Đối Thoại                                               Website: Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Linh mục Nguyễn Văn Lý:

Việt Nam theo đuổi một chính sách tôn giáo với nhiều mặt

 

 

Giới Thiệu:

2005.11.29

Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA

Hôm thứ hai vừa qua, bốn vị linh mục Thiên Chúa Giáo trong nước là các cha Têphanô Chân Tín, Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi cùng phổ biến lá thơ hiệp thông với các giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Tin Lành, trước những hành động đàn áp vừa mới xảy đến cho các tôn giáo này.

Linh mục Nguyễn Văn Lý. File Photo

Ban Việt Ngữ đài Á Châu Tự Do chúng tôi đã liên lạc với linh mục Nguyễn Văn Lý tại Nhà Chung ở Huế và được Cha Lý dành cho cuộc trao đổi sau đây. Xin mời anh Đỗ Hiếu:

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi xử dụng.

Đỗ Hiếu: Kính chào linh mục Nguyễn Văn Lý, trước hết xin linh mục chia sẻ với quý vị thính giả đang nghe đài Á Châu Tự Do chúng tôi những nhận định của Cha cùng với 3 vị linh mục khác về thực trạng của sinh hoạt tôn giáo trong nước hiện giờ.

LM Nguyễn Văn Lý:  Xin kính chào ban biên tập của đài Á Châu Tự Do và tất cả quý vị thính giả trong và ngoài nước. Đúng ngày hôm nay, 4 anh em linh mục chúng tôi vừa mới viết một thư hiệp thông cùng các giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và giáo hội Tin Lành. Sự thật, vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam khá phức tạp là bởi vì nhà nước Việt Nam theo đuổi một chính sách không phải hai mặt mà nhiều mặt, nhưng nó tóm lại trong hai mặt chính. Đó là những nơi xa xôi hẻo lánh thì nhà nước Việt Nam đàn áp, phân hóa, ngăn cản đối với những giáo hội muốn được độc lập trong tổ chức và được tự do trong truyền đạo, trong sinh hoạt thì những giáo hội đó luôn luôn gặp khó khăn: từ những khó khăn lớn về cơ cấu tổ chức đến những khó khăn nhỏ trong các sinh hoạt. Còn đối với những giáo hội có sự hiện diện công khai ở các thành phố lớn thì nhà nước tìm cách để có một hình ảnh đẹp hầu có thể có thể nói với cộng đồng quốc tế, với những phóng viên nước ngoài có những cái nhìn hời hợt về vấn đề này và làm cho những người này bị lầm lạc mà không biết.

Nếu  những phóng viên nước ngoài đến và thấy các ngôi chùa được sửa trang được xây cất, và các ngôi thánh đường được trùng tu, được nới rộng, rồi các lễ công khai đông đúc, các lễ phong chức, hành hương đông vui thì những phóng viên ấy vẫn cứ tự hỏi đã tự do như thế rồi mà sao có một số người đòi tự do tôn giáo mãi. Những phóng viên đó dầu nghiệp vụ có chuyên môn đến đâu nhưng vẫn có thể có những nhận thức thật là ngây thơ.

Đỗ Hiếu: Vậy theo quan niệm của cha thì trước mắt các tôn giáo cần phải làm gì để quyền tự do tín ngưỡng được thật sự bảo đảm chứ không phải chỉ quảng bá trên hình thức như điều mà cha vừa mới nhấn mạnh?

LM Nguyễn Văn Lý:  Những vấn đề cốt lõi nhất mà các giáo hội đang nỗ lực để giành cho được đó là phải có tự do ngôn luận thực sự, phải có những tờ báo độc lập, phải có những nhà xuất bản độc lập. Hiện nay 6 tôn giáo lớn ở Việt Nam chưa hề có một tôn giáo nào có được quyền tự do ngôn luận này hết.

Điều thứ hai, chương trình huấn luyện của các nhân sự, không có một giáo hội nào được hoàn toàn độc lập trong các chương trình đào tạo này. Ví dụ: các chức sắc của các tôn giáo muốn được thụ phong, muốn được đề bạt trước tiên phải qua chương trình đại học để tốt nghiệp cử nhân. Khi qua chương trình đại học thì đương nhiên phải học chủ nghĩa Mác Lê, phải học lịch sử đảng, phải học tư tưởng của Hồ Chí Minh, là những điều mà hiện nay hầu như không có một sinh viên nào ở Việt Nam thích học hết, nhưng đều phải học, đều phải làm bài một cách giả tạo để tạm đủ điểm hầu hy vọng tốt nghiệp được. Điều đó đã là một điều ràng buộc một cách gượng ép trong lương tâm và lương tri các ứng viên các tôn giáo rồi.

