Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Carlyle A. Thayer: - Đặng Sao Minh chuyển ngữ:

Việt Nam - Sự Phát Triển, Dân Chủ

và Cuộc Diễu Hành APEC


Lời Giới thiệu
Tôi xin tỏ lời cảm tạ Tổ chức Ân xá Quốc tế và Cộng Đồng Người Việt Tự do Úc Châu về lời mời để có mặt hôm nay để bày tỏ quan điểm của tôi cùng quan khách.
Trong lúc chúng ta đang họp mặt hôm nay thì khoảng mười ngàn đại diện và chính khác nước ngoài hiện đang hội tụ tại Hà Nội cho một loạt hội họp cao cấp cho lần thứ 14 Thượng đỉnh Nguyên thủ của diễn đàn APEC. Mục đích của APEC là để tạo thuận tiện cho sự phát triển kinh tế, việc hợp tác, và việc đầu tư cùng thương mãi trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Những thành viên của APEC ước lượng khoảng 40% của dân số thế giới, 47% mậu dịch của toàn cầu, và 60% của GDP thế giới.
Sự tiến hành của APEC cũng bao gồm những buổi hộp họp của những nguyên thủ then chốt quốc tế sẽ diễn ra bên lề của những APEC chương trình chính thức. Thêm vào đó, năm lãnh đạo của chính quyền, gồm có những tổng thống của Trung Quốc, Nga Xô và Hoa Kỳ và Thủ tướng của Nhật Bản sẽ riêng rẽ chính thức viếng thăm Việt Nam.
Sự tiến hành chính thức của APEC thông thường không có nhắm đến những vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Vào ngày 16 tháng 11, buổi họp lần thứ 18 của những bộ trưởng APEC đã kết thúc trong 2 ngày với Bản Tuyên bố Chung dày 29 trang. Nhân quyền đã không quan tâm đến trong chủ đề của buổi họp lần thứ 18 này, mặc dù những vấn đề an sinh đã bàn đến ( chống khủng bố, sức khỏe [bịnh truyền nhiễm, cúm Avian, bịnh cảm cúm], an ninh năng liệu). Bản Tuyên bố Chung cũng nói qua về việc chống tham nhũng and sự minh bạch cùng sự phát triển bền bỉ.
Thông thường thì những đề tài nhân quyền và tự do tôn giáo sẽ giành riêng cho cuộc họp mặt không chính thức của những hội đoàn dân sự, viết tắc là (NGOs) hay gặp nhau, song song với buổi hội họp chính thức. Nhưng không có trong cộng sản Việt Nam. Không những những tiếng nói này bị bịp miệng, song chính quyền Việt Nam cũng cấm những cuộc biểu tình công khai và đã ngăn rào xung quanh nhà cửa của những nhà bất đồng chính kiến hàng đầu. Mật vụ an ninh cho cắm những bản bằng tiếng Anh như "No Foreigners" - "Cấm Người Ngoại quốc". Công an cho dàng dựng bàn ghế ở phía ngoài nhà của những nhà bất đồng chính kiến và/hay ngăn chận những con đường và lối vào ra vào nơi họ cư trú. Thật đúng vậy là những tổ chức dân sự như Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cần lên tiếng cho sự quan tâm về vấn đề nhân quyền and lobby Thủ tướng Howard. Thủ tướng Canada đã gặp các lãnh tụ Việt Nam và đã trình bày sự quan tâm về tình trạng nhân quyền. Rất mong đợi Thủ tướng John Howard cũng sẽ làm như vậy.
Mục tiêu của sự phát triển trong mỗi nhà nước cần phải nhắm đến sự an sinh - sự cải tiến của cuộc sống của toàn công dân, đặc biệt là tầng lớp thấp nhất của cán cân kinh tế-xã hội, những thành phần mà thường bị bỏ lại bên lề trong giai đoạn của một nền kinh tế tăng tiến nhanh chóng.
Mục đích của tôi hôm nay là để nhận diện các kiềm chế quan trọng trong việc tiến trình phát triển ở một nhà nước độc đảng của Việt Nam. Tôi có ý nói đến ba vấn đề chủ chốt: lãnh đạo mới, việc tham nhũng, và sự tiến hành của APEC.
Ban Lãnh đạo
Đã đến lúc cho việc kiểm chứng thực tiễn về sự tường trình chính trị tại Việt Nam. Nếu giới truyền thông quốc tế thật sự tin tưởng rằng, Việt Nam đã vứt bỏ những thành phần lãnh đạo lỗi thời và đề xướng một thế hệ trẻ của bộ phận cải cách từ thành phần miền nam nơi nền kinh tế phồn thịnh của đất nước. Tân chủ tịch nhà nước Việt Nam, Nguyễn Minh Triết, là một khuôn mặt của cuộc cách mạng này. Ông Triết xuất đạt từ tỉnh Sông Bé miền nam, nơi ông giám thị sự lớn mạnh của nó như một trong các khu vực hấp dẫn nhất của Đông Nam Á cho sự đầu tư của nước ngoài. Cùng ông được bổ nhiệm là thêm một người miền nam, Nguyễn Tấn Dũng, - gần đây được chọn làm thủ tướng - người trẻ tuổi nhất chọn giữ chức vụ này kể từ năm 1975. Nhưng những điểm khuyến khích này không có nghĩa là chính quyền của họ được dệt từ mảnh vải khác, hay việc cải cách kinh tế sẽ nhất thiết tăng nhanh dưới sự lãnh đạo của họ.
Như nước hàng xóm Trung Quốc, cái tin tồn của sự tiến triển kinh tế ở Việt Nam đã làm khó hiểu một điểm là hệ thống chính trị phần lớn vẫn không thay đổi. Triết, Dũng, và các đồng sự trong Ban Điều Hành là sản phẩm của cái chế độ chính trị Việt Nam-Lêninít và là một phong cách của kiểu lãnh đạo tập trung. Các lãnh đạo mới của Việt Nam đã được tuyển chọn bởi vì họ được đánh giá từ các đảng viên khác về sự trung thành đối với đường lối của đảng. Gần đây cái đường lối này đưa ra vài cái quyết tâm mới đối với việc chống tham nhũng và những cải cách thị trường từng bước một, nhưng nó vẫn còn bảo thủ. Bộ phận lãnh đạo còn bị hạn chế do đảng chỉ thị là cần phải theo đuổi một "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa," có nghĩa rằng nhà nước vẫn tiếp tục kiểm soát các bộ phận chiến thuật của nền kinh tế và những giới hạn từ sự ảnh hưởng của các doanh nhân tư nhân. Triết và Dũng là những nhà cải cách kinh tế đối với một phần nào đó là họ sẽ thật sự hành quyết để thi hành các giao ước quốc tế của Việt Nam, bao gồm những điều kiện tất yếu của tư cách hội viên trong tổ chức WTO.
