Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
ĐA ĐẢNG VÀ CHÍNH ĐẢNG ĐỐI LẬP TRONG HIẾN PHÁP 1949 CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC ( I ). |
NGUYỄN HỌC TẬP
I - Phần lý thuyết.
Có lẽ đọc thoáng qua Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, người đọc, nhứt là những người ngoại cuộc như chúng ta, khó tìm được những điều khoản rõ rệt liên quan đến việc bảo đảm tính cách đa nguyên, đa đảng và thành phần đối lập.
Nhưng trong tâm khảm người Đức, nhứt là những nhà soạn thảo Hiến Pháp 1949, vừa thoát khỏi cơn ác mông độc tài kinh hoàng của Rudolf Hitler, không thể nào bỏ sót yếu tố quan trọng trong việc thiết lập lại “ dân chủ bảo đảm” mà họ nhằm đạt tới và chính Hiến Pháp là văn bản bảo chứng tiên khởi cho nền dân chủ nhân bản Quốc Gia.
Hiểu được tâm trạng đó, chúng ta thử tìm những tư tưởng xác định để bảo đảm cho Quốc Gia một cuộc sống dân chủ đa nguyên, đa đảng và bảo đảm cho thành phần đối lập với Chính Quyền đương nhiệm, mà chúng tôi nghĩ là yếu tố không thể thiếu để bảo vệ dân chủ nhân bản.
Đọc qua văn bản, các định nghĩa, cách phân chia chương mục và tiểu đoạn, chúng ta thấy được bốn định hướng cột trụ là nền tảng cho toà nhà Hiến Pháp 1949:
1 – nguyên tắc dân chủ tự do.
2 – nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị.
3 – nguyên tắc cơ chế Liên Bang.
4 – nguyên tắc bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người ( Schneider-Zeh, Parlamentsrech und Parlamentspraxis in der Bundesrepublik Deutschland, Berlin-New York 1989).
A – Nguyên tắc dân chủ tự do.
Nguyên tắc dân chủ tự do được hai điều 20 và 28 của Hiến Pháp 1949 tuyên bố:
- “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc gia Liên Bang, Dân chủ và Xã hội”.
Mọi quyền lực Quốc gia đều phát xuất từ dân chúng. Dân chúng hành xử quyền lực của mình trong các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan đặc trách của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 20, đoạn 1 và 2, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
- “ Thể chế hiến định của các Tiểu Bang ( Laender) phải hợp với nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị, Cộng Hoà, Dân Chủ và Xã Hội, theo tinh thần của Hiến Pháp nầy. Ở các Tiểu Bang, Vùng ( Kreise) và Xã Ấp ( Gemeinde), dân chúng phải có được thành phần đại diện do các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, id.).
Qua tinh thần của hai điều khoản vừa kể, chúng ta có thể rút ra những hệ luận liên quan đến các chính đảng và thành phần đối lập:
- các chính đảng và thành phần đối lập được thể chế dân chủ bảo đảm,
- các chính đảng và thành phần đối lập là yếu tố bảo đảm dân chủ, đối với Chính Phủ đương nhiệm, bắt buộc Chính Phủ phải hành quyền với trách nhiệm của mình.
- chính đảng và thành phần đối lập hiện tại là yếu tố quyết định tổ chức hành chánh luân phiên trong tương lai.
1 - Trước hết địa vị và vai trò các chính đảng và thành phần đối lập được thể chế dân chủ bảo đảm.
Các chính đảng đương quyền hay chính đảng đối lập là một phần dân chúng trong cộng đồng Quốc Gia, được tổ chức theo thể chế “ Dân chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (điều 20, đoạn 2, id.).
Trong một Quốc Gia dân chủ, một trong những nguyên tắc căn bản không thể thiếu là quyền bình đẳng:
- “ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.
“ Người nam và người nữ đều có quyền như nhau”.
“ Không ai có thể bị thiệt hai hoặc được ưu đãi do phái tính, sinh trưởng, chủng tộc, gia đình, ngôn ngữ, quốc tịch, xuất xứ, tín ngưỡng, ý kiến tôn giáo và chính trị ” (Điều 3, đoạn 1, 2 và 3, id.).
Trong tinh thần dân chủ và bình đẳng vừa kể, tư tưởng thành phần các chính đảng đối lập được Hiến Pháp bảo đảm, đã được Viện Bảo Hiến ( Bundesverfasssungsgericht) long trọng xác nhận:
- “ Quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập nằm trong các nguyên tắc căn bản của nền tảng tự do và dân chủ, chiếu theo điều 21, đoạn 2 của Hiến Pháp, bên cạnh các nguyên tắc về trách nhiệm của Chính Phủ, nguyên tắc đa nguyên và nguyên tắc liên quan đến việc các chính đảng đều có cơ hội như nhau ” ( BverfGE 2, 1; 5, 85).
Và sau đây là điều 21, đoạn 2 mà Viện Bảo Hiến đề cập:
- “ Các chính đảng có chủ đích hoặc cách hành xử của các đảng viên thuộc hệ có ý phá hoại, loại trừ thể chế căn bản tự do, hoặc hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hòa Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến…”.