Sau đó các học viện, các thiền viện, các chủng viện đều phải học môn công dân giáo dục do cán bộ của nhà nước đến tận học viện, đến tận chủng viện để dạy. Trong đó họ buộc những ứng viên đó phải tỏ ra yêu chủ nghĩa xã hội, phải hết lòng đoàn kết sau lưng của đảng Cộng sản Việt Nam, phải tuân phục pháp luật, hiến pháp do đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo, soạn thảo và ban hành. Như vậy những nhân sự đó trước khi thụ phong đại đức, thượng tọa, mục sư, linh mục, đạo sĩ... đều bị gượng ép trong lương tâm, khiến mình phải sống giả dối rằng mình là người đang yêu nước nghĩa là yêu chủ nghĩa xã hội, tức là đoàn kết sau lưng đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy những nhân sự này không còn hiên ngang để rao giảng lẽ phải, sự thật, không còn hiên ngang để bênh vực quyền lợi của dân chúng thấp cổ bé miệng được nữa. Bởi vì thành trì lương tâm của mình đã bị bẻ gãy khi mình nín thở qua sông, khi mình phải gượng ép, tự dối gạt lương tâm của mình hầu qua được cái ải đó.

Đỗ Hiếu: Thưa linh mục Nguyễn Văn Lý, qua những điều cha trình bày thì mọi sinh hoạt tôn giáo trong nước đều bị nhà cầm quyền kiểm soát, chi phối, theo dõi. Theo ý kiến của cha thì các tôn giáo có hy vọng gì được tự do hoạt động công khai và cởi mở hay không?

LM Nguyễn Văn Lý:  Sinh hoạt của các tôn giáo đều phải có phép của các cơ quan nhà nước, từ việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển, đảm nhận chức vụ này, chức vụ khác, dầu người ta dùng những từ như “xin phép”, “đăng ký”, hay “thông báo” thì cuối cùng cũng chỉ là xin phép và phải chờ đợi ý kiến của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, căn cứ trên nguyên tắc tự do tôn giáo mà tất cả các tôn giáo đều quan niệm – cụ thể nhất là năm 1965 công đồng Vaticano thứ hai của giáo hội Công Giáo có ra một tuyên ngôn về tự do tôn giáo, trong đó có khẳng định những nguyên tắc thế nào là tự do tôn giáo – nay so sánh, đối chiếu vào với thực tế của Việt Nam thì tuyên ngôn đó chỉ là tuyên ngôn để các nước nghe, tuyên ngôn để mọi người tuân thủ, chứ không phải là tuyên ngôn dành cho nhà nước Việt Nam. Chính vì vậy, những giáo hội nào, những tổ chức nào không muốn chịu sự ràng buộc này thì tất nhiên bị đàn áp.

Còn có những giáo hội phải chọn những con đường khéo léo hơn thì cũng bị ràng buộc, bị đàn áp, nhưng dưới một dạng tinh vi hơn. Vấn đề này đã được nhiều nhà chuyên môn nghiên cứu, phân tích suốt 60 năm qua, nhất là 30 năm mới đây, từ năm 1975 đến nay, nhưng rất tiếc vẫn có những người nói xuôi nói ngược, có những người cố tình gượng ép nói rằng ở Việt Nam có tự do tôn giáo.

Trong những tháng vừa qua, liên tiếp nhiều giáo hội bị đàn áp nặng nề, nhất là giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, giáo hội Tin Lành, giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Còn giáo hội Công Giáo thì cũng gặp khó khăn về một số cơ sở mà giáo hội muốn đòi lại như Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang rộng 23 hécta rưỡi nhưng nhà nước mới trả lại 6 hécta rưỡi thôi. Dòng thánh Giuse ở Nha Trang và cả hàng ngàn cơ sở khác nữa. Rồi những giáo hội ở những vùng xa, hẻo lánh cho đến nay vẫn chưa có nhà thờ, vẫn chưa được linh mục đến để dâng thánh lễ.

Đỗ Hiếu: Trước khi chia tay, cha có điều gì muốn nhắn gởi đến quý vị thính giả đang theo dõi chương trình hôm nay không?

LM Nguyễn Văn Lý:  Chúng tôi xin thay mặt cho những người không có dịp để lên tiếng, để nói lên cho mọi người một lần nữa rằng dầu ở Việt Nam đang có những sự kiện này, sự kiện khác về tôn giáo thì thực chất tự do tôn giáo vẫn chưa có. Việt Nam có thật sự thay đổi từ bản chất về quan niệm đối với các tôn giáo thì may ra vấn đề tự do tôn giáo mới được giải quyết.

Đỗ Hiếu: Chúng tôi xin cám ơn linh mục Nguyễn Văn Lý đã lên tiếng từ nhà Chung, Huế.