Cả hai chủ tịch nước và thủ tướng thừa nhận lời tuyên bố chính thức đó là sự ổn định chính trị ( đọc: đảng cộng sản phải duy trì quyền thống trị) phải là nền tảng căn bản cho sự tiến triển kinh tế. Việc bổ nhiệm người mang đầu óc cuồng tín tư tưởng như Nguyễn Phú Trọng vào chức vụ chủ tịch quốc hội rõ ràng biểu lộ việc cải cách luật pháp và hành chánh của Việt Nam sẽ làm nản lòng cho một thể chế đa nguyên chính trị. Một điều mà thường bị coi nhẹ đó là chủ tịch quốc hội chứng tỏ nắm quyền hành lớn hơn chủ tịch nhà nước. Vai trò của chủ tịch nhà nước phần lớn là để cho việc nghi lễ trong khi chủ tịch quốc hội có thẩm quyền thảo ra các đề án lập pháp. Hội nghị quốc hội đang trở thành một hội đồng có nhiều ảnh hưởng mạnh nhất từ chính cái thẩm quyền đó để uốn nắn các bộ trưởng và sửa đổi lập pháp.  
Cuối cùng, các lãnh đạo mới của Việt Nam chỉ có trách nhiệm với Ban Chấp hành và Bộ Chính trị, nơi mà quyền lực của họ được ban cho. Điều khó hiểu cho cái tồn tại một cách lạc lõng đối với giới lãnh đạo Việt Nam là những đảng viên đó thường chỉ đủ tư cách cho các chức vụ cao nhất của đảng và nhà nước sau khi hoàn thành một nhiệm kỳ 5-năm trong Ban Chấp hành. Cách nghiêm khắc này dẫn đến chỉ cho một nhóm nhỏ của thành phần tuyệt đối trung thành thử-và-tin cậy mới đủ tiêu chuẩn cho việc tăng chức. Họ được chọn từ một Ban Chấp hành 16-hội viên mà phần lớn là lỗi thời và bảo thủ: rất là thông thường cho một-phần-ba đến một-nữa của Ban Chấp hành là về hưu thường có mặt tại mỗi Quốc hội Đảng Toàn quốc.
Nói vậy không có nghĩa là Triết và đồng sự không có khả năng thay đổi hiện trạng. Trong vài cách nhìn, sự thăng tiến của Triết đang báo hiệu những thay đổi đang tiến hành trong nền chính trị tại Việt Nam. Tổng quát lại, ông đã giữ vai trò chính trong việc vạch mặt vụ tai tiếng tham nhũng: với chức vụ bí thư thành ủy Sài Gòn năm 2002, - dính líu đến Năm Cam, một ông trùm của xã hội đen, kẻ đã bị buộc tội hối lộ lực lượng công an Sài Gòn và đút lót vài viên chức nhà nước cao cấp [ một lực lượng nhân sự bên ngoài đã đảm nhiệm việc điều tra và khởi tố]. Chuyện lên án gần đây của công chúng về việc quan chức tham nhũng, và sự thừa nhận của chính quyền là cần phải quét sạch để ngăn chận sự hỗn loạn, biểu hiện chút ít trách nhiệm đang khai tâm cho trong chế độ một-đảng tại Việt Nam. Và sự tăng chức của Triết trong tháng 4 lên chức vụ chủ tịch nước, cùng với những uy tín đáng kể chống tham nhũng, biểu lộ tính quyết tâm của chính quyền để giải quyết vấn đề.
Nhưng nhìn chung, sự bổ nhiệm thành phần lãnh đạo mới của Việt Nam không có báo hiệu các thay đổi sâu sắc so với quá khứ.
Sự bổ nhiệm của Triết và Dũng vào các chức vụ cao nhất của nhà nước theo đánh giá từ vài phân tích gia chỉ là một phần của cái xu hướng đang lên của sự nhóm đại diện miền nam trong tầng lớp lãnh đạo cao nhất. Nên cần lưu ý, thí dụ, trong tháng 4 nhóm miền nam chiếm khoảng phần nửa của hội viên trong Ban Chấp hành. Sự cân bằng mới này chia theo vùng nói lên cách tượng trưng cho một tầm quan trọng mới về các giá trị của miền nam như thể chế tư bản và sự tiến triển công nghệ, và sự từ chối một hệ thống truyền thống cứng-như-xương nơi mà mỗi của ba chức vụ cao nhất phải là mỗi đại diện của ba miền Việt Nam.
Tuy nhiên, quan sát kỷ hơn tại bộ phận lãnh đạo mới, cho thấy sự hơi cân bằng giữa miền bắc và miền nam và giữa ba vùng vẫn được duy trì. Triết và Dũng là người từ miền nam, nhưng tổng bí thư, Nông Đức Mạnh, và chủ tịch quốc hội, Nguyễn Phú Trọng, là người từ miền bắc. Trong ba phó thủ tướng, Phạm Gia Khiêm là người phía bắc, trong khi Nguyễn Sinh Hùng là người từ phía trung và Trương Vĩnh Trọng là người phía nam.
Vả lại với bất cứ đề xướng nào chủ tịch nước có thể phát động cho các cuộc cải cách, sẽ bị ngăn cản bởi lẽ những giới hạn quyền lực của ông. Ông phải chia sẻ nó với tổng bí thư, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Nếu đất nước thành công trong nền kinh tế thị trường hóa trên một mức ngang nhau mà hiện thời đã được dự đoán trong giới báo chí, đây sẽ là một kết quả cho một tiến triển dài và chập của sự phối hợp-đồng lòng (và đang đấu nhau) trong Ban Chấp hành. Có thể ngày đó chưa đến khi chính Ban Chấp hành hiểu rõ việc áp đặt quyền lực tuyệt đối không còn giữ được. Nhưng từ nay đến đó, nay có thể nói một cách an toàn là Việt Nam vẫn chưa từ bỏ bộ máy chính trị kiểu Lêninít.
