, cán bộ trực tiếp làm việc với các đối tác bên ngoài.
Tôi nghĩ rằng hiện tại có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đến ở Việt Nam và họ có rất nhiều kinh nghiệm và họ đang hợp tác với rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Tôi nghĩ rằng với sự hỗ trợ của các nhà đầu tư nước ngoài, với sự nỗ lực của chính bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thì chúng tôi thấy rằng có thể xử lý trong thời gian ngắn được.
Gia Minh: Thưa ông, trong thời gian vừa qua khi ra buôn bán với các nước trên thế giới thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã gặp một số vụ kiện, đặc biệt là những vụ kiện bán phá giá mà càng ngày càng trở thêm nhiều, thưa ông. Ông thấy rằng đến nay thì họ đã chuẩn bị cho các vụ kiện đó như thế nào rồi, thưa ông ạ?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Tôi nghĩ rằng câu chuyện những sự kiện xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tôi nghĩ rằng đấy không phải là chuyện ngoại lệ, đặc biệt là với những chuyện bán phá giá thì tôi nghĩ rằng đối với Việt Nam cho đến ngày hôm nay thì cũng chưa nhiều, trên dưới 10 vụ thôi nếu tính tất cả. Như vậy so với các nước khác bình thường với số dân khoảng trên dưới 100 triệu có quan hệ với 160 nước và thị trường như vậy thì tôi nghĩ rằng đấy là quá ít so với các nước khác.
Nhưng dù sau đi nữa những vụ kiện chống bán phá giá ấy là những bài học cho doanh nghiệp Việt Nam mà bài học nào thì cũng phải trả giá thôi. Cho nên tôi nghĩ rằng những vụ kiện như thế đấy cũng là những bài học mà doanh nghiệp Việt Nam cần phải học tập, cần phải rút ra những kết luận. Bản thân tôi thấy rằng các doanh nghiệp Việt Nam cũng có những chuyển hướng rất nhanh.
Tôi ví dụ như vụ cá basa với Hoa Kỳ chẳng hạn thì Việt Nam đã đa dạng hóa ngay thị trường của mình chứ không phải có một thị trường cá basa ở Hoa Kỳ thôi. Đấy là một.
Cái thứ hai ví dụ như vụ tôm chẳng hạn thì cũng biết liên kết với các doanh nghiệp của các nước khác để tham gia, bảo vệ quyền lợi của mình. Và tôi nghĩ rằng vụ kiện tôm cũng là một bài học rất là hay cho các doanh nghiệp Việt Nam khi gặp những tình huống tương tự như vậy.
Tôi nghĩ rằng doanh nghiệp Việt Nam càng ngày sẽ càng khôn hơn, sẽ vững hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp này.
Gia Minh: Thưa ông, để cho khôn, cho vững thì phải nắn vững luật. Vấn đề luật pháp ở Việt Nam được xây dựng ra sao thưa ông ạ?
Ô Hoàng Phước Hiệp: Năm 2002 thì Việt Nam đã có pháp lệnh về chống bán phá giá và pháp lệnh về chống trợ cấp. Đấy là những pháp lệnh mà doanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm, bởi vì những vấn đề này là những vấn đề rất mới đối với doanh nghiệp Việt Nam. Cho nên từ năm 2002 thì doanh nghiệp Việt Nam đã được nghiên cứu, đã được phổ biến, học tập về những vấn đề trợ cấp, chống bán phá giá.
Tuy vậy, thực tiễn nó còn ít, thực ra là quá ít, có khoảng trên dưới 10 vụ thì đối với hàng nghìn doanh nghiệp thì đấy là con số quá bé. Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới nó sẽ phát sinh những vụ kiện tiếp và qua những vụ kiện ấy thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ khôn hơn. Và pháp luật Việt Nam thì ngày càng hoàn thiện hơn qua sự xử lý các vấn đề đấy.
Gia Minh: Chân thành cám ơn ông Hoàng Phước Hiệp ạ đã cho chúng tôi cuộc nói chuyện hôm nay.