Đối Thoại          Website: Doi-Thoai.com         Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Không nên ồ ạt “đại học hóa” từng tỉnh!

 

Thứ Hai, 25/12/2006, 05:28 (GMT+7)

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=179408&ChannelID=13

 

GS Hoàng Tụy

TT - Trong thời gian qua, sự lạm phát cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ, PGS, GS ở VN đã thành đề tài đàm tiếu quen thuộc trên quốc tế. Đã đến lúc không nên tiếp tục hi sinh chất lượng để đạt số lượng như vậy...

Hai đức tính “vàng” sẽ giảm

Cùng với nhiều cơ hội phát triển, việc vào WTO cũng đem đến cho giáo dục những thử thách không thể xem thường. Một trong những điều đáng lo ngại nhất là trong lúc đất nước có nhu cầu rất lớn về nhân lực trình độ cao để cung ứng cho các ngành kinh tế, nếu các đại học của ta cứ tiếp tục lạc hậu, chẳng những số lượng không đủ mà quan trọng hơn là chất lượng đào tạo không tiến lên kịp thì sẽ có nguy cơ xuất hiện hàng loạt cơ sở và chương trình đào tạo của nước ngoài tràn vào nước ta chỉ với mục đích kiếm lợi nhuận mà ít quan tâm đến lợi ích của người học cũng như yêu cầu phát triển của đất nước. Lúc đó nhiều vấn đề về mất công bằng xã hội trong giáo dục sẽ nảy sinh gay gắt hơn và lợi ích của người học sẽ không được bảo vệ thích đáng. Yêu cầu nhân lực sẽ không được đáp ứng có hiệu quả, xã hội sẽ phải trả giá quá đắt để có một chất lượng đào tạo chấp nhận được.

Đương nhiên xã hội có nhu cầu học hỏi rất lớn, và kinh tế cũng có yêu cầu nhân lực rất bức bách, đó là những áp lực. Song thứ nhất, nhu cầu ấy phải được hướng dẫn và lựa chọn ưu tiên; thứ hai, kinh tế cần người thật sự làm việc được  chứ không cần những tấm bằng chỉ có giá trị hình thức.

Thứ ba, các nhu cầu giáo dục phải được đáp ứng bằng một tổ chức dịch vụ có hiệu quả, không thể bỏ ra những khoản đầu tư khổng lồ để đào tạo thầy không ra thầy, thợ chẳng ra thợ, đến nỗi hàng vạn người tốt nghiệp đại học không có việc làm, trong khi nhiều lĩnh vực chuyên môn cần thiết đều không chọn được người đủ khả năng. Học chỉ cốt kiếm bằng làm một bàn đạp tiến thân, không phải cốt tri thức, kỹ năng để làm việc có ích, học như thế chẳng cần chất lượng gì, miễn sao có trường có lớp.

Theo đánh giá của nhiều người, cả nước ta chỉ khoảng 20% số sinh viên được học ở mức nghiêm chỉnh chấp nhận được, còn lại chỉ học trong những điều kiện cực kỳ thiếu thốn về mọi mặt, mà nghiêm trọng nhất là thiếu thầy. Học như thế sinh viên mất cơ bản ngay từ các năm đầu, càng học lên cao càng tù mù, đến cấp cao học, tiến sĩ thì chỉ còn khả năng sao chép và làm luận văn dỏm.

Khốn thay, số đó rồi cũng được cấp bằng cả, có khi là bằng ưu, rồi vì khó được chấp nhận ở những nơi làm việc thực tế, họ lại trở thành thầy để lại đào tạo một lớp người càng mất cơ bản hơn, cứ thế truyền lại và nhân lên sự yếu kém qua các thế hệ. Dễ hiểu vì sao tỉ lệ người thật sự giỏi không nhiều. Trong hoàn cảnh mà muốn học tử tế phải ra nước ngoài thì các đại học trong nước ngày càng vắng bóng sinh viên xuất sắc, mà chúng ta đều biết chính số này mới tạo nên động lực, sinh khí của đại học.

Đó là về mặt trí tuệ. Về mặt đạo đức, khi chỉ quan tâm đến số lượng thì các bệnh gian dối tất yếu sẽ phát triển, không còn mấy chỗ cho đầu óc sáng tạo. Rốt cuộc, trung thực và sáng tạo - hai đức tính vàng trong cuộc cạnh tranh - ngày càng hiếm hoi, đạo đức xã hội ngày càng bị xói mòn, sức cạnh tranh của nền kinh tế sụt giảm.

Phát triển dạy nghề và CĐ chuyên nghiệp

“Nhiều người nói yêu cầu chất lượng đại học đại chúng không thể đặt cao như đại học tinh hoa. Nhưng đã ăn phở thì chất lượng dù kém cũng phải còn chất phở. Đã là đại học thì có chuẩn mực của đại học, xuống thấp quá cái chuẩn mực ấy thì không còn là đại học nữa. Vậy ta muốn xây dựng đại học hay muốn cái gì, cần xác định cho rõ”.