Nạn Tham Nhũng
Một vụ nhục nhã tham nhũng lớn ở Việt Nam xảy ra trong giai đoạn chính trong tháng 4 dưới sự đạo diễn cẩn thận tại Quốc hội Đảng lần thứ 10 tại Hà Nội. Đến nổi chính quyền cũng bày tỏ sự quan tâm một cách công khai. Trong phần phát biểu mở đầu của ông ta đến các đại biểu, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh lên tiếng nạn hối lộ phổ biến là "một trong nhiều nguy cơ chính đang đe dọa sự tồn tại của chế độ chúng ta." Tuy nhiên, giới lãnh đạo Việt Nam không có vẻ hiểu rõ là họ không thể giải quyết các vấn đề mà không nói đến nguồn gốc của nó: Sự thống trị độc-đảng của họ.  
Sự đáng chú ý của vụ nhục nhã gần đây vượt quá xa tổng số dính líu vào -- đó là, hơn US$7 triệu tiền tham ô từ các quan chức cao cấp trong một chi nhánh của Bộ Vận tải và Giao thông, còn được biết là PMU 18. Đây không thể là một ổ tham nhũng thuộc-cở-tầm-thường, do vậy có lẽ tại sao giới truyền thông báo chí Việt Nam được có cái quyền tự do hiếm có này để đưa tin về các sự phát giác. Phần lớn số tiền bị ăn cắp là từ Ngân hàng Thế giới và Nhật bản, mà thật ra là ngân quỹ do thuế của người dân trong nước. Bọn ăn trộm kiểu này sẽ làm cho các ân nhân ngoại quốc suy ngẫm thật kỷ trước khi ủy nhiệm thêm ngân quỹ cho sau này. Còn quan trọng hơn nữa là đã có các quan chức cao cấp liên quan rất trầm trọng vào các vụ bê bối này.
Giới báo chí truyền thông Việt Nam đưa tin là có một nhóm quan chức trong đảng với mối liên hệ chặt chẻ mà ổ tham nhũng với nhiều uy quyền của họ được nhắc đến khắp Việt Nam. Một số người có liên quan đến là các tay thầu tư nhân, các quan chức tỉnh và bọn cò mồi, bọn này hay lo lót hối lộ các nhân viên thuế vụ, công an và viên chức toà án. Ổ tham nhũng này cũng được đưa tin là có mối quan hệ với phía trên từ bộ vận tải lên đến những cơ quan đầy quyền lực khác, bao gồm Bộ An ninh và Cơ quan Nhà nước.  
Đã vậy, bộ trưởng và thứ trưởng của bộ vận tải đã bị áp lực là phải từ chức. [thứ trưởng là người liên quan trực tiếp, bởi vì ông ta có trách nhiệm điều hành toàn diện] Nhưng trong sự kiện khá đặc biệt này với cái éo le xấu hổ cho ban lãnh đạo, hai người của các quan chức cao cấp liên quan đến ổ tham nhũng đã được Bộ Chính trị tán thành là ứng cử viên cho "cuộc bầu cử" vào bộ phận đầy quyền lực của đảng này. Sau khi vụ nhục nhã bị đổ bể, sự bổ nhiệm của họ đã nhanh chóng bị  từ chối trước ngày 18 tháng 4, ngày khai mạc Quốc hội Đảng lần thứ 10, tại đó Bộ Chính trị mới sẽ được tuyển chọn.  
Chỉ vụ kiện ấy cũng đủ làm lu mờ Quốc hội Đảng với mong đợi là sẽ làm sáng sự nổi bật về sự thành công kinh tế đáng kể của đất nước. Như phe đối phương Trung Quốc của họ, Cộng sản Việt Nam từ lâu rồi đã dẹp bỏ ý thức hệ mà chỉ ủng hộ nền kinh tế tiến triển nhanh là chìa khóa cho sự sống còn của họ. Cho đến nay nó vẫn tốt đẹp. Trong 5 năm qua, GDP Việt Nam chỉ mới tăng dưới 8% mỗi năm. Việt Nam cũng bắt đầu thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài một cách đáng kể. Chuyến viếng thăm gần đây của ông Bill Gates, người sáng lập Microsoft, cũng chứng tỏ thêm là đất nước đang bắt đầu cần được coi trọng như một nền kinh tế hùng mạnh đang trưởng thành.
Nhưng tất cả những thành tích này đã bị dẹp qua bên lề trong giây phút này do vụ nhục nhã PMU 18. Trong một sự phát giác gần đây, tin cho biết là người con rể ông Mạnh, Tổng bí thư, có làm việc cho PMU 18, mặc dầu không có dấu hiệu cho thấy người này có dính líu vào ổ tham nhũng đó. Sự chọn đúng lúc của tin phát giác này, đi đôi với các khám phá về PMU 18 mà chưa từng thấy trước đây trong giới báo chí truyền thông Việt Nam thường bị kiểm soát chặt chẻ, gợi ý là vài quan chức trong Đảng đang khai thác vụ nhục nhã này để cố tình phá hoại bộ phận lãnh đạo hiện thời.
Đó sẽ là chiều hướng trung bình tại Việt Nam, nơi mà những chiến dịch chống tham nhũng thường luôn sử dụng nó như một trận bóng đá chính trị, thật đang làm cản trở đến những cố gắng nhiệt huyết để tìm giải pháp cho bài toán. Với những lãnh đạo đang theo đuổi thêm một nhiệm kỳ, cần phải công khai biểu lộ lập trường cứng rắn chống tham nhũng để làm tăng danh tín của họ đối với công chúng. Những lãnh đạo khác cần nên lên tiếng ủng hộ về chiến dịch chống tham nhũng để thăng tiến sự nghiệp của họ và cũng gây lúng túng cho đối thủ. [tin đồn cho biết là con trai ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt có dính líu vào các vụ buôn bán mờ ám đã bị phanh phui trong 2 kỳ hội nghị quốc hội vừa qua; bà vợ ông tướng Văn Tiến Dũng, cựu Ban Chấp hành Trung ương và Bộ trưởng Quốc phòng, đã bị cáo buộc là hốt "mười" phần trăm; các tin đồn về nạn tham nhũng cũng xoay quanh Nguyễn Văn An và các đường dây liên quan đến bang đãng xã hội đen Năm Cam].  
