Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Các tổ chức phi vụ lợi của người Việt đã ngồi lại với nhau |
Lê Xuân Khoa
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=965
*NHỮNG TRỞ NGẠI CỦA CÁC TỔ CHỨC NGO CỦA NGƯỜI VIỆT GẶP HAI TRỞ NGẠI LỚN: 1- VỀ
ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC, 2-VỀ TÂM LÝ VÀ CHÍNH TRỊ
* TẠI SAO VIỆT NAM RẤT CẦN ĐẾN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA HƠN 600 TỔ CHỨC NGO TRONG ĐÓ MỘT
SỐ RẤT NHỎ CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI?
* NĂM 2005, CÁC TỔ CHỨC NGO CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI ĐÃ TẬP HỌP LẠI THÀNH MỘT
MẠNG LƯỚI VA NGO
http://doi-thoai.com/baimoi1205_112.html Việt kiều Mỹ lập mạng lưới hỗ trợ đồng bào trong nước Ngày 14/12/2005. Cập nhật lúc 11h 39' http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=112&subtopic=233&ID=BT1770541969 Tại hội nghị lần thứ
hai, diễn ra vào cuối tháng 11 vừa qua tại bang Caliphonia (Mỹ), 24 Hội
đoàn thiện nguyện của người Mỹ gốc Việt đã nhất trí thành lập một Mạng
lưới các hội đoàn thiện nguyện người Mỹ gốc Việt. BTK-TTXVN
|
Do những quan hệ với quê hương gốc về chủng tộc và văn hoá, các tổ chức phi
chính phủ người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American non-governmental organizations,
gọi tắt là VA NGO), với sự tham gia của các nhân tài trẻ có tâm huyết mỗi ngày
một nhiều hơn, hiển nhiên có thể thực hiện các chương trình nhân đạo và phát
triển ở Việt Nam hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn các tổ chức quốc tế khác. Tuy
nhiên, ngoài thế yếu về hành chánh và tài chánh do bản chất thuần túy tự nguyện,
các VA NGO còn bị hạn chế rất nhiều từ cả hai phía hải ngoại và trong nước, do
một quá khứ trên ba mươi năm chiến tranh và thù hận. Do đó, các VA NGO đang phải
đối diện với hai thử thách lớn: một mặt phải tăng cường khả năng tổ chức và
phương tiện để xứng đáng đứng chung hàng ngũ với các NGO Hoa Kỳ và quốc tế đang
hoạt động ở Việt Nam; mặt khác, phải cố gắng khắc phục được những trở ngại tâm
lý và chính trị vẫn còn đang nung nấu giữa cộng đồng hải ngoại và chính quyền
trong nước.
Người viết sẽ phân tích những nét chính của hai thử thách trên đây và đề cập đến
một số phương cách có thể vượt qua những thử thách ấy, riêng trong trường hợp
các NGO người Mỹ gốc Việt.
Trở ngại về điều kiện làm việc
Cần phải nói ngay rằng, trừ vài trường hợp ngoại lệ được những người bạn Mỹ giúp
thành lập từ lúc đầu, các tổ chức phi chính phủ người Mỹ gốc Việt (VA NGO) đều
do những nhóm chuyên gia thành lập và hoạt động trên căn bản tình nguyện, ngay
cả khi được sự hỗ trợ của cộng đồng. Có nhiều nhóm đã hiện hữu như thế từ trên
mười năm nay, và hoạt động của họ ngày càng nhiều hơn và mạnh hơn. Hầu hết đều
đặt văn phòng làm việc “tại gia” hoặc “ké vào” trụ sở của một cơ quan bạn có
lòng tốt. Nếu gần đây có một số ít tổ chức nhận được ngân khoản tài trợ cho dự
án hoạt động thì cũng chỉ có khả năng trả một phần thù lao cho người phụ trách
về hành chánh, kế toán. Các chuyên gia sáng lập hay hợp tác với các dự án của tổ
chức đều là những người bỏ thì giờ và tiền túi của mình, mỗi năm một lần hay
nhiều lần, để thực hiện các chương trình y tế, giáo dục hay xã hội ở Việt Nam.
Vì họ đều có nghề nghiệp chuyên môn nên sau mỗi chuyến công tác tình nguyện, ai
nấy đều phải trở về ngay với công việc hàng ngày của mình, có rất ít thì giờ lo
việc củng cố và phát triển tổ chức. Muốn cho tổ chức có thể hoạt động lâu dài
với các dự án mới và những nguồn tài trợ mới, tiền đóng góp của cộng đồng cần
phải được dành một phần cho chi phí hành chánh cần thiết như các nhà hảo tâm
người Mỹ da trắng vẫn dành cho các tổ chức từ thiện của bất cứ sắc dân nào.
Trước triển vọng mở rộng các quan hệ Mỹ-Việt và trước nhu cầu xây dựng vị thế
vững chắc trong khu vực và hội nhập thành công trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam
rất cần đến sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ để nâng cao mức sống và
trình độ học vấn của dân chúng trong nước. Địa bàn hoạt động càng rộng, nhu cầu
của dân nghèo và những người bị thiệt thòi càng nhiều. Năm 2005 có trên 600 NGO
quốc tế hoạt động tại khắp 64 tỉnh/thành ở Việt Nam, với các chương trình y tế,
giáo dục, xã hội, cho vay vốn tiểu thương, bảo vệ môi trường, đóng góp quan
trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững ở các vùng quê xa
xôi. Đây là con số các NGO đã chính thức ghi danh với Ủy ban Điều phối Viện trợ
Nhân dân (PACCOM), trong đó các NGO Mỹ gốc Việt có thể đếm trên đầu ngón tay. Vì
hầu hết các VA NGO cho đến nay không có văn phòng dự án hay văn phòng đại diện ở
Việt Nam và chỉ quan hệ trực tiếp với địa phương nên nhiều khi đã gặp phải những
khó khăn về giấy phép và quan thuế đối với các loại hàng cần dùng cho dự án, như
thuốc men và dụng cụ y khoa. Đã đến lúc các VA NGO, dù chưa hội đủ điều kiện
hành chánh và tài chánh của một NGO quốc tế, cũng cần phải được nhà nước chính
thức công nhận và giúp đỡ giải quyết các vấn đề thủ tục.
Chưa có cơ quan nào ước tính tổng số đóng góp của các VA NGO, chính thức hay
không chính thức, cho các chương trình nhân đạo và phát triển ở Việt Nam trong
những năm qua và tỉ lệ gia tăng mỗi năm là bao nhiêu. Nhưng nếu giả thử phần
đóng góp cho hoạt động từ thiện tương đương với một phần trăm (1%) số tiền cộng
đồng người Mỹ gốc Việt gửi về Việt Nam thì ta sẽ có được một ý niệm cụ thể. Theo
Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong năm 2004, tổng số tiền
người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước qua ngả chính thức là 3 tỉ 8 đô la.