Ở phương Tây, sau một thời gian bùng nổ đại học theo xu thế “đại chúng hóa” , dần dần người ta cũng nhận ra rằng sự đại chúng hóa đại học một cách đồng loạt có mặt trái của nó, dẫn đến những lãng phí lớn cho xã hội.

Ở nước ta, sau một thời gian quảng cáo rầm rộ cho việc “đại chúng hóa” đại học, đối lập với đại học “tinh hoa”, nay là lúc cần bình tĩnh xem xét lại mặt trái của chủ trương tích cực này.

Nếu ở phổ thông đã có hiện tượng học sinh lớp 6 chưa đọc viết thông thạo thì ở đại học, nhất là đại học tại chức, chưa biết tính phân số, chưa biết giải một bài toán qui tắc tam suất cũng không phải là chuyện hiếm. Chất lượng như thế thì có nhiều đại học cũng chẳng để làm gì. Cho nên đã đến lúc cần chống bệnh thành tích ngay trong kế hoạch phát triển đại học, hãm bớt việc chạy đuổi theo các nước về chỉ tiêu số sinh viên đại học. Cần noi gương nhiều nước phát triển cao, đặt trọng tâm nhiều hơn vào việc nâng cao tỉ lệ học sinh chuyên nghiệp (kể cả cao đẳng chuyên nghiệp).

Hiện nay tỉ lệ số sinh viên so với số dân của ta là 1,6% (Thái Lan 2%), ta dự định đưa số đó lên 2% năm 2010 rồi 4,5% năm 2020, như thế có phần mạo hiểm, nếu có thực hiện được thì cái giá phải trả cũng sẽ quá đắt do chất lượng sụt giảm, do không còn sức lo cho đào tạo nghề. Nên chăng giảm bớt các chỉ tiêu về đại học để tăng chỉ tiêu về dạy nghề và chuyên nghiệp. Nên hiểu đúng việc mở rộng cửa đại học và cao đẳng cho mọi người là một mục tiêu cần được thực hiện từng bước vững chắc, nếu không chẳng có ý nghĩa gì khi “đại chúng hóa” trở thành “phổ thông hóa”.

Nói thế không phải là quay lại nhận định tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”. Sự thật chúng ta thiếu cả thầy cả thợ, nhưng có lẽ thiếu nghiêm trọng nhất là về chất lượng. Ngay với số lượng đại học đã có nếu củng cố, nâng cao chất lượng cho đạt chuẩn mực rất bình thường của các nước cũng đã tốn nhiều công sức và vốn, huống hồ mở thêm hàng trăm đại học mới. Nếu cứ để chất lượng xuống cấp không phanh thì một ngày nào đó thảm họa có thể không tránh được.

Vì vậy, không nên ồ ạt “đại học hóa” các tỉnh một cách thiếu tính toán cân đối số lượng với chất lượng. Tốt hơn hãy gắng cho mỗi tỉnh có một hay vài trường cao đẳng chuyên nghiệp hoặc đại học ngắn hạn hai năm (những đại học này nên gọi là cao đẳng), còn nên cố gắng phát triển dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp. Lâu nay trong hợp tác quốc tế ta thường chỉ nghĩ đến đại học và giáo dục phổ thông (thậm chí về chương trình, sách giáo khoa phổ thông cũng đi vay nợ quốc tế quá nhiều). Theo tôi, cần tích cực hơn tìm những nguồn hỗ trợ quốc tế để xây dựng những trường dạy nghề và cao đẳng chuyên nghiệp thật sự hiện đại, có chất lượng.

Cũng trong tư tưởng coi trọng chất lượng cần rà soát lại nhiều chủ trương, từ việc mở rộng tự chủ của các đại học đến công tác công nhận và tuyển chọn PGS, GS, đào tạo tiến sĩ... tất cả đều phải theo hướng nhích gần tới các chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, theo ý kiến nhiều người, cần xem xét lại tính khả thi của kế hoạch đào tạo 2 vạn tiến sĩ trong mười năm tới.

Chống tiêu cực trong giáo dục không thể tách rời với việc chú trọng chất lượng, thực chất, thay vì chạy theo thành tích số lượng. Và xin nói lại một lần nữa, mọi việc đều “có thực mới vực được đạo”, cho nên kế hoạch cải thiện chế độ lương cho thầy giáo như Bộ GD-ĐT đã đề ra là rất cơ bản, đó là giải pháp căn cơ để bảo đảm chất lượng giáo dục hiện nay.

GS HOÀNG TỤY