Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Trương Nhân Tuấn:

Vài Suy-Nghĩ Về Năng-Lượng

Và Chiến-Lược Phát-Triển Quốc-Gia

[23/11/2006 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]

Trương Nhân Tuấn
23.11.2006
©Vietnam Review

http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=5257

Hình: Biểu-đồ về đường biểu-diễn cường-độ năng-lượng của các nước Anh, Hoa-Kỳ, Pháp, Nhật và Trung-Quốc


Có những quyết-định sai-lầm đem lại hệ-quả trăm năm.
Đã qua rồi thời-kỳ dễ-dàng khi sử-dụng năng-lượng để phát-triển kinh-tế cũng như công-kỹ-nghệ hóa đất nước. Trong thời-kỳ các nước Tây-Âu phát-triển (các thập-niên 1945-1965), giá dầu thô chỉ ở khoảng 1 đến 2 đô-la một thùng. Giá dầu hiện nay dao-động ở 60-70 đô một thùng. Yếu-tố quan-trọng khác, nhu-cầu năng-lượng của thế-giới ngày một tăng trong khi nguồn dự-trữ lại giảm lần. Nếu không có gì thay thế, dầu hỏa sẽ trở thành khan-hiếm vào những năm 2040. Giá-cả năng-lượng do đó càng ngày càng tăng cao.
Việt-Nam, tuy các số-liệu chính-thức về khai-thác dầu không được công-bố, nhưng qua các ước-lượng của báo-chí nước ngoài thì trữ-lượng cũng như mức sản-xuất của Việt-Nam ở mức rất khiêm-nhường. Ba mươi năm thời-gian không dài. Việt-Nam vì thế phải biết ăn theo thuở ở theo thời, phải biết tiết-kiệm mọi tiềm-năng có sẵn trong nước. Nguồn dầu mỏ khiêm-nhường kia không được hút xài phung-phí như hiện nay, vì nó không phải chỉ của thế-hệ hôm nay mà còn của các thế-hệ mai sau. Vì thế nó phải được ưu-tiên dùng vào mục-tiêu kiến-thiết đất nước. Có thế mới hy-vọng phát-triển đất nước một cách nhanh-chóng và bền-vững.

