Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 53
Tháng 12 năm 2005
Điện Thư Câu Lạc Bộ
Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận,
Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến
tình hình dân chủ Việt Nam. Điện thư gửi thẳng đến bạn đọc. Nếu bạn cần nhận
điện thư hoặc góy ý, yễm trợ xin liên lạc:
caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
-Nguyễn Chí Vịnh,
người đứng đầu Tổng cục II, đã bí mật đi Trung Quốc. Mục đích chuyến đi của
Vịnh là nhằm báo cáo các tin tức tối mật về nội tình đảng CSVN để phiá Trung
quốc nắm vững trước khi Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc đến Việt
Nam. Bên cạnh đó, Vịnh cần được chỉ đạo cụ thể và trực
tiếp từ quan thầy để chuẩn bị đối phó với tình huống trước và sau Đại hội X.
Được biết, qua chuyến đi này, Nguyễn Chí Vịnh cũng đã được phiá Trung Quốc hứa
hẹn cho một cơ ngơi để phòng thân nếu có bất trắc xảy
ra.
- Trang nhà điện
tử của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam đã chính thức ra mắt nhân dân trong nổ lực
cùng góp phần đấu tranh cho công cuộc đòi quyền tự do, dân chủ cho Việt Nam.
Địện Thư CLBDC xin chúc mừng sự ra đời của trang nhà tại hai địa chỉ sau :
http://ptdcvn.org hoặc
www.ptdcvn.org
----- O -----
ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The
People's Democracy Party
Ngày 5 tháng 12 năm 2005
Thông Cáo
V/v:
Đảng CSVN Khủng bố ông Hoàng Minh Chính
Thưa đồng bào!
Gần đây, chính quyền Hà
Nội đã tiến hành những thủ đoạn trấn áp nhà đấu tranh dân chủ Hoàng Minh
Chính một cách thâm hiểm và hung bạo. Trong thời gian ông Chính chữa bệnh
tại Hoa Kỳ, chính quyền cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo báo chí trong nước đăng
lại những bài báo vờ vịt với những lời lẽ hạ cấp để chửi bới ông ta, nhưng
họ không cho đăng nguyên văn những gì ông Chính đã phát biểu tại Hoa Kỳ .
Mặt khác, chính quyền còn cho phát tán những tài liệu giả hình dân chủ ở cả
trong lẫn ngoài nước với đủ mọi lập luận nhằm bôi nhọ ông Hoàng Minh Chính.
Một chính quyền tự xưng
"dân chủ gấp triệu lần các chính quyền tư sản" nhưng lại trơ tráo, xúi giục
bọn côn đồ lưu manh tạt át xít vào nhà con gái ông Chính ở Sài Gòn. Bọn
chúng giở trò cho tay chân biểu tình trước nhà để gây áp lực ông Hoàng Minh
Chính phải rời Sài Gòn về Hà Nội để tiếp tục cho mật vụ giả dạng côn đồ, đầu
gấu khủng bố, như sự việc đã xảy ra hôm thứ Năm 01-12-2005 tại nhà ông
Chính, 26 Lý thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội vừa qua.
Nếu sự kiện tac acid ở
Sài gòn chỉ diển ra ở mức độ nhỏ thì việc khủng bố ở Hà Nội đã cho thấy có
chỉ thị từ lãnh đạo cao cấp trong đảng CSVN.
Vụ này do chính Ban an ninh gây ra, kết hợp giữa
A24 (An ninh điều tra), PA24 (An ninh điều tra thành phố HCM), A21 ( Trinh
sát liên hệ nước ngoài) cùng các công an ở quận, phường và các bộ phận trinh
sát ngoại tuyến giả làm côn đồ để gây rối, khủng bố ông Hoàng Minh Chính.
Đây là kết quả của lãnh đạo mồm từ Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng và
văn hoá, Ủy viên trung ương đảng CSVN đã ra lệnh cho cấp dưới có hành động
doạ nat, khủng bố ông Hoàng Minh Chính nhưng tránh gây thương tích.
