Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Hội Nhân dân chống tham nhũng:

Trường hợp Dương Văn Bậc

 

KÍNH CÁO TOÀN THỂ ĐỒNG BÀO VIỆT NAM Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

KÍNH CÁO CÁC CỰU CHIẾN BINH TRỌNG NHÂN NGHĨA TẬN TRUNG VỚI NƯỚC TẬN HIẾU VỚI DÂN

CÁC EM HỌC SINH, SINH VIÊN MẦM NON ĐẤT NƯỚC HÃY TỈNH TÁO.

HỘI NHÂN DÂN CHỐNG THAM NHŨNG

 

Đã gửi: Nông Đức Mạnh - Tổng bí thư

Hà Nội, ngày 22  tháng 10  năm 2006

 

 

Hội Nhân dân chống tham nhũng thông báo tới Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tiến Dũng về vụ việc:

Cả hệ thống chính quyền xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang luôn bao che cho bọn tham nhũng ở xã, huyện và luôn trù dập ông Dương Văn Bậc trú tại thôn 3 Liên Hòa, Xương Lâm do ông Bậc kiên trì tố cáo hàng chục năm trời bọn tham nhũng ở xã ở huyện.

Ông Dương Văn Bậc sinh năm 1942, trú tại thôn 3 Liên Hòa, Xương Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang. Do luôn phê bình chỉ trích sự làm ăn kém cỏi của các Ban chỉ huy Đội đều là các đảng viên, nên 1974 tuy ông Bậc không là đảng viên nhưng vẫn được bầu Đội trưởng đội sản xuất thôn… Kết quả đội đã giao nộp sản phẩm đầy đủ và các xã viên trong đội đều được thưởng 0.8 kg thóc/ ngày công và 0đ11/ ngày công… khác hẳn các năm trước luôn không giao nộp đủ sản phẩm… luôn bị phạt… Tuy vậy ông Bậc cũng chỉ làm Đội trưởng được 1 năm, bọn tham nhũng trong thôn gạt ông khỏi chức Đội trưởng….

Năm 1977, ông Bậc lại được giao là kế toán của đội 4 khu Quyết Thắng, kết quả thu chi rành mạch, không có tham nhũng, nên sản lượng đạt vượt khoán… sau đó ông Bậc lại bị gạt sang làm thư ký đội thuỷ nông… để ông Bậc không có điều kiện theo dõi tình trạng thu chi… của Đội và của HTX.

Do đã kinh qua chức Đội trưởng sản xuất, chức Kế toán Đội… nên ông Bậc biết rất rõ hành vi tham nhũng trong thôn trong xã và luôn có ý kiến phát biểu phê bình chỉ trích BCH Đội… và Ban chủ nhiệm HTX và làm họ phật ý…

Trong cải cách ruộng đất, cụ Nguyễn Thị Gái (mẹ đẻ ông Bậc) cùng với ông Nguyễn Văn Được được chia 1 sào 5 thước đất thổ cơ ở thôn 3… và ông Được có bán suất thổ cư được chia cho cụ Gái theo thỏa thuận… và cụ Gái đã làm nhà ở trên thổ cư 1 sào 5 thước đó… đến 1968 cụ rỡ nhà về ở gần ông Bậc trên đất thổ cư thừa kế của ông cha để lại cũng tại thôn 3… Ngay 1968, Đội sản xuất đến chiếm nền nhà làm kho luôn, nhưng hoa lợi cụ Gái vẫn thu hái… và năm 1978 thì chiếm luôn 1 sào 5 thước đó để chia cho thân nhân của trưởng thôn…. Cụ Gái có phản đối quyết liệt… nhưng chúng vẫn cướp…

Vì những bức xúc kể trên, nên 1980 ông Bậc có tố cáo tham nhũng bằng văn bản gửi Đảng uỷ và UB xã… nhưng cũng bị phớt lờ không có hồi âm… 1981, 1983 vẫn tiếp tục tố cáo nhưng đều vẫn không có hồi âm… và có gửi đơn tố cáo tới Phó Thanh tra huyện Lạng Giang… và không hồi âm… Đột ngột sáng ngày 17/5/1986, tổ công tác do Chủ tịch UB huyện chỉ định cùng chính quyền xã chiếm cướp 1 sào thổ cư của cụ Gái và ông Bậc đang quản lý và sáng 18/5/1986 chúng lại đến tàn phá chặt hạ toàn bộ tre, xoan trồng trên đất của ông Bậc và cụ Gái…

Tất nhiên ông Bậc làm đơn lên huyện tố cáo hành vi ngang ngược chiếm đất thổ cư, tàn phá cây cối… của chính quyền huyện và xã… nếu ngay 13/11/1986 có bản kết luận về đơn tố cáo của ông Bậc số 72… do UB thanh tra huyện ký - Nhưng ông Bậc lại tố cáo bản kết luận của UB thanh tra huyện là sai sự thật, tuy có trả lại ông Bậc 1 sào đất từ thổ cư sang thành đất vườn.

30/3/1987 ông Bậc vẫn tiếp tục tố cáo hành vi tham nhũng của chính quyền xã và huyện lên Huyện uỷ nhưng không có hồi âm… Từ tháng 2/1998 đến tháng 6/1990 đảng uỷ xã và UB xã liên tục có các hành vi bao che, dung túng cho các đảng viên, đội trưởng sản xuất, chủ tịch xã. v.v… đánh đập, cầm dao nhọn dọa giết, giam giữ trái phép 1 đêm, cướp khống 1 xe đạp và lại giam 1 đêm trái pháp luật… Những hành vi phạm pháp này đều được ông Bậc khiếu kiện lên huyện, lên tỉnh nhưng đều không có hồi âm.

Do nhiều người có đơn tố cáo lên huyện lên tỉnh nên UBND huyện có bản kết luận số 610/KL-UB ngày 30/9/1989 về những hành vi tham nhũng và vi phạm pháp luật của UB xã Xương Lâm…

1 năm sau, Đại hội đại biểu toàn xã đòi hỏi quyết liệt nên tháng 9/1990 mới được biết Bản kết luận số 610/KL-UB do UB huyện ký ngày 30/9/1989 và Đại hội cử một tổ đôn đốc… Đảng uỷ và UB xã thi hành nội dung Bản kết luận 610 của UB huyện do một cựu chủ tịch xã Xương Lâm làm tổ trưởng…

Do Đảng uỷ xã và UB xã không phối hợp công minh, nên kết quả thực hiện của Tổ đôn đốc đạt quá thấp, chỉ thu được 1.039.353đ / 4.678.750đ, 387 kg / 30.721kg thóc… và lãnh đạo huyện làm ngơ, ruộng canh tác bị phá gần 100 mẫu chưa xử lý được….

C/v số 89/BC-TT-DC ngày 19/12/1998 báo cáo kết quả thanh tra tình hình quản lý sử dụng đất và t hu chi tài chính có nguồn thu từ đất của UBND xã Xương lâm, huyện Lạng Giang và C/v số 20/QĐ-GD ngày 23/12/1998 về việc xử lý vi phạm Luật Đất đai của UB xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang do Sở Địa chính quyết định…

Dân Xương Lâm tố cáo bản kết luận số 89/BC-TT-DC ngày 19/12/1998 và quyết định số 20/QĐ-GD ngày 23/12/1998 của Sở Địa chính là chưa đúng sự thật và khiếu kiện lên Tỉnh.

C/v số 02/BC-KL ngày 6/2/1999 của Thanh tra huyện Lạng Giang báo cáo việc giải quyết đơn tố cáo của một số công dân xã Xương Lâm - Lạng Giang…

Dân Xương Lâm lại tố cáo lên tỉnh bản báo cáo số 02/BC-KL ngày 6/2/1999 là chưa đúng sự thật. C/v số 28/KL-LN ngày 19/6/2000 của thanh tra tỉnh Bắc Giang báo cáo kết quả xác minh kết luận và đề xuất biện pháp giải quyết đơn tố cáo của dân xã Xương Lâm, Lạng Giang.

Dân Xương Lâm lại tố cáo lên Tỉnh bản báo số 28/KL-LN ngày 19/6/2000 là không đúng sự thật. C/v số 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 UBND tỉnh Bắc Giang quyết định xử lý đơn tố cáo của dân Xương Lâm - Lạng Giang.

Dân Xương Lâm lại tố cáo c/v số 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 của UBND tỉnh Bắc Giang lại vẫn không đúng sự thật… và c/v số 1718/CV-CT ký ngày 25/10/2000 của UBND tỉnh, c/v số 255/CV-VP ký ngày 17/5/2001 của Tỉnh uỷ Bắc Giang và c/v số 103/CV-VP ký ngày 2/6/2003 của Tỉnh uỷ Bắc Giang… đều cho rằng quyết định 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 của UBND tỉnh là quyết định cuối cùng hoặc cấp tỉnh đã hết thẩm quyền giải quyết.

Kể từ ngày 17/5/2001, dân Xương Lâm lại liên tục tố cáo lên TW. Trong mấy năm trời… lá đơn gần đây nhất ngày 27/4/2006 và ngày 25/9/2006 gửi Đơn kiến nghị, Tố cáo khẩn thiết nhưng vẫn chưa có hồi âm.