Trong số đó, số tiền của người Mỹ gốc Việt gửi về chiếm khoảng 2/3, tức là 2 tỉ
rưỡi. Như vậy, phần đóng góp của VA NGO trong năm 2004 là 25 triệu đô la (1/100
của 2 tỉ 5). So với tổng số tiền viện trợ của 560 NGO quốc tế (INGO) ở Việt Nam
năm 2004 là 140 triệu thì số tiền viện trợ trực tiếp 25 triệu của mấy chục hội
đoàn Mỹ gốc Việt quả thật là quan trọng.
Vì không được liệt kê trong danh sách chính thức, các VA NGO không những không
được chính quyền Việt Nam quan tâm mà chính quyền Hoa Kỳ và các cơ quan tài trợ
tư nhân (foundations) cũng không hề biết đến. Mãi đến khi có Hội nghị các NGO
quốc tế lần thứ hai ở Hà Nội năm 2003, các đại diện của Pacific Links
Foundation, một NGO Mỹ gốc Việt, nhân dịp tham dự với tư cách không chính thức,
mới có cơ hội lên tiếng về sự đóng góp và vai trò quan trọng của VA NGO trong
những buổi họp riêng với Đại sứ Hoa Kỳ Michael Marine, Thứ trưởng Ngoại giao Lê
Văn Bàng, Tiến sĩ Charles Bailey, Đại diện Ford Foundation ở Việt Nam và Thái
Lan, và Tiến sĩ Jonathan Stromseth, Đại diện The Asia Foundation ở Việt Nam năm
đó. Do kết quả của những buổi đàm thoại này và một phiên họp với Bà Holly Wise,
Giám đốc Văn phòng USAID/GDA ở Washington, DC, Hội nghị VA NGO lần đầu tiên đã
được tổ chức tại Monterey, California, từ 7 đến 9 tháng Năm, 2004, với 110 tham
dự viên của 32 tổ chức phi chính phủ người Mỹ gốc Việt. Sau ba ngày thảo luận,
Hội nghị đã khẳng định cần có sự hợp tác giữa các VA NGO, cần xây dựng khả năng
chuyên nghiệp, và một tiếng nói chung của VA NGO đối với các giới chức chính
quyền Hoa Kỳ và Việt Nam, các cơ quan tài trợ và cộng đồng dòng chính cũng như
cộng đồng người Mỹ gốc Việt.
Trở ngại Tâm lý và Chính trị
|
Giáo
sư Lê Xuân Khoa (bên trái), cùng |
Như trên đã nói, cộng đồng người Mỹ gốc Việt tán thành và hỗ trợ các hoạt
động nhân đạo ở Việt Nam nhưng còn rất dè dặt đối với các chương trình phát
triển vì cho rằng các chương trình này sẽ giúp củng cố chế độ độc tài ở Việt
Nam. Các chuyên gia đứng đầu các VA NGO thì lại xem các hoạt động phát triển
kinh tế, giáo dục, khoa học và trao đổi văn hoá như những phương cách thuận lợi
cho tiến trình đổi mới, thiết lập xã hội dân sự, hội nhập thành công với cộng
đồng thế giới. Những khoá tập huấn hay hội thảo về kinh tế thị trường, về quản
lý tài chánh và luật lệ ngân hàng, về hệ thống và phương pháp giáo dục ở Hoa Kỳ
đều sẽ dẫn đến những kết quả tích cực ấy. Mặc dù với tầm nhìn xa như vậy, các
chuyên gia thiện chí ở hải ngoại cho đến nay vẫn chưa thật sự đóng góp chất xám
theo như sự kêu gọi và trông đợi của các nhà lãnh đạo trong nước. Số trí thức và
khoa học gia hải ngoại về nước làm việc tư vấn và giảng dạy vẫn chưa tới 300
người mỗi năm trong số ước định trên 300,000 nhân tài người Việt ở nước ngoài.
Sự đóng góp giới hạn của nhân tài hải ngoại cho hoạt động chuyển giao trí thức
và công nghệ không phát xuất từ nỗi lo ngại củng cố chế độ độc tài nhưng cũng
biểu lộ sự quan tâm của họ đối với những nỗ lực trì hoãn tiến trình đổi mới của
những người cộng sản bảo thủ, và họ cảm thông với tâm trạng thù hận của những
nạn nhân trực tiếp của chế độ sau ngày thống nhất đất nước. Nhiều nạn nhân này
chính là những thân nhân hay bằng hữu của họ. Họ đồng ý rằng quá khứ đau thương
cần phải được quên đi vì vận mệnh tương lai của đất nước nhưng họ trông chờ
những lời nói và hành động hoà giải cụ thể của những người lãnh đạo trong nước
thay vì những lời kêu gọi xoá bỏ hận thù của kẻ thắng đối với người thua. Nội
chiến vì lý tưởng khác biệt với hậu thuẫn của những thế lực đối lập quốc tế đã
đem lại thắng lợi cho một bên, nhưng khi hoà bình đã trở lại thì vấn đề hoà giải
giữa đôi bên cần phải được thực hiện bằng sự nhìn nhận lẫn nhau và đối xử bình
đẳng, không chỉ riêng đối với những người đã bỏ ra hải ngoại mà cả với những
người còn ở lại trong nước.
Từ sau chiến tranh lạnh, vì nhu cầu chung sống hoà bình, những mâu thuẫn cũ hay
mới giữa các quốc gia trên thế giới đều lần lần được giải quyết qua đối thoại và
hòa giải, ngay cả chiến tranh chống khủng bố với yếu tố tôn giáo rốt cuộc cũng
chỉ có thể chấm dứt bằng sự đồng thuận quốc tế. Chính sách toàn cầu hoá phải
được điều chỉnh để giải quyết những quan tâm chung như ô nhiễm môi sinh, bất
công xã hội và khoảng cách quá to lớn giữa giàu và nghèo, giữa các khu vực và
trong mỗi quốc gia. Trong tiến trình hội nhập vào cộng đồng thế giới để trở
thành một quốc gia phát triển, Việt Nam không thể không có những thay đổi thích
hợp về mọi mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Hơn bao giờ hết, quan hệ quốc tế
ngày nay được thiết lập trên những giá trị phổ quát về dân chủ và nhân quyền, và
một trong những phương tiện hữu hiệu và thích hợp nhất cho tiến trình xây dựng
một xã hội công dân là các tổ chức phi chính phủ (NGO). Từ nhiều năm qua, các
nước lớn hay tổ chức quốc tế đã dành nhiều ngân khoản viện trợ phát triển bền
vững cho các quốc gia có nhu cầu qua các NGO thay vì các cơ quan nhà nước. Các
quốc gia thiếu dân chủ nhận viện trợ đều biết rõ điều đó nhưng vẫn đón nhận và
khuyến khích các chương trình trợ giúp của các NGO vì các tổ chức này tự bản
chất không phải là những tổ chức chính trị và họ thật sự đáp ứng những nhu cầu
căn bản và khẩn cấp của dân chúng mà chính quyền sở tại không có đủ khả năng
cung cấp. Những chương trình giúp đỡ nhân đạo và phát triển bền vững của NGO nếu
có đóng góp vào tiến trình xây dựng xã hội công dân thì cũng chỉ là hiệu quả tự
nhiên của những hoạt động phi chính trị.