Trên quan-điểm phát-triển quốc-gia, năng-lượng sử-dụng đại-khái có hai dạng :
- Xăng dầu, cần-thiết cho tàu-bè, xe tải để chuyển-vận hàng-hóa, cho xe hỏa (nếu chạy bằng diesel), phi-cơ cùng các loại xe khác chuyên-chở hàng-hóa và con người. Đặc-biệt ở Việt-Nam, một số lượng lớn các nhà máy sản-xuất nhỏ hay nông-cụ (máy cày, máy kéo…) xài các loại động-cơ diesel.
- Điện, cần-thiết cho công-kỹ-nghệ nặng hay các loại nhà máy sản-xuất khác, cho xe hỏa (xe hỏa cao tốc), gia-dụng v.v… Trường-hợp Việt-Nam là nước nhiệt-đới, lượng điện cần-thiết cho các loại máy điều-hòa không-khí rất lớn.
Bài toán chung của các nước mở-mang là làm thế nào phát-triển quốc-gia nhanh nhất mà kinh-phí về năng-lượng thấp nhất. Bài này sẽ không nhắc lại sự cần-thiết của một nhà máy lọc dầu tại VN để bảo đảm quá-trình phát-triển vì đã có nhiều người nói về vấn-đề này, đặc-biệt bài của TS Nguyễn Thanh Giang trong số vừa rồi.
Trong kinh-tế học người ta có một chỉ-số để có thể biết được hiệu-năng năng-lượng của quốc-gia (hay nền kinh-tế). Con số này là « cường-độ năng-lượng đối với sản-lượng nội-địa PIB » được tính bằng « tấn tương-đương dầu hỏa (tep ) cho 1000 đô-la của PIB ». Con số này càng nhỏ thì hiệu-năng năng-lượng càng lớn.
Biểu-đồ trên đây cho thấy đường biểu-diễn cường-độ năng-lượng của các nước Anh, Hoa-Kỳ, Pháp, Nhật và Trung-Quốc. Ta thấy biểu-đồ có dạng cái chuông, cho thấy hiệu-năng năng-lượng qua các thời-kỳ phát-triển. Thời-kỳ đầu, cường-độ năng-lượng có khuynh-hướng tăng, việc này do quốc-gia xây-dựng những công-trình lớn về hạ-tầng cơ-sở, về công-nghệ nặng, hệ-thống giao-thông, chỉnh-trang thành-phố v.v… công-cuộc này cần rất nhiều đến năng-lượng, hệ-số năng-lượng/PIB vì vậy cũng tăng theo. Sau đó chuyển sang thời-kỳ bảo-hòa, năm 1880 cho Anh-Quốc, khoảng 1920 cho Hoa-Kỳ, 1930 cho Pháp và Đức, 1960 cho Nhật-Bản. Tiếp theo là thời-kỳ giảm. Việc giảm cường-độ năng-lượng đem lại do trước hết là PIB gia tăng. Mặt khác, việc tiêu-thụ các loại vật-liệu có căn-bản từ năng-lượng ổn-định lần-hồi, khoa-học tiến-bộ cũng làm cho mức tiêu-thụ năng-lượng giảm xuống.
Ta thấy từ biểu-đồ trên, trong quá-trình phát-triển quốc-gia, hiệu-năng năng-lượng của Nhật-Bản cao nhất, sau đó là Pháp và Trung-Quốc (biểu-đồ giả-định).
Các nước đang phát-triển hiện nay không thể đi theo con đường phát-triển từ năm 1840 của Anh-Quốc hay 1870 của Hoa-Kỳ vì hoàn-cảnh kinh-tế chính-trị quốc-tế các thời đó hoàn-toàn khác với hiện nay.
Hiệu-năng năng-lượng cao hay thấp tùy thuộc chiến-lược phát-triển quốc-gia. Nhà-nước sẽ phải đầu-tư vào các hạ-tầng cơ-sở quốc-gia nhưng ưu-tiên đầu-tư sẽ tùy-thuộc vào nhiều yếu-tố.
Lựa chọn này rất quan-trọng. Tốt hay xấu, ảnh-hưởng của nó chi-phối lên đất nước hàng trăm năm sau. Trường-hợp Việt-Nam, bài này chỉ nhắc đến khía cạnh ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở xét theo yếu-tố hiệu-năng năng-lượng, tức yếu-tố kinh-tế.
Một vài dữ-kiện ghi-nhận :
Tùy theo phương-tiện giao-thông mà hiệu-năng năng-lượng đem lại rất khác nhau. Trong phạm-vi đi lại của con người, cùng một năng-lượng tương-đương dầu-hỏa tiêu-thụ, một người đi TGV (xe hỏa cao-tốc của Pháp 300km/giờ) sẽ đi 4,5 lần xa hơn đi xe-hơi và 9,5 lần xa hơn đi phi-cơ. Việc di-chuyển trong thành-phố thì cùng một năng-lượng tiêu-thụ, xe điện (métro hoặc tramway) sẽ đi gấp 11 lần xa hơn xe-hơi và 2,5 lần xe bus.
Kết-luận rút ra từ việc này, ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở sẽ nghiêng về đường xe hỏa cao-tốc. Ở thành-phố lớn thì ưu-tiên đầu-tư vào hệ-thống xe điện, bằng cách thiết-lập các tuyến-đường nối ngang-dọc thành một mạng-lưới để tạo tiện-lợi và rẻ cho khách trong việc đi lại.
