Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Tình trạng buôn bán phụ nữ Việt Nam ở Đông Âu

2005.12.14

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/12/14/VNWomenTraffickedInEasternEurope_PAnh /

Phương Anh, phóng viên đài RFA

Vào khi Việt Nam bắt đầu cho phép mở những văn phòng tuyển người đi lao động ở nước ngòai, hay những dịch vụ môi giới lấy chồng nước ngòai, nhất là ở Đài Loan, thì cùng là lúc nảy sinh ra nhiều vấn đề phức tạp. Với lý do duy nhất là muốn thóat khỏi cảnh nghèo nên nhiều thiếu nữ ở Việt Nam, từ thôn quê đến thành thị, đã chấp nhận mọi chuyện để ra đi đến xứ người, với ước mong tìm được một công ăn việc làm thích hợp hầu kiếm ít tiền gửi về cho gia đình.

Thành phố Gdansk, Ba Lan. Photo courtesy of wikipedia.

Thế nhưng, hầu hết đã rơi vào những thảm cảnh vô cùng bi đát. Thậm chím có người bị bán vào các ổ mãi dâm, bị hành hạ, đánh đập…Nuốt những giọt lệ chảy trong âm thầm, họ không dám cho gia đình còn ở Việt Nam hay biết những sự thực mà họ đang chịu đựng. Từ bao lâu nay, quí vị đã được nghe nói nhiều đến thân phận của các phụ nữ Việt và các công nhân bị đối xử tệ bạc tại Đài Loan hay Malaysia. Trong chương trình hôm nay, mời quí vị nghe câu chuyện về tình trạng buôn người ở Đông Âu.

Hiện tượng duy nhất

Ðể tìm hiểu về tệ nạn buôn người này, Phương Anh đã liên lạc với cô Tôn Vân Anh, hiện là thành viên của ban nghiên cứu Viễn Đông, thuộc Viện Công Giáo Dân Chủ Paderewski ở Ba Lan. Ngoài giờ làm việc, cô thường làm việc thiện nguyện cho các văn phòng xã hội. Nhờ đó, bản thân cô đã từng giúp các nạn nhân, nhất là những phụ nữ bị đưa từ Việt Nam sang làm việc trong các ổ mãi dâm. Cô cho biết:

“Hiện tượng buôn người, cụ thể là từ Việt Nam sang Đông Âu có lẽ là hiện tượng duy nhất mà có lẽ trong lịch sử di dân trái phép chưa bao giờ có. Nó bắt đầu toàn bộ khi nước Nga và Đông Âu chiến thắng Cộng Sản, cộng đồng người Việt bắt đầu hình thành tại đây khi Cộng Sản tại các nước này sụp đổ. Nạn buôn người rầm rộ nhất là tại Nga, đầu những năm 90… còn ở Ba Lan hay Tiệp Khắc là những năm 95 cho đến 2000.

Nguồn gốc của hiện tượng này nằm ở hai yếu tố: Thứ nhất là những nước vưà thoát khỏi Cộng Sản thì có nhiều vấn đề phải giải quyết ngay lập tức, nên họ lơ là những vấn đề di dân, vấn đề ngoại giao với những nước viễn đông, nhất là những quốc gia Cộng Sản. Thứ đến là cộng đồng người Việt ở Đông Đức, là nước láng giềng với Ba Lan đã từng có những kinh nghiệm không hay với cộng đồng người Việt đi xuất khẩu lao động tại Đức trước kia.

Đây cũng là yếu tố làm cho các chính sách di dân của Ba Lan không thiện cảm với người Việt của Ba Lan hay là Đông Âu nên họ không cấp visa cho nên người Việt Nam không có khả năng di cư sang một cách hợp pháp. Nhu cầu ở trong nước là nhu cầu xuất ngoại rất lớn, dẫn đến việc rất đông người Việt vượt biên sang Ba Lan và các nước Đông Âu một cách trái phép.

Hiện tượng buôn người, cụ thể là từ Việt Nam sang Đông Âu có lẽ là hiện tượng duy nhất mà có lẽ trong lịch sử di dân trái phép chưa bao giờ có. Nó bắt đầu toàn bộ khi nước Nga và Đông Âu chiến thắng Cộng Sản, cộng đồng người Việt bắt đầu hình thành tại đây khi Cộng Sản tại các nước này sụp đổ.