Đó là xu thế tất yếu của lịch sử và Việt Nam không thể là một ngoại lệ. Những
nhà lãnh đạo ở Việt Nam biết rõ như thế và đang cố gắng thích ứng với những đòi
hỏi của tình thế. Cộng đồng người Việt hải ngoại nếu không tham gia vào nhịp
tiến hoá chung thì sẽ tự cô lập và bỏ lỡ nhiều cơ hội đem lại lợi ích cho dân
tộc và phục hồi danh dự cho những người Việt Nam yêu nước. Nhiều chuyên gia công
dân Mỹ gốc Việt, nhất là giới trẻ, ý thức rõ được điều ấy, nên sau nhiều năm
hoạt động lặng lẽ với tư cách là những nhóm thiện nguyện không chuyên nghiệp, đã
quyết định hợp thức hoá và công khai hoá các tổ chức của họ để những đóng góp
của họ được chính thức nhìn nhận bởi cả hai chính phủ Mỹ và Việt Nam, bởi cộng
đồng NGO quốc tế và các nguồn tài trợ.
Mạng lưới các Tổ chức NGO Mỹ gốc Việt (VA NGO)
Sau Hội nghị VA NGO lần thứ nhất năm 2004, một Uỷ ban Kế hoạch gồm đại diện tám
tổ chức được thành lập để chuẩn bị cho ra đời một mạng lưới NGO Mỹ gốc Việt. Mặc
dù rất bận với nghề nghiệp riêng của mình, các thành viên trong Uỷ ban đã sát
cánh làm việc với nhau trong hơn một năm trời, mở những cuộc tiếp xúc trao đổi
và thăm dò với ba đối tượng chính: (1) Chính phủ Hoa Kỳ: Đại sứ Hoa Kỳ và các
phụ tá của ông tại Việt Nam, Giám đốc Văn phòng Liên minh Phát triển Toàn cầu
(Global Development Alliance) thuộc Cơ quan Viện trợ Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID);
(2) Chính phủ Việt Nam: Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về
Người Việt Nam ở Nước ngoài và Giám đốc Ủy ban Điều phối Viện trợ Nhân dân; (3)
Trưởng Cơ quan Đại diện ở Việt Nam của Ford Foundation và của The Asia
Foundation.
Ngoài ra, Uỷ ban Kế hoạch đã bỏ rất nhiều thì giờ vào việc tổ chức Hội nghị VA
NGO lần II, được diễn ra tại khách sạn Sheraton-Sonoma, California từ 18 đến 20
tháng 11, 2005. Trên 130 đại diện của 36 VA NGO từ nhiều nơi trên nước Mỹ đã
chia sẻ với nhau các chương trình, kinh nghiệm hoạt động cũng như các nhu cầu
phát triển tổ chức. Bảy diễn giả từ phía chính phủ Hoa Kỳ (USAID), các cơ quan
tài trợ (Ford Foundation, The Asia Foundation), các tổ chức Á châu/Thái Bình
Dương (Asian Health Services, Asian Americans/Pacific Islanders in Philanthropy)
và các tổ chức bất vụ lợi (Vietnamese American Cancer Foundation, Know One Teach
One) đã chia sẻ với hội nghị các thông tin và đề nghị hữu ích về các vấn đề tổ
chức mạng lưới, lãnh đạo, gây quỹ, và kinh nghiệm nghề nghiệp. Cả hai hội nghị
này đã nhận được tài trợ của Ford Foundation, The Asia Foundation, Alexander
Wallace Gerbode Foundation, Lê Viết Cảnh & Vương Ngọc Quyên Foundation, và ba VA
NGO là Children of Peace Foundation, East Meets West Foundation và Pacific Links
Foundation.
Đặc biệt trong hội nghị này có hai thuyết trình viên từ trong nước là ông Nguyễn
Văn Kiền, Giám đốc Ủy Ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM) và ông Trần Quang
Hoan, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về Người Việt Nam ở Nước ngoài. Hai ông và hai đoàn
viên được mời tham dự hai phiên họp trong ngày cuối của hội nghị để cung cấp cho
các đại diện VA NGO các thông tin cần thiết về thủ tục hành chánh và pháp lý
liên quan đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại
Việt Nam. Phái đoàn Việt Nam sau đó đã trả lời rất nhiều câu hỏi của các tham dự
viên, giải thích nguyên nhân các trường hợp gặp trở ngại của các VA NGO và đưa
ra những phương cách giải quyết thích hợp. Hai ông trưởng đoàn cũng nhìn nhận sự
đóng góp quan trọng của các VA NGO và cho biết sẽ tìm cách đơn giản hoá một số
thủ tục hành chánh để cho VA NGO có thể hợp thức hóa dễ dàng và mau chóng. Hai
ông xác nhận đồng ý với ban tổ chức hội nghị về những nguyên tắc chỉ đạo cho
quan hệ hợp tác giữa các VA NGO và các đối tác ở Việt Nam là tính minh bach, khả
tín và tinh thần trách nhiệm. Cuộc trao đổi được diễn ra trong tinh thần hợp tác
thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau.
Một điểm quan trọng khác cần ghi nhận là Hội nghị VA NGO 2005 đã đạt được mục
tiêu chính là quyết định chính thức thành lập Mạng lưới VA NGO của toàn thể các
hội đoàn hiện diện. Hai mươi bốn hội đoàn đã xung phong đảm nhận vai trò thành
viên sáng lập để cùng soạn thảo cơ cấu tổ chức và hợp thức hoá Mạng lưới trong
vòng sáu tháng tới. Các hội đoàn thành viên sáng lập đã chỉ định Pacific Links
Foundation, một VA NGO đã đề xướng nỗ lực nối kết các NGO Mỹ gốc Việt, tiếp tục
nhiệm vụ điều hành những công tác cần thiết của các thành viên sáng lập. Kể từ
nay, cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ đã chính thức có tiếng nói ảnh hưởng tới
chính sách và các chương trình viện trợ nhân đạo và phát triển ở Việt Nam.
Hai hội nghị VA NGO năm 2004 và 2005 đã cho thấy khả năng chuyên nghiệp và tinh
thần làm việc phi thường của các chuyên gia người Mỹ gốc Việt trong Uỷ ban Kế
hoạch Thành lập Mạng lưới VA NGO. Hội nghị VA NGO năm 2005 có một ý nghĩa lịch
sử vì đây là lần đầu tiên một phái đoàn chính phủ Việt Nam được mời tham dự một
hội nghị do công dân Mỹ gốc Việt tổ chức. Hội nghị này có thể mở đầu cho những
cuộc họp mặt chính thức trong tương lai giữa các nhóm chuyên môn khác của hai
bên để thảo luận về những vấn đề văn hoá, giáo dục, xã hội và chính trị, có
triển vọng đưa đến việc xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ như tất
cả mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đều mong muốn.