Sự kiện ồn ào này làm cho
dư luận đặt câu hỏi: Hoàng Minh Chính là ai? Ông ta là người từ thời niên
thiếu đã tham gia đấu tranh cho độc lập dân tộc, từng bị thực dân Pháp tra
tấn, cầm tù, và sau đó lại bị chính những đồng chí của mình ba lần hạ
ngục. Chính quyền kết tội ông ta là dám đứng lên chống lại chính quyền, mà
chính quyền này là một tập đoàn đã chiếm đoạt thành quả đấu tranh giành độc
lập của một dân tộc. Tập đoàn này gọi ông là
“tên phản động”!
Chúng coi Hoàng
Minh Chính như kẻ thù không đội trời chung.
Sau những bài phát biểu của ông ta ở Ủy ban đối ngọai thượng viện Hoa Kỳ và
tại trường Đại Học Harvard, bọn chúng còn căm thù ông hơn nữa. Vậy Hoàng
Minh Chính đã phát biểu những gì ở Hoa Kỳ để đến nổi ban lãnh đạo đảng cộng
sản phải tức tối đến như thế?
Ông Hoàng Minh
Chính chỉ kêu gọi: XOÁ BỎ ĐỘC TÀI! XÂY DỰNG DÂN CHỦ !
Đó là nội dung
cơ bản trong những bài phát biểu của ông ta. Ông ta tố
cáo chính quyền độc tài đàn áp tự do ngôn luận, đàn áp tự do tôn giáo, bao
che tham nhũng, kìm hãm sự phát triển của đất nước, đẩy quốc gia vào tình
trạng tụt hậu, khiến cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân ở các vùng sâu vùng
xa phải sống trong cảnh thiếu thốn, bần cùng. Ông ta nhấn mạnh là
chính quyền đã lừa bịp trong việc bắt cả dân tộc phải
kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối
Mác-Lênin mà đã phá sản ngay tại quê hương của Mác và Lê Nin. Thực chất là
chính quyền muốn theo đuổi đường lối bảo thủ này nhằm duy trì quyền lực để
tiếp tục đè đầu cưởi cổ nhân dân và kiếm lợi bất chính cho tập đoàn quan lại
của mình.
Thưa đồng bào!
Chúng ta bị lừa bịp
nhiều rồi. Chúng ta quyết không bị lừa bịp thêm lần nữa. Giờ đây chiến tuyến
đã rõ ràng. Bên này là chúng ta, nhân dân đang bị áp bức. Bên kia là
tập đoàn thống trị, đang phè phỡn sống trên mồ hôi, xương máu của
chúng ta. Chúng đã, đang và sẽ đàn áp bất cứ ai dám nói lên sự thật.
Đừng tin chúng! Hoàng
Minh Chính là người đấu tranh để bảo vệ quyền làm người, bảo vệ tự do và
hạnh phúc nhân dân. Chúng ta cảnh cáo tập đoàn cầm quyền: “Hãy dừng tay!”.
“Không được đụng đến Hoàng Minh Chính!”
Với những gì có trong
tay, chúng ta kiên quyết bảo vệ Hoàng Minh Chính.
Việt
Nam
ngày 5 tháng 12 năm 2005
Đảng Dân Chủ
Nhân Dân
----- O -----
Bàn về hạng người Lưu
manh trong xã hội Việt Nam
ngày nay.
Tuệ Minh
I.
Trong cuộc sống hàng ngày, khi nói đến lưu manh người ta hình dung ra ngay
đó là chỉ một kẻ ít học chuyên lừa đảo và làm nhiều điều xấu. Tôi gọi hạng
người này là lưu manh ít học. Nhìn rộng ra toàn xã hội thì lưu
manh cũng có lắm kiểu lắm hình, nhất là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa như ở
ta hiện nay. Ở đây, tôi thử nêu thêm 3 hạng lưu manh nữa cũng hết sức đáng
lưu ý.