Dĩ nhiên “ các chính đảng bất hợp hiến” mà các nhà soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD nhằm trước tiên chắc chắn là những tổ chức phía bên kia (Đông Đức), bởi lẽ Hiến Pháp đang được viết lúc đất nước còn bị chia đôi.
Nhưng tư tưởng của các vị không chỉ hạn hẹp vào những tổ chức “ phía bên kia” thôi, khi các vị viết lên nguyên tắc trên.
Mục đích của Hiến Pháp mà qúy vị đang viết là để bảo đảm nền dân chủ cho dân tộc, sau những đại hoạ chết chóc và đổ nát của thế chiến thứ II mà Hitler đã tạo nên cho đất nước với đường lối độc tài, độc đảng, coi con người như sút vật của ông ta.
Các vị muốn bảo đảm cho nền dân chủ tự do mà dân tộc Đức mong thấy được thực hiện và tồn tại.
Do đó Hiến Pháp phải là “ hàng rào bảo đảm chống lạm quyền” ( Garantismus) bất cứ từ đâu đến, từ “ phía bên kia”, hay phía “ bồ nhà” cũng vậy, phía “đa số đương quyền” hay phía “ chính đảng đối lập” cũng vậy.
“ …Quốc Gia Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (Điều 20, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD) sẽ coi là “ bất hợp hiến”, có nghĩa là đặt ra ngoài vòng pháp luật bất cứ thành phần phe phái nào, “ phía bên kia” ( Cộng Sản Đông Đức) hay “ phía bồ nhà ” ( các chính đảng trong lãnh thổ Tây Đức lúc đó), các chính đảng đương quyền ( Chính Phủ ) hay các chính đảng đối lập cũng vậy.
Không ai có thể vi phạm thể chế “ Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” của Quốc Gia!
Điều đó cho thấy các chính đảng đối lập được bảo vệ chống lại mọi cách hành xử quyền lực Quốc Gia thiên vị, phe phái, áp bức tùy hỷ của giới đương quyền.
Nguyên tắc bảo đảm cho quyền tự do thành lập chính đảng và hoạt động đối lập trong thể chế dân chủ của “…Quốc Gia Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” phát xuất từ đó.
Còn nữa, đi sâu hơn vào việc áp dụng nguyên tắc dân chủ, bình đẳng trong các hoạt động Quốc Gia, chúng ta càng thấy rõ hơn việc bảo đảm cho các chính đảng đối lập phát xuất từ nguyên tắc dân chủ:
- “ Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag) biểu quyết với đa số phiếu đồng thuận, trừ các trường hợp Hiến Pháp nầy quyết định cách khác. Đối với những cuộc bầu cử nội bộ Hạ Viện, điều lệ nội bộ có thể dự liệu các trường hợp ngoại lệ” (Điều 42, đoạn 2, id.).
- “Đa số thành viên Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag) và Thượng Viện Liên Bang (Bundesrat), theo tinh thần của Hiến Pháp nầy là đa số của tổng số các thành viên được luật pháp quy định ” (Điều 121, id.).
Với nguyên tắc dân chủ “ thiểu số phục tùng đa số ” vừa được nêu lên trong hai điều 42, đọan 2 và điều 121 của Hiến Pháp 1949 CHLBD, mặc nhiên Hiến Pháp cũng thừa nhận cho các chính đảng thiểu số đối lập, không thuộc thành phần đa số đương quyền trong Chính Phủ và Quốc Hội, cũng có cơ hội và điều kiện tự do ảnh hưởng đến việc tạo ảnh hưởng của đa số: có tiếng nói để phát biểu ý kiến và đặt điều kiện với thành phần đa số trong Quốc Hội và trong Chính Quyền, cũng như cho dân chúng thấy đâu là quan niệm đúng đắn, chương trình khả thi và hiệu năng, không thiên vị, phe phái đảng trị, không phung phí tài nguyên Quốc Gia mà vẫn đạt được lợi ích cho mỗi người và cho cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia.
Điều vừa kể, các chính đảng đối lập có cơ hội và điều kiện nói lên ý kiến của mình và đặt điều kiện với giới đương quyền, được điều 21 Hiến Pháp đứng ra bảo đảm:
- “ Các chính đảng cộng tác vào việc tạo nên đường hướng chính trị của dân chúng ” (Điều 21, đoạn 1, id.).
Ý nghĩa vừa kể của điều khoản Hiến Pháp cho thấy đường lối chính trị lãnh đạo Quốc Gia không phải chỉ là đường lối độc tôn như giáo điều của
- “ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và Xã Hội” (Điều 4, Hiến Pháp CHXHCNVN),
mà kết quả của lập trường các chính đảng đa số đương quyền, cùng với ý kiến và điều kiện của các chính đảng đối lập, có khả năng “ảnh hưởng, đặt điều kiện, điều hoà,cắt tỉa, hảm thắng bớt ” chính hướng của đa số, với mục đích sao hành động có lợi cho đất nước.