Tiến sĩ Charles Bailey, Đại diện Ford Foundation ở Thái Lan và Việt Nam, có lẽ
là người sớm nhất cùng Đại sứ Michael Marine đã nhận ra vai trò và ảnh hưởng
quan trọng của các chương trình VA NGO tại Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội
nghị, ông nói: “Tôi rất có ấn tượng đối với lòng tận tụy, tình thương, việc làm
hăng say và tiền bạc mà quí vị và tổ chức của qúi vị đã đóng góp từ nhiều năm
qua cho công tác nhân đạo và phát triển ở Việt Nam... Hội nghị này thực sự đánh
dấu một bước ngoặt lớn vì từ nay cộng đồng người Việt hải ngoại có thể gia tăng
gấp bội ảnh hưởng của những đóng góp của mình cho tương lai của Việt Nam, đồng
thời được nhìn nhận rộng rãi hơn về những chương trình đang thực hiện. Tôi có
mặt ở đây vì tổ chức của chúng tôi ủng hộ kế hoạch của qúi vị thành lập Mạng
lưới NGO người Mỹ gốc Việt.”
Lời phát biểu của Tiến sĩ Bailey rất thích hợp để kết thúc bài này.
Irvine, California, Mùa Giáng Sinh 2005 - Nguồn: Nhật báo Người Việt
Online
Các
tổ chức phi chính phủ (NGO) của người Việt tại Mỹ kết hợp thành một mạng lưới
Monday, December
19, 2005(Ngay nay Houston)
Nguyễn Quốc Cường
*Các "NGO" của giới trẻ Việt Nam gặp cảnh "trên đe dưới búa"
*Các "NGO" nhằm đẩy mạnh sinh họat công dân
LTS – Nhà báo Nguyễn Quốc Cường là bỉnh bút chính trị của Ngày Nay, hiện cư ngụ
tại Houston, Texas.
HOUSTON (NN) – Hội Nghị VA NGO (Vietnamese American Non-Governmental
organizations) lần II, được tổ chức tại California và cuối tháng 11 vừa qua, với
trên 130 đại diện của 36 VA NGO từ khắp nơi trên nước Mỹ về hội tụ tại
California, đã đánh dấu sự trưởng thành của một lớp người thiện nguyện Mỹ gốc
Việt đã dồn nỗ lực trong nhiều năm qua vào việc xây dựng một xã hội công dân tại
Việt Nam với những tổ chức ngoài chính phủ (NGO) vốn đã được cộng đồng thế giới
công nhận như là một phương tiện hoạt động cần thiết và hữu hiệu nhất để cải
tiến môi trường xã hội, và nâng cao đời sống người dân trong những môi trường
kém mở mang và thiếu dân chủ. Mặc dầu giới lãnh đạo tại các nước này vẫn còn e
ngại ảnh hưởng ngày càng rộng lớn của những tổ chức ngoài chính phủ có tầm hoạt
động trải rộng vào mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, một số nước - đặc biệt là Liên
bang Nga và Trung Quốc - cũng đã ý thức được rằng không thể loại bỏ vai trò của
những tổ chức NGO nếu muốn đẩy mạnh nỗ lực phát triển đất nước.
Ảnh hưởng của các NGO
Mới đây, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phải nhượng bộ cuộc vận động của những
tổ chức NGO quốc tế chống lại một dự luật vừa được hạ viện Nga thông qua, nhằm
mục đích hạn chế và kiểm soát hoạt động của những NGO quốc tế tại Liên bang Nga.
Ong Putin và cố vấn chính trị của ông đã phải công khai xác nhận với báo chí
quốc tế rằng chính phủ Nga sẽ không có một hành động nào làm phương hại đến
những sinh hoạt của xã hội công dân, và hứa sẽ tu chính dự luật nói trên để khỏi
gây trở ngại cho sinh hoạt xã hội công dân.
Mặt khác, nhân chuyến viếng thăm một bệnh viện chuyên điều trị bệnh Aids tại Bắc
Kinh vào đầu tháng 12 vừa qua, Thủ tướng On Gia Bảo, qua lời cam kết sẽ hiệp lực
với cộng đồng quốc tế trong nỗ lực phòng chống và điều trị bệnh AIDS, cũng đã
xác nhận ủng hộ vai trò của những tổ chức NGO quốc tế hoạt động tại Trung Quốc.
Trước đó, một giới chức cao cấp thuộc Bộ Công Dân Vụ Trung Quốc cũng đã xác nhận
sự hợp tác chặt chễ và cởi mở của Bắc Kinh với các tổ chức NGO quốc tế. Tại
Trung Quốc sinh hoạt xã hội công dân bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1980,
qua những tổ chức từ thiện ngoài chính phủ quốc tế, và đã phát triển mạnh sau
hội nghị phụ nữ thế giới được tổ chức tại Bắc Kinh vào năm 1995, với sự tham dự
của bà Hillary Clinton.
Về phía Việt Nam, sự hiện diện của hai đại diện của Uy ban Điều phối Viện trợ
Nhân dân (PACCOM) và của Uy ban về Người Việt Nam ở Nước ngoài tại hội nghị VA
NGO lần II vừa qua, cho thấy Hà Nội cũng đã phải chú tâm đến những sinh hoạt xã
hội công dân do các NGO người Mỹ gốc Việt thực hiện trong nước.
Kể từ khi Việt Nam mở cửa với bên ngoài, những NGO do một số người Mỹ gốc Việt
đã âm thầm bỏ nhiều công sức và tài sản để xây dựng và phát triển một xã hội
công dân cho Việt Nam. Mục tiêu của họ là tài trợ và sáng lập những tổ chức
ngoài chính phủ hoạt động trong những lãnh vực nhân đạo và phát triển cộng đồng
tại những vùng quê Việt Nam. Họ cho rằng hoạt động của những tổ chức ngoài chính
phủ sẽ đem các giá trị dân chủ vào tâm thức và sinh hoạt của những tầng lớp dân
chúng tại nông thôn Việt Nam, và từ đó giúp phát sinh một văn hóa chính trị dân
chủ ngay tại hạ tầng cơ sở xã hội. Họ giải thích thêm rằng những chương trình
yểm trợ giáo dục, huấn nghệ, cũng như phát triển cộng đồng tại các vùng nông
thôn sẽ đào tạo khả năng tự lập tự túc cho người dân để giúp họ đi đến chỗ tự
cường và tự chủ, không còn phải trông chờ và nhờ cậy vào ai ngoài chính mình.
Theo họ, đó là phương cách hữu hiệu nhất để cho người dân giảm thiểu sự lệ thuộc
vào nhà nước như trong thời kỳ bao cấp.