Lý lịch thành tích của Đảng cho thấy không có cơ sở cho sự lạc quan mà việc nổ lực hiện nay chống tham nhũng sẽ có thể thành công hơn so với những cố gắng trước đây. Tổng quát lại, lần đầu tiên Đảng đã nhận biết nạn tham nhũng như một trong bốn nguy cơ chính mà nhà cầm quyền phải đương đầu với trong năm 1994 [tại hội nghị đảng lần đầu tiên và chỉ giữa-nhiệm kỳ. Quy chế đảng điều chỉnh lại vài điều khoản để cho hội nghị trong giữa hai quốc hội toàn quốc]. Nhưng sau 12 năm và hai Quốc hội Đảng, nạn tham nhũng nơi quan chức cao cấp vẫn còn vi phạm mãi như xưa.    
Với cách xử sự đối với những vụ án theo tính cách cá nhân khi xảy ra sẽ không thể giải quyết được bài toán. Nạn tham nhũng ở cấp quy mô tại Việt Nam tập trung vào những đường dây có sự bảo trợ của các quan chức cao cấp trong đảng, gia đình họ và thành phần xu gia. Thông thường, những đường dây này vẫn nằm ngoài vòng pháp luật. Đến khi các vụ tai tiếng bị phanh phui, nó đã được đảng dàn xếp qua các buổi họp kín. Lấy thí dụ, 12 đảng viên của Bộ Chính trị chuẩn bị về vườn đã bị đảng kỷ luật về các liên quan với nạn tham nhũng của họ. Nhưng chỉ có vài người chính thức bị buộc tội và xử lý tại toà. Cho dù họ phạm tội, các vụ án này thường chỉ bị nhắc đến qua loa trên các báo chí nhà nước-kiểm soát, hoàn toàn trái ngược đối với hàng loạt tin tức đưa tin công khai về những phát giác trong vụ PMU 18. [Thông thường thì các quan chức đảng ở cấp thấp, như một thứ trưởng không nằm trong Bộ Chính trị, sẽ bị đem ra toà xét sử].   
Việt Nam và Sự Tiến hành APEC
Việt Nam có một cơ hội duy nhất để phô trương cho Việt Nam trong cuối tuần này như là một đất nước đã sẵn sàng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và tôn trọng các điều lệ định sẵn. Nhưng cái cơ hội ấy đang gặp nguy cơ bởi vì hai sự kiện gây nhiều tranh luận gần đây nêu lên những nghi ngờ đáng ngại về tính quyết tâm của đất nước đối với việc tôn trọng luật pháp.   
Đây là điểm thích đáng nói riêng để Việt Nam chuẩn bị bước vào WTO. Vào đầu tháng qua, Tổng Hội đồng của bộ phận mậu dịch toàn cầu đã chính thức chấp nhận các điều lệ cho Việt Nam gia nhập vào WTO, thành viên thứ 150. Hôm nay, tổng thống Mỹ George W. Bush và những nguyên thủ quốc gia khác trong 21-thành viên hội đồng APEC sẽ gặp mặt cho lần thứ 14 thượng đỉnh của ban lãnh đạo.
Kế hoạch của tổng thống Bush để ủng hộ Việt Nam trở thành hội viện của WTO tại Hà Nội đang tạm thời bị đẩy lùi bởi lẽ một vài sự kiện không mấy tốt đẹp. Thứ nhất, Thượng sĩ Mel Martinez của bang Florida đe doạ sẽ không bỏ phiếu ủng hộ PNTR cho đến khi Việt Nam trả tự do cho một cử tri của ông hiện đang bị giam cầm. Vụ kiện liên quan đến bà Thương Nguyễn "Cúc" Foshee, một công dân Mỹ gốc Việt, bà bị buộc tội có ý đồ lật đổ chế độ Cộng sản đã bị giam cầm từ tháng 9, 2005. Bà là một nhà hoạt động của nhóm Chính quyền Tự do Việt Nam, một nhóm thường vận động chống lại chính quyền Hà Nội.
Việt Nam khẩn cấp cho mở cuộc 1-ngày xử lý và phán quyết bà Foshee và 6 bị can khác là phạm tội. Họ bị kết án 14 tháng tù, nó thật sự tương đương với thời gian họ đã ngồi tù. Sau khi bà Foshee "xin lỗi", chính quyền Việt Nam thả bà ta và nay bà đã trở về Mỹ an toàn.
Quy chế PNTR
Thứ hai, để cho tổng thống Mỹ đồng ý chấp thuận cho Việt Nam trở thành thành viên WTO, Quốc hội Mỹ trước tiên phải cấp cho Việt Nam cái quy chế PNTR. Bỏ phiếu cho cái quy chế này đã bị hoãn lại trong cuộc bầu cử quốc hội giữa-nhiệm kỳ. Lại vào tuần này, chính phủ Bush bị thiệt hại thêm một trận nữa khi quốc hội nhanh chóng thông qua một điều lệ đình hoãn cho phép không cần tranh luận nhưng đòi hỏi sự đồng thuận với số phiếu 2/3. Đến khi quy chế PNTR đưa ra quốc hội Hạ viện để bỏ phiếu thì tuy số nhiều bỏ phiếu thuận cho quy chế, nhưng không đủ số phiếu cần phải đạt được là 2/3. Ban quản lý đảng Cộng hòa sau đó lại lên tiếng là họ sẽ đem dự luật này trở lại vào cuối tuần dựa vào điều lệ thông thường là chỉ cần phiếu thuận đủ cho số nhiều. Việc thông qua quy chế này đã được dời lại vào đầu tháng 12.  
