Đối Thoại                                               Website: Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Việt Nam và WTO

 

2005.11.23

Tiến sĩ Trần Văn Hiển - Nguyễn An

Thưa quý thính giả, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO cả thập kỷ trước. Tuy nhiên, việc trở thành hội viên của tổ chức quốc tế này mới chỉ trở nên cấp thiết trong đôi ba năm trở lại đây, khi nền kinh tế đã có những bước phát triển tốt song song với yêu cầu hội nhập vào thế giới ngày càng cấp thiết hơn.

Để tìm hiểu quá trình Việt Nam xin gia nhập WTO cùng những vấn đề liên quan đến việc gia nhập ấy, ban Việt ngữ đài Á châu tự do đã thực hiện một loạt cuộc trao đổi với Tiến sĩ Trần Văn Hiển, giáo sư đại học và CPA ở tiểu bang Texas, Hoa kỳ. Giáo sư Hiển hàng năm đi công tác ở Việt Nam cho đại học của ông. Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ vào giáo sư Hiển.

Bài 1: Yếu tố con người trong phát triển kinh tế

Nguyễn An: Chào giáo sư Trần Văn Hiển. Liên quan đến chuyện Việt Nam xin gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thì theo ông ta cần phải bàn những vấn đề gì?

Trần Văn Hiển: Trước nhất tôi có lời cảm tạ đài Á châu tự do cho tôi cơ hội chia sẻ sự hiểu biết của tôi với người Việt khắp nơi trên thế giới.

Mục đích những bài phân tích kinh tế của tôi về việc Việt Nam gia nhập WTO là giúp người Việt trong và ngoài nước hiểu rõ một vấn đề rất quan trọng và phức tạp cho tương lai đất nước. Sự hiểu biết này sẽ giúp người Việt chúng ta cùng nhau giúp đất nước thay đổi để có một chính quyền pháp trị hơn, minh bạch hơn, hợp lý hơn trong sự quản lý nền kinh tế, để tạo một môi trường lành mạnh cho sự phát triển kinh tế vững bền ở cấp bậc cao.

Trong ý hướng ấy, tôi xin trình bày với thính giả 7 đề tài sau đây:

Quốc gia nào có nhiều tổ chức kinh tế lớn với năng suất cao, sẽ là một quốc gia giàu có, còn ngược lại sẽ nghèo đói. Để tạo dựng được những tổ chức kinh tế lớn, giàu và mạnh, quốc gia phải có con người nhiều khả năng. Do đó, điều cực kỳ quan trọng cho mọi quốc gia là phải tạo ra được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển con người trước. Con người với nhiều khả năng sẽ là động lực đẩy đất nước đi lên.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

- Yếu tố con người trong sự phát triển kinh tế.
- Cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam.
- Tại sao Việt Nam cần phải nhập vào WTO
- WTO là gì và Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình gia nhập tổ chức này.
- Sự gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam giải quyết một số thử thách kinh tế trầm trọng như thế nào?
- Người nước ngoài có thể giúp Việt Nam thay đổi, để tiến lên qua mô hình WTO.
- Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cần phải làm gì để trở thành một quốc gia phú cường?

Nước giàu và nước nghèo

Nguyễn An: Vậy hôm nay xin được bàn vấn đề thứ nhất, yếu tố con người trong phát triển kinh tế. Nói đến phát triển kinh tế, là nói đến nước giàu và nước nghèo. Theo ông giữa hai loại quốc gia này, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là gì?

Trần Văn Hiển: Sự khác biệt rất lớn giữa nước giàu và nước nghèo, nằm ở yếu tố con người. Ví dụ như vùng đất tên gọi là California chạy dài từ nước Mỹ qua đến Mễ tây cơ. California phía bên Mỹ thì trù phú thịnh vượng, trong khi đó California bên Mễ thì nghèo nàn lạc hậu. Chổ giàu có nhiều tổ chức kinh tế lớn với năng suất cao. Chổ nghèo thì chẳng có tổ chức kinh tế nào lớn cả.