Thấy gì qua vụ việc xẩy ra tại Xương Lâm - Lạng Giang - Bắc Giang…

Cả một hệ thống chính quyền xã - Huyện - Tỉnh tại Bắc Giang bao che cho nhau. Trù dập người dân để cố tình xóa bớt tội lỗi to lớn hại dân lành, cố tình không xử lý theo đúng kỷ cương phép nước ở Xương Lâm.

Nếu không vạch ra được sai sót trong bản thông báo này, Tổng bí thư Mạnh, Chủ tịch nước Triết, Chủ tịch Quốc hội Trọng và Thủ tướng Chính phủ Dũng nên cùng nhau bàn bạc giải quyết:

- Trả lại ngay 1 sào 5 thước đất thổ cư và cái xe đạp... chính quyền xã Xương Lâm đã cướp của ông Bậc.

- Xử lý nghiêm chính quyền huyện, xã ngang nhiên tàn phá tre, xoan trên đấtt hổ cư của ông Bậc.

- Kết hợp với những người dân chân chính Xương Lâm nhằm thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai và các khoản thu bất hợp pháp… nhằm xử lý nghiêm minh những kẻ đồng lõa làm bậy từ xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang đến tỉnh Bắc Giang.

Nếu không xử lý nghiêm minh vụ việc này thì Mạnh - Triết - Trọng - Dũng lại là kẻ đồng lõa với bọn hại dân hại nước… tham nhũng tại Xương Lâm.

Hội Nhân dân chống tham nhũng

Nguyễn Thế Đàm

Thư ký Ủy ban cởi bỏ ách nghịch lý nghịc lẽ Mác - Lê

Đ/c 6A ngõ 559, Lạc Long Quân, Hà Nội

ĐT: 7536787

Text Box: Vế của ngu Hồ                                 Vế của Dân
Mỗi người làm việc bằng 2                    Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe
Mỗi người làm việc bằng 3                    Để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân
    Độc lập tự do                                      Miếng to chúng gắp

 

 


 

Mèo đã hóa Cáo chuyên bắt gà nhà chủ - Vậy đã có Cáo nào tự quay về ăn cơm bắt chuột cho chủ? Duy nhất đúng đắn là Chủ phải bài trừ Cáo đi.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----***-----

Xương Lâm, ngày 25 tháng 9 năm 2006

 

 

ĐƠN TỐ CÁO KHẨN CẤP

Một tội phạm hình sự từ xưa tới nay và đường dây tham nhũng

 từ địa phương đến tỉnh và đường dây ô dù

 

          Kính gửi Ông Nông Đức Mạnh - Tổng Bí thư

Ông Nguyễn Phú Trọng - Chủ tịch Quốc hội

Ông Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước

Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ

Ông Lê Hồng Anh - Bộ Trưởng Bộ công an

Ông Nguyễn Văn Hưởng - Thứ trưởng Bộ Công an

Ông Thân Văn Mưu - Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang

Các cơ quan truyền thông quốc tế

Dư luận đồng bào trong nước và hải ngoại

Tôi là: Dương Văn Bậc – Thôn 3 Liên Hòa - xã Xương Lâm - huyện Lạng Giang - tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ vào các căn cứ sự thật không thể chối cãi được mà tôi đã trình bày cụ thể trong đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết của tôi đề ngày 27/4/2006 mà tôi đã gửi cho các ông. Các ông nghiên cứu kỹ, thấy rõ bộ mặt một tên tội phạm pháp luật hình sự và tội trên lừa Đảng, Chính phủ, dưới dối lừa dân, bất nhân thất đức. Đã coi thường Hiến pháp và pháp luật, coi thường các chỉ thị, nghị quyết của TW Đảng, Quốc hội, Chính phủ từ xưa tới nay, đó là tên Hoàng HôồngQuang – Nguyên Chủ nhiệm KTX nông nghiệp, Chủ tịch UBND xã, nay đương chức Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HDDND xã và đường dây tham nhũng từ địa phương đến tỉnh Bắc Giang được những người đứng đầu Huyện uỷ và UBND huyện, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Bắc Giang là ô dù bu che từ xưa tới nay mà tôi đã trình bày cụ thể trong các đơn khiếu tố, tố cáo đã gửi từ TW đến địa phương từ xưa tới nay, gần đây nhất là đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006 đã gửi cho các ông TW Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan ban ngành cầm nắm Hiến pháp, luật pháp và thực thi Hiến pháp, luật pháp của Đảng và Nhà nước.

Đơn này tôi chỉ trích dẫn vắn tắt những tội phạm hình sự của tên Hoàng Hồng Quang và những mờ ám và biểu thủ của các báo cáo kết luận của các đoàn Thanh tra Tỉnh, Huyện đã lộ rõ một đường dây tham nhũng từ địa phương đến Tỉnh từ xưa tới nay và đường dây ô dù.

Tên Hoàng Hồng Quang phải truy tố theo các tội hình sự mà tôi nêu cụ thể dưới đây:

1. Phải truy tố theo Điều 173/BLHS: về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai.

2. Phải truy tố theo Điều 173, 174/BLHS.

- Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai.

- Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai.

3. Phải truy tố theo Điều 165/BLHS: Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng.

4. Phải truy tố theo Điều 278/BLHS: Tội tham ô tài sản.

5. Phải truy tố theo Điều 280/BLHS: Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Chiếm giữ xe đạp).

6. Phải truy tố theo Điều 121/BLHS: Người nào làm nhục người khác (Khiêng tôi như con vật bỏ vào nhà giam).

7. Phải truy tố theo Điều 122/BLHS: Tội vu khống. Vu khống ông Đồi nợ HTX 354kg thóc.

8. Phải truy tố theo điều 123/BLHS: Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật.

9. Tội trên lừa Đảng, Chính Phủ: Rừng dự án 327 để rút tiền của dự án tham nhũng; dưới lừa dối dân, bất nhân thất đức.

10. Tội giao đất lâm nghiệp: Thu tiền từ 4 – 6.000đ/m2 là trái với Nghị định 02/CP Chính phủ và thu tiền từ 4 – 5.000đ/m2; từ 2 – 3.000đ/m2; từ 1 – 11.5000đ/m2 là trái với Quyết định số 195/UB của UBND tỉnh Hà Bắc để tham nhũng.

11. Tội không đấu tranh chống tham nhũng, chống vi phạm pháp luật từ xưa tới nay mà lại đồng loã và bao che.

12. Tội trù dập người dân nghe theo Đảng, Nhà nước, tố cáo những hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật cho Đảng, Nhà nước. Kể cả ánh sáng của Đảng cho dân gia đình tôi cũng bị trù dập. Các ông nghiên cứu kỹ đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27 tháng 4 năm 2006 các ông sẽ rõ tội danh của tên Hoàng Hồng Quang từ xưa tới nay.

Báo cáo kết luận số 89 ngày 19/12/1998 của Thanh tra Sở Địa chính tỉnh mờ ám và biển thủ:

- Khoản thu về đất nông nghiệp (trang 2): Vô cùng mờ ám.

1. Biển thủ cho Hoàng Quang - Chủ tịch UBND xã cùng đồng bọn 38,307ha x 4.000đ/m2 tham nhũng tổng số tiền là 1.548.120.000đ, trong đó có các khoản:

+ Biển thủ cho Chủ tịch UBND xã cùng đồng bọn là 15,95ha x 4.000đ/m2 – 638.000.000đ, trong đó có cá nhân Hoàng Quang 4.480m2 x 4.000đ/m2 = 17.920.000đ.

+ Biển thủ cho Hoàng Hồng Quang 22,753ha bán cho 6 hộ ngoài xã x 4.000đ.m2 tham nhũng 910.120.000đ.

2. Biển thủ cho Hoàng Quang 630m2 đất nông nghiệp ở khu đồi ông Cộc sử dụng trái quy định của Nhà nước đến nay vẫn chưa bị thu hồi theo Quyết định số 890/QDD-CT ngày 7/8/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Về tiền mặt:

3. Biển thủ để tham nhũng 88.316.593đ, trong đó các khoản tiền:

+ 45.863.000đ tiền đất lâm nghiệp thu năm 1995.

+ 42.553.593đ trong đó có các khoản:

(Tổng thu cộng thiếu 16.807.520đ, tổng chi cộng thừa 4.325.320đ; trích nộp cấp trên 30% tính tăng 21.320.753đ).

-         Về đất ở theo Quyết định 643/CT ngày 5/7/1995:

4. Biển thủ 1.100m2 đất ở = 11 lô x với giá hiện nay = bao nhiêu triệu đồng để tham nhũng ? ? ?.

5. Biển thủ số tiền sử phạt hành chính của 234 hộ xâm chiếm 16,9641ha, trong đó:

+ 84 hộ xâm chiếm 13,72ha đất lâm nghiệp.

+ 150 hộ xâm chiếm 3,2441ha theo khoản 1 điều 1 Nghị định số 04/CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ, gây thiệt hại cho Nhà nước 234 triệu dồng, tính xử phạt có 1 triệu đồng/hộ. Nếu xử phạt theo khoản 2 điều 1 gây thiệt hại cho Nhà nước 1 tỷ 170 triệu đồng.