Đó là lúc nạn buôn người đi đồng hành với nạn vượt biên trái phép. Việc buôn người này có sự trợ giúp và lobby của Cộng Sản. Thể chế của Cộng Sản VN vẫn còn mạnh mẽ, thế nên mua chuộc được một số quan chức của những người“ hậu Cộng Sản”, đi cùng với sự lobby của CSVN tại đây. Thế nên, tình trạng người Việt sang bất hợp pháp cũng kéo dài.

Chúng tôi ước tính là riêng tại Đông Âu, người vượt biên trái phép có thể lên tới hơn 500,000. trong vòng 10 năm trở lại đây. Đây là một nguồn lợi khổng lồ thu được từ những người vượt biên trái phép hoặc một người phụ nữ được bán ra các ổ mãi dâm, trung bình là khoảng 5000 Euro, chưa kể số tiền những người này kiếm được để gửi về VN dù làm ăn bất hợp pháp tại các nước Đông Âu này.

Chúng tôi cho rằng đây là điều CSVN muốn thu tóm vùng Đông Âu này, để xây dựng một cộng đồng VN sống bất hợp pháp và hoàn toàn phụ thuộc vào sự quản lý của CS, một khi rời đất nước, đến khi đã di cư sang một nước dân chủ rồi.”

Không thể thống kê con số

Cũng theo lời của cô Vân Anh, mỗi năm, trong số 50.000 người Việt vượt biên trái phép ấy, thì số phụ nữ bị bán vào các ổ mãi dâm lên đến 50% . Cô nói tiếp:

“Rất nhiều phụ nữ mang con nhỏ đi vượt biên. Qua các lời kể của các nạn nhân, chúng tôi biết rằng 100% các phụ nữ đều có nguy cơ bị buôn vào các ổ mãi dâm. Thế nhưng, con số lâm nạn tới đâu thì chúng tôi không thể thống kê được, bởi vì các tổ chức người vượt biên ngày càng tinh vi, làm cho nạn nhân không thể nào liên hệ với thế giới.”

Trong quá trình làm việc giúp đỡ các nạn nhân, theo lời các nạn nhân kể lại, các phụ nữ đều trải qua một cuộc hành trình vô cùng gian truân. Cô cho biết:

“Trước hết, là đi từ Bắc Việt Nam, con số đi từ Nam rất ít. Bởi vì ở Bắc, cái nạn tham nhũng nó nhiều hơn. Chỉ cần mua hộ chiếu hay là các tổ chức đưa người sang nước ngoài, hoạt động khá mạnh mẽ ở miền Bắc trong những năm 90 và 2000, người trung gian đưa đường đến nạn nhân, bảo là chúng tôi có thể đưa đi các nước làm việc và tại các nước này có nơi ăn chốn ở ổn định thì nạn nhân ban đầu nộp từ 2 cho đến 3000 euro, để sang được nước Nga.

Họ thường đi bằng visa hay hộ chiếu hợp pháp. Quá trình khổ ải bắt đầu từ Nga. Từ Nga, cũng chính là nơi các phụ nữ Việt Nam bị cướp tiết hạnh, bị hãm hiếp rất nhiều, và khi từ Nga, họ còn bị trấn lột đồ tư nhân, hay tiền của. Quá trình tiếp theo hoặc đi bằng xe “ ti” hay là bằng đường bộ, có những khi phải chạy bộ qua những quãng đường rừng rất lạnh, rất là vất vả để mà sang được các nước Đông Âu.

Trước hết, là đi từ Bắc Việt Nam, con số đi từ Nam rất ít. Bởi vì ở Bắc, cái nạn tham nhũng nó nhiều hơn. Chỉ cần mua hộ chiếu hay là các tổ chức đưa người sang nước ngoài, hoạt động khá mạnh mẽ ở miền Bắc trong những năm 90 và 2000, người trung gian đưa đường đến nạn nhân, bảo là chúng tôi có thể đưa đi các nước làm việc và tại các nước này có nơi ăn chốn ở ổn định thì nạn nhân ban đầu nộp từ 2 cho đến 3000 euro, để sang được nước Nga.