Như vậy, thể chế dân chủ tự do bảo đảm cho các chính đảng đối lập có khả năng “ảnh hưởng, đặt điều kiện, điều hòa, cắt tỉa, hảm thắng bớt ” chính hướng của đa số, mặc nhiên nói lên tính cách chính danh( légittime) các quyết định của đa số đương quyền và hành động của Chính quyền là hành động theo thể thức dân chủ.
Bởi lẽ các quyết định và hành động của Chính Quyền đều được “ lọc qua” chính kiến của các chính đảng đối lập ( Gherig, Parlament – Regierung – Opposition: Dualismus als Voraussetzung fuer eine parlamentarissche Kontrolle der Regierung, Muenchen 1969, 189s).
2 + 3: Các chính đảng thiểu số đối lập là tiếng nói bảo chứng của phương thức dân chủ đối với hành động có trách nhiệm của Chính Quyền và là yếu tố quyết định cho tổ chức hành quyền luân phiên trong tương lai.
Sự hiện diện của các chính đảng đối lập trong thể chế dân chủ là tiếng nói bảo chứng luôn luôn gióng lên ben tai giới đương quyền rằng quyền hành của họ là quyền hành có giới hạn trong lằn mức hiến định và pháp định, và trong khoản thời gian cố định được Hiến Pháp tiền liệu.
Chính Quyền không được “ tác oai, tác quái ” hành xử quyền lực đất nước tùy hỷ và “kéo dài thời gian tác quyền vô hạn định”, coi đồng bào như là thần dân phải phục dịch cho và đất nước như tư hữu của ông bà họ để lại, như những ai tự cho mình là
“ …đội ngủ tiền phong của giai cấp công nhân,… đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, tự cho mình có quyền “…theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và Xã Hội ”
để áp lên đầu lên cổ dân Việt Nam.
Trong thể chế dân chủ tự do, tất cả những đặc tính và tước hiệu ngoạn mục vừa kể, “đội ngủ tiền phong,… đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân,…lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”, phải do “ công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc” phong cho bằng cách đứng ra “ biểu quyết với đa số phiếu đồng thuận” trong các cuộc
“ phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Nếu không, những tước hiệu và chức vụ ngoạn mục vừa kể chỉ là những đặc tính và tước hiệu, chức vụ vô giá trị của những kẻ tiếm quyền, chuyên chế, tự tôn (autocrate) và tự phong cho, dẩu cho đất nước có được gọi là “ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân” cũng vậy.
Ngoài ra, các tước hiệu và chức vụ phải được Hiến Pháp xác định không những bằng cách hành xử theo luật pháp, mà còn trong thời gian giới hạn, nếu không “ công nhân…, nhân dân lao động và cả dân tộc…” có thể lầm tưởng rằng “ Đảng và …đội ngủ tiến phong…, đại biểu trung thành…, lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội ” là bè đảng của nhóm “ Độc Tài Toàn Trị ” ( Dictatorialisme- Totalitarisme) hay nhóm “ Quân Chủ Độc Tôn” ( Monarchie Absolue) mà các máy chém của của thời Cách Mạng Pháp 1789 chưa thanh toán hết.
Tước hiệu và thời gian của quyền lực Quốc Gia trong thể chế dân chủ tự do phải được dân chúng phong tước cho và được Hiến Pháp ghi nhận làm bảo chứng.
Đó là những gì Hiến Pháp 1949 CHLBD ghi lại:
- “ Các dân biểu Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD),
- “ Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn có thẩm quyền bốn năm. Chu kỳ quyền hạn của Hạ Viện chấm dứt đồng thời với phiên họp đầu tiên của Hạ Viện mới” (Điều 39, đoạn 1, id., tu chính 23.08.1976).
- “ Tổng Thống Liên Bang được Hội Đồng Quốc Gia ( Bundesversammlung) tuyển chọn, không cần tranh luận” (Điều 54, đoạn 1, id.).
- “ Nhiệm kỳ của Tổng Thống kéo dài 5 năm. Việc tái cử liền sau nhiệm kỳ vừa chấm dứt chỉ được chấp nhận thêm một lần” (Điều 54, đoạn 2, id.).
- “ Hạ Viện Liên Bang có thể bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Bang, nếu đa số dân biểu đồng thuận chọn vị Thủ Tướng kế vị ( konstruktive Misstrauensvotum: bất tín nhiệm xây dựng), và yêu cầu Tổng Thống triệu hồi quyền hạn của Thủ Tướng” (Điều 67, đoạn 1, id.).
- “ Nhiệm vụ của Thủ Tướng và các Bộ Trưởng Liên Bang chấm dứt, khi Hạ Viện Liên Bang mới bắt đầu nhóm họp. Nhiệm vụ của Bộ Trưởng Liên Bang( và của cả Nội Các ) chấm dứt, mỗi khi Thủ Tướng hết quyền hạn” (Điều 69, đoạn 2, id.).
Qua nhnữg suy tư và trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng trong thể chế dân chủ, quyền hành của giới đương nhiệm được Hiến Pháp giới hạn bằng thể thức được giao phó, lãnh vực xác định và thời gian có giới hạn.
Đó là ý nghĩa và nhiệm vụ chính của các Hiến Pháp Tây Âu nói chung và CHLBD nói riêng.