Sở dĩ những tổ chức kinh tế lớn đạt được năng suất cao, vì họ thấu hiểu khách hàng cần gì, họ phục vụ khách hàng tận tâm, chuyên môn hoá công việc, có tổ chức chặt chẽ gắn liền lợi ích của công ty với lợi ích của nhân viên. Thêm vào đó tổ chức kinh tế lớn có nhiều vốn, có thể làm những chuyện lớn và lâu dài được.

Quốc gia nào có nhiều tổ chức kinh tế lớn với năng suất cao, sẽ là một quốc gia giàu có, còn ngược lại sẽ nghèo đói. Để tạo dựng được những tổ chức kinh tế lớn, giàu và mạnh, quốc gia phải có con người nhiều khả năng. Do đó, điều cực kỳ quan trọng cho mọi quốc gia là phải tạo ra được một môi trường lành mạnh cho sự phát triển con người trước. Con người với nhiều khả năng sẽ là động lực đẩy đất nước đi lên.

Ðộng lực đưa đất nước tiến lên

Nguyễn An: Thế xin GS cho biết, chúng ta cần phải đào tạo như thế nào để con người trở thành động lực đưa đất nước tiến lên?

Trần Văn Hiển: Về vấn đề đào tạo con người, có tất cả là năm lảnh vực đào tạo như sau:

Người Việt Nam rất thông minh và chịu khó, nhưng nước Việt Nam rất nghèo. Sự nghèo khó này cho thấy là yếu tố con người ở Việt Nam vẫn còn rất kém. Đây là lỗi chung của xã hội vì đại đa số các nước Á châu và Phi châu là thế.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

Yếu tố cơ bản - gồm có sức khỏe; hiểu biết tổng quát về khoa học, về mối tương quan giữa con người với môi trường, với xã hội và với thế giới; có tinh thần trách nhiệm; có lòng tự tin; năng động; có thể suy nghĩ và hành động độc lập; thành thật và đạo đức; tôn trọng mọi người; can đảm nói lên sự thật; can đảm nhận và thực hiện những thử thách mới, có tinh thần lạc quan; có chí ganh đua cao.

Yếu tố chuyên môn công việc - gồm có những chuyên môn cần khi làm việc kiếm sống như bác sĩ, dược sĩ, kế toán, thợ nề, thợ mộc, v.v… Chuyên môn đòi hỏi nhiều về trí tuệ và nền kinh tế đang cần, thường được lương cao.

Yếu tố giao tiếp - gồm khả năng làm việc chung một cách hòa giải với mọi người, được nhiều người tin, ít kẻ chống đối, có nhiều bạn, có khả năng giải quyết những tranh chấp, có thể thuyết phục người khác, v.v..

Yếu tố sáng tạo - gồm những khả năng tạo nên được những gì mới lạ mà xã hội cần như sản phẩm mới, dịch vụ mới, tư tưởng hay ý kiến mới, tổ chức kinh tế mới, thị trường mới, phong cách làm việc hữu hiệu mới, v.v…

Yếu tố lãnh đạo - gồm có khả năng liên kết những cá nhân riêng rẽ thành một tổ chức kinh tế vững chắc hữu hiệu; có tầm nhìn cao, xa, rõ rệt; tạo được mối quan hệ với những tổ chức kinh tế trong và ngoài nước một cách hữu ích, hòa giải, đạo đức, ngay thẳng, và có nhiều lợi ích; xác định rõ các mục tiêu có thể đạt được và truyền bá cho nhân viên; hiểu rõ được những nhu cầu của nhân viên và gắn liền nhu cầu này vào mục tiêu của tổ chức kinh tế; tạo sự gắn bó, trung thành và nhiệt tâm lâu dài của nhân viên với tổ chức kinh tế, biết cách tăng cường năng suất chung của tổ chức kinh tế.

Con người của nước nghèo thường thiếu những yếu tố quan trọng này, hay là những người có yếu tố này, không được dụng vào những vị trí tương ứng.

Vai trò của nhà nước

Nguyễn An: Từ những điều vừa nói về yếu tố con người, ông có thể nói về vai trò của nhà nước trong sự phát triển yếu tố con người và sự tạo dựng những tổ chức kinh tế lớn với năng suất cao không?