Đến khi sang được các nước Đông Âu rồi, bọn đưa đường còn bắt bí vì người Việt mình không có một điểm tựa nào, không biết luật pháp của nước sở tại, và không biết được quyền con người của mình là phải được bảo vệ, thế nên hoàn toàn bị bọn buôn người khủng bố tinh thần. Có những nạn nhân đã kể lại cho tôi là khi sang đến nước Nga, thì bọn đưa đường gọi về cho gia đình bảo là nếu không nộp tiếp một số tiền khoảng 10000 dollars thì hôm sau sẽ nhận được xác của con về…

Sự khủng bố tinh thần nó liên tục diễn ra như vậy. Ngoài sự khủng bố như vậy, các nạn nhân còn bị chết đói chết khát vì kiệt sức, hoặc là cả đoàn bị ngạt trong xe tải, rất nhiều trường hợp đau thương như vậy. Cái quãng đường như thế diễn ra khoảng 1 tháng, có người thì đi khoảng 1 năm, 2 năm, mới sang được Đông Âu.”

Khủng bố tinh thần

Thưa quí vị và các bạn, với tình cảnh khốn khổ như lời của chị Tôn Vân Anh vừa trình bày, các nạn nhân là phụ nữ bị buộc phải lệ thuộc vào bọn đưa người vượt biên trái phép. Thế rồi, họ bị đưa vào các ổ mãi dâm để làm việc…có khi còn bị thủ tiêu nếu tìm cách thoát thân, hay lên tiếng với bất kỳ ai. Có những trường hợp khi trốn thoát được thì phải sống chui nhủi và luôn nơm nớp lo sợ bị trả thù. Hiện nay, vì sự việc ngày càng lớn, nên tại Ba Lan đã có các tổ chức bảo vệ phụ nữ hay nhân quyền đã bắt đầu chú ý can thiệp. Cô Tôn Vân Anh cho hay:

“Gần đây các con số các phụ nữ may mắn thoát ra khỏi các ổ đó và đến được với các tổ chức trợ giúp nhân quyền hay là trợ giúp phụ nữ tăng lên, cho nên sự việc được chú ý hơn trong các tổ chức của Ba Lan. Họ cũng kêu gọi chính quyền cũng như các tổ chức dân chủ người Việt tại các nước Đông Âu này chú ý hơn là lobby với chính quyền. Một khi nạn buôn người, nạn vượt biên trái phép còn diễn ra giữa Việt Nam và Đông Âu thì vấn nạn buôn bán phụ nữ sẽ không thể nào triệt tiêu hết được.”

Khi được hỏi về phản ứng của tòa Đại Sứ Việt Nam và chính quyền Ba Lan, cũng như tại các nước Đông Âu, cùng các cơ quan truyền thông trước tình trạng này, cô Tôn Vân Anh nói tiếp: (xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)

Quí vị vừa nghe câu chuyện của những người vượt biên trái phép và nạn buôn người cũng như buôn bán phụ nữ tại các nước Đông Âu, cụ thể là tại Ba Lan. Phương Anh xin dừng nơi đây và kỳ sau, mời quí vị nghe tiếp phần hai về tình trạng xảy ra tại Tiệp Khắc cùng ý kiến của những người Việt hiện đang sinh sống tại đây. Thân ái chào tạm biệt quí vị và các bạn.

 

 

Tình trạng buôn bán phụ nữ Việt Nam ở Đông Âu (II)

2005.12.20

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/12/20/VNWomenTraffickedInEasternEurope_PAnh /

Phương Anh, phóng viên đài RFA

Trong kỳ vừa qua, quí vị đã nghe sơ lược về tình trạng vượt biên trái phép, dẫn đến nạn buôn người và buôn bán phụ nữ từ Việt Nam, qua Nga rồi đi đến các nước Đông Âu, cụ thể là đến Ba Lan. Trong chương trình hôm nay, mời quí vị nghe tiếp về tình trạng này, hiện đang xảy ra tại Tiệp.

Có thể nói là người phụ nữ Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi. AFP PHOTO

Thưa quí vị và các bạn, cũng như các nước tại Đông Âu, sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, cộng đồng người Việt ở Tiệp bắt đầu hình thành. Hiện nay, có khoảng 40.000 người, xuất phát từ những nhóm nhân công đi xuất khẩu lao động và sinh viên du học. Ông Đỗ Xuân Cang, một người rời Việt Nam từ năm 1988, đã từng làm việc và sinh sống tại Ukraina trong nhiều năm, hiện đang cư ngụ tại Parha, đã kể với Phương Anh rằng:

“Thời đó, những người nói chung ra hải ngọai, thì gọi là đi Tây cả, những người đó thì trội hơn về vật chất, do đó, cái quan niệm rất phổ biến là đi Tây kiếm ít tiền, rồi về xây cái lâu đài ở Việt Nam. Nhưng mà những người đó sau khi đã kiếm tiền được về xây lâu đài cho mình ở Việt Nam thì rầt nhiều người quay trở lại.