Trong phạm-vi vận-chuyển hàng-hóa, cùng một năng-lượng tiêu-thụ, một tấn hàng chuyên-chở sẽ đi xa 5 lần hơn nếu đi bằng đường thủy (cabotage maritime), 4 lần hơn nếu bằng hỏa-xa, so với xe tải.
Từ kết-luận này ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở nghiêng về đường thủy và đường sắt.
Trường-hợp Việt-Nam, tạm-thời từ các dữ-kiện trên, ta có thể có một kết-luận tương-đối: Ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở hỏa-xa, xây bến tàu, đóng tàu, xây-dựng hệ-thống xe điện trong thành-phố để việc chuyên-chở người và hàng-hóa được nhanh-chóng, tiện-lợi và thoải-mái cho khách. Theo thiển ý, nhà-nước nên xây-dựng hệ-thống đường sắt Nam-Bắc, từ biên-giới Việt-Trung cho đến sông Cửu-Long; làm lại đường sắt Lào-Cai – Hải-Phòng, tổ-chức thuế-quan đánh lên hàng-hóa quá-cảnh từ Vân-Nam qua Lào-Cai, Hải-Phòng đến Hồng-Kông.
Tuy-nhiên, các con số từ các dữ kiện trên lấy từ mô-hình phát-triển của Pháp, chưa chắc đúng cho Việt-Nam. Nhưng nhìn chung, tình-hình mới bắt đầu phát-triển của Việt-Nam và viễn-tượng giá dầu hỏa ngày càng tăng và sẽ cạn nguồn vào năm 2040. Nếu không có năng-lượng nào thay thế dầu hỏa cho xe chạy trước thời-điểm này, hoặc giá năng-lượng mới (như hydrogen lỏng) cho xe chạy quá đắt, hệ-thống xa-lộ sẽ không phải là nơi lý-tưởng để đầu-tư về lâu dài như đường sắt.
Trên phương-diện đầu-tư, nhìn kinh-nghiệm phát-triển đường sắt của Đại-Hàn và Trung-Quốc,Việt-Nam nên noi gương. Nhà nước cho các công-ty nước ngoài đấu-giá xây-dựng hệ-thống hỏa-xa. Ngoài giá cả phải chăng, công-nhân, chuyên-viên của Việt-Nam phải được đào-tạo để bảo-hành và sử-dụng hỏa xa trong mọi giai-đoạn khai thác. Ngoài ra, quan-trọng nhất, Việt-Nam phải được chuyển-nhượng kỹ-thuật hỏa-xa này. Tương-tự như Đại-Hàn, nước này được Pháp chuyển-nhượng kỹ-thuật sau khi xây xong hệ-thống TGV.
Nhưng dầu vậy, để phát-triển đồng-bộ, Việt-Nam cũng nên xây hệ-thống đường xa-lộ gồm quốc-lộ 1 và các đường liên-quốc-gia, nối các tỉnh duyên-hải qua các tỉnh cao-nguyên đến Lào và Bắc Thái-Lan; tạo cho Lào và các tỉnh Bắc Thái-Lan có đường ra biển (sang Trung-Quốc, Nhật, Đài-Loan, Đại-Hàn…) và điều-chỉnh thuế-quan sao cho lệ-phí đường này có giá rẻ hơn đường về hướng Nam Thái-Lan vào vịnh Thái-Lan hay Ấn-Độ Dương. Cam-Ranh có thể là một hải-cảng lý-tưởng để cạnh-tranh với Hồng-Kông. Cảng Vũng-Tàu hay Saigon sẽ bị cảng Kompong Som của Kampuchia cạnh-tranh. Vì thế ở các cảng này phải tạo điều-kiện bốc-giở nhanh-chóng và điều-chỉnh giá cả cho thích-hợp để thu-hút khách-hàng.
Sau khi các hệ-thống giao-thông, đường hỏa-xa nối các tỉnh và hệ-thống xe điện trong các thành-phố lớn được xây-dựng, nhà-nước nên có các biện-pháp khuyến-khích người di-chuyển bằng xe-hỏa cao-tốc thay vì xe-hơi, hàng-hóa vận chuyển bằng tàu-thủy hay xe hỏa thay vì xe tải. Trong thành-phố thì khuyến-khích đi xe điện hay xe bus thay vì đi xe hơi hay xe gắn máy. Để thực-hiện, nhà nước có thể đánh thuế xăng dầu thật cao (400% tại Pháp; 10 Euros tiền xăng ở cây xăng thì 8 Euros là tiền thuế, 2 Euros còn lại gồm tiền dầu thô, chi-phí lọc dầu, chuyên-chở cùng các chi-phí khác và mức lời của trạm xăng), một mặt lấy được thuế, mặt khác giải-quyết nạn ùn-tắt xe-cộ trong thành-phố. Đương-nhiên, nhà-nước giữ giá năng-lượng đặc-biệt cho nông, ngư-dân cũng như các ngành-nghề sản-xuất khác. Giá dầu dành cho xe tải cũng được điều-chỉnh để việc chuyển-vận liên-tỉnh dễ-dàng.