Trần Văn Hiển: Vấn đề phát triển con người và phát triển kinh tế là chuyện chung của cá nhân, gia đình, chính quyền và xã hội. Ai cũng có thể tham gia vào sự phát triển này. Tuy nhiên vai trò của nhà nước rất là quan trọng như sau:

Chúng tôi hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp thêm. Xin gửi E mail về Vietnamese@www.rfa.org hay gọi điện đến 202 530 7775

- Chính quyền tạo một môi trường chính trị và kinh tế vĩ mô ổn định cho mọi người làm việc.

- Chính quyền giáo dục người dân những yếu tố con người nêu ra trong bài này.

- Chính quyền có thể làm gương sáng cho cá nhân bằng cách trung thực, đạo đức, tôn trọng sự thật, công bằng, có tinh thần trách nhiệm với người dân, dùng người dân đúng chỗ, dựa trên tài năng của họ hơn là dựa trên bè phái, v.v..

- Chính quyền tạo một môi trường pháp lý lành mạnh trong đó người dân có thể phát huy mọi yếu tố con người, được tự do hội họp để tạo nên tổ chức kinh tế mới, và được tự do buôn bán với mọi người xa gần.

Nguyễn An: Vừa rồi là ông nói chung các chính quyền. Trường hợp của Việt Nam thì sao?

Trần Văn Hiển: Người Việt Nam rất thông minh và chịu khó, nhưng nước Việt Nam rất nghèo. Sự nghèo khó này cho thấy là yếu tố con người ở Việt Nam vẫn còn rất kém. Đây là lỗi chung của xã hội vì đại đa số các nước Á châu và Phi châu là thế. Nếu chúng ta muốn hiểu được sự yếu kém của chính quyền Việt Nam ra sao trong sự đào tạo con người, chúng ta có thể nhìn vào ba dữ kiện sau:

Hệ thống giáo dục của Việt Nam ra sao? Việt Nam không có những tổ chức kinh tế lớn, năng suất cao và giàu mạnh, cho thấy rằng hệ thống giáo dục của Việt Nam trong 70 năm qua không đào tạo người dân với những yếu tố con người cao như giao tiếp, sáng tạo và lãnh đạo hay những ngưòi tài không được dùng đúng chỗ.

Chính quyền có minh bạch không? Theo Transparency International, sự minh bạch của chính quyền Việt Nam rất kém. Năm 2004 bị xếp thứ ba từ chót đếm lên trong khu vực, hơn được Indonesia và Miến Điện. Do đó, chính quyền Việt Nam cần phải thay đổi nhiều lắm trước khi được làm gương sáng cho người dân.

Người dân có được tự do phát triển không?

Theo tổ chức Freedom House, chính quyền Việt Nam hạn chế rất nhiều tự do cho sự phát triển con người. Năm 2004 bị xếp thứ nhì từ chót đếm lên trong khu vực, hơn được Miến Điện. Một lần nữa chính quyền Việt Nam còn rất nhiều việc lớn phải làm trong sự nâng cao yếu tố con người cho phát triển kinh tế.

Nguyễn An: Xin cảm ơn giáo sư Trần Văn Hiển.

Vừa rồi là cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ và Tiến sĩ Trần Văn Hiển về vốn con người trong phát triển kinh tế, là phần đầu của loạt bài phân tích kinh tế về Việt Nam và WTO. Chủ đề thảo luận kỳ tới sẽ là, cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, mong quý thính giả đón nghe. Cũng xin nhắc rằng ý kiến của giáo sư Hiển không nhất thiết phản ánh quan điểm của ban Việt ngữ đài Á châu tự do, và chúng tôi hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp thêm. Xin gửi E mail về vietnamese@www.rfa.org hay gọi điện đến 202 530 7775.

 

Việt Nam và WTO (II)

2005.11.23

Tiến sĩ Trần Văn Hiển - Nguyễn An

Thưa quý thính giả, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO cả thập kỷ trước. Tuy nhiên, việc trở thành hội viên của tổ chức quốc tế này mới chỉ trở nên cấp thiết trong đôi ba năm trở lại đây, khi nền kinh tế đã có những bước phát triển tốt song song với yêu cầu hội nhập vào thế giới ngày càng cấp thiết hơn.