Hiện nay, người Việt ở Tiệp ngày càng đông. Họ sang đây bằng những con đường khác nhau. Những người họ ở đây lâu thì họ đưa thân nhân, con em…Họ đưa theo con đường chính thức hay bất chính thức. Có một lượng người Việt khá đông, sống ngoài pháp luật. họ không được giấy phép sinh sống tại đây nhưng họ vẫn ở trên đất Tiệp rất đông.”

Nguyên nhân chính

Khi hỏi về tình trạng phụ nữ Việt bị đưa sang các nước Đông Âu để làm việc trong các ổ mãi dâm, ông Cang nói:

“Vấn đề này cần phải nhìn lại, nếu hiểu nguyên văn là buôn người, nghĩa là người ta bất chấp, lừa lọc để đưa người từ Việt Nam sang thì tôi nghĩ là cũng có, nhưng hiếm hoi. Theo tôi, đây có sự đồng ý hoàn toàn của người đuợc đưa sang làm việc mại dâm. Tôi nghĩ là có những con người, vì hoàn cảnh cuộc sống mà khi họ vượt qua khỏi lũy tre làng, cái mục đích quan trọng là phải kiếm tiền.

Vấn nạn chính ở đất nước là sự đói nghèo và lạc hậu, sự phân biệt giàu nghèo tạo ra một vấn nạn rất lớn, để người ta vượt lên với xã hội, giá trị tinh thần, đạo đức thay đổi. Cái mà người ta gọi là con người mới XHCN, chỉ là một cái bánh vẽ. Chính vì thế mà việc đi ra hải ngọai là một cứu cánh và gần như họ bất chấp tất cả.

Ông Đỗ Xuân Cang

Các đường dây đưa người có rất nhiều và hàng bao nhiêu năm nay, họ tổ chức những con đường đi qua Nga, qua Ba Lan, qua Tô Ren, từ Việt Nam đi. Cái vấn đề trả 5, 7 nghìn để đi thì người Việt ở trên xứ xở Tiệp điều biết, vì đi ra hải ngoại thì họ phải tốn kém một khoản để làm những việc giấy tờ và vận chuyển.

Vấn nạn chính ở đất nước là sự đói nghèo và lạc hậu, sự phân biệt giàu nghèo tạo ra một vấn nạn rất lớn, để người ta vượt lên với xã hội, giá trị tinh thần, đạo đức thay đổi. Cái mà người ta gọi là con người mới XHCN, chỉ là một cái bánh vẽ. Chính vì thế mà việc đi ra hải ngọai là một cứu cánh và gần như họ bất chấp tất cả.

Chính vì vậy, họ trả tiền, họ chấp nhận mọi chuyện để họ đến cái nước mà họ muốn…Và hầu như những người đó, họ biết rằng họ sang đến nơi, là ngoài pháp luật. Cái tiền họ trả là họ trả cho con đường “bị dụ” để đưa đi. Từ Việt Nam, đi bằng du lịch sang Nga, rồi từ đó đi đường rừng, hay đi bằng xe đến Ukraina, rồi từ Ukairna đi tiếp.

Hầu như những người Việt sống ở Đông Âu đều biết chuyện đó cả, và họ nhìn cái chuyện trả tiền 5, 7 nghìn ở đây là cái giá phải trả để ra đi, chứ không phải là lừa hay không lừa.”

Vận chuyển người trái phép

Thưa quí vị và các bạn, trong cuộc chuyện trò với Phương Anh, khi nhắc đến việc gần đây nhất, báo chí tại Việt Nam đăng tải về việc chính quyền Đông Đức có phá vỡ một vụ buôn người từ Việt Nam sang, cũng như việc chính phủ Tiệp có giải cứu cho các phụ nữ Việt bị bán cho các ổ mãi dâm, ông Cang cho rằng:

Cái chữ buôn người phải đặt lại, chúng ta phải gọi là vận chuyển người trái phép, đưa người vượt biên trái phép thì cái đó chính xác hơn…Họ biết cái việc họ làm. Đây chính là sự việc các phía đều cố tình. Tại nước Tiệp này thì không thấy có tin như thế. Chỉ có tin là bắt những người Việt Nam tổ chức các ổ mãi dâm…

Praha là trung tâm casino của châu Âu, và đây là nước dân chủ cho nên nếu phụ nữ nào bị ép buộc phải làm những việc như thế mà muốn vượt ra thì cũng không khó vì có nhiều người sẵn sàng đưa tay đỡ. Nhưng vấn đề ở đây là vì cuộc sống ở Việt Nam nó quá nghèo, và họ bước ra, họ chấp nhận mọi sự…nên hiểu là “buôn” thì hơi oan cho một số người.