Về phần sản-xuất điện năng; điện được sản-xuất bằng các nhà máy phát điện. Vấn-đề là làm thế nào sản-xuất 1 kilowatt điện với giá rẻ nhất. Việc này tùy thuộc vào giá vốn nhiên-liệu, giá đầu-tư ban đầu vào nhà máy và hiệu-năng sản-xuất. Nhà nước cũng có thể tiết-kiệm điện bằng cách đánh thuế cao trên các máy điều-hòa không-khí tư-nhân và dẹp bỏ các máy sử-dụng tại các công-sở nhỏ hay các công-sở phi-công-sở (như các trụ-sở đảng).
Ta thấy có các nhà máy nhiệt-điện (chạy than-đá, gaz, dầu cặn… nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), thủy-điện (các đập ngăn nước, tạo ra một thế-năng => cơ-năng => điện-năng), nguyên-tử-điện (électronucléaire, phá vỡ hạt nhân uranium 235 hay plutonium 239 => nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), điện do ánh-sáng mặt-trời, điện do sức gió v.v…
Việc đầu-tư vào lãnh-vực cung-cấp điện có thể giao cho tư-nhân một phần nhỏ nhưng hệ-thống điện nhà-nước, trong mọi hoàn-cảnh, phải có khả-năng cung-cấp điện cho các vùng phát-triển chiến-lược trên toàn quốc.
Hiện nay người ở hải-ngoại hoàn-toàn không có một tài-liệu thống-kê hay các bản tổng-kết khai-thác hàng năm ở Việt-Nam liên-quan đến nguồn sản-xuất điện như trữ-lượng than-đá, khí đốt v.v... Lãnh-đạo VN cho đây thuộc lãnh-vực bí-mật quốc-gia. Theo một dự-báo, Việt-Nam sẽ thiếu 36 tỉ KWh điện năm 2020 và 120 tỉ KWh điện năm 2030. Các nguồn than và hơi đốt có bảo-đảm đủ cho Việt-Nam nhu-cầu này không? Và bảo-đảm trong bao lâu? Nhưng nhìn chung, Việt-Nam nên xây-dựng các loại nhà máy điện mà nguyên-liệu sử-dụng cho nhà máy có sẵn ở Việt-Nam. Thí-dụ, xây nhà máy nhiệt điện chạy than vùng có mỏ than ở miền Bắc, các nhà máy thủy-điện tại các vùng sông hồ thuận-tiện và nhà máy nhiệt điện chạy gaz ở vùng có mỏ dầu-khí như Vũng-Tàu, Bà-Rịa. Những dự-án này nên cho các công-ty xây-dựng Âu-Mỹ đấu-thầu. Chúng ta sẽ ưu-tiên cho các công-ty dùng kỹ-thuật mới, có hiệu-năng cao, ít ô-nhiễm không-khí và cam-kết cho Việt-Nam được quyền thụ-đắc kỹ-thuật-này (có nghĩa là sau này Việt-Nam có thể tự sử-dụng kỹ-thuật này để xây nhà máy điện cho mình mà không phải trả bản quyền).
Riêng về nhà máy điện nguyên-tử, có liên-quan đến lãnh-vực chiến-lược quốc-tế, đòi hỏi lãnh-đạo quốc-gia phải có trách-nhiệm. Hơn nữa, về an-toàn nhân-sự, đòi hỏi chuyên-viên kỹ-thuật cao, nhân-viên quản-lý có tinh-thần tự-giác lớn. Rất tiếc giới lãnh-đạo Việt-Nam chưa xứng-đáng để thụ-hưởng kỹ-thuật này, mặc dầu nước Việt-Nam rất cần-thiết nó để phát-triển đồng-bộ mọi mặt.
Mặt khác, Việt-Nam có thể đầu-tư sang Lào để xây-dựng các nhà máy thủy-điện trên sông Mé-Kong. Việt-Nam có thể mua điện của Lào với giá rẻ. Các kinh-tế gia quốc-tế tiên-đoán nước Lào có thể trở thành một Thụy-Sỹ ở Đông-Dương nếu tiềm-năng thủy-điện nước này được khai-thác đúng mức. Tuy-nhiên, giới lãnh-đạo Việt-Nam không nhìn thấy vấn-đề. Nhìn tình-hình hiện nay, có thể tiềm-năng thủy-điện của Lào sẽ do Trung-Quốc khai-thác. Nước Pháp có đầu-tư vào đây nhưng về lâu về dài sẽ không qua nổi Trung-Quốc.
Điều quan-trọng khác, theo tài liệu mật của Ngũ-Giác Đài, trong tương-lai rất gần, vì ảnh-hưởng thời-tiết địa-cầu thay đổi, có thể ngũ-cốc thế-giới sẽ thiếu-hụt do trồng trọt mất mùa, đem đến việc thiếu lương-thực; nguồn nước sạch bị ô-nhiễm, các quặng mỏ chiến-lược sẽ khó khai-thác vì bão-giông và băng-tuyết. Các việc này, nếu không lường trước, sự phát-triển của Việt-Nam sẽ bị ngưng-trệ.

Trương Nhân Tuấn

Tài-liệu tham-khảo : Le Monde Diplomatique, số janvier 2005 trang 14, 15 và 16 ; số novembre 2005 trang 14 và trang 27 ; số janvier 2006 trang 23.