1. Hạng lưu manh
trí thức
Đó là những kẻ mà xã hội
liệt vào hàng trí thức nhưng bản chất lưu manh. Ai đó sẽ hỏi tôi: đã gọi là
trí thức thì làm sao lưu manh được? Xin thưa, điều đó hoàn toàn chính xác.
Nhưng dưới chế độ cai trị hiện nay, mọi giá trị đã bị thay đổi. Có những thứ
rác rưởi cũng được đưa vào lồng kính để ngợi ca, tôn thờ. Còn những thứ quý
giá thực sự thì bị vứt vào thùng rác, thậm chí là bị phỉ nhổ, bị chém cho
tan tành. Cho nên lắm kẻ lưu manh và vẫn được gọi là trí thức cũng là chuyện
thường.
Khác với hạng lưu manh ít
học, lưu manh trí thức thật sự nguy hiểm, bởi cái trí tuệ không được dùng
đúng chức năng của nó. Cái trí tuệ của hạng lưu manh trí thức có khi đóng
vai trò là nô lệ của quyền lực, sẵn sàng thực hiện những “nhiệm vụ” có thể
gây hại cho nhiều người, thậm chí cho cả dân tộc, cho nhiều thế hệ. Cũng có
khi nó đóng vai trò là nô lệ của lòng tham cá nhân. Kẻ trí thức biến chất
buông thả mình xa rời tính thiện, biến đổi mình cho thích ứng với môi trường
thối nát mà anh ta đang sống: Để lên chức cũng nịnh bợ, luồn cúi, thủ đoạn.
Để kiếm miếng ăn cũng lừa gạt tranh giành. Có cơ hội cũng thủ túi (tham
nhũng) như ai.
Chế độ chính trị tạo nên
mô hình xã hội; mô hình xã hội tạo nên khuôn mẫu con người (1). Ở thời nào
cũng có hạng lưu manh trí thức, nhưng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, hạng người này xuất hiện nhiều như nấm sau mưa. Đó là hậu quả tất yếu,
nằm trong cái đà xuống dốc chung của nền tảng đạo đức xã hội.
2. Hạng lưu manh
kinh tế
Đây là chỉ những kẻ làm ăn
phạm pháp. Loại này phổ biến trong xã hội ta.
Kinh doanh là một nhu cầu
tự nhiên căn bản của con người. Ngay từ thời loài người chưa sống thành xã
hội đã xuất hiện nhu cầu trao đổi vật chất. Rồi kể từ đó trở đi, việc buôn
bán kinh doanh ngày càng phát triển. Ở nước ta, kể từ thế kỷ II-III sau công
nguyên, vùng Dâu-Keo thuộc đất Kinh Bắc, nơi có thành Luy Lâu, đã là một
trung tâm thương mại. Các di chỉ khảo cổ cũng minh chứng sự giao lưu thương
mại ở vùng văn hóa Sa Huỳnh cũng phát triển khá sớm. Rồi ngót nghìn năm chế
độ Phong kiến thối nát phản động (2) trị vì, 80 năm dưới ách đô hộ của thực
dân Pháp, mấy chục năm miền Nam sống dưới ách của chế độ Nguỵ quyền (3).
Suốt chiều dài lịch sử đó, chưa bao giờ ở nước ta chính quyền lại cấm dân
kinh doanh như dưới chế độ cộng sản. Chính sách cấm chợ ngăn sông thời bao
cấp quả là một “phát kiến vĩ đại” bậc nhất của tập đoàn cộng sản thống trị.
Nó đã chống lại quy luật tự nhiên của con người (nhu cầu trao đổi hàng hóa),
chống lại quy luật thị trường. Người dân do nhu cầu thúc bách đã buôn lậu
bán chui. Đó là khởi điểm để rồi, trên cơ sở nền pháp luật thiếu vắng những
bộ luật cần thiết, tạo đà xuất hiện phong cách kinh doanh chộp giật, lừa gạt
ở nước ta. Như vậy chính sách của nhà nước là một yếu tố quan trọng làm sản
sinh hạng lưu manh kinh tế. Hạng lưu manh kinh tế là một vật cản lớn trong
việc hội nhập kinh tế quốc tế. Dòng vốn đầu tư nước ngoài bị thất thoát một
lượng khổng lồ sang các nước láng giềng một phần vì luật pháp không rõ ràng,
thủ tục nhiêu khê, đất đai đắt đỏ, cơ sở hạ tầng yếu kém,…và phong cách hợp
tác của hạng lưu manh kinh tế khiến đối tác mất niềm tin.