Các NGO người Việt kết hợp
Sau khi tạo được sự nối kết giữa những tổ chức ngoài chính phủ (NGO) do người Mỹ
gốc Việt sáng lập qua hội nghị lần I vào năm ngoái, mục đích của hội nghị VA NGO
lần II vừa qua là để tiến đến việc thành lập một mạng lưới NGO, hợp lực và
phương tiện để gia tăng hiệu năng cho từng tổ chức, tiếp xúc và trao đổi với các
cơ quan chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam, cũng như những định chế ngoài chính phủ
tại Hoa Kỳ để vận động phương tiện và phối hợp các chương trình hoạt động tại
Việt Nam cho hữu hiệu và quy mô hơn.
Một sáng lập viên của một NGO lớn của người Việt tại California yêu cầu được dấu
tên để tránh gây trở ngại cho những hoạt động hiện tại của hội tại Việt Nam cho
biết hội nghị lần I vào năm ngoái không được phổ biến nhiều ra bên ngoài vì
“chúng tôi muốn giới hạn việc phổ biến những thông tin về sinh hoạt của chúng
tôi tại Việt Nam, phần vì không muốn gây phiền hà cho hoạt động trong nước, cũng
như để tránh những sự đả kích trong cộng đồng hải ngoại là việc làm của chúng
tôi có lợi cho nhà nước Việt Nam.” Trong khi đó, một số người khác lại cho rằng
chính sự e ngại này đã làm cản trở rất nhiều quan hệ của họ với giới chính quyền
trong nước và khiến cho họ thường bị làm khó dễ trong hoạt động, và tạo cơ hội
cho những hành vi tham những. Chính vì lý do đó cho nên họ chủ trương cần công
khai hóa những hoạt động NGO và vận dụng mạng lưới NGO để khuyến khích sự minh
bạch trong những sinh hoạt NGO trong nước.
Về phía người Việt hải ngoại, đa số đã thấy rõ ảnh hưởng tích cực của sinh hoạt
xã hội công dân trong việc phát triển dân chủ. Do đó, người ta đã nhận thấy một
sự chuyển đổi trong thái độ của dư luận hải ngoại đối với hoạt động của các NGO
người Mỹ gốc Việt tại Việt Nam, được phản ảnh qua giới truyền thông tiếng Việt
tại Hòa Kỳ. Phản ứng chống đối những hoạt động loại này cũng giảm đi đáng kể,
ngoại trừ một số nhỏ vẫn chưa nắm vững được tác dụng của sinh hoạt xã hội công
dân trong việc xây dựng và phát triển dân chủ.
Tại Việt Nam kể từ thời kỳ mở cửa, mới xuất hiện một từ mới là “xã hội hóa” các
dịch vu công cộng, để chỉ định việc trao phó những công tác y tế-xã hội và cứu
trợ mà nhà nước không có phương tiện tiền bạc lẫn khả năng để thực hiện và phải
trông chờ vào sự trợ giúp kỹ thuật và viện trợ tài chánh của nước ngoài. Thường
những cơ quan quốc tế được phái vào để trợ giúp Việt Nam đều hoạt động dưới dạng
những tổ chức ngoài chính phủ, kể cả trong những chương trình của Liên Hiệp
Quốc. Đó là vào những năm 1986 trở về sau, khi mà Việt Nam đứng trên bờ vực thẳm
của nghèo đói và kiệt quệ kinh tế.
Còn nhiều khó khăn
Hiện nay có khoảng trên dưới 500 NGO đang hoạt động tại Việt Nam, phần lớn trong
số này có xuất xứ từ Au châu và Hoa Kỳ. Hoạt động của các NGO nước ngoài chịu sự
theo dõi và quản lý chặt chẽ của ba cơ quan nhà nước phối hợp hoạt động để kiểm
soát. COMINGO là gọi tắt của Committee for Foreign NGO Affairs hay Uy ban Công
Tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, là cơ quan phối hợp cấp cao nhất,
trực tiếp với văn phòng Thủ tướng. Uy ban này do ông Thứ trưởng Ngoại giao Lê
Văn Bàng chủ trì, và gồm một số ủy viên liên bộ, kể cả công an và nội vụ để phụ
trách phần điều tra và theo dõi an ninh các NGO nước ngoài vào hoạt động. VUFO
là gọi tắt của Vietnam Union of Friendship Organizations hay Liên hiệp các tổ
chức hữu nghị Việt Nam, là một tổ chức chính trị-xã hội trên phạm vi toàn quốc
với nhiệm vụ chính là vận động và tuyên truyền để đẩy mạnh những quan hệ thân
hữu và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Và PACCOM, Peoples Aid
Coordinating Committee, hay Uy ban điều phối viện trợ nhân dân, với chức năng
chính là quan hệ và hợp tác với NGO nước ngoài, cũng như làm mai mối giữa các
NGO ngoại quốc và các tổ chức đối tác trong nước. Đây là cơ quan tiếp cận với
các NGO nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam.
Mới đây, một tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về phát triển của xã hội công dân
trên thế giới đã công bố công trình nghiên cứu của họ về Việt Nam mang tựa đề
“Đánh giá sơ khởi về Xã hội Công dân tại Việt Nam,” với kết luận rằng hiện nay,
môi trường hoạt động của NGO tại Việt Nam chưa thật sự thuận lợi, vì mặc dầu
chính phủ và đảng Cộng Sản cầm quyền tại Việt Nam đã có cái nhìn tích cực hơn về
xã hội công dân, những tổ chức hoạt động trong những lãnh vực liên hệ đến chính
trị và tôn giáo văn hóa và truyền thông vẫn bị nghiêm cấm. Một kết luận khác
cũng không gây ngạc nhiện là sự trễ nãi trong việc cứu xét hồ sơ xin giấy phép
hoạt động, vốn là một nút chặn khó khăn nhất đối với những NGO nước ngoài muốn
vào Việt Nam hoạt động. Đặc biệt là đối với những NGO của người Việt hải ngoại,
ngoài thói quen của các cơ quan nhà nước thường biểu lộ thái độ trọng thị đối
với người ngoại quốc hơn là đối với người Việt, còn thêm yếu tố nghi kỵ về vấn
đề an ninh điều tra, khiến cho các NGO người Việt gặp nhiều trở ngại hơn khi
hoạt động trong nước.
Những trở ngại trên đây cũng đã được hội nghị VA NGO đặt ra với những đại diện
của phía Việt Nam tham dự cuộc đối thoại trong chương trình hội nghị, và là một
trong những lý do thúc đẩy cuộc vận động thành lập mạng lưới VA NGO để công khai
hóa hoạt động của các tổ chức thành viên, hầu giảm thiểu những trở ngại và khó
khăn trong những chương trình công tác tại Việt Nam trong tương lai.