 

Hạ tầng cơ sở của Việt Nam rất là kém cho nhu cầu hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước. AFP PHOTO

Để tìm hiểu quá trình Việt Nam xin gia nhập WTO cùng những vấn đề liên quan đến việc gia nhập ấy, ban Việt ngữ đài Á châu tự do đã thực hiện một loạt cuộc trao đổi với Tiến sĩ Trần Văn Hiển, giáo sư đại học và CPA ở tiểu bang Texas, Hoa kỳ.

Giáo sư Hiển hàng năm đi công tác ở Việt Nam cho đại học của ông. Trong buổi phát thanh trước, ông Hiển đã bàn về tài năng con người trong phát triển kinh tế. Kỳ này, chủ đề trao đổi là cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam. Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ vào giáo sư Hiển.

Bài 2: Cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam

Nguyễn An: Về đại thể, theo giáo sư thì cấu trúc của nền Kinh tế Việt Nam như thế nào?

Tiến sĩ Trần Văn Hiển: Năm 2004, Việt Nam có 82 triệu dân, GDP là 42 tỉ đô la, và GDP đầu người là 550 đô la. Chúng ta có thể nhìn cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam theo hai góc độ khác nhau: 1) theo ngành chuyên môn và 2) theo quyền sở hữu.

Theo góc độ chuyên môn, kinh tế Việt Nam chia làm 3 khu vực: 1) nông nghiệp, 2) kỹ nghệ và xây dựng và 3) dịch vụ.

Khu vực kinh tế nhà nước sản xuất 38% của GDP. Đây là khu vực tập trung những công ty lớn và những kỹ nghệ trọng điểm của Việt Nam. Khu vực này vẫn tăng trưởng đều về số lượng từ 1986, sau khi Việt Nam chuyển hướng qua kinh tế thị trường. Tuy nhiên sự tăng trưởng này không đem lại công ăn việc làm cho người dân bao nhiêu, trong khi cần rất nhiều trợ cấp từ chính quyền.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

Khu vực nông nghiệp sản xuất 22% của GDP, dùng 2/3 dân số.
- Khu vực kỹ nghệ và xây dựng sản xuất 40% của GDP, dùng 13% dân số
- Khu vực dịch vụ sản xuất 38% của GDP, dùng 21% dân số.

Theo góc độ ai làm sở hữu, kinh tế Việt Nam được chia làm 3 khu vực: 1) nhà nước, 2) nước ngoài, và 3) tư nhân.

Khu vực kinh tế nhà nước sản xuất 38% của GDP. Đây là khu vực tập trung những công ty lớn và những kỹ nghệ trọng điểm của Việt Nam. Khu vực này vẫn tăng trưởng đều về số lượng từ 1986, sau khi Việt Nam chuyển hướng qua kinh tế thị trường. Tuy nhiên sự tăng trưởng này không đem lại công ăn việc làm cho người dân bao nhiêu, trong khi cần rất nhiều trợ cấp từ chính quyền.

Khu vực kinh tế nước ngoài sản xuất 14% của GDP. Khu vực này phát triển rất nhanh vào đầu thập niên 90. Nhưng sau đó chậm lại nhiều.

Khu vực kinh tế tư nhân sản xuất 48% của GDP. Khu vực này bắt đầu phát triển mạnh sau chính sách đổi mới vào năm 1986, tăng vọt sau khi Việt Nam ký hiệp ước song phương với Mỹ (gọi tắt là BTA) và thông qua luật đầu tư trong nước vào năm 2001.

Trong thập niên 90, kinh tế Việt Nam phát triển khoảng 4.8%, thua nếu so với mức phát triển trung bình của khu vực là 5.8%. Những năm gần đây, nhất là sau BTA, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam bắt đầu cao hơn khu vực. Tuy nhiên vẫn thua Trung Quốc chừng 2% đến 3% mỗi năm.