6. Biển thủ số tiền thu của 5 hộ trong tổng số 170 lấn chiếm đất và tự chuyển đất vườn làm đất ở.

7. Biển thủ cho Chủ tịch UBND xã Hoàng Hồng Quang cùng đồng bọn phá huỷ 14.788m2 ruộng canh tác, trong đó có 11.344m2 bán đất sét cho nhà máy gạch Tân Xuyên x với chiều sâu 1,50m = 17.016m2 x với giá 10.000đ/m3 = 170.160.000đ theo Kết luận 28 mới thanh toán được có 21.908.000đ còn mờ ám 148.252.000đ.

KẾT LUẬN MỜ ÁM

8. Biển thủ các khoản thu năm 1992.

9. Khoản thu năm 1993; 1994; 1995 vô cùng là mờ ám, không có giải khoản phần thu và không có nguồn thu hàng năm của diện tích 54,51ha đất chưa sử dụng là sai với sự thật.

10. Nhiều điểm kết luận sai với sự thật (trang 8 và trang 9).

Báo cáo số 02 ngày 6/02/1999 của Chánh Thanh tra Nguyễn Quốc Hưng vô cùng mờ ám và biển thủ.

1. Mờ ám 21.908.000đ tiền bán đất sét cho Nhà máy gạch Tân Xuyên của diện tích 26.058m2 trong đó có 13.969m2 đất nông nghiệp bị phá huỷ mới có khoản thu gạch và 2.000.000đ xây dựng đường điện cho thôn Cầu thảo.

2. Biển thủ 630m2 đất nông nghiệp khi đồi ông Cộc cho tên Hoàng Hồng Quang.

- Về đất lâm nghiệp:

3. Biển thủ 53,12ha x 4.000đ/m2 = 2.124.800.000đ trong đó có các diện tích:

+ Năm 1998 UBND xã giao cho 96 hộ:            23,45ha

+ 84 hộ xâm chiếm tổng diện tích:                   13,72ha

+ Quang cùng đồng bọn biển thủ:                             15,95ha trong đó có cá nhân Quang 4.480m2 x 4.000đ/m2 = 17.920.000đ.

- Về tiền mặt:

4. Từ năm 1995 - 1998 biển thủ  66/129/400đ.

Cụ thể: Kết luận số 28 từ 1995 - 1998 thu cho ngân sách: 705.121.400đ

Kết luận số 02 từ 1995-1998 thu cho ngân sách: 638.992.000đ

- Báo cáo kết luận số 28 ngày 17/5/2000 của Đoàn Thanh tra liên ngành Tỉnh vô cùng mờ ám và biển thủ:

1. Kết luận 21.908.000đ tiền bán đất sét cho Nhà máy gạch Tân Xuyên của diện tích 26.058m2 trong đó đất nông nghiệp bị phá huỷ để lấy đất sét với diện tích 13.969m2 là không đúng sự thật số m3 và số tiền; đã cố ý thông đồng với tham nhũng.

2. Cố ý biển thủ giá tiền giao đất rừng thu từ 4 - 6.000đ.m2 theo Nghị quyết HĐND xã khóa 16 kỳ họp thứ 5 ngày 10/02/1996 đã cố tình thông đồng với bọn tham nhũng.

3. Cố ý biển thủ 36,473ha x 4.000đ/m2 = 1.458.920.000đ, trong đó có các diện tích:

+ 84 hộ xâm chiếm 13,72ha x 4.000đ/m2 = 548.800.000đ

+ Quang bán cho 6 hộ goài xã 22,753ha x 4.000đ/m2 = 910.120.000đ

4. Kết luận số 28 côốý biển thủ 52.966.000đ tiền đất lâm nghiệp Quang bán cho 6 hộ ngoài xã, đã đồng lõa với tham nhũng.

5. Kết luận số 28 cố ý biển thủ số tiền trồng rừng dự án 327 là 57,9ha khống mà Quang lập danh sách năm 1997 và 1998 để rút tiền của nhà nước tham nhũng trong đó có gia đình Quang 2 xuất diện tích 2,9ha; Đây là tội lừa Đảng và Chính phủ, luật pháp của xã hội phong kiến ngày xưat hì Quang bị tội chém đầu.

MỜ ÁM

6. Kết luận số 28 cố ý không làm rõ các khoản thu từ năm 1992 - 1998 như thu xây kênh Y2 trái quy định; thu thầu của diện tích 68,65ha đất nông nghiệp dành cho công ích và đất nông nghiệp có mặt nước 9,19ha nhằm mục đích biển thủ 100.555kg thóc, thu an ninh, thu giao thông không đúng quy định và các khoản thu khác là thông đồng với tham nhũng.

7. Kết luận số 28 cố ý không làm rõ các quyết toán về xây dựng và kiến thiết cơ bản là thông đồng với tham nhũng.

Theo Kết luận số 89 và Kết luận số 02 từ năm 1995 - 1998 UBND xã đã giao cho 483 hộ với cả diện tích lấn chiếm và diện tích bán cho 6 hộ ngoài xã đã hết tổng diện tích đất lâm nghiệp là 214,453ha cho tổng số 498 hộ, trong đó có các khoản:

+ Từ năm 1995 ngày 19/12/1998 UBND xã giao cho 483 hộ với tổng diện tích:                                                                              177,98ha

+ 84 hộ lấn chiếm thêm với tổng diện tích:                13,72ha

+ Quang bán cho 6 hộ ngoài xã tổng diện tích:                   22,753ha

                                                                               214,453ha

Tổng số đất lâm nghiệp có 231,63ha - 214,453ha còn 17,177ha - đi 3.891m2 theo 2 Quyết định số 539 và Quyết định số 639. Đất lâm nghiệp còn lại có 16,789ha - UB xã biển thủ 15,95ha còn có 8.379m2.

SO SÁNH ĐẤT LÂM NGHIỆP

Kết luận số 28 từ năm 1995 ngày 31/12/1998 UBND xã giao cho 501 hộ tổng diện tích 195,43ha so với Kết luận số 89 + Kết luận số 02 tổng số hộ 489 hộ, tổng diện tích 214,453ha.

Kết luận số 28 số hộ tăng là 12 hộ, diện tích bị hụt đi mất 19,023ha. Như vậy là hoàn toàn vô lý.

SO SÁNH VỀ TIỀN ĐẤT LÂM NGHIỆP NỘP NGÂN SÁCH

Theo Kết luận số 89 từ năm 1996 ngày 19/12/1998 UBND xã nộp ngân sách được có tổng số tiền 648.922.000đ.

+ Theo Kết luận số 02 UBND xã phải mửa ra 52.966.000đ tiền đất lâm nghiệp bán cho 6 hộ ngoài xã nộp vào ngân sách xã.

+ Theo Kết luận số 28 UBND xã lại phải mửa ra lần nữa được 45.863.000đ tiền đất lâm nghiệp năm 1995. Vậy là từ năm 1995 ngày 19/12/1998 tổng số tiền nộp vào ngân sách xã được 747.751.000đ. So sánh với Kết luận số 28 UBND xã nộp vào ngân sách được có 705.121.400đ còn biển thủ 42.629.600đ.

Còn về cá nhân Chủ tịch xã Hoàng Hồng Quang.

Theo Kết luận số 02: Đất ở từ năm 1980 có đất lâm nghiệp là 9.480m2 đã được cấp sổ lâm bạ tháng 8 năm 1996 nộp tiền 9.500.000đ tại phiếu thu số 52 ngày 15/10/1996, tên Quang trang trại mới có diện tích 9.800m2 đứng tên con trai là Vinh sổ lâm bạ cấp tháng 8/1996 nộp tiền 6.700.000đ tại phiếu thu số 151 ngày 18/11/1996, đã có tường vây xây bằng gạch, đã trồng vải từ năm 1995 - 1996 vậy mà đến tháng 10 và tháng 11 mới nộp tiền?

Theo Kết luận số 28 Hoàng Quang23.760m2 đất lâm nghiệp ở lô thứ hai, còn lô thứ nhất ra ở từ năm 1980, Thanh tra liên ngành đã biển thủ cho tên Hoàng Hồng Quang 9.480m2 đất lâm nghiệp.

Về cá nhân Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Văn Thế được Thanh tra liên ngành Tỉnh biển thủ cho 16.640m2 đất lâm nghiệp và 5.000.000đ. Thế cũng đã trồng vải từ năm 1995 - 1996.

Tôi xin hỏi Đoàn thanh tra liên ngành Tỉnh do Đỗ Văn Thông làm trưởng đoàn dựa trên cơ sở nào mà đoàn Thanh tra nói quyết định số 195/UB ngày 15/11/1996 của UBND tỉnh Hà Bắc là quyết định khoán thầu đất lâm nghiệp. Đoàn Thanh tra liên ngành Tỉnh cố tình bóp méo sự thật để bu che cho kẻ tham nhũng, kẻ nhổ rồi lại liếm.

VỀ PHẦN CHI

Kết luận số 89 và kết luận số 02 không có chi xây kênh Y2.

Kết luận số 28 chi xây kênh Y2 số tiền 23.621.500đ.

Những biển thủ và vênh vênh váo váo của các đoàn Thanh tra Tỉnh, huyện mà tôi đã trích dẫn trên đây đã cho thấy rõ đường dây tham nhũng từ địa phương đến tỉnh. Tỉnh, huyện đã cố ý thông đồng với tham nhũng, không giải quyết kiến nghị - tố cáo của tôi theo quy định của pháp luật mà cố ý trì hoãn để cản trở tố cáo của tôi, cố tình trả lời tố cáo của tôi trái pháp luật, cố tình trả lời tố cáo của tôi có nội dung bịa đặt và cố tình bịa đặt để trả lời tố cáo của tôi cụ thể như văn bản trả lời số 997/CP-HU ngày 24/3/2005 của Ban thường vụ tỉnh uỷ Bắc Giang; văn bản trả lời số 897-CV/TU ngày 6/5/2005 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang; bản báo cáo số21 ngày 27/5/2005 của Thanh tra huyện Lạng Giang là một minh chứng cho thấy Huyện uỷ và UBND huyện, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh là ô dù của tên tội phạm hình sự Hoàng Hồng Quang và đường dây tham nhũng; là một minh chứng cho thoái hóa biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của những người đứng đầu Huyện uỷ, UBND huyện, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh; là một minh chứng coi thường luật pháp, nhạo báng hiến pháp; là một minh chứng nói lời lại nuốt lấy lời của Huyện uỷ, UBND huyện, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh và công văn số 1718/CV-CT ngày 25/10/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang trả lời ông Trần Thượng Nga khiếu nại quyết định số 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định cuối cùng.

Công văn số 255/CV-VP ngày 17/5/2001 của Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Giang trả lời đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn Đồi và đơn tố cáo của ông Trân Thượng Nga là cấp tỉnh đã hết thẩm quyền giải quyết.

Công văn số 103 ngày 2/6/2003 của Bí thư tỉnh uỷ Bắc Giang trả lời đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn Đồi thôn 20, xã Xương Lâm, Lạng Giang, Bắc Giang do Văn phòng TW chuyển về Bí thư Tỉnh uỷ trả lời ông Đồi: Quyết định số 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải quyết cuối cùng, 3 công văn trả lời trên đây là một minh chứng cụ thể hơn nữa, chứng minh Bí thư Tỉnh uỷ đã đồng tình với Chủ tịch UBND tỉnh cố ý làm ô dù bao che cho tên tội phạm pháp luật hình sự Hoàng Hồng Quang cùng đường dây tham nhũng từ địa phương đến tỉnh, là một minh chứng không thể chối cãi được do sự thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của những người đứng đầu tỉnh uỷ và UBND tỉnh Bắc Giang đã sặc mùi ô uế, phải cắt chức, bãi nhiệm và đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng để khỏi ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, Nhà nước. Đó là nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Quốc Cường, hiện đương chức BCHTW Đảng và trong ban nội chính TW;Phạm Thị Hải Chuyền - Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, hiện đương chức BCH TW Đảng, Phó Chủ nhiệm UBKT TW Đảng mà tôi đã trình bày cụ thể trong đơn kiến nghị, tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006 đã gửi cho các ông.

Qua đơn tố giác tội phạm hình sự, đường dây tham nhũng và ô dù này cùng với đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006 đã gửi các ông.

Tôi yêu cầu Đảng và Nhà nước, các cơ quan có trách nhiệm từ TW đến địa phương.

1.a. Làm rõ và thu hội 9.099.826.144đ tiền mờ ám để tham nhũng từ năm 1992 - 1998 trong đó có các khoản tôi đã trình bày cụ thể trong đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006, để trả lại cho nhân dân, ngân sách xã, ngân sách Nhà nước.

b. Làm rõ các khoản thu trong dân, thu của học sinh những khoản tiền xây dựng điện, đường, trường, trạm, xây kênh mương và khoản thu cấp trên hỗ trợ hoặc thưởng từ năm 1992 tới nay.

c. Làm rõ khoản thu bán đất công ích, ao hồ, ùng vũng, bờ bãi từ năm 1999 tới nay.

2. Làm rõ các khoản thu bán đất nông nghiệp, lâm nghiệp cho dân làm, đất thổ cư từ năm 1990 tới nay.

3. Làm rõ các khoản thu bán đất sét trên diện tích đất nông nghiệp tổng 83.760m2 cho nhà máy gạch Tân Xuyên không được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Làm rõ và thu hồi khoản tiền trồng rừng dự án 327 khống tổng diện tích 57,9ha trong đó có Bí thư Đảng uỷ Chủ tịch HĐND xã, Chủ tịch xã v.v… Cụ thể là:

1% Nguyên Bí thư Đảng uỷ Chủ tịch HĐND xã Nguyễn Văn Thế hiện đương chức Chủ tịch UBND xã nhận trồng khống 2,1ha đã lĩnh tiền của Nhà nước tổng số tiền là 2.257.300đ tham nhũng.

2% Nguyên Chủ tịch UBND xã Hoàng Hồng Quang hiện đương chức Bí thư Đảng uỷ Chủ tịch HĐND xã nhận trồng 2 xuất diện tích 2,9ha khống đã kĩnh tiền của Nhà nước 2.944.000đ tham nhũng. Đây là tôi mới nêu 2 vị chủ chốt trong Đảng uỷ và UBND xã có đầy đủ bằng chứng sự thật không thể chối cãi được.

5. Thu hồi khoản tiền UBND thu của lao động từ năm 1997 - 2002 là 130.000đ/lao động để tham nhũng. Trả lại cho dân chúng tôi để chúng tôi làm đường giao thông bê tông trong thôn.

6. Thu hồi khoản tiền xã thu của dân chúng tôi để kéo điện cao thế mà Nhà nước đã hoàn trả lại cho dân UBND xã tham nhũng, không trả lời lại dân chúng tôi để chúng tôi làm đường giao thông bê tông trong thôn.

7. Kiểm tra xem xét làm rõ các khoản xây dựng các công trình như:

a) Trụ sở UBND xã; b) Trường học; c) Trạm xá; d) Làm đường giao thông láng nhựa, bê tông, công trình điện; e) Xây kênh Y2 vì đã có kết luận công trình đã đưa vào sử dụng nhưng chưa có quyết toán công trình theo quy định của Nhà nước và đã có quyết định số 890/QĐ-CT ngày 7/8/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi: Quyết toán và công khai trước dân các công trình… trường hợp trong quá trình quyết toán có dấu hiệu vi phạm, yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang tiến hành thanh tra XDCB.

8. Xử phạt hành chính 234 hộ xâm chiếm 16.9641ha theo Nghị định số 04/CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ thu trả ngân sách Nhà nước.

9. Tôi kính cẩn đề nghị Đảng và Nhà nước trả lại công bằng cho mẹ tôi, cho gia đình chúng tôi và bản thân tôi do bọn tham nhũng gây lên mà tôi đã trình bày cụ thể trong đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006 và đơn kiến nghị khẩn cấp ngày 7/6/2006 đã gửi cho Đảng, Nhà nước.

10. Cắt chức, bãi miễn, khai trừ đảng viên Hoàng Hồng Quang và đem ra truy tố xét xử tên Hoàng Hồng Quang trước pháp luật để làm gương cho kẻ khác.

11. Xử lý đường dây tham nhũng, đường dây ô dù từ xưa tới nay theo đúng pháp luật mà tôi đã nêu tên cụ thể trong đơn tố cáo đã gửi cho Đảng và nhà nước, gần đây nhất là Đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết đề ngày 27/4/2006 và Đơn kiến nghị khẩn cấp đề ngày 20/6/2006 đã gửi cho Đảng, Nhà nước.

Đảng và Nhà nước nhận được đơn này xin được hồi âm.

 

Người làm đơn tố giác tội phạm hình sự và đường dây tham nhũng, đường dây ô dù cho Đảng, Nhà nước ký tên.

 

                                                                      Dương Văn Bậc  

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------***------

Xương Lâm, ngày 27 tháng 4 năm 2006

 

ĐƠN KIẾN NGHỊ - TỐ CÁO KHẨN THIẾT

 

           Kính gửi Ông Nông Đức Mạnh - Tổng Bí thư

Ông Nguyễn Phú Trọng - Chủ tịch Quốc hội

Ông Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước

Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ

Ông Lê Hồng Anh - Bộ Trưởng Bộ công an

Ông Nguyễn Văn Hưởng - Thứ trưởng Bộ Công an

Ông Thân Văn Mưu - Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang

Các cơ quan truyền thông quốc tế

Dư luận đồng bào trong nước và hải ngoại

Tôi là: Dương Văn Bậc - Sinh năm 1942 tại làng Thương Bi.

Nay trú quán tại: Thôn 3 Liên Hòa, xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang,

                            tỉnh Bắc Giang

Viết đơn kiến nghị - tố cáo khẩn thiết với các ông những vụ việc sau đây:

I. PHẦN KIẾN NGHỊ:

Tôi là một công dân nghe theo Đảng và Nhà nước, sống và làm việc theo Hiến pháp và luật pháp. Tôi đã thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ nghĩa vụ của một công dân đối với Đảng và Nhà nước từ xưa tới nay mà Nhà nước đã quy định và ghi rõ trong Hiến pháp, luật pháp. Tôi đã quá tin tưởng vào Hiến pháp, luật pháp, TW Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Tôi đã tố cáo với Đảng và Nhà nước những người mang danh nghĩa là đảng viên, là cấp uỷ Đảng lợi dụng chức quyền tham nhũng của nhân dân chúng tôi mà nhân dân chúng tôi phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, một nắng hai sương mới có được, trong đó cả của gia đình tôi và bà Nguyễn Thị Gái là mẹ đẻ tôi thì gia đình tôi và mẹ đẻ tôi là bà Nguyễn Thị Gái sinh năm 1917, bị chết ngày 2 t ết âm lịch năm 1987, bị những người đứng đầu UBND huyện, xã, HTX và thôn đã nhập cuộc và đồng lõa với nhau, coi thường Hiến pháp và luật pháp, bất chấp cả nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, của Quốc hội, của HĐND và coi thường quyết định, nghị định của Chính phủ, chỉ thị, nghị quyết của TW Đảng. Bọn chúng đã gây cho gia đình chúng tôi những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng. Có những vụ việc bọn chúng gây nên đối với gia đình chúng tôi rất dã man, tàn bạo hơn cả máy bay giặc Mỹ thả bom phát quang, mang một ý đồ vô cùng thâm độc, định huỷ diệt mưu cầu cuộc sống hợp pháp của gia đình chúng tôi trái với Hiến pháp và luật pháp. Trái với bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc sáng ngày 2/9/1945. Bọn chúng đã cướp mất chủ quyền hợp pháp và quyền sống của mẹ tôi ở trên mặt đất. Bọn chúng đã giết mẹ tôi không đánh gươm, giáo, súng và không bom. Bọn chúng đã trù dập gia đình tôi và bản thân tôi về chính trị, kinh tế văn hóa và không được công bằng xã hội, không được bình đẳng trước pháp luật mà Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước đã quy định kể cả ánh sáng của Đảng và Nhà nước soi sáng cho toàn dân  gia đình chúng tôi cũng bị chúng trù dập. Nhân quyền bị vi phạm, chủ quyền hợp pháp bị xâm hại, quyền và lợi ích hợp pháp bị cưỡng đoạt, tài sản hợp pháp bị cướp trắng, danh dự và uy tín, nhân phẩm bị Chủ tịch UBD huyện lăng nhục chỉ vì tôi vẫn một lòng kiên chung với Đảng và Nhà nước, dám đấu tranh và tố cáo với Đảng và Nhà nước những hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật, trên dối Đảng lừa Chính phủ, dưới dối lừa dân, ức hiếp dân ngay, thất đức, vô tài như tên Hoàng Hồng Quang thì mẹ tôi và gia đình tôi, bản thân tôi bị trù dập như tôi đã nêu trên. Tôi sẽ diễn giải  từng vụ việc cụ thể ở phần tố cáo.

Tôi đã trực tiếp gửi đơn khiếu nại, khiếu tố, tố cáo lên UBND Huyện và Huyện uỷ Lạng Giang, UBND tỉnh và Tỉnh uỷ Bắc Giang từ năm 1986 tới nay vẫn không được giải quyết trả lại công bằng cho gia đình chúng tôi theo Luật định của Nhà nước.

Nay gia đình tôi, bản thân tôi kiến nghị với Đảng và Nhà nước và các ban, ngành cầm lắm Hiến pháp, luật pháp và thực thi Hiến pháp, luật pháp kiểm tra xem xét, giải quyết , trả lại công bằng cho mẹ tôi và gia đình tôi, bản thân tôi theo đúng Hiến pháp và luật pháp đã quy định những vụ việc tôi trình bày ở phần tố cáo sau đây.

II. PHẦN TỐ CÁO:

1. Tôi tố cáo ông Thân Văn Mưu - Phó Bí thư Tỉnh uỷ hiện đương chức Chủ tịch UBND Tỉnh: Không kiểm tra xem xét kết luận nội dung đơn tố cáo của tôi, không về địa phương thẩm tra, xem xét và xác minh các vụ việc tôi tố cáo trong đơn tố cáo của tôi gửi trực tiếp TW Mặt trận Tổ quốc Việt nam và đã được chuyển về Ủy ban MTTQ tỉnh và đã được UBN MTTQ tỉnh chuyển về Bí thư Huyện uỷ Lạng Giang xem xét, giải quyết, trả lời theo công văn chuyển đơn số 81/CP-MT ngày 31/5/2004. Không về gặp tố cáo để kiểm tra xem xét tố cáo bị hại, không đối chất với tố cáo, không yêu cầu tố cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung tố cáo. Ông Mưu ngồi tại phòng theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra văn bản kết luận số 75-KL/TƯ ngày 24/3/2005 theo báo cáo số 123-BC/KTTƯ ngày 21/3/2005 dập theo khuôn mẫu của văn bản trả lời số 997 ngày 13/9/2004 của Ban Thường vụ Huyện uỷ Lạng Giang mà tôi đã bác bỏ và tố cáo lên UBKT Tỉnh uỷ ngày 14/10/2004. Tôi đã bác bỏ bản kết luận số 75 vì giải quyết tố cáo của tôi trái pháp luật và cố ý bịa đặt không có căn cứ về việc giải quyết tố cáo của tôi. Tôi đã viết bản tố cáo bản kết luận số 75 lên Bí thư Tỉnh uỷ.

Lần hai, ông mưu giải quyết bản tố cáo của tôi dập theo lần trước, ngồi tại phòng theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra văn bản trả lời số 897-CV/TU ngày 6/5/2005 không có căn cứ, không có cơ sở, đồng thời vẫn cố tình bịa đặt lần hai để trả lời bản kiến nghị, tố cáo của tôi cho xong lần mà thôi, để bao che cho tên tội phạm Hoàng Hồng Quang. Tôi bác bỏ bản trả lời số 897-CV/TU ngày 6/5/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang do ông Phó Bí thư Tỉnh uỷ Thân Văn Mưu ký.

2. Tôi tố cáo ông Đào Xuân Cần - Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, nay đương chức Bí thư Tỉnh uỷ chủ tịch HĐND tỉnh khóa 2004-2009: Đã cố ý trì hãn giải quyết đơn tố cáo của tôi trực tiếp gửi Ủy ban TW MTTQ Việt Nam và đã được Ban Thường trực đoàn chủ tịch Ủy ban TW MTTQ Việt Nam chuyển đơn tố cáo của tôi về ông Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang xem xét, giải quyết, tả lời theo Công văn chuyển đơn số 819/CV-MTTW ngày 27/9/2004, đến nay vẫn không được giải quyết, đã cố ý cản trở tố cáo của tôi.

Lần hai, ông Cần chủ tịch UBND tỉnh lại một lần nữa cố ý đùn đẩy giải quyết tố cáo của tôi trái pháp luật mà tôi gửi cho ông ngày 17/3/2005 đã căn cứ vào Luật khiếu nại, tố cáo. Đoàn đã yêu cầu tôi gửi đơn cho Chủ tịch UBND tỉnh xử lý và tôi đã gửi theo đúng yêu cầu của Đoàn. Vậy là ông Đào Xuân Cần - Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã cố ý đùn đẩy giải quyết tố cáo của tôi trái pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ông Cần là Chủ tịch UBND tỉnh đã cố tình vi phạm điều 61, 66, 67, 68 và khoản 3 điều 96 Luật khiếu nại, tố cáo; vi phạm Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6/3/2002, vi phạm điều 8, 12 và điều 4 của Hiến pháp, vi phạm khoản 4 điều 38 mục 1 chương III Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ, vi phạm khoản 3 điều 15 chương II Nghị định số 04/CP ngày 10/01/1997 của Chính phủ. Ông Cần và ông Mưu còn dẵm ngay lên khoản 6 điểm 2 hai la mã của quyết nghị thuộc Nghị quyết số 72/2003/NQ-HĐND tỉnh Bắc Giang khóa XV kỳ họp thứ 10 từ ngày 28 - ngày 30/7/2003 trong đó có cả hai ông biểu quyết nhất trí, rồi lại dẵm lên nghị quyết của chính mình biểu quyết nhất trí. Hai ông đã vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Thân Văn Mưu và ông Đào Xuân Cần đã đồng tình với nhau, nhập cuộc và đồng loã với Bí thư Huyện uỷ và chủ tịch UBND huyện  Lạng Giang bu che cho bọn vi phạm pháp luật, tham nhũng ở xã Xương Lâm, cầm đầu bọn chúng là Hoàng Hồng Quang, trên dối Đảng lừa Chính phủ, dưới dối lừa dân, ức hiếp dân ngay, thất đức, vô tài, đầy vết nhơ bẩn hôi tanh, vẫn đứng trong đội ngũ của Đảng, vẫn giữ cương vị Bí thư Đảng uỷ Chủ tịch HĐND xã khóa 2004 - 2009 không thể chấp nhận được mà tôi trình bày và diễn giải cụ thể sau đây có đầu đủ chứng lý và căn cứ đúng pháp luật không thể chối cãi được.

Dưới chế độ thực dân phong kiến trước năm 1945 và chế độ Mỹ Ngụy ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975. Người nào theo Pháp, Mỹ ngụy, tố cáo Việt minh cho Pháp, tố cáo Việt cộng cho Mỹ Ngụy đều được Pháp, Mỹ Ngụy trọng thưởng, thăng quan tiến chức. Bố, mẹ, vợ, con sung sướng, người bị tố cáo đều bị Pháp, Mỹ Ngụy truy lùng, săn bắt, bị tù, đầy ra Côn Đảo, xà lim, án chém hoặc xử bắn.

Dưới chế độ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện… Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Bà Nguyễn Thị Gái sinh năm 1917 tại làng Thương Bi, là mẹ đẻ tôi, đều là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập sáng ngày 2/9/1945 có đoạn: Con người sinh ra đều có quyền bình đẳng, có quyền mưu cầu cuộc sống, mưu cầu hạnh phúc, cái quyền đó không ai có thể xâm phạm được, nay là Nước CHXHCN ViệtNam, là một Nhà nước pháp quyền, do dân, vì dân. Đảng và Nhà nước đã lập ra Hiến pháp từ năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Nhà nước đã ban hành các pháp luật, pháp lệnh và các chỉ thị nghị quyết, quyết định và nghị định…

Mẹ tôi luôn luôn chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, bà đã đưa vào HTX nông nghiệp trên 1 mẫu ruộng canh tác và đóng góp 3 cổ phần theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước là 3 ngọn cờ Hồng, bà không vi phạm pháp luật. Tôi và mẹ tôi còn thực hiện theo lời dạy của Bác Hồ: Cần kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 đến năm 1980, kinh tế gia đình tôi vô cùng khó khăn cũng như mọi gia đình khác trong HTX, trong thôn. Tôi không tham gia vào những việc làm do thôn đội tổ chức trộm, cắp của HTX cho dù lãnh đạo, chính quyền thôn và dân trong thôn cô lập tôi và tôi thừa hiểu không tham gia là thiệt thòi lớn, vì tiện gió bẻ măng, đục nước béo cò. Tôi chỉ là một công dân bình thường, không được rèn luyện theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy mà tôi lại là người có một, không  có hai ở HTX tôi thực hiện thắng lợi lớn tiếng gọi của Đảng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước…" Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ, hậu phương thi đua với tiền phương" góp phần cho chiến dịch đại thắng Mùa Xuân 30/4/1975. Cụ thể là: Năm 1974 tôi được xã viên bầu vào Ban chỉ huy đội sản xuất gồm 4 người, không có ai là đảng viên. Chúng tôi đã thực hiện tiếng nói của Đảng: Thứ nhất là hai chữ "công bằng". Thứ hai là, chống gian tà, tham ô. Thứ ba là lợi dụng cửa quyền, ban chỉ huy đội không nên vướng vào. Thứ tư là, công việc hàng ngày, điều động cho đúng đừng nghiêng người nào và ta phải công khai dành mạch ta bàn với dân và áp dụng khoa học kỹ thuật thực tiễn theo điều kiện và khả năng thực tế. Quả nhiên chiêm, mùa thắng lợi bội thu, năng suất chưa từng có, bao đời các ông đảng viên làm đội trưởng sản xuất trước và sau chúng tôi không sao thực hiện được, mà cụ thể là năm 1980, ông Nguyễn Văn Túc là Đảng uỷ xã làm đội trưởng, thu nhập của xã viên cả năm trời mỗi công được có 0,6kg thóc không bằng thóc thưởng của ngày công năm 1974 của xã viên là 0,8kg thóc/công. HTX giao thóc đi cho Nhà nước, đi thừa lên kho xã viên không ai đọng nợ.

Như tôi đã nói ở phần kiến nghị: Tôi đã quá tin tưởng vào hiến pháp, luật pháp của Nhà nước, quá tin tưởng vào Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ. Tôi đã tố cáo với Đảng và Nhà nước những người lợi dụng danh nghĩa là đảng viên, là cấp uỷ Đảng, lợi dụng chức quyền tham nhũng của nhân dân chúng tôi và vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước. (Tham nhũng là giặc nội xâm) mà nhân dân thôn tôi không ai dám tố cáo bọn tham nhũng ngay của chính mình mà lại còn ôm chân bám cẳng bọn chúng, cụ thể tôi đã tố cáo.

1. năm 1980, tôi tố cáo ông Nguyễn Văn Túc lợi dụng danh nghĩa là Đảng uỷ ivên xã làm đội trưởng sản xuất thôn tôi đã đồng lõa và bao che cho Vũ Văn Thức là thư ký đội sản xuất tham nhũng của xã viên chúng tôi 1,431kg thóc ngày công của xã viên trong đội đó có của gia đình tôi là 30,95kg thóc và tham nhũng thóc điều hòa của 3 hộ là 73,66kg. Trong đó có của mẹ tôi là bà Gái là 48kg và 0,71 kg thóc phân. Tôi đã trực tiếp tố cáo lên ông Bí thư Đảng uỷ Ngô Quốc Giáp, Chủ tịch UBND xã Ngô Văn Xuân, hai ông làm ngơ không giải quyết, không xử lý Nguyễn Văn Túc. Đến năm 1981 tôi lại tố cáo ông Nguyễn Văn Túc là Đảng uỷ xã vẫn làm đội trưởng đội sản xuất thôn tôi tham nhũng tiền ngày công, tiền phân chuồng của xã viên và tiền đậu xanh của khẩu bán cho Nhà nước và 1.400kg thóc/2/053kg thóc HTX giảm sản cho xã viên trong đội tôi. Túc đã lĩnh tuốt về nhà Túc xơi trong đó có cả của gia đình tôi và bà Gái là mẹ đẻ tôi. Tôi đã trực tiếp tố cáo lên ông Bí thư Đảng uỷ Ngô Quốc Giáp, Chủ tịch UBND xã Ngô Văn Xuân.Hai ông lại một lần nữa làm ngơ không giải quyết. Đến cuối năm 1983 tôi lại trực tiếp tố cáo ông Nguyễn Văn Túc là Đảng uỷ xã đương chức Phó Chủ nhiệm trưởng kế hoạch HTXNN xã Xương Lâm với ông Phó Chánh thanh tra huyện Lạng Giang là Đồng Văn Tiềm về tội: Túc tham nhũng của dân năm 1980 và 1981 và tội vu khống tôi trốn thuế nông nghiệp, Túc đã vi phạm vào Điều 278 BLHS, tại Văn phòng UBND xã Xương Lâm có mặt ông Chủ tịch xã Ngô Văn Xuân và có mặt cả ông Túc hôm đó. Vậy là xã, huyện đã đồng tình với nhau làm ngơ và dung túng cho việc làm thung nhũng sai phạm pháp luật của Đảng uỷ xã Nguyễn Văn Túc cho nên cố ý không giải quyết và xử lý tố cáo của tôi. Phải chăng? Ông Bí thư đảng uỷ Ngô Quốc Giáp, Chủ tịch UBND xã Ngô Văn Xuân cùng hội, cùng thuyền với Nguyễn Văn Túc và Hoàng Hồng Quang nên đã cố ý đưa một người tham nhũng và vi phạm Điều 278 BLHS giữ chức Phó Chủ nhiệm HTXNN đó là Túc và một người coi thường Chỉ thị 231, Quyết định só 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và đưa lên giữ chức Chủ nhiệm HTX NN xã Xương Lâm đó là Hoàng Hồng Quang. Đến năm 1986 gia đình tôi và mẹ tôi bị tôi xin tố cáo sau đây:

1. Sáng ngày 17/5/1986, ông Bạch Công Hinh - Phó bí thư Huyện uỷ Chủ tịch UBND huyện đã nhập cuộc và đồng lõa với Đảng uỷ, UBND xã và ban quản lý HTX NN xã Xương Lâm do Quang làm Chủ nhiệm, Túc Phó Chủ nhiệm đã bất chấp cả Hiến pháp, luật pháp, Điều lệ Đảng và bất chấp cả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản tuyên ngôn độc lập mà Bác đọc sáng ngày 2/9/1945 ông Bạch Công Hinh đã cử một đoàn cán bộ của huyện gồm các ông:

1. Nguyễn Văn Hiệp                    Cán bộ Viện kiểm sát Huyện

2. Nguyễn Văn Thuý                   Cán bộ Công an Huyện

3. Nguyễn Quốc Hưng                 Cán bộ Thanh tra Huyện

4. Ngô Văn Đạt                           Cán bộ Thanh tra Huyện

5. Ngô Văn Luật                          Cán bộ Địa chính Huyện

Về cùng với chính quyền xã và HTX Xương Lâm tập trung tại nhà Phó Chủ nhiệm Nguyễn Văn Túc rồi đoàn hùng hổ kéo đến nhà gia đình chúng tôi, không có một thứ giấy tờ gì thông báo trước cho gia đình chúng tôi. Đoàn tự động xộc vào nhà chúng tôi không được sự đồng ý của chúng tôi và lập biên bản thu hồi đất thổ cơ hợp pháp của mẹ tôi trái với Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980, trái với Hiến pháp và trái với Luật đất đai ăm 1987 và không có quyết định thu hồi đất thổ cư hợp pháp của cấp có thẩm quyền và lý do thu hồi đất. Mẹ tôi bị ốm, cố lê vào sát Đoàn để thanh minh và trình bày, tên Hiệp quát: Không làm việc với cái bà Gái già kia (xin hỏi: Thằng Nguyễn Văn Hiệp do người đẻ ra hay chó cái đẻ ra?). Đoàn bắt tôi ký biên bản và đe dọa tôi: Nếu không ký biên bản bắt ra Huyện giam ba ngày. Tôi thì chưa hiểu gì Hiến pháp, luật pháp lúc bấy giờ và mẹ tôi đang bị ốm, bắt buộc phải ký biên bản. Đoàn lại kéo nhau vào nhà Túc uống rượu thịt chó trưa ở đó do Bí thư chi bộ An Văn Hào là một hành vi vi phạm Quyết định 201/CP và điều 5 Luật đất đai năm 1987 đem chó của nhà sang thịt đãi Đoàn tại nhà Túc. Vậy là mẹ tôi nghe Đảng và Nhà nước mới vào HTX NN  và đưa vào HTX trên 1 mẫu ruộng canh tác và góp đủ 3 loại cổ phần: 1. Cổ phần HTXNN, 2. Cổ phần tiến dụng. 3. Cổ phần HTX mua bán, tức là đã thực hiện đủ 3 ngọn cờ Hồng. Ngày công sản xuất nông nghiệp hàng năm thuộc nhất, nhì trong HTX, đến lúc tuổi già ốm yếu thì bị những người đứng đầu UBND Huyện, đứng đầu Đảng uỷ và UBND xã, đứng dầu HTXNN và thôn cướp mất chủ quyền hợp pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Vậy là đã cướp mất quyền sống của mẹ tôi ở trên mặt đất.

2. Sáng ngày 18/5/1986, gia đình chúng tôi lại bị ông Bạch Công Hinh - Phó bí thư Huyện uỷ, chủ tịch UBND huyện Lạng Giang lại câu kết với Đảng uỷ, UBND xã và HTX Xương Lâm vẫn cho đoàn người hôm trước cầm dao hùng hùng, hổ hổ vào gia đình tôi không có thứ giấy tờ gì thông báo cho gia đình tôi biết trước, cũng không có lệnh của cấp có thẩm quyền. Bọn chúng chặt phá tre, xoan là kinh tế hợp pháp của gia đình chúng tôi dã man tàn bạo hơn cả máy bay giặc Mỹ thả bom phát quang và còn thâm độc hơn nữa là huỷ diệt ao cá giống, nếu tôi không xử lý kịp thời thì ao cá giống đi đời nhà ma. Đoàn còn cưỡng bức gia đình chúng tôi phải trả cho Đoàn 450đ tiền công phá hoại tre, xoan. Đoàn được tiền công phá hoại kéo nhau về UBND xã Xương Lâm mua chó liên hoan no say rồi Đoàn của Huyện rút về Huyện, được bữa thịt chó mặt mày hân hoan.

Đất thổ cư hợp pháp có chủ quyền là mẹ tôi từ năm 1957 thuộc đất của ông cha để lại cho mẹ tôi, đến năm 1967 có thêm một chủ hộ nữa là tôi con trai mẹ tôi. Hai hộ chúng tôi đã kê khai đất thổ cư từ năm 1983 do ông Nguyễn Đức Hạng đội trưởng sản xuất phát cho hai hộ chúng tôi, mỗi hộ 1 tờ kê khai đất thổ cư. Kê khai xong, ông đội trưởng thu lại nộp cho HTX. Số đất thổ cư thừa theo quy định HTX đã thu thuế đất vườn từ năm đó cho tới nay. Hàng năm gia đình chúng tôi đều hoàn thành thuế vườn cho Nhà nước. Hai gia đình chúng tôi không xâm chiếm đất đai, không vi phạm Luật đất đai, không tranh chấp đất đai, không trốn thuế vườn. Khoản C của Nghị quyết 337/NQ-HĐ ngày 13/5/1988 của HĐND Tỉnh ghi: Đất do lịch sử để lại (của ông cha) làm nhà trước năm 1980 (trước 18/12/1980 có Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam) thì giữ nguyên hiện trạng diện tích đất ở. Khoản 5, 6 Điều 49 Luật đất đai năm 1987 ghi: Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác. Được Nhà nước bảo vệ khi người khác, xâm phạm đến quyền lợi sử dụng đất đai hợp pháp của mình.

Điều 23 Hiến pháp năm 1992 ghi: Tài sản hợp pháp của cá nhân không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân theo giá thị trường. Như vậy là mẹ tôi bị cướp mất đất thổ cư hợp pháp lần thứ hai.

Lần thứ nhất mẹ tôi bị HTX chiếm đoạt 1 sào 5 thước đất thổ cư hợp pháp đã ở từ năm 1954, được Nhà nước bảo hộ đã ghi rõ trong Hiến pháp, luật pháp chỉ vì mẹ tôi là người liền bà hóa phụ từ năm 1949 mới có 32 tuổi. Đến năm 1968 mẹ tôi chuyển nhà ra ở gần tôi vẫn là đất của mẹ tôi chủ quyền từ năm 1957 thuộc đất ông cha. HTX đã chiếm đoạt làm nhà kho chứa phân đạm, lân, kali cho thôn đến năm 1978 không dùng làm kho. HTX không trả lại mẹ tôi mà lại giao cho ông Hà, ông Mỹ làm đất thổ cư là trái với Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước. Năm 1968 mẹ tôi bị cướp mất đất thổ cư hợp pháp lần thứ nhất.

Đến ngày 17/5/1986 mẹ tôi lại bị cướp mất đất thổ cư hợp pháp lần thứ hai. Vậy là mẹ tôi bị chính quyền huyện Lạng Giang, xã Xương Lâm, HTX hợp pháp là đã cướp mất quyền sống của mẹ tôi ở trên mặt đất mà Bác Hồ đã công bố sáng ngày 2/9/1945: Không ai có thể xâm phạm được. Trong khi đó: Những người lợi dụng danh nghĩa là đảng viên là cấp uỷ Đảng, lợi dụng chức quyền tham nhũng, vi phạm pháp luật và số cán bộ, đảng viên cùng số hộ lấn chiếm đất của HTX là đã coi thường pháp luật của Nhà nước mà tôi tố cáo cụ thể sau đây:

1. Ông Nguyễn Văn Túc cương vị và chức vụ tôi đã nêu trên. Năm 1980 làm đội trưởng sản xuất đã đồng lõa và bao che cho Vũ Văn Thức tham nhũng mà tôi đã nêu trên, trong đó có của gia đình tôi và bà mẹ tôi. Đến năm 1981 Túc vẫn làm đội trưởng tham nhũng mà tôi đã nêu trên trong đó có của gia đình tôi và mẹ tôi.

2. Nguyễn Văn Túc - Đảng uỷ xã chức vụ Phó Chủ nhiệm HTX: Phá huỷ ruộng đang canh tác của HTX làm ao cá nhân. Đã vi phạm Quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 và vi phạm điều 5 Luật Đất đai năm 1987.

3. Năm 1986 và 1987 con, cháu của Túc chức vụ nêu trên: Phá huỷ ruộng đang canh tác của HTX lấy đất sét đóng gạch cá nhân. Đã vi phạm Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 và Điều 5 Luật đất đai năm 1987.

4. An Văn Hào - Bí thư Chi bộ lại là cháu của Túc, hiện đương chức Trưởng thôn: Năm 1981 chiếm ruộng canh tác của HTX thuê máy ủi ao cá nhân để lấy đất đóng gạch cá nhân, đã vi phạm Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 và Luật Đất đai năm 1987 (Bản kết luận số 72 ngày 13/11/1986 do Chánh Thanh tra Đồng Thị Xuyến ký và hiện trường còn nguyên là chứng cứ).

5. 32 trường hợp cán bộ lấn chiếm đất của HTX làm nhà kiên cố trong đó có cả đất canh tác: Đã vi phạm Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 và Điều 5 Luật đất đai năm 1987 (Báo nhân dân năm ths 35 số 11345 thứ Năm ngày 25/7/1985 là chứng cứ).

6. 150 hộ lấn chiếm 32.441m2 đất của HTX để làm thổ cư: Bình quân mỗi hộ lấn chiếm trên 216m2 (Báo cáo kết luận số 89 ngày 19/12/1998 của Đoàn thanh tra Sở Địa chính tỉnh Bắc Giang do trưởng đoàn Giáp Tuấn Thơ ký là chứng cứ).

7. Tập thể và cá nhân phá huỷ 28 mẫu 8 sào 10 thước ruộng canh tác của HTX để dân phải đánh thuế khống từ năm 1981-1989 (Bản kết luận số 610 ngày 30/9/1989 của Chủ tịch UBND huyện, Bạch Công Hinh - Chủ tịch UBND huyện ký là căn cứ).

8. Tên Hoàng Hồng Quang - Nguyên BCH xã Đoàn, nguyên Chủ nhiệm HTXNN xã Xương Lâm, nguyên Chủ tịch UBND xã, hiện đương chức Bí thư Đảng uỷ Chủ tịch HĐND xã Xương Lâm. Đã cố ý vi phạm các tội mà tôi tố cáo sau đây đã có đầy đủ các căn cứ đúng pháp luật không thể chối cãi được từ trước tới nay.

1. Tội vi phạm Chỉ thị số 231; 2. Tội vi phạm Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980; 3. Tội vi phạm Luật đất đai năm 1987. Cụ thể:

a. Năm 1980 là đang cảm tình Đảng, chức vụ BCH xã Đoàn chiếm đoạt 2.590m2 đất của HTX, đã vi phạm Chỉ thị 231, Quyết định 201 và Điều 5 Luật đất đai của HTX, đã vi phạm Chỉ thị 231, Quyết định 201 và Điều 5 Luật đất đai năm 1987 (Báo có số 02 ngày 6/2/1999 của Chánh Thanh tra Nguyễn Quốc Hưng là căn cứ).

b. Tháng 11 năm 1981 được kết nạp vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, đến năm 1985 đương chức Chủ nhiệm HTXNN Xương Lâm chiếm đoạt 1 sào 2 thước ruộng canh tác của HTX ủi làm ao cá nhân và trốn thuế nông nghiệp 5 năm liền. Đã vi phạm Quyết định số 201, Điều 5 Luật đất đai năm 1987 và vi phạm pháp lệnh thuế nông nghiệp (Bản kết luận số 610 ngày 30/9/1998 của Chủ tịch UBND huyện Bạch Công Hinh ký là căn cứ.

4. Tội vi phạm trong công tác quản lý đất đai:

a. Để tập thể, cá nhân phá huỷ 28 mẫu 8 sào 10 thước ruộng canh tác của HTX, dân phải gánh thuế nông nghiệp khống từ năm 1981-1989 tổng số thóc thuế là 18.910kg (Bản kết luận số 610 ngày 30/9/1989 Chủ tịch Huyện Bạch Công Hinh ký là căn cứ).

b. Từ năm 1980-1991 để cho 150 hộ lấn chiếm 32.441m2 đất của HTX làm đất thổ cư (Báo cáo kết luận số 89 ngày 19/12/1998 của Thanh tra Sở Địa chính Tỉnh do Giáp Tuấn Thơ làm trưởng đoàn ký là căn cs).

c. Năm 1986-1987 lợi dụng chức quyền phá huỷ 14.788m2 ruộng canh tác của HTX trong đó có 11.344m2 bán đất sét cho nhà máy gạch Tân Xuyên không được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quang đã coi thường Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 là Luật Đất đai năm 1987 (Báo cáo số 02 ngày 6/02/1999 của Chánh Thanh tra huyện Nguyễn Quốc Hưng ký là căn cứ).

d. Lợi dụng chức quyền đem ruộng của nhân dân HTX Xương Lâm cho các đơn vị đóng trên địa bàn huyện, các cơ quan trong Huyệ và số cá nhân trong cơ quan cấy với tổng diện tích 165 mẫu 4 sào từ năm 1981-1988, Quang không thu đủ thuế nông nghiệp cho Nhà nước, để dân phải gánh thuế khống là 78.838kg thóc và 43.484kg thóc thuỷ lợi phí (Bản kết luận số 610 ngày 30/9/1989 là căn cứ). Trong khi đó xã viên trong HTX không có lương, sống về ruộng đất, cấy ruộng Hoàng Quang thu bình quân của chiêm mùa là 144kg/sào/năm mà phân đạm, lân, ka li Quang không cung cấp đủ theo kế hoạch, theo lời vụ kể cả thuốc bảo vệ thực vật để dân phải tự lo. Vậy mà có hộ xã viên trong HTX quá khó khăn vì mẹ già ốm mãi rồi chết, sau đó vợ lại bị bệnh tim, cũng chưa mãi không khỏi rồi chết, bỏ lại cho chồng một lách 6 con nhỏ, đứa lớn nhất 15 tuổi, bé nhất ẵm ngửa, có nợ số thóc sản của HTX. Tên Hoàng Hồng Quang - Chủ tịch UBND xã đã dã tâm rút hết ruộng của bố con hộ xã viên đó không cho cấy. Vậy thì các ông trong cơ quan của nhà nước do dân bầu và dân nuôi, nhà nước phát lương hàng tháng và khoác áo Đảng, cấy ruộng của nhân dân HTX Xương Lâm chống thuế nông nghiệp và thuỷ lợi phí của nhà nước để dân HTX Xương Lâm phải gánh khống thì cấp nào xử lý đây? Những người đó còn đủ tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng đứng trong tổ chức của Đảng và đứng trong các cơ quan nhà nước không? Điều 52 Hiến pháp ghi: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tên Quang là một tên thất đức, bất nhân.

5. Hoàng Quang phạm tội trốn thuế nông nghiệp 5 năm liền của diện tích lấn chiém 1 sào 2 thước để ủi ao cá nhân.

6. Tên Quang phạm tội lợi dụng chức quyền tham nhũng.

a. Tham  nhũng 500,5kg thóc của HTX trong đó: năm 1985 là 57,5kg; năm 1986 là 30kg; năm 1987 là 413kg.

b. Đem lân đi bán giá cao tham nhũng 720đ tiền mặt. Viện Kiểm sát Huyện thu hồi và đã có khởi tố. Huyện đồng lõa và bu che không đưa ten tham nhũng Hoàng Hồng Quang ra truy tố mà lại ra quyết định miễn tố không số ngày 8/8/1986, năm đó Quang đương chức Chủ nhiệm HTX.

7. Hoàng Quang phạm tội vi phạm trong công tác quản lý kinh tế - tài chính và vật tư nông nghiệp với số lượng lớn, gây thiệt hại lớn cho nhân dân HTX Xương Lâm đến nay vẫn không có quyết định xử lý, thu hồi của cấp có thẩm quyền.

a. Để tham nhũng 30.771kg thóc và 4.678.758đ.

b. Tiền mặt bỏ ngoài sổ sách chi tiêu sài nhạu.

c. Tiền của tập thể gửi tín dụng đứng tên cá nhân, thu lời bất chính.

d. Để cá nhân tham ô mà không biết.

đ. Để thất thoát vật tư nông nghiệp của HTX với số lượng lớn (Bản kết luận số 610 ngày 30/9/1989 của Chủ tịch UBND huyện Hạnh Công Hinh ký là căn cứ).

Ông Phó bí thư Huyện uỷ Chủ tịch UBND huyện Bạch CôngHinh không cử các cơ quan có chức năng, thẩm quyền về thanh tra, kiểm tra xem xét những hành vi vi phạm đất đai, lấn chiếm đất đai, phá huỷ đất đai không được cấp có thẩm quyền phê duyệt mà tôi đã trình bày tố cáo ở trên theo Quyết định số 201/CP ngày 01/77/1980 và Điều 53, 54 Luật đất đai năm 1987 và khoản 1 điều 180 BLHS năm 1985, không xử lý những hành vi trốn thuế nông nghiệp mà tôi đã tố cáo ở trên theo Điều 169 BKHS năm 1985.

Ông Bạch Công Hinh - Phó Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch UBND huyện không ra quyết định xử lý kỷ luật nghiêm minh đảng viên Hoàng Hôàng Quang và số đảng viên có vi phạm Quyết định số 201, Luật đất đai năm 1987, vi phạm trong công tác quản lý đất đai, quản lý kinh tế - tài chính và vật tư nông nghiệp, tham nhũng tại HTX xã Xương Lâm. Không ra quyết định truy tố tên Hoàng Hồng Quang theo Điều 174 BLHS năm 1985 tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng. Không đưa tên Hoàng Hồng Quang ra truy tố trước pháp luật về tội tham nhũng mà đã có khởi tố mà ông Bạch Công Hinh - Chủ tịch UBND huyện cố ý đồng lõa, cố ý bu che. Đã cố tình dìm bản kết luận 610 đi để che giấu những sai phạm cho tên Hoàng Hồng Quang, mãi đến ngày 14/12/1989 bầu cử HĐND xong Chủ tịch huyện mới gửi bản kết luận số 610 ngày 30/9/1989 về xã. Xã và Huyện lại đồng lõa với nhau dìm đi, không thông qua Đảng bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đòi hỏi da diết, bắt buộc Huyện mới cho một cán bộ về thông qua bản kết luận số 610 vào tháng 5/1990, chỉ có 70 đảng viên / 210 đảng viên tức là chỉ có 30% đảng viên được nghe, đã cố ý không thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Đã vi phạm nghiêm trọng khoản 2 điều 2 Điều lệ Đảng... không đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện tiêu cực khác. 70 đảng viên được nghe đã cố ý vi phạm đêìu 8 Hiến pháp: Không chống các vi phạm hiến pháp và Luật pháp 70 đảng viên được nghe bản kết luận số 610 đã đồng tình và bao che cho đảng viên Hoàng Hồng Quang - Chủ tịch UBND xã Xương Lâm đã bị thoái hóa biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, là một tên bất nhân, thất đức, vô tài, tham nhũng và số đảng viên có vi phạm pháp luật, đất đai, tham nhũng.