(Houston 9 tháng 12, 2004)
VA-NGO:
Mạng Lưới Từ Thiện hay
Công Tác Chính Trị ?
Thanh J. Ngô
(Dec. 20-2005)
http://www.saigonusanews.net/tincongdong.htm
Năm 2005 là một dấu mốc quan trọng đối với người Việt trong và ngoài nước. Đây là thời điểm kỷ niệm 30 ngày chấm dứt Chiến Tranh Việt Nam và cũng đánh dấu 30 năm ngày thành hình và sự phát triển của những cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Tại Hoa Kỳ, cộng đồng
người Việt từ con số hơn 100 ngàn người định cư vào năm 1975 nay hiện có 1 triệu
200 ngàn người Mỹ gốc Việt mà một nửa sống ở tiểu bang California. Người Việt
không chỉ thành công trong lãnh vực giáo dục, kỹ thuật, họ còn đóng góp nhiều
cho nền kinh tế Hoa Kỳ. Những khu thương mại của người Việt được xây dựng ở hai
miền nam bắc California cho thấy sự phát triển kinh tế của cộng đồng người Việt.
Ngoài việc mưu sinh để tự lập, người Việt ở Mỹ còn gửi về giúp thân nhân ở quê
nhà đôi ba tỉ đô la mỗi năm.
Nhưng quan hệ giữa kiều bào và nhà nước cộng sản Việt Nam còn là một con đường
quanh co, gồ ghề vì chính sách bất nhất đối với kiều bào hải ngoại và nhất là
cách đối xử của Hà Nội với người dân trong nước mà người Việt hải ngoại rất để
ý.
Những năm trước danh từ “Việt kiều” được nhà nước dùng để vơ vào tất cả mọi
thành phần người Việt sống ở nước ngoài và đã tạo ra phản ứng ngược, nên sau này
nhà nước đổi thành “người Việt ở nước ngoài.” Mỗi năm nhà nước đưa ra con số
người hải ngoại về thăm quê hương, 300 ngàn, và số tiền gửi về giúp thân nhân,
trên 3 tỉ đô la, để kết luận đó là những bằng chứng người hải ngoại ủng hộ nhà
nước Việt Nam.
Dựa trên thông tin do Hà Nội loan truyền, nhiều cơ quan, đoàn thể và quần chúng
tin rằng đa số kiều bào ủng hộ những chính sách của nhà nước. Nhưng khi quan
chức cộng sản ra nước ngoài mới nhận ra thực tế chứng minh ngược lại. Ở những
nơi công khai hay trong chốn riêng tư, nhiều ý kiến bất đồng với chính sách của
nhà nước đã được nêu lên. Công khai là những cuộc biểu tình, trong phòng hội
thảo là những câu hỏi về việc thi hành chính sách thiếu minh bạch, tròng tréo,
về tệ nạn tham nhũng, về nạn buôn người, về đàn áp những người bất đồng chính
kiến, về tự do tôn giáo. Khi đoàn công tác gặp gỡ riêng với một số người, thì
nhiều vấn đề cũng được đặt ra, từ những khó khăn trong việc làm công tác từ
thiện, những chính sách hoà giải, tái thiết Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng
Hoà, những vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo.
Quan chức nhà nước nghe, nhưng không bao giờ đề xuất sáng kiến giải quyết vì còn
phải trình lên trung ương đảng, mà đảng luôn muốn nắm mọi quyền kiểm soát, nhất
là kiểm soát những sinh hoạt trong nước của người từ hải ngoại về, từ du lịch,
kinh doanh cho đến từ thiện, kỹ thuật. Vì thế quan hệ giữa kiều bào và nhà nước
trong những năm qua tuy có những tiếp cận, nhưng chính sách vẫn không có gì thay
đổi nhiều từ phiá Hà Nội.
Trong kế hoạch tìm sự ủng hộ của kiều bào, Nghị Quyết 36 được ban hành để thâm
nhập sinh hoạt cộng đồng người Việt hải ngoại trong lãnh vực truyền thông, dạy
Việt ngữ, từ thiện và tìm kiếm những phát minh công nghệ cao.
Sau khi NQ-36 ra đời hai năm trước đây, nhiều quan chức Ủy Ban Người Việt Nam ở
Nước Ngoài (UBNVNONN) đã qua Mỹ móc nối để hình thành một mạng lưới “Việt kiều”
hoạt động từ thủ đô Washington đến tiểu bang California. Ngoại trừ một số nhỏ
người Việt ủng hộ nghị quyết vì quyền lợi làm ăn trong nước, vì đã hoạt động cho
Hà Nội lâu đời, còn thì đại đa số đồng hương coi nghị quyết đó chỉ là bánh vẽ.
Ðiển hình nhất là chính sách cho kiều bào mua nhà trong nước mà nhà nước phân
biệt và chỉ chọn lọc những “Việt kiều yêu nước” đã tỏ lòng trung thành và ca
ngợi chế độ thì mới được mua nhà, mà con số đó đến nay chưa đến 50 người. Trong
khâu mời gọi người Việt hải ngoại về làm ăn cũng thế, chỉ những người ủng hộ Hà
Nội mới được phép.
Không làm lay chuyển được lập trường chống Cộng dứt khoát của nhiều hội đoàn
người Việt, bây giờ nhà nước muốn dùng những tổ chức từ thiện để tìm sự ủng hộ
từ hải ngoại. Sự hình thành của mạng lưới VA-NGO trong một
cuộc họp kín ở vùng Vịnh San Francisco là trong kế hoạch đó. Theo tin của
nhật báo San Jose Mercury News thì muốn dự phải có giấy mời và truyền thông thì
bị cấm cửa. Cuộc họp diễn ra từ ngày 18 đến 20-11-2005 tại khách sạn Sheraton,
thành phố Petaluma, được sự điều phối của Hà Nội và sau khi bị phát giác, các
nhân sự của VA-NGO đã lo chữa cháy qua bản thông cáo báo chí đưa lên trang nhà
hai tuần sau đó, ngày 3-12. Trong một thông cáo báo chí trước đó gửi đến cho
trang Anh ngữ do nhật báo Người Việt phổ biến ngày 25-11, có loan tin về cuộc
họp nhưng không nhắc gì đến sự hiện diện của quan chức từ Hà Nội là Trần Quang
Hoan và Nguyễn Văn Kiền cũng như việc tuyên dương hai ông Lê Xuân Khoa và Nguyễn
Đình Hữu. Việc chữa cháy cũng được VA-NGO thực hiện trên nhật báo Mercury News
(SJMN 3-12-2005) và ông Lê Xuân Khoa cùng quan chức Hà Nội lo chữa cháy trên các
báo Việt ngữ trong và ngoài nước vào trung tuần tháng 12 (trang nhà của Đảng
Cộng Sản Việt Nam www.cpv.org.vn, 14-12-2005; Người Việt Online, 16-12 và Người
Viễn Xứ Online, 19-12)
Trong những năm qua, người Việt hải ngoại đã đóng góp nhiều triệu đô la cho việc cứu trợ đồng bào ở quê nhà khi có thiên tai đổ xuống. Những giáo hội cũng được trợ giúp trong việc trùng tu giáo đường, đền chùa, thánh thất. Nhưng làm công tác từ thiện ở Việt Nam không được dễ dàng nếu không được nhà nước cho phép và kiểm soát.