Việt Nam chưa phải là hội viên chính thức của WTO. Hội đồng Toàn quốc phải thông qua các đạo luật cần thiết và gởi nó đến tổng thư ký của WTO tại Geneva. Việt Nam sẽ trở thành hội viên sau 30 ngày. Có thể được nhưng không hoàn toàn chắc chắc là Quốc hội Mỹ sẽ cho thông qua dự luật PNTR trước khi Việt Nam gia nhập vào WTO. Nếu không, Hoa Kỳ sẽ cần viện dẫn một điều khoản "không phải - loại đơn xin" để công nhận rằng đây không cần ở trong tư thế để áp dụng điều lệ WTO trong cách xử sự với Việt Nam.
Hai sự kiện, vụ kiện bà Foshee và sự thất bại về quy chế PNTR, đã làm lu mờ những ý nghĩa trọng đại về những giây phút huy hoàng đối của Việt Nam - Hội thượng đỉnh APEC và cuộc viếng thăm chính thức của tổng thống Hoa Kỳ.
Vụ kiện bà Foshee nêu lên những vấn đề quan trọng đối với khả năng của Hà Nội về cách quản lý những-việc-phải-làm của quốc nội lẫn quốc tế. Nói cho cùng, dẫu cho nếu bà Foshee cố tình làm ầm ĩ về việc có ý chống lại chính quyền trong khi viếng thăm, thì đây thật ra không phải là cái tội trong nhiều quốc gia. Dầu sao đi nữa, trục xuất bà ta sẽ ít làm tổn hại cho bộ mặt Việt Nam đối với quốc tế hơn là tiếp tục giam giữ bà ta và sau đó đem ra toà xử lý phiên toà 1-ngày cho có lệ.
ABN-AMRO
Thật sự cũng giống như những vụ khác cần nêu lên những nghi ngại nghiêm trọng về sự quyết tâm của Việt Nam đối với sự tôn trọng luật pháp - các nhân viên của ngân hàng ABN-AMRO Hoà Lan. Hai nhân viên của ngân hàng này đã bị giam giữ không xét xử từ tháng Ba, và thêm hai người nữa từ tháng Bảy. Trong bốn vụ án, tội của họ chỉ trao đổi tiền tệ với ngân hàng Việt Nam ICB, kết quả bị mất US$5.4 triệu của ngân hàng nhà nước.
Giới chức trách Việt Nam tự cho là, vì lẽ rằng trách nhiệm của nhân viên Incombank đối với những việc giao dịch này không có giấy phép để thực hành kiểu giao dịch trao-đổi-với-nước-ngoài, cho nên nhân viên ABN-AMRO đã phạm lỗi khi tiến hành cuộc trao đổi đó. Rốt cuộc là, họ đã yêu cầu ngân hành Hoà Lan "bồi thường" Incombank cho các lần giao dịch bị-mất-mát trước khi các nhân viên đang bị giam cầm sẽ được thả.
Đây là những báo động đáng kể đã làm xôn xao đến những doanh nhân nước ngoài tại Việt Nam, lo ngại về việc can thiệp sâu vào của bộ phận công an đối với các vụ tranh chấp của nhà băng mà nó coi như thường xuyên xảy ra. Nhưng sự thật của vấn đề là không biết viên chức thương mãi Việt Nam có khả năng thực thi theo quy định của luật pháp khi xử sực với người nước ngoài không -- và chịu trách nhiệm cho những hành động của họ.   
Vụ ABN-AMRO làm sáng tỏ rằng viên chức Việt Nam tiếp tục say mê với những dấu vết của nền kinh tế tập trung chỉ đạo lạc hậu. Nói cách khác, nhà nước coi như là chổ cho mướn, không cần biết doanh nghiệp có thành công hay không là chuyện khác.  
Luật pháp như vậy trở thành thứ công cụ để áp dụng cho việc moi móc tiền mướn từ doanh nhân nước ngoài. Đây lại chứng tỏ một lần nữa trong đầu tháng này, khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đưa ra một chỉ thị đề nghị ABN-AMRO phải hoàn trả lại US$5.4 triệu nếu như nhà băng Hoà Lan muốn thấy nhân viên họ được đối xử một cách nhân hậu.
Đối với hai vụ kiện, bà Foshee và ABN-AMRO, vẫn cho thấy cái nhược điểm vẫn tồn tại về sự quyết tâm của Hà Nội đối với sự tôn trọng luật pháp, các nhà đầu tư nước ngoài cần nên tiếp tục suy nghĩ cho thật kỷ. Tất cả những vui mừng về chuyện được vào WTO và là chủ nhà của thượng đỉnh APEC, Việt Nam vẫn còn là khu vực khó khăn--và rất bấp bênh để làm ăn trong nhiều năm tới đây.  
Kết luận
Một Đảng Cộng sản Việt Nam với những đổi thay, nhưng từ chối các quyền lực phân chia và tin cậy vào cách thống trị tuỳ tiện của độc-đảng, là chủ yếu. Một nhóm nhỏ lãnh đạo không-phải-do-dân-bầu kiểm soát các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp. Các bộ phận này không hành quyết một cách độc lập đối với phía đảng và chỉ có thể hành xử một khi các lãnh đạo cao cấp cho phép, tạo nên sự phơi bày của nạn tham nhũng về sự kiện mang tính cách chính trị hoá một cách quy mô và tuỳ tiện. Chỉ có một phương cách hữu hiệu nhất để giải quyết việc vi phạm tham nhũng là phải thiết lập một thể chế chính quyền độc lập của đảng, từ đó có thể điều tra, khởi tố, xét xử và trừng trị các quan chức tham nhũng không cần biết thuộc chức vụ gì. Giới truyền thông báo chí cũng cần được tự do tham gia cho đúng vai trò đưa tin về nạn tham nhũng mà không lo sợ hay thiên vị.
Nhưng như vậy sẽ đòi hỏi quan chức Cộng sản Việt Nam từ bỏ bản chất độc quyền của họ về những công cụ cai trị, những chuyện mà nhóm lãnh đạo ngày nay vẫn sẽ không thích suy ngẫm đến. Trong khi nạn tham nhũng vẫn tiếp diễn có lẽ cần cú đe doạ đến quyền bá chủ của đảng, tìm cách giải quyết nó cho thích hợp sẽ dẫn đến một đe doạ có thể quy mô hơn. Thật sự chỉ khi nào Việt Nam có dân chủ và nhân quyền là đất nước có khả năng duy trì sự phát triển kinh tế và an sinh./.  