Vì sự nghèo đói, vì sự túng thiếu và vì họ dứt dây ra khỏi cái lũy tre làng, họ đã bất chấp tất cả…Đây là một điều rất đau lòng, và giải pháp chính vẫn là ở bên nước nhà, phải thay đổi cái nền kinh tế, thể chế chính trị, tất cả mọi vấn đề.”

Giống như ông Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, đã nói, là: mộng ước của đại đa số người Việt Nam, là được ra khỏi đất nước Việt Nam, để làm công dân của nước khác…Người ta bất chấp tất cả để ra khỏi cái biên giới Việt Nam. Họ không biết là đi rồi nó sẽ như thế nào, nhưng cứ ra khỏi Việt Nam.

Chịu nhiều thiệt thòi

Một người Việt khác, ông Trần Tự Dân, hiện đang sinh sống và làm việc tại Tiệp, có cơ hội tiếp xúc với nhiều người Việt đang sống bất hợp pháp, cho Phương Anh biết về việc những phụ nữ mà báo chí trong nước cho rằng họ bị lừa đến Tiệp hay các nước Đông Âu để làm công việc mại dâm:

“Có thể nói là người phụ nữ Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi. Có nhiều người họ ra đi mà họ bất chấp, họ biết rằng họ phải trải qua con đường đấy, nhưng họ vẫn cứ ra đi. Tôi cho là có nhiều người lừa họ, thì cũng không đơn giản đâu vì họ chấp nhận sẵn sàng những cái giá như thế.

Vì ở Việt Nam, họ không nhìn thấy cái tương lai…Họ nghĩ rằng khi họ bước chân ra khỏi lũy tre làng, với bất kể một giá nào đó, thì để đánh đổi một tương lai hơn. Tôi rất khâm phục những con người đó, chỉ vì cuộc sống quá khó khăn, khi mà bản thân họ, cái tương lai ở Việt Nam không có một tiền đồ gì cả…. cho nên họ chấp nhận bước xuống hố sâu, bất chấp tất cả…Thế nên, những con người Việt Nam nào có lương tri đều đau lòng trước những chuyện như vậy.”

Bất chấp tất cả

Khi nhắc đến tình trạng vượt biên trái phép của người Việt vào thời điểm hiện nay, ông nói tiếp:

“Giống như ông Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, đã nói, là: mộng ước của đại đa số người Việt Nam, là được ra khỏi đất nước Việt Nam, để làm công dân của nước khác…Người ta bất chấp tất cả để ra khỏi cái biên giới Việt Nam. Họ không biết là đi rồi nó sẽ như thế nào, nhưng cứ ra khỏi Việt Nam là chắc chắn họ sẽ thoát ra khỏi nhiều cái ở Việt Nam, như nỗi sợ hãi, sự đói rét, không có tương lai…

Cho nên họ bất chấp tất cả, kể cả thành một người lưu vong bất hợp pháp ở Cộng Hòa Czech này với chi phí 5, 10 ngàn đô….Những người đàn ông ra đi, những người con gái ra đi trước mắt có thể là phải đi bán thân… nhưng họ vẫn cứ ra đi. Bởi vì họ không tìm thấy tương lai ở một đất nước không có quyền con người.”

Thưa quí vị và các bạn, vừa rồi là câu chuyện về tình trạng buôn người, hay nói đúng hơn là việc vượt biên trái phép của người Việt tại Tiệp và các nước Đông Âu. Cũng như những cô dâu Đài Loan, hay những nhân công đi lao động ở xứ người, những người Việt đến Đông Âu bất hợp pháp, nhất là các phụ nữ, cũng đang gặp đắng cay muôn phần, để mong có được một tương lai sáng sủa hơn cho bản thân mình và những người thân nơi quê nhà.

Các tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền của các nước Đông Âu, hay của cộng đồng người Việt tại đây cũng đang lên tiếng kêu gọi với các chính phủ để tìm biện pháp chấm dứt thảm cảnh này. Mong rằng việc này sẽ sớm được giải quyết, để người phụ nữ Việt sẽ không phải như “nàng Kiều” năm xưa. Phương Anh xin dừng nơi đây. Hẹn gặp lại quí vị và các bạn trong chương trình kỳ sau.