Các tổ chức từ thiện làm công tác tại Việt Nam đều bị theo dõi. Những người ngoại quốc làm việc từ thiện trong nước thường xuyên phải trình diện với quan chức địa phương và trung ương để báo cáo công việc của tổ chức.
Nhà nước còn nắm các số ngân khoản chuyển từ nước ngoài về qua hệ thống kinh tài. Cách đây mấy năm, một tu sĩ từ Việt Nam qua thăm giáo dân thuộc họ đạo cũ đang sống rải rác ở nhiều tiểu bang trên nước Mỹ, đi đến đâu vị linh mục này cũng nói về những chương trình bác ái, cơ sở y tế, nhà tình thương muốn thực hiện để giúp giáo dân nghèo trong giáo xứ. Sau hơn một tháng ở Mỹ vị linh mục quyên được khoảng 50 ngàn đô la. Việc chuyển số tiền đó về Việt Nam không qua con đường chính thức vì nếu vị linh mục đem số tiền lớn đó về thì phải khai báo, còn không là phạm luật. Số tiền được chuyển qua một cơ sở chuyển tiền trong cộng đồng người Việt. Vừa về đến Việt Nam, công an điạ phương đã mời linh mục lên và hỏi ngài sẽ làm gì với số tiền quyên góp được từ Hoa Kỳ. Nhiều tu sĩ thuộc những giáo hội khác nhau qua Hoa Kỳ lạc quyên từ thiện đều đã chuyển tiền về bằng cách này. Các chương trình cứu trợ của cộng đồng trong khi có thiên tai cũng đều qua phương cách này.
Một tổ chức thiện nguyện, VNHELP, ở miền Bắc California đã nói rằng nhiều lần người của họ đem tiền về Việt Nam bằng cách giấu trong người. Việc làm này vi phạm luật pháp Việt Nam mà người thi hành có thể bị tù và số tiền bị tịch thu. Nhưng qua bao nhiêu chuyến công tác, người của VNHELP chưa bao giờ bị bắt là vì VNHELP có thể đã có sự đồng ý của nhà nước vì tổ chức này ngoài những hoạt động y tế, giáo dục còn ghi rõ mục tiêu là “trao đổi văn hoá.” Trong mười năm qua VNHELP đã đưa nhiều ca sĩ trong nước ra hát trong các chương trình “Mùa Thu Cho Em” nhưng chưa đưa được một nghệ sĩ hải ngoại nào về Việt Nam trình diễn.
SAP-VN (Social Assistance Program for Vietnam) hay còn gọi là Hội Chữ Thập Xanh, là một tổ chức thiện nguyện khác có trụ sở ở miền Nam California. Trong quá khứ những người của SAP-VN đã bị làm khó dễ, giam giữ khi họ về Việt Nam làm công tác từ thiện.
Ba trường hợp trên nói lên việc làm từ thiện tại Việt Nam được sự chỉ đạo của nhà nước. Còn không thì không thể thực hiện, như việc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất muốn làm công tác từ thiện mà không được phép. Thầy Quảng Ðộ muốn đi cứu trợ mà đến nay vẫn bị giam lỏng. Nhiều tổ chức tôn giáo ở Việt Nam muốn mở trường, đóng góp cho sự phát triển giáo dục cũng không được.
Vậy sự thành hình của mạng lưới VA-NGO (Vietnamese-American Non-Governmental Organizations) có ý nghĩa gì? Hà Nội muốn qua mạng này và một mạng lưới kỹ thuật VSVN (Vietnamese Silicon Valley Network) có trụ sở ở San Jose để làm tiếng nói ủng hộ Hà Nội tại Hoa Kỳ. Tháng 12-2004 mạng lưới VSVN đã tổ chức hội thảo kỹ thuật tại Sài-gòn. VA-NGO vừa tổ chức hội nghị có quan chức từ lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco, từ UBNVNONN và từ Ủy Ban Điều Phối Viện Trợ Nhân Dân, PACCOM, trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc từ trong nước ra dự.
Nhân sự trong các tổ chức thuộc hai mạng lưới này gồm nhiều người đã về Việt Nam tìm nguồn đầu tư công nghệ cao như Lê Viết Cảnh, Quinn Trần; có người từng hoạt động phản chiến như Trần Kim Ánh, Thoa Nguyễn, Chung Hoàng Chương. Các cuộc đón tiếp những phái đoàn trong nước đến vùng vịnh San Francisco đều do người trong hai mạng lưới này phối hợp với tổng lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco tổ chức, thường là trong vòng kín đáo. Bất cứ khi nào người Việt có thông tin thì đều biểu tình và quan chức nhà nước sẽ bị chất vấn về chính sách buôn người, về tham nhũng, vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo ở Việt Nam.
VA-NGO hiện được sự điều phối của một hội từ thiện mới thành lập là Pacific Links Foundation, (PALS) tức Vòng Tay Thái Bình. Thành phần lãnh đạo và điều hành của PALS gồm chủ tịch là Trần Kim Ánh, thư ký là Quỳnh Trần, Vương Ngọc Diệp là thủ qũy, Vương Ngọc Quyên là giám đốc phát triển, giám đốc chương trình cộng đồng là Hằng L. Bourque tức Lê Xuân Hằng, ái nữ của ông Lê Xuân Khoa; ban cố vấn có Lê Xuân Khoa, Đỗ Bá Khê, Tạ Minh Hoa và Thoa Nguyễn.
PALS do Hằng L. Bourque lập ra. Trước đó bà làm việc cho East Meets West (Đông Tây Hội Ngộ) của Lệ Lý Hayslips và bây giờ là người trong Hội Đồng Giám Đốc của tổ chức này. Bản thành quả hoạt động của bà Hằng ghi bà đã gây quỹ cho một giáo sư để viết một cuốn sách về chiến tranh Việt Nam mà tác giả đó không ai khác hơn là ông Lê Xuân Khoa.
Trần Kim Ánh đã cùng với Lê Viết Cảnh, chồng của Vương Ngọc Quyên, tổ chức cho ông Lê Xuân Khoa ra mắt sách ở San Jose vào cuối tháng 10-2004 mà theo tường thuật của các báo Việt Mercury, Tin Việt, SaigonUSA (www.saigonusanews.net) thì chỉ có chừng 30 người dự và ban tổ chức đã hủy bỏ việc chào cờ Việt Nam Cộng Hoà vào giờ chót. Khi được hỏi lý do, Lê Viết Cảnh cao ngạo nói rằng đây là chuyện nhà của ông ấy và nơi đây không phải là một cái chợ để muốn đòi hỏi gì cũng được.