Khi đọ thu nhập trên đầu người của Việt Nam, 550 đô la, với các nước nghèo trong khu vực như Trung Quốc, Philippines và Indonesia, GDP đầu người của Việt Nam dưới ½ của họ.

Hạ tầng cơ sở

Nguyễn An: Một trong những điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế là có hạ tầng cơ sở vững mạnh. Trường hợp của Việt Nam ra sao?

Chính quyền Việt Nam không thu thuế từ người giàu. Đa số thu nhập của người giàu ở Việt Nam là tiền mặt, và hầu như họ không đóng thuế. Vì không thu đủ thuế, chính quyền Việt Nam không đủ tiền xây hạ tầng cơ sở.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

Tiến sĩ Trần Văn Hiển: Về hạ tầng cơ sở thì Việt Nam rất là kém cho nhu cầu hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước. Một vài ví dụ như sau:

Ví dụ 1. Đất nước không có những hệ thống vận chuyển tối tân để vận chuyển người và hàng hóa giữa hai miền Nam Bắc, giữa thôn quê và thành thị, giữa vùng xa với các trung tâm thương mại.

Ví dụ 2. Ô nhiễm môi trường rất nặng trong những thành phố lớn, và hiểm họa y tế như SARS và cúm gà hoành hành Việt Nam.

Ví dụ 3. Trong những thập niên qua, Việt Nam đạt được nhiều kết quả tốt trong giáo dục phổ thông, và đại đa số người dân biết đọc biết viết. Tuy nhiên bậc đại học của Việt Nam vẫn kém xa các nước trong khu vực.

Nguyễn An: Giáo sư có thể giải thích tại sao, nhà nước Việt Nam không xây dựng được hạ tầng cơ sở tốt cho sự phát triển kinh tế không?

Tiến sĩ Trần Văn Hiển: Tôi nhìn thấy một số lý do như sau:

Chính quyền Việt Nam không thu thuế từ người giàu. Đa số thu nhập của người giàu ở Việt Nam là tiền mặt, và hầu như họ không đóng thuế. Vì không thu đủ thuế, chính quyền Việt Nam không đủ tiền xây hạ tầng cơ sở.

Chính quyền Việt Nam ít khả năng huy động vốn của người dân. Khi chính quyền Việt Nam bán công khố phiếu cho người dân, không có mấy ai tình nguyện mua. Vì vậy chính quyền Việt Nam không có thêm một phương cách hữu hiệu khác thu tiền cho xây dựng hạ tầng cơ sở.

Chính quyền với minh bạch thấp đưa đến nhiều công trình xây dựng bị đình trệ, hay xây dựng với chất lượng rất kém.

Khu vực kinh tế quốc doanh, về vấn đề buôn bán với những công ty hoặc cá nhân khác, thì vẫn bình thường thôi, nghĩa là thị trường định giá cho sản phẩm của họ. Sự khác biệt lớn nhất giữa họ và những công ty khác là: 1) liên hệ với nhà nước, 2) phong cách làm việc, 3) thành tựu.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

Khu vực kinh tế quốc doanh

Nguyễn An: Chính phủ Việt Nam chủ trương kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Vậy khu vực quốc doanh tại Việt Nam hoạt động thế nào?

Tiến sĩ Trần Văn Hiển: Khu vực kinh tế quốc doanh, về vấn đề buôn bán với những công ty hoặc cá nhân khác, thì vẫn bình thường thôi, nghĩa là thị trường định giá cho sản phẩm của họ. Sự khác biệt lớn nhất giữa họ và những công ty khác là: 1) liên hệ với nhà nước, 2) phong cách làm việc, 3) thành tựu.

Về liên hệ với nhà nước, đây là những điều quan trọng:

- Công ty nhà nước là những công ty nắm những ngành trọng điểm mà nhà nước ấn định. Có nhiều cơ hội được độc quyền.

- Được cấp giấy phép nhanh chóng. Đây là một lợi điểm rất lớn vì xin giấy phép ở Việt Nam là một chuyện khó khăn và tốn kém không lường được.

- Có thể được trợ cấp/đầu tư từ ngân sách nhà nước. Mỗi năm nhà nước dùng gần một nửa ngân sách để trợ cấp những công ty quốc doanh.

- Được cho đất, hay thuê đất với giá rất hạ. Đất ở Việt Nam đắt như vàng, được cấp đất như được cấp vàng.

- Được ngân hàng nhà nước cho vay dễ dãi.

Nhìn vào cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế tư nhân là hầu như 80%-90% là kinh tế thị trường. 10%-20% không thị trường là do sự khó khăn trong việc xin giấy phép từ nhà nước Việt Nam và điều này đưa đến nền kinh tế Việt Nam kém tính cạnh tranh hơn những nền kinh tế thị trường khác mà việc xin giấy phép dễ dàng hơn.

Tiến sĩ Trần Văn Hiển

- Được các cơ quan nhà nước khác giúp đỡ, không bị vòi vĩnh.

Về phong cách làm việc, có 3 điều chính:

- Lương rất thấp và lợi nhuận của công ty không gắn liền với lợi nhuận của nhân viên đưa đến nhân viên làm việc kém năng suất.

- Công ty thường vướng bận bởi những thủ tục hành chính phức tạp

- Đảng ủy của Đảng CS (không phải giám đốc công ty) quyết định mọi chuyện quan trọng như về nhân sự và hành chính như là chọn lãnh đạo, đầu tư, sa thải nhân viên, v.v.

Về thành tựu, có bốn điều quan trọng:

- Vẫn tăng trưởng đều đều về số lượng trong hai thập niên qua mặc dù nền kinh tế đang chuyển hướng qua kinh tế thị trường.

- Năng suất thấp. Vì ít quyền lợi đưa đến nhân viên làm hết giờ hơn là làm hết trách nhiệm.

- Chi phí đầu tư rất cao. Theo bài nghiên cứu của David Deprice của ĐH Harvard, cho thủ tướng Phan Văn Khải, thì Việt Nam cần đầu tư 3 dollars để tạo ra một dollar mới cho GDP khi đầu tư vào khu vực tư nhân, nhưng cần đến 5 dollars, hay 80% hơn, khi đầu tư vào khu vực quốc doanh.

Chúng tôi hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp thêm. Xin gửi E mail về Vietnamese@www.rfa.org hay gọi điện đến 202 530 7775.

- Không tạo được nhiều công ăn việc làm cho người dân, mặc dầu được nhà nước ưu đãi.

Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

Nguyễn An: Nhà nước Hà Nội thường tuyên bố Việt Nam là một nước kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Là người từng về Việt Nam nhiều lần và với cái nhìn của một nhà kinh tế, ông nhận xét thế nào về cái định hướng Xã hội chủ nghĩa ấy?

Tiến sĩ Trần Văn Hiển: Nhìn vào cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế tư nhân là hầu như 80%-90% là kinh tế thị trường. 10%-20% không thị trường là do sự khó khăn trong việc xin giấy phép từ nhà nước Việt Nam và điều này đưa đến nền kinh tế Việt Nam kém tính cạnh tranh hơn những nền kinh tế thị trường khác mà việc xin giấy phép dễ dàng hơn.

Khu vực kinh tế quốc doanh chiếm 38% của GDP. Khu vực này chỉ là kinh tế thị trường 10%-20% vì giá cả được định bởi thị trường. Còn tất cả những gì còn lại thì chẳng khác gì khu vực kinh tế quốc doanh của các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Nguyễn An: Cảm ơn Tiến sĩ Trần Văn Hiển.

Vừa rồi là cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ và Tiến sĩ Trần Văn Hiển về cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, là bài thứ hai của loạt bài phân tích kinh tế về Việt Nam và WTO. Chủ đề thảo luận kỳ tới sẽ là, sự cần thiết gia nhập WTO của Việt Nam, mong quý thính giả đón nghe.

Cũng xin nhắc rằng ý kiến của giáo sư Hiển không nhất thiết phản ánh quan điểm của ban Việt ngữ đài Á châu tự do, và chúng tôi hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp thêm. Xin gửi E mail về vietnamese@www.rfa.org hay gọi điện đến 202 530 7775.

Theo dòng thời sự