Nhiệm vụ chính của Hiến Pháp không phải là để nêu lên phương thức tổ chức Quốc Gia nói chung và Chính Quyền nói riêng.
Hiến Pháp có mục đích khởi thủy và ưu tiên là bảo vệ con người và người công dân với địa vị và các quyền liên hệ, bằng cách đứng ra chỉ định thể thức tổ chức và giới hạn quyền hành của cơ chế Quốc Gia.
Nói cách khác Hiến Pháp nêu lên các phương thức tổ chức Quốc Gia, thiết định đường lối phải theo và các lằn mức hành xử quyền lực Quốc Gia không thể vượt qua là để bảo vệ và phát huy con người và người công dân.
Từ Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 trở đi, nói đến Hiến Pháp là trước tiên người ta nói đến văn bản “ giới hạn quyền hành của Chính Quyền để bảo đảm cho con người và người công dân”, trước khi là những văn bản trình bày đường lối tổ chức Quốc Gia và thể thức tổ chức Chính Quyền:
- “ Hiến Pháp được người dân Tây Âu luôn luôn hiểu đồng nghĩa là một văn bản bảo chứng (Garantismo).
Ở Tây Âu người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản thể hiện thể thức tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác tùy hỷ và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III ed., Il Mulino, Bologna 1995, 18).
Hiểu như vậy, chúng ta thấy rằng nguyên tắc thứ nhứt xác định quyền hành Quốc Gia không ai có thể vượt qua đã được Hiến Pháp 1949 CHLBD xác định:
- “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Cộng Hoà, Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (Điều 20, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
“ Con người và người công dân Đức” sống trong lằn mức đó, không một lực lượng nào, ngoại nhập từ “ phía bên kia ” hay nội tại “ phía bồ nhà ” có thể áp bức, khống chế, vi phạm nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, bao giờ Hiến Pháp còn hiện hữu
- “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là tôn trọng và bảo đảm nhân phẩm đó.
Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp” (Điều 1, đọan 1 và 3, id.)
Thể chế dân chủ tự do như vừa kể còn được tăng cường bảo vệ bởi tính cách hợp hiến của quyền tự do lập đảng và hoạt động đối lập với Chính Quyền đương nhiệm:
- “Quyền thành lập và hoạt động đối lập nằm trong nguyên tắc căn bản của thể chế dân chủ tự do” (BverfGe 2, 1; 5, 85).
- “ Chỉ nội việc thành phần các chính đảng đối lập hiện hữu và hoạt động hữu hiệu, phe đối lập là tiếng chuông cảnh tỉnh gióng bên tai giới cầm quyền đương nhiệm rằng thời gian tồn tại của Chính Quyền tại chức được tính từng ngày một. Trong tương lai sẽ có đường lối lãnh đạo Quốc Gia hiệu năng hơn và hấp dẫn hơn”(Schneider-Zeh, Parlamentsrecht und Parlamentspraxis in der Bundesrepublik Deutschland, Berlin-New York 1989, 1063-1064).
Hiểu như vậy sự hiện hữu của các chính đảng đối lập là viễn ảnh cho một nền “ Dân Chủ Luân Phiên” ( Alternanzdemokratie). Đó là một hình thức bảo vệ Dân Chủ và làm cho “ Dân Chủ cầu tiến”, “ Dân Chủ hiệu năng”, “ Dân Chủ hoàn hảo hóa”, thay vì “Dân Chủ độc tài, phe nhóm, thiên vị” hay “ Dân Chủ ngủ gà ngủ gật ”.
B - Cột trụ thứ hai của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, dựa vào đó nguyên tắc đa đảng và các chính đảng đối lập được bảo đảm, đó là nguyên tắc “ Quốc Gia Pháp Trị ”.
Sau đây là những điều khoản được Hiến Pháp tuyên bố về nguyên tắc “ Quốc Gia Pháp Trị ”:
- “ Mọi quyền lực Quốc Gia đều phát xuất từ dân chúng. Dân chúng hành xử các quyền mình trong các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt của ngành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp” (Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
- “ Quyền Lập Pháp bị giới hạn bởi các điều khoản của Hiến Pháp, quyền Hành Pháp và Tư Pháp, bởi luật pháp và các quyền ( của con người và người công dân)” (Điều 20, đoạn 3, id.).
- “ Thể chế hiến định các Tiểu Bang ( Laender) phải phù hợp với các nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị Cộng Hoà, Dân Chủ và Xã Hội, theo tinh thần của Hiến Pháp nầy. Ở các Tiểu Bang, Vùng ( Kreise) và Xã Ấp ( Gemeinde) dân chúng phải có được thành phần đại diện do các cuộc bầu cử phổ quát, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, đoạn 1, id.).
Tinh thần “ Quốc Gia Pháp Trị ” trong Tổng Thống Chế được áp dụng hơi khác, so với Đại Nghị Chế hay “ Quốc Hội Chế ” ( Parlamentarism).