        

****************************

Carlyle A. Thayer:
Vietnam - Development, Democracy and the APEC Process
Carlyle A. Thayer(*)


Introduction
I would like to thank Amnesty International and the Vietnamese Community in Australia (Cong Dong Nguoi Viet Tu Do Uc Chau) to the invitation to be here today to share my views with this audience.(1)
As we meet today some ten thousand foreign delegates and officials are now gathering in Hanoi in a series of high-level meetings associated with the 14th Leaders Summit of the Asia Pacific Economic Cooperation (APEC) forum. The purpose of APEC is to facilitate economic growth, cooperation, and trade and investment in the Asia-Pacific region. APEC members account for 40% of the world’s population, 47% of global trade, and 60% of world GDP (gross domestic product).
The APEC process also includes a series of meetings by key world leaders held on the margins of the official APEC programme. In addition, five heads of governments, including the presidents of China, Russia and the United States and prime minister of Japan will be making separate official state visits to Vietnam.
The official APEC process does not ordinarily address human rights and religious freedom issues. On 16th November the 18th APEC ministerial meeting concluded its two-day meeting with a 29 page Joint Statement. Human; rights was not considered under its eighteen headings, although human security issues were addressed (counter-terrorism, health [pandemics, Avian flu, influenza], energy security). The Joint Statement also touched on anti-corruption and transparency and sustainable development.
Ordinarily human rights and religious freedom issues would be left to an informal gathering of civil society non-governmental organizations (NGOs) that meet in parallel with the official summit. But not in communist Vietnam. Not only will these voices be silenced, but the Vietnamese government has banned public demonstrations and cordoned off the homes of leading dissidents. Security agents have posted signs in English reading ‘no foreigners.’ Police have set up tables outside the homes of dissenters and/or blocked off the streets and lanes leading to their residences. So it is right that civil society groups like Amnesty International should raise their concerns about human rights issues and lobby Prime Minister Howard. The Canadian prime minister has met with Vietnamese leaders and raised human rights concerns. It is hoped that Prime Minister John Howard will do the same.
The object of development in any state should be directed towards human security - the improvement of the lives of all citizens especially those at the bottom end of the socio-economic scale who have been marginalized in the course of rapid economic growth. The efficiency of sustainable development is dependent on a number of factors including government capacity, transparency, the rule of law, and the free flow of information including freedom of expression.
My purpose today is to identify serious constraints in the development process in Vietnam’s one-party state. I intend to speak to three major issues: the new leadership, corruption, and the APEC process.
Leadership
It is time for a reality check on political reporting about Vietnam. If the international media are to be believed, Vietnam has jettisoned its old guard and promoted a young generation of reformers from the country’s economically vibrant south. Vietnam’s new state president, Nguyen Minh Triet, is the face of this revolution. Triet hails from the southern province of Song Be, where he oversaw its emergence as one of Southeast Asia’s most attractive destinations for foreign investment. He was appointed alongside another southerner, Nguyen Tan Dung, - recently named prime minister - the youngest person to ever hold this post since 1975. But these encouraging marks do not mean that their government is cut from a different cloth, or that economic reforms will necessarily accelerate under their stewardship.
As in neighboring China, the buzz of economic progress in Vietnam has obscured the fact that the political system remains largely unchanged. Triet, Dung, and their Politburo colleagues are all products of Vietnam’s Leninist political system and its style of collective leadership. Vietnam’s new leaders have been selected because they are judged by other party members as loyal to the party line. Lately this line features new commitments to anti-corruption and gradual market reforms, but it is still conservative. The leadership is bound by party dictate to promote a “market economy with a socialist orientation,” which means state control of strategic sectors of the economy and limitations on the influence of private entrepreneurs. Triet and Dung are economic reformers to the extent that they will pragmatically work to implement Vietnam’s international obligations, including the requirements of membership in the World Trade Organization.
Both the president and the prime minister accept the dictum that political stability (read: keeping the communist party in power) is the basis for economic growth. The appointment of ideologue Nguyen Phu Trong as head of the National Assembly clearly indicates that Vietnam’s legal and administrative reform will discourage political pluralism. What is often overlooked is that the national assembly chairman arguably holds more power than the state president The role of state president is largely ceremonial while the chairman of the national assembly has the ability to shape the legislative agenda. The national assembly has emerged as an increasingly influential body by its ability to grill ministers and amend legislation.
Ultimately, Vietnam’s new political leaders are accountable only to the Politburo and Central Committee, from which their power derives. The problem with injecting vitality into Vietnam’s leadership ranks is that party members are only eligible for the top party and state posts after serving a full five-year term on the Politburo. This rigidity results in only a small pool of tried-and-true adherents qualifying for promotion. They are chosen by a 16-member Politburo that is largely old and conservative: it is quite normal for one-third to one-half of the Politburo to retire at each National Party Congress.
This is not to say that Triet and company are incapable of changing the status quo. In some ways, the rise of Triet does signify changes afoot in Vietnamese politics. After all, he played a high-profile role in exposing a corruption scandal: as party secretary of Ho Chi Minh City in 2002, - involving Nam Cam, the leader of a criminal syndicate, who had allegedly corrupted the Ho Chi Minh City police force and bribed high-level state officials [it was an outside task force that did the investigation and prosecution]. The public’s recent outcries over official corruption, and the government’s acknowledgment that it must clean house to stave off disorder, represent a modicum of accountability being introduced into Vietnam’s one-party system. And the elevation in April of Triet, with his burnished anti-corruption credentials, to the presidency shows how seriously the government is taking the problem.
Overall, however, Vietnam’s new leadership appointments do not signal any dramatic change from the past.
The appointment of Triet and Dung to the top state posts is viewed by some analysts as part of a trend of rising southern representation in the highest leadership levels. It is noted, for example, that southerners comprise half of the members of the Politburo selected in April. This new regional balance is said to represent a new emphasis on southern values like capitalism and hi-tech growth, and a rejection of Vietnam’s ossified system whereby each of the top three leaders represent one of Vietnam’s three regions.
A closer look at the new leadership, however, reveals that a rough balance between north and south and between the three regions has been maintained. Triet and Dung are from the south, but the party secretary general, Nong Duc Manh, and the chairman of the National Assembly, Nguyen Phu Trong, are from the north. Of the three deputy prime ministers, Pham Gia Khiem is from the north, while Nguyen Sinh Hung from the center and Truong Vinh Trong is from the south.
Whatever initiative the president might have in launching reforms, moreover, would be stymied by the limitations of his power. He must share that with the party general secretary, prime minister and the national assembly chairman. If the country does marketize its economy on a level currently being predicted in the media, it will be the result of a long and slow process of consensus-building (and infighting) amid the Politburo. There may yet come a day when the Politburo itself realizes that its stranglehold on power is untenable. But until then, it is now safe to say that Vietnam has not shed its Leninist political armor.
Corruption
A major corruption scandal in Vietnam took center stage at this April’s carefully choreographed 10th Party Congress in Hanoi. Even the government publicly professed concern. In his opening address to the delegates, Secretary General Nong Duc Manh said widespread graft is “one of the major risks that threaten the survival of our regime.” Still, Vietnam’s leaders don’t seem to realize that they can’t get to grips with the problem without addressing its source: Their one-party rule.
The significance of the latest scandal goes far beyond the amount involved--namely, more than $7 million embezzled by top officials in a division of the Ministry of
Transport and Communications known as Project Management Unit 18 (PMU 18). This was no run-of-the-mill corruption ring, which is probably why the Vietnamese media was given the rare freedom to report the revelations. The money was stolen largely from the World Bank and Japan, which in turn, were funded by domestic taxpayers. Theft like that may make foreign donors think twice before committing further funds. Even more important was the extremely high-level nature of the officials implicated.
Vietnamese press reports reveal a group of well-connected party officials whose corruption ring boasted tentacles throughout Vietnam. Among those implicated are outside contractors, provincial officials and fixers who provided bribes to state-audit agents, police and court officials. The ring also reportedly extended upward from the transport ministry to other more powerful institutions, including the Ministry of Public Security and the Government Office [it is a ministerial level state body].
Already, the minister of transport and his deputy have been forced to resign. [the vice minister for being directly involved, the minister because he had oversight responsibility] But in a particularly embarrassing twist for the leadership, two of the senior officials implicated in the corruption ring had been endorsed by the Central Committee as candidates for “election” to this powerful party body. After the scandal broke, their nominations were quickly revoked before the April 18 opening of the 10th Party Congress, at which the new Central Committee was chosen.
That alone was enough to cast a shadow over a Congress the Party had hoped would shine the spotlight on the country’s impressive economic performance. Like their Chinese counterparts, Vietnam’s Communists have long since abandoned ideology in favor of rapid economic growth as the key to their survival. It’s worked, so far. Over the past five years, Vietnam’s GDP has grown just under 8% annually. Vietnam has also begun to attract record amounts of foreign direct investment. The recent visit by Microsoft founder Bill Gates offered further evidence that the country is beginning to be taken seriously as an emerging economic powerhouse.
But all these achievements have been swept aside for the moment by the PMU 18 scandal. In one recent revelation, it emerged that the son-in-law of Manh, the Party’s secretary general, had worked for PMU 18, although there was no indication he was involved in the corruption ring. The timing of this revelation, coupled with the unprecedented play being given to PMU 18 revelations in the normally tightly controlled Vietnamese media, suggests that some in the Party are using the scandal to try to undermine the current leadership.
That would be par for the course in Vietnam, where anti-corruption campaigns have long been used as a political football, so hindering any serious attempt to get to grips with the problem. For those leaders seeking another term in office, taking a tough public stance against corruption serves to bolster their public image. Other leaders have jumped on the anti-corruption bandwagon to advance their careers and to hobble their opponents. [rumors that the son of former prime minister Vo Van Kiet was involved in shady dealings surfaced two congresses ago; former Politbuto member and Minister of Defense, General Van Tien Dung’s wife was alleged to take “ten” percent; rumours of corruption have circulated about Nguyen Van An and his connections to the Nam Cam criminal syndicate].
The Party’s track record gives no grounds for optimism that the current drive against corruption will be any more successful than its previous attempts. After all, the Party first identified corruption as one of the four major dangers confronting its rule in 1994 [at its first and only mid-term party conference. Party statutes made provision for such a conference in between two national congresses]. But 12 years and two Party Congresses later, high-level corruption remains as entrenched as ever.
Simply dealing with individual cases as they arise will not solve the problem. Large-scale corruption in Vietnam centers on patronage networks of high-ranking party officials, their families and in laws. Generally, these networks remain outside the law. When excesses are discovered, they are dealt with by the party behind closed doors. For example, twelve members of the outgoing Central Committee have been disciplined by the party for their involvement in corruption. But few have been formally charged and tried in court. Even when they were, the cases received only cursory mentions in the state-controlled media, in stark contrast to the blitz of publicity that followed the PMU 18 revelations. [It is usually lower level party officials, such as a deputy minister not on the Central Committee, who are put on trial].
Vietnam and the APEC Pprocess
Vietnam has a unique chance to showcase itself this weekend as a country that’s ready to integrate into the global economy and respect its rules. But that opportunity is in jeopardy because of two recent controversial cases which raise serious doubts about the country’s commitment to the rule of law.
That’s particularly pertinent as Vietnam prepares to enter the World Trade Organization. Earlier this month, the global trade body’s General Council formally approved the terms for Vietnam’s accession as the WTO’s 150th member. Today, U.S. President George W. Bush and other leaders from the 21-member Asia-Pacific Economic Cooperation forum will hold the14th leadership summit.
Plans by President Bush to endorse Vietnam’s membership of the WTO in Hanoi have been momentarily set back by a series of embarrassing episodes. First, Florida Senator Mel Martinez threatened to hold up the bill granting Permanent Normal Trade Relations (PNTR) status until Vietnam freed one of his constituents from detention. The case involved Mrs. Thong Nguyen “Cuc” Foshee, a Vietnamese-American, who was accused of plotting to overthrow the Communist regime had been held in detention since September 2005. She is an activist in the Government of Free Vietnam, a group which campaigns against the Hanoi government.
Vietnam quickly staged a one day trial and found Mrs. Foshee and six other defendants guilty. They were given 14 months sentences, virtually equivalent to the time they spent in detention. After Mrs. Foshee apologized, the Vietnamese released her and she is now safely back in the United States.
PNTR Status
Second, in order for the United States President to give its assent to Vietnam’s membership in the WTO, Congress must first grant Vietnam PNTR status. Voting on this bill was put off during the mid-term congressional elections. Then this week the Administration suffered am embarrassing set back when congress resumed in a lame
duck sitting to quickly pass a back log of legislation under a suspension rule permitting no debate but requiring a two-thirds majority. When the PNTR bill was put to the House of Representatives, it received a majority vote but well short of the two-thirds necessary. Republican managers then stated they would bring up the bill later this week under ordinary rules requiring a simple majority. This vote has now been put back to early December.
Vietnam is not yet a formal member of the WTO. Its National Assembly must pass required legislation and deposit it with the WTO secretariat in Geneva. Vietnam will become a member thirty days later. It is likely but not entirely certain that the US Congress will pass the PNTR bill prior to Vietnam’s entry into the WTO. If not, the US will have to invoke a “non-application” clause, acknowledging that it is not in a position to apply the WTO’s rules in its dealings with Vietnam.
With more than 250 U.S. businessmen, many from Fortune 500 companies, accompanying President Bush, this visit was designed to set the seal on a new era in U.S.-Vietnamese ties.
Both the Foshee case and the debacle over PNTR legislation have cast a shadow over what was meant to be Vietnam’s crowning moment – the APEC summit and an official state visit by the President of the United States.
The Foshee case raises serious questions about Hanoi’s ability to manage its domestic and international agendas. After all, even if Ms. Foshee did try to stir up anti-government sentiment during her visit, that’s hardly a crime in most countries. In any event, expelling her would have done far less damage to Vietnam’s international image than her prolonged period of detention and then a one-day show trial.
ABN-AMRO
The same is true of the other case to raise serious doubts about Vietnam’s commitment to the rule of law - the travails of the Dutch bank ABN-AMRO. Two of its employees have been detained without trial since March, and two more since July. In all four cases, their only offense was to handle foreign-exchange transactions with the Industrial and Commercial Bank of Vietnam, which resulted in $5.4 million in losses for the state-owned bank.
Vietnamese authorities claim that, since the Incombank employee responsible for these trades wasn’t licensed to carry out this type of foreign-exchange transaction, the ABN-AMRO employees were at fault in dealing with her. As a result, they’ve demanded that the Dutch bank “compensate” Incombank for the loss-making trades before the detained employees will be released.
That’s caused considerable alarm among foreign businessmen in Vietnam, concerned about police heavy handiness in what appears to be a routine banking dispute. But the real issue is whether Vietnamese commercial officials are capable of operating under the rule of law in dealing with foreigners--and taking responsibility for their own actions.
The ABN-AMRO case illustrates how Vietnamese officials continue to be addicted to vestiges of the former centralized command economy. In other words, the state is seen as the source of rent, regardless of whether or not an enterprise is well run.
In the past, that rent was collected through large-scale corruption. Now, foreign investors are increasingly seen as a more profitable target for extortion. But this rent-seeking mentality undermines the effective operation of market forces, as Vietnamese companies use the coercive power of the state to try to settle disputes with foreign investors.
Law thus becomes an instrument to be used to extract rent from the foreign partner. That was demonstrated again earlier this month, when Prime Minister Nguyen Tan Dung issued a directive suggesting ABN-AMRO should repay the $5.4 million if the Dutch bank wants its staff to be treated leniently.
With both the Foshee and ABN-AMRO cases indicating continuing weakness in Hanoi’s commitment to the rule of law, foreign investors may want to continue thinking twice. For all the hype over WTO accession and the APEC summit, Vietnam is likely to remain a difficult--and unpredictable--place to do business for many years to come.
Conclusion
Changing the Vietnam Communist Party, which rejects the separation of powers and relies on arbitrary one-party rule, is crucial. A tiny unelected leadership controls the executive, legislature and judiciary. These bodies do not operate independently from the party and can only act when high-level leaders give the go-ahead, making the exposure of corruption a highly politicized and arbitrary affair. The only way effectively to address entrenched corruption is to create autonomous institutions independent of the party that can investigate, prosecute, adjudicate and punish corrupt officials no matter what their rank. The press also needs to be freed to play its role to report on corruption without fear or favor.
But that would require Vietnam’s Communists giving up their monopoly on the instruments of power, something today’s leaders remain unwilling to contemplate. While continuing corruption may be a threat to the party’s grip on power, tackling it properly would pose an even bigger threat. It is only when Vietnam has human rights and democracy that it can achieve sustainable economic development and human security. *Professor of Politics and Director of the UNSW Defence Studies Forum, School of Humanities and Social Sciences, University College, The University of New South Wales at the Australian Defence Force Academy, Canberra. This paper was slightly revised on November 20, 2006.

1The last time I addressed a gathering of this nature was sixteen years ago; see Carlyle A. Thayer, ‘Vietnam: Political and Social Change in the Last Five Years,’ Paper to Conference on Vietnam: Which Way Now, sponsored by Asia-Pacific Research Institute, Macquarie University, Sunny Brook Travelodge Convention Centre, Warwick Farm, New South Wales., February 27, 1993.
including government capacity, transparency, the rule of law, and the free flow of information including freedom of expression.
*Professor of Politics and Director of the UNSW Defence Studies Forum, School of Humanities and Social Sciences, University College, The University of New South Wales at the Australian Defence Force Academy, Canberra. This paper was slightly revised on November 20, 2006.
1The last time I addressed a gathering of this nature was sixteen years ago; see Carlyle A. Thayer, ‘Vietnam: Political and Social Change in the Last Five Years,’ Paper to Conference on Vietnam: Which Way Now, sponsored by Asia-Pacific Research Institute, Macquarie University, Sunny Brook Travelodge Convention Centre, Warwick Farm, New South Wales., February 27, 1993.
Carlyle A Thayer
Professor of Politics and
Director UNSW Defence Studies Forum
The University of New South Wales at
the Australian Defence Force Academy
c.thayer@adfa.edu.au
Paper to
Forum: Vietnam: Development and Human Rights
Co-organised by
Amnesty International and
Vietnamese Community of Australia

Trung Tam Van Hoa va Sinh Hoat
Bonyrigg, NSW
November 18, 2006