Trước khi chuyển qua Pacific Links Foundation, Trần Kim Ánh cùng với Chung Hoàng Chương là những người trong ban giám đốc của VNHELP và của Ủy Ban Kết Nghĩa San Francisco và Hồ Chí Minh City. Quinn Trần len lỏi vào trong Hội Di Sản Văn Hoá Việt (Vietnamese Heritage Society), sau bị tố giác là thành phần thân cộng nên đã rút lui.
Bà Tạ Minh Hoa trước dạy môn lịch sử người Mỹ gốc Á Châu tại Đại Học San Francisco State University mà nhiều sinh viên nói bà giảng bài sặc mùi tuyên truyền cho cộng sản. Hiện nay bà làm giáo sư cố vấn tại San Francisco City College nơi bà đã yêu cầu ban giám đốc nhà trường hạ bỏ cờ vàng và treo cờ cộng sản. Cộng đồng người Việt phản đối và nhà trường đã hạ cờ đỏ xuống. Bà Hoa cũng phát biểu chống lại nghị quyết cờ vàng khi thảo luận tại thượng viện California vào mùa hè qua.
Thoa Nguyễn là một “Việt kiều yêu nước” từ ngày qua Mỹ năm 1968, được mô tả là một người năng nổ hoạt động cho Hà Nội, cùng với Nguyễn Văn Lũy, trong tác phẩm “Thousand Tears Falling” của Yung Krall viết về những hoạt động của Hà Nội tại Hoa Kỳ và vụ án gián điệp Trương Đình Hùng và Đinh Bá Thi.
Điều khiển VA-NGO hiện nay là Trần Kim Ánh làm chủ tịch, Diệp Vương làm trưởng ban kế hoạch và Thùy Linh làm trưởng ban tổ chức hội nghị.
Vợ chồng Lê Viết Cảnh và Vương Ngọc Quyên lập ra tổ chức gọi là LeVietCanh & VuongNgocQuyen Foundation đã tài trợ việc in sách cho ông Khoa và bảo trợ cho cuộc họp kín để thành lập VA-NGO vào cuối tháng 11-2005 vừa qua. Vương Ngọc Quyên hiện làm chủ tịch của một hội thiện nguyện khác là ICAN (International Children Assistance Network). Lê Xuân Khoa trong bài viết chữa cháy kể rằng những người làm việc thiện nguyện đều bỏ tiền bạc, thời giờ riêng sau công việc. Nhưng chị em Diệp Vương và Quyên Vương theo ghi nhận trong loạt bài kỷ niệm 30-4 năm nay (2005) của nhật báo San Jose Mercury News thì họ là những người làm việc từ thiện toàn thời gian. Đằng sau những người này còn là nhiều dự án kinh doanh công nghệ thông tin ở Việt Nam qua một mạng lưới kỹ thuật là VSVN mà Lê Viết Cảnh là một thành viên trong ban điều hành và cùng với Debbie Nghiêm nhiều lần muốn dùng danh nghĩa hội để đón tiếp quan chức nhà nước.
Một điều cần ghi là trong những chương trình gây quỹ “Mùa Thu Cho Em” của VNHELP hay “Hát Cho Tuổi Thơ” của ICAN thường có cán bộ từ lãnh sự quán, sinh viên du học đến dự. Những người quen với sinh hoạt văn nghệ vùng San Jose cho biết nếu vé không bán hết những tổ chức này phát không cho sinh viên du học, cán bộ và gia đình. Sau những buổi trình diễn văn nghệ gọi là từ thiện, cũng không thấy VNHELP hay ICAN công bố kết quả tài chánh như nhiều tổ chức từ thiện khác trong cộng đồng. Cũng như hội giúp người mù của Đỗ Vẫn Trọn, không hoạt động gây quỹ nhiều mà báo chí trong nước đưa tin hội của ông đã trao cho Việt Nam một triệu đô la thì không hiểu số tiền đó từ đâu mà ra.
Với NQ-36, nhưng vận động của Hà Nội ở hải ngoại không thành công vì trong nước không có những thay đổi rõ ràng. Ðiển hình nhất là trong chuyến đi Mỹ vào mùa hè qua của thủ tướng Phan Văn Khải. Ði đến đâu ông Khải cũng gặp biểu tình phản đối, từ Seattle ở miền Tây sang thủ đô Washington, New York hay Boston ở miền Đông. Trong phòng họp thì bị chất vấn. Riêng California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất thì ông không dám tới. Một vài phái đoàn cấp dưới được đưa đến miền Bắc California thì cũng gặp biểu tình phản đối.
Chuyến đi Hoa Kỳ chỉ toàn thất bại, từ trong cộng đồng người Việt đến chính trường Hoa Kỳ. Việt Nam ký với Hoa Kỳ một thỏa thuận về tự do tôn giáo nhưng không thi hành nên còn bị Hoa Kỳ ghi tên trong danh sách những nước “đặc biệt quan tâm” (CPC). Việc Việt Nam gia nhập WTO trong năm 2005 cũng không thành vì chưa có những cải tổ luật pháp, mở cửa thị trường theo như yêu cầu.
Quan điểm của cộng đồng càng rõ hơn với việc chọn cờ vàng làm biểu tượng, một vấn đề làm Hà Nội nhức nhối. Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Phú Bình của UBNVNONN trong một chuyến công tác ở Mỹ đã nhắn nhủ người Việt muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải xung phong lên phản đối những nghị quyết, những hình thức tuyên dương cờ Vàng. Không lạ gì khi những phản đối đó là của những ông bà Tạ Minh Hoa, Chung Hoàng Chương, Lê Viết Cảnh, Trần Kim Ánh, Lê Xuân Khoa, Vũ Ðức Vượng.
Trong công tác đó, Hà Nội đã dùng người làm công tác từ thiện để coi như một mặc cả chính trị, trong khi những tổ chức này lại luôn miệng hô hào chỉ làm từ thiện, phi chính trị.
Với NQ-36, Hà Nội đang thành lập những tổ chức
do họ điều khiển để:
1. Chứng minh những chính sách
của nhà nước được người Việt ở Hoa Kỳ tán đồng.
2. Ngăn chặn việc thông qua
những nghị quyết cờ Vàng.
3. Làm bình phong giao lưu văn
hoá.
4. Thu thập những tin tức về
công nghệ thông tin.
Nhưng nếu không có những cải tổ trong nước về nhiều mặt, từ luật pháp, kinh tế cho đến chính trị, dân chủ, nhân quyền thì dù Hà Nội có dùng bất cứ tổ chức nào vào mục tiêu chính trị cũng sẽ thất bại. Trong thời đại thông tin toàn cầu, người Việt hải ngoại dễ dàng nhận ra cơ quan, tổ chức nào đang làm công tác cho nhà nước Việt Nam.
Thanh J. Ngô (Dec. 20-2005)