Trong Tổng Thống Chế, quyền hạn của mỗi cơ quan quyền lực Quốc Gia được phân định rõ rệt (Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp), theo nguyên tắc phân quyền “ Kiểm soát và Cân bằng ” (Checks anh Balances) của Tổng Thống Chế Hoa Kỳ.
Trong Đại Nghị Chế, thể chế của hầu hết các Quốc Gia Âu Châu, kể cả các Quốc Gia còn theo thể chế Quân Chủ ( Quân Chủ Lập Hiến), Chính Quyền và thành phần đa số trong Quốc Hội mang một ý nghĩa khác hơn.
Vị Thủ Tướng Chính Phủ do thành phần đa số trong Quốc Hội (đa số tuyệt đối, 50%+1 phiếu) đề cử và Tổng Thống bổ nhiệm (Điều 63, đoạn 2, id.).
Thủ Tướng Chính Phủ và thành phần Nội Các ( các Bộ Trưởng) tuyên thệ trước Quốc Hội, để được Quốc Hội biểu quyết tín nhiệm, trước khi hành xử quyền lực Quốc Gia (Điều 64, đoạn 2, id.).
Hạ Viện Liên Bang có thể bất tín nhiệm Chính Phủ, nếu đa số dân biểu đồng thuận chọn một Thủ Tướng khác thay thế (Điều 67, đoạn 1, id.).
Và dĩ nhiên các dự án luật thường do Chính Phủ đề xướng, đưa qua Quốc Hội sẽ được đa số nghị sĩ “ bồ nhà ” của các chính đảng đa số thành viên trong Quốc Hội chấp thuận, trở thành luật.
Điều đó cho thấy trong Đại Nghị Chế, giữa Chính Phủ và thành phần đa số trong Hạ Viện luôn luôn có sự “ cấu kết, đồng thanh cộng hưởng ” trong đường lối lãnh đạo, cũng như trong các hoạt động Quốc Gia.
Nói cách khác, nguyên tắc phân quyền giữa Chính Phủ và thành phần đa số trong Hạ Viện không được áp dụng triệt để trong Đại Nghị Chế.
Trong Đại Nghị Chế, Lập Pháp và Hành Pháp có khuynh hướng sát nhập nhau thành một khối, cộng tác hơn là phân chia quyền lực.
Điều đó có thể là có nguy cơ Quốc Hội ( nhứt là Hạ Viện) và Hành Pháp toa rập nhau để khuynh đảo thể chế tự do dân chủ của Quốc Gia.
Bởi đó trong Đại Nghị Chế, cần có những thể thức khác để giới hạn quyền hành, toa rập tự tung tưụ tác bất chính, cần có những chủ thể khác để giao phó quyền kiểm soát và cân bằng “ Checks anh Balances” của Tổng Thống Chế, kiểm soát và đối kháng lại khối Hành Pháp và khối đa số trong Hạ Viện toa rập bất chính.
Đó là sự kiểm soát và đối kháng lại của các chính đảng đối lập, ngay cả trong lòng Hạ Viện, để bù trừ lại cho những gì thua thiệt của việc kiểm soát và cân bằng của Tổng Thống Chế.
Các chính đảng đối lập hành xử quyền hiến định của mình không những bằng cách chỉ trích, kiểm soát, mà còn thắng bớt, cân bằng, điều chỉnh chính hướng lãnh đạo Quốc Gia, sao cho đường lối và hoạt động của Chính Quyền “ thích hợp và hiệu năng” đối với lý tưởng và lợi ích của xứ sở.
Ngay chính việc các chính đảng đối lập đồng thuận hay phản đối, cắt giảm ngân sách công qủy hàng năm cũng là tiếng nói cảnh tỉnh cho “ thích hợp và hiệu năng ” đối với đường lối, cách tổ chức và hoạt động của Chính Phủ. Đó là chưa nói đến những ý kiến đồng thuận, sửa đổi hay phản đối trên những lãnh vực khác, đối nội cũng như đối ngoại.
Với khả năng dung hoà, hạn chế hay đồng thuận khuyến khích thể thức điều hành quyền lực Quốc Gia, bằng các hoạt động của mình, các chính đảng đối lập cộng tác tăng cường thêm “ hiệu năng” cho nguyên tắc Dân Chủ và Quốc Gia Pháp Trị, để bảo toàn và nới rộng thêm khuôn thước cho tự do cá nhân ( Gherig, Gewalenteilung zwissen Regierung und parlamentarische Opposition, in DVBL, 1971, 633s).
Khả năng dung hoà, kiểm soát, cắt xén hạn chế chính hướng và phương thức hành xử quyền lực Quốc Gia vừa kể của các chính đảng đối lập, được Hiến Pháp nêu lên ở điều 93:
- “ Viện Bảo Hiến Liên Bang ( Bundesverfassungsgericht) sẽ quyết định trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn về các vấn đề thích hợp hay không giữa luật pháp Liên Bang hay luật pháp của Tiểu bang với Hiến Pháp hiện tại, hoặc giữa luật pháp của Tiểu Bang với các đạo luật của Liên Bang, nếu được Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ Hạ Viện Liên Bang yêu cầu” (Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Đoạn văn “ …Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ của Hạ Viện Liên Bang yêu cầu ” cho thấy Hiến Pháp nâng cao “ khả năng đối lập ” của các chính đảng lên “ lằn mức khả thi ” thiệt thực.
Trong một Quốc Gia Liên Bang như Đức Quốc hay Hoa Kỳ, các chính đảng đa số đang chiếm đa số ghế trong Hạ Viện và đang lãnh đạo Quốc Gia trong Chính Phủ.
Nhưng các chính đảng đối lập có thể đang lãnh đạo Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang nào đó, cũng như đang chiếm 1/3 số ghế hay hơn nữa trong Hạ Viện Liên Bang. Đó là điều hiển nhiên dễ xảy ra. Hay là tình trạng tự nhiên ở một Quốc Gia dân chủ tự do.
Trên thế giới, khó có Quốc Gia nào mà trong cuộc bỏ phiếu dân chúng đồng thuận đến 99% ủng hộ các quyết định của “Đảng và Nhà Nước mình”, như ở nước CHXHCNVN, theo Xã Hội Chủ Nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chỉ con số tỷ lệ 99% cũng nói lên trình độ dân chủ của chế độ lãnh đạo Xã Hội Chủ Nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là con số càng nêu lên, càng làm trò cười cho thiên hạ!
Trở lại Hiến Pháp 1949 CHLBD, các chính đảng đối lập có thừa khả năng để chiếm được Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang, hoặc đang chiếm 1/3 hay hơn nữa số ghế ở Hạ Viện Liên Bang.
Và Hiến Pháp xác định là mỗi khi chỉ cần có một Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 số dân biểu Hạ Viện Liên bang yêu cầu là Viện Bảo Hiến sẽ duyệt xét lại tính cách hơp hiến hay vi hiến các đạo luật đã được thành phần đa số Chính Phủ đương quyền soạn ra và được đa số Hạ Viện chuẩn y.
Quyết định như vậy là Hiến Pháp trao cho các chính đảng đối lập khả năng thực hữu kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi hiến việc làm của Chính Quyền và Hạ Viện.
Sau khi nhận được lời yêu cầu của các chính đảng đối lập, chỉ cần một Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 dân biểu Hạ Viện, là Viện Bảo Hiến, một cơ quan trung hòa và độc lập, sẽ phán quyết.
“Đảng và Nhà Nước mình” cũng như thành phần đa số Hạ Nghị Sĩ được đắc cử với 99% số phiếu sẽ khó lòng mà “ cậy quyền, ỷ thế ”, dựa vào số đông, “ cả vú lấp miệng em ” để lừa lọc và coi luật pháp như rơm rát.
“ Quốc Gia Pháp Trị ” là vậy!
Nói cách khác, các chính đảng đối lập trong Hiến Pháp 1949 CHLBD có thực quyền đối lập, để “thừa hành” “ quyền và bổn phận ” đối lập của mình được Hiến Pháp giao phó, bênh vực quyền lợi của xứ sở, bênh vực dân chủ tự do và bênh vực phẩm giá và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người.
Các chính đảng đối lập trong Hiến Pháp 1949 CHLBD không phải chỉ là “ nghị gù, nghị gật ”, làm “ nô bộc, vâng dạ ” cho
- “ Đảng Cộng Sản là bậc thầy không thể sai lầm về phương diện ý thức hệ; về phương diện áp dụng thực hành, Đảng là sự Chính Xác Tuyệt Đỉnh; về phương diện trí thức, Đảng là Thần Thánh” (R.G., Lenin’s Legacy: The Story of CPSU, in The Breznev Party, Standford Univ., Standford, California 1978, p. 255).
Các chính đảng đối lập được Hiến Pháp 1949 CHLBD mặc nhiên giao cho nhiệm vụ “điều chỉnh, thắng bớt, cắt tỉa, phản đối và loại trừ ” đường lối và hoạt động quá lố, sai lầm, không hiệu năng của đa số đương quyền trong Chính Phủ và Hạ Viện.
Điều đó nằm trong tinh thần khôn ngoan của câu nói ngàn đời của người La Tinh:
- “ Sai lầm là bản tính của con người ! ” ( Errare humanum est !),
khác với thái độ kiêu ngạo và đầu óc tối tăm được thể hiện qua câu nói trên của Leonid Breznev, chúng tôi vừa trích dẫn ở trên.
Khả năng thực hữu của các chính đảng đối lập luôn giữ cho giới cầm quyền thi hành quyền lực quốc Gia trong khuôn khổ hiến định và luật định, “ Quốc Gia Pháp Trị ” để bảo đảm cho dân chủ tự do và con người có cuộc sống “ người cho ra người ”.
C - Thể chế Liên Bang mặc nhiên công nhận và bảo vệ phương thức đa đảng và chính đảng đối lập.
Ở trên chúng ta vừa đề cập thể thức cấu tạo Quốc Gia theo cơ chế Liên Bang tạo ra cơ hội cho các chính đảng đối lập có thể lãnh đạo Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang, mặc cho Chính Quyền cũng như Hạ Viện Liên Bang do thành phần đa số lãnh đạo.
Lãnh đạo Chính Quyền, điều khiển và quản trị một hay nhiều Tiểu Bang, các chính đảng đối lập có cơ hội cho dân chúng thấy, không những ở một hay nhiều Tiểu Bang nơi họ đương nhiệm, mà cả dân chúng toàn quốc, thấy được đường lối đúng đắn, tài năng và phương thức lãnh đạo hiệu năng, ích lợi cho địa phương nói riêng và cho xứ sở nói chung.
Đó là món tiền cọc đặt trước cho kỳ tuyển cử tới, để chính đảng hay các chính đảng đối lập hiện tại sẽ là giới lãnh đạo Chính Quyền và Hạ Viện Liên Bang ở trung ương (Friedrich F., Landparlament in der Bundesrepublik, Berlin 1975, 215).
Không những vậy, nhìn vào cấu trúc Thượng Viện Liên Bang, chúng ta cũng thấy được Hiến Pháp 1949 CHLBD tiền liệu cho quyền đối lập của các chính đảng được tăng cường, chống lại tập đoàn, phe phái và đảng trị của phe đa số:
- “ Thượng Viện Liên Bang ( Bundesrat) được cấu tạo bằng các thành viên của các Chính Phủ các Tiểu Bang. Các thành viên đó được các Chính Phủ liên hệ tuyển chọn và thu hồi. Các Chính Phủ các Tiểu Bang có thể đặc phái những thành viên khác đại diện cho mình” (Điều 51, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Qua ý nghĩa của điều 51, đoạn 1 vừa trích dẫn, trường hợp các chính đảng đối lập chiếm được đa số đáng kể Chính Quyền các Tiểu Bang, các thành viên mà họ gởi đến Thượng Viện sẽ chiếm đa số ở Thượng Viện Liên Bang.
Và ở đó, với tư cách là thành viên Quốc Hội ( Thượng Viện là một Viện Quốc Hội), họ có quyền “ sửa đổi, cắt xén, giảm bớt , chuẩn y hay bác bỏ ” những dự án luật hoặc sắc lệnh được Chính Phủ Liên Bang đưa ra và Hạ Viện Liên Bang chuẩn y đồng thuận.
- “ Qua Thượng Viện Liên Bang, các Tiểu Bang cộng tác trong việc lập pháp, quản trị và những vấn đề liên quan đến Cộng Đồng Âu Châu” (Điều 50, id., Tu chính án cho Thỏa Ước Maastricht 21.12.92).
- “ Các dự án luật được Chính Quyền Liên Bang, các thành viên Hạ Viện trình lên Hạ Viện và Thượng Viện Liên Bang” (Điều 76, đoạn 1, id.).
- “ Luật pháp Liên Bang được Hạ Viện Liên Bang chuẩn y. Và sau khi được Hạ Viện Liên Bang chấp thuận, các điều khoản luật đó phải được Chủ Tịch Hạ Viện Liên Bang lập tức chuyển đến Thượng Viện” (Điều 77, id.).
Và như chúng ta đã đề cập, các thành viên của Thượng Viện là người của Chính Quyền các Tiểu Bang phái đến (điều 51, đoạn 1, id.), bởi đó khi một dự án luật được chuyển đến Thượng Viện, các thành viên của Thượng Viện sẽ tiếp tục chuyền về Chính Quyền các Tiểu Bang mình để hỏi ý kiến.
Nếu Chính Quyền các Tiểu Bang đa số tỏ ý bất đồng, Thượng Viện không có cách gì tự mình “ chuẩn y ” dự án luật đang bàn, nhứt là những dự án luật áp đặt, bất lợi cho quyền lợi các Tiểu Bang, cho Chính Quyền cũng như cho dân chúng sở tại.
Thượng Viện Liên Bang là Viện Quốc Hội, gồm các thành viên là thành viên của các Chính Quyền địa phương.
Tiếng nói của Thượng Viện Liên Bang là tiếng nói của Chính Quyền và dân chúng địa phương, có thể là tiếng nói của các đảng phái đối lập, nhằm “ cắt tỉa, hảm thắng” tư tưởng và cách hành xử quá lố, tùy hỷ của Chính Quyền và hạ Viện Liên Bang có thể cấu kết nhau.
Tiếng nói của Thượng Viện, của các Tiểu Bang hay của Cộng Đồng Địa Phương, của các chính đảng đối lập, không phải chỉ là tiếng nói liên quan đến các vấn đề địa phương, mà cũng có thể là tiếng nói địa phương liên quan đến nhu cầu và ước vọng, lý tưởng của cả đất nước.
Do đó, không có cách gì Hiến Pháp 1949 CHLBD cho phép Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang soạn thảo, “ chuẩn y bay bác bỏ ”, và hành xử luật pháp, mà không đếm xỉa gì đến tiếng nói của Thượng Viện, của Chính Phủ và dân chúng ở các Tiểu Bang ( Gherig, Parlament-Regierung-Opposition:Dualismus als Voraussetzung fuer eine parlamentarissche Kontrolle der Regierung, Muenchen 1969, 189s).
Những gì vừa nói trong Hiến Pháp 1949 CHLBD cho thấy các chính đảng đối lập, thi hành “ quyền và nhiệm vụ đối lập” hiến định của mình, không phải là cách hành xử “phản động, chống Đảng và Nhà Nước, là thế lực của phe thù địch ” cho bằng là dụng cụ thiết yếu để bảo vệ “ Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ”. Có chăng thả lỏng cho“ Đảng và Nhà Nước” độc đảng, lộng hành tùy hỷ, “Đảng và Nhà Nước mình” mới là “ bọn phản động, chống Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ”, coi Hiến Pháp như giấy lộn vô giá trị.
D – Nguyên tắc cột trụ thứ tư của Hiến Pháp 1949 CHLBD, bảo vệ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người, mặc nhiên bảo vệ quyền đối lập các chính đảng.
Điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp 1949 CHLBD đề cập đến “ phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và các quyền liên hệ ” cũng như quy trách cho tổ chức Quốc Gia trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm để các quyền vừa kể không những khỏi bị xúc phạm mà còn được phát triển hoàn hảo:
- “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Mọi quyền lực Quốc Gia có bổn phận kính trọng và bảo đảm cho phẩm giá đó…
“ Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có hiệu lực bắt buộc đối với Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp” (Điều 1, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Trong các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng vừa kể, quyền tự do báo chí (điều 5, đoạn 1), tự do giáo dục (điều 5, đoạn 3), tự do hội họp (điều 9), tự do bảo mật thư tín, bưu điện và viễn thông (điều 10)…, là những quyền không ai được vi phạm, lạm dụng để chống lại thể chế căn bản dân chủ tự do (điều 18).
Qua các điều khoản vừa được liệt kê, chúng ta thấy rằng trong các quyền tự do “tương giao xã hội ” , quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập thuộc khối “ nhân cội bất khả xâm phạm và bất khả nhượng”, một trong những nền tảng then chốt của Hiến Pháp 1949 CHLBD:
- “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào liên hệ đến Hiến Pháp nầy, có liên quan đến các đề mục tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến việc tham dự các Tiểu Bang vào việc ban hành luật pháp hoặc đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20” (Điều 79, đoạn 3, id.).
Và như chúng ta biết, điều 1 liên quan đến “ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người” và điều 20 định nghĩa thể chế “ Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”.
Như vậy quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập nằm trong khối nhân cội các quyền “ bất khả xâm phạm và bất khả nhượng” trên.
Kế đến Hiến Pháp cũng cảnh cáo những vi phạm các quyền trên, quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập, nằm trong tinh thần “ mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ”, người công dân, cá nhân hay nhóm công dân trong chính đảng, thuộc giới đương quyền hay thành phần chính đảng đối lập cũng vậy:
- “ Không ai có thể bị thiệt hại hay được ưu đải do phái tính, chủng tộc, gia đình, ngôn ngữ, quốc tịch, nguồn gốc xuất xứ, tín ngưỡng, ý kiến tôn giáo hay chính trị ” (Điều 3, đoạn 3, id.).
Tuyên bố “ dưới hình thức tiêu cực”, Hiến Pháp 1949 CHLBD liệt kê nguyên tắc và các quyền “ bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người ” và “ thể chế Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”, là những lằn mức không thể vượt qua, đồng thời cảnh tỉnh những hành vi ám muội bằng cách coi là “ bất hợp hiến ”, cá nhân hay đoàn thể có mưu đồ đen tối vi phạm các lằn mức trên (điều 21, đoạn 2, id.), hoặc chính tổ chức Quốc Gia phải đứng ra bảo vệ cho người dân không bị ai xâm phạm nhân phẩm của họ và các quyền vừa kể (điều 1, đoạn 3).
Nhìn dưới khía cạnh tích cực, các tự do mà chúng ta đang bàn, tự do thành lập chính đảng và tự do hoạt động đối lập, cũng như khi có các điều kiện thuận lợi đứng ra lãnh đạo Quốc Gia, Hiến Pháp khuyến khích người dân hãy xử dụng tự do được Hiến Pháp bảo vệ, để kiến tạo cho mình và cho đồng bào mình một xã hội xứng đáng với “ nhân phẩm con người”, mà Hiến Pháp long trọng tuyên bố “ bất khả xâm phạm ” ngay ở điều khoản đầu tiên (điều 1, đoạn 1, id.).
Nói cách khác, người dân Đức, thành phần đa số đương quyền hay thành viên các chính đảng đối lập, hãy xử dụng quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do hội họp để bảo vệ và phát triển thể chế “ Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”, trong đó “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm ”:
- “ Các chính đảng cộng tác vào việc thành hình ý hướng chính trị của toàn dân…” (Điều 21, đoạn 1, id.).
Hiến Pháp 1949 CHLBD không dành một đề mục nào rõ rệt bảo vệ thể chế đa đảng và chính đảng đối lập, nhưng lần mò theo các nguyên tắc nền tảng cột trụ của Hiến Pháp, chúng ta khám phá được những điều khoản Luật Hiến Pháp “ mặc nhiên ” bảo chứng cho các chính đảng đối lập được hiện hữu và có khả năng thực hữu để hoạt động, đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của dân chúng.