Đã đến lúc giới doanh
nghiệp phải hướng về sự chính quy, bài bản. Thay vì phong cách chộp giật,
hãy tôn trọng pháp luật.Thay vì trốn thuế, làm hàng giả, hàng nhái để kiếm
lời, hãy gia tăng chất lượng sản phẩm, xây dựng uy tín, xây dựng thương hiệu
lâu dài. Tiếc thay, trên thực tế giải quyết nạn trốn thuế, hàng giả, buôn
lậu,v.v… là một việc hết sức khó khăn khi luật pháp vẫn chồng chéo và nhiều
bất cập, các chính sách thì thiếu tính ổn định, doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp
rất nhiều trở ngại từ các chính sách của nhà nước. Nếu như vẫn giữ tình
trạng này thì việc sớm gia nhập WTO chưa chắc đã là điều đáng mừng. Khi
chúng ta tham gia vào một “cuộc chơi” lớn mà không có đủ tri thức và bản
lĩnh thì rất có thể sẽ bị nhấn chìm. Đó là chưa kể đến việc chúng ta có một
nền chính trị lạc hậu cũng là một bất lợi rất lớn.
Một nền chính trị tốt sẽ
không có đất cho hạng lưu manh kinh tế sinh sôi. Có như thế nền kinh tế mới
phát triển lành mạnh được.
3.Hạng lưu manh
quyền lực, hay còn có thể gọi là hạng lưu manh chính trị.
Đương nhiên ở đây chúng ta
đề cập đến những kẻ lưu manh trong giới quyền chức. Hạng người này khi nhắc
đến dễ dàng khiến người ta hình dung ra tính nham hiểm của họ. Những kẻ lưu
manh quyền lực thường đi đôi với sự độc ác, dã tâm. Họ sẵn sàng vu khống,
bịa đặt, tung tin đồn, giăng bẫy,v.v…để “hạ” đối thủ chính trị. Nặng hơn là
thủ tiêu sinh mạng. Tất cả cũng chỉ vì chiếc ghế quyền lực, nơi có cả quyền
uy và tiền bạc. Ngoài ra, những kẻ nắm quyền lừa dối dân, cướp bóc của dân,
tham nhũng tiền của nhà nước (tức của dân),v.v.. cũng được liệt vào hạng
này.
Lưu manh quyền lực thì
thời nào cũng có, nhưng ở những triều đại mà vị trí của chiếc ghế quyền lực
càng gắn liền với lợi ích vật chất lớn thì hạng người lưu manh quyền lực
xuất hiện càng nhiều. Người quan tâm lịch sử chắc vẫn rùng mình mỗi khi nghĩ
đến tội ác của Stalin, biết bao nạn nhân đã phải thiệt mạng dưới bàn tay
quyền lực Stalin. Rồi những vụ thanh trừng nội bộ kinh hoàng trong ĐCS Trung
Quốc. Rồi những đấu đá ghê gớm trong nội bộ ĐCS Việt
Nam. Nếu chỉ
kể giai đoạn sau này (thời kỳ hậu Lê Duẩn) thì những vụ như : Sáu Sứ,
T4,v.v…là những ví dụ điển hình. Việc giành giật “ghế” xảy ra từ cấp xã
(phường) cho đến cấp trung ương, cho đến Bộ Chính trị. Mỗi kỳ đại hội đảng,
vấn đề nhân lực bao giờ cũng gay cấn nhất.
Hạng lưu manh chính trị
hết sức nguy hiểm. Vì quyền lợi bản thân, vì sự hèn nhát, chúng sẵn sàng bán
nước cầu vinh. Đất nước để rơi vào tay những kẻ như thế thật hiểm hoạ khôn
lường.
Chế độ dân chủ sẽ cho phép
nhân dân lựa chọn cho mình người lãnh đạo đủ tài năng và nhân cách.Sự thượng
tôn của luật pháp cho phép loại bỏ bất cứ một kẻ lưu manh chính trị nào bị
phát hiện ra khỏi chính trường. Có như thế bộ máy lãnh đạo mới luôn bảo đảm
được tính trong sạch và vững mạnh để dẫn dắt đất nước đi lên.
II. Mối quan hệ
giữa các loại lưu manh.
Bốn loại lưu manh như vừa
kể trên có mối quan hệ qua lại nhau mật thiết, chúng dựa vào nhau để tồn tại
và làm hại đất nước. Hạng lưu manh chính trị sử dụng bộ óc của hạng lưu manh
trí thức trong các mưu đồ chính trị, ngược lại hạng lưu manh trí thức sẽ
được tiền thưởng hoặc chút địa vị.
Trong các mối quan hệ giữa
những hạng người này thì mối quan hệ giữa lưu manh chính trị và lưu manh
kinh tế là phổ biến hơn cả. Nói cách khác, đó là sự kết hợp giữa quyền lực
đen và xã hội đen. Lưu manh kinh tế dùng tiền để mua chuộc lưu manh chính
trị, đổi lại là những hợp đồng kinh tế béo bở, không phải đóng thuế, được ưu
tiên về quota, những thông tin về chính sách sắp ra,v.v…Mối quan hệ liên kết
giữa hai hạng người này có thể lũng đoạn toàn bộ nền kinh tế. Là một nguyên
nhân của mất ổn định kinh tế, tạo nên những bất công trong xã hội.
Một mối quan hệ nữa là
quan hệ giữa lưu manh ít học và lưu manh quyền lực. Kẻ có quyền lực sử dụng
(thuê, kích động, ép buộc) những tên lưu manh ít học trong việc khủng bố
(hoặc thủ tiêu) đối thủ chính trị, thủ đoạn này cũng đã được những tên lưu
manh chính trị trong giới chop bu ĐCS áp dụng nhiều lần đối với những người
đấu tranh đòi hỏi dân chủ. Trong trường hợp này, lưu manh ít học vừa là thủ
phạm, vừa là nạn nhân bị lợi dụng.
Kết luận: để đất nước được
phát triển theo đúng tiềm năng sẵn có, cần phải chấm dứt sự phát triển của 4
hạng lưu manh vừa kể trên. Muốn như thế, không còn con đường nào khác là
phải xây dựng xã hội dân chủ, đa đảng. Phải trả lại quyền lãnh đạo đất nước
về tay nhân dân./.
Hà Nội 7/12/2005
Chú thích:
(1)
ở đây tôi đề cập đến
mô hình xã hội theo nghĩa rộng, bao gồm cơ cấu toàn xã hội mà chế độ chính
trị chi phối.
(2)
&(3) theo cách nói
của sách vở cộng sản.
----- O -----
Lời Ban
biên tập :
Hồi tháng 9 năm
2005 vừa qua, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đã cho ra mắt một
cuốn sách mang tựa đề ‘Đại tướng Lê Đức Anh’ của tác giả Khuất Biên Hoà. Sự
kiện này gây xôn xao dư luận trong nước, vì nội dung của nó đã xuyên tạc sự
thật về ông Lê Đức Anh. Cuốn sách ra đời nhằm tô hồng cuộc đời Lê Đức Anh,
phục vụ cho một mưu đồ chính trị của ông cựu Chủ tịch nước này. Bài viết sau
đây của ông Năm Thi, một cán bộ cộng sản kỳ cựu đã tố cáo âm mưu đó. Chúng
tôi xin được giới thiệu để rộng đường dư luận.
Kiến nghị thu hồi và
tiêu huỷ cuốn sách “Ðại tướng Lê Ðức Anh” của Khuất Biên Hoà
Thành phố Hồ
Chí Minh ngày 7 tháng 11 năm 2005
Kính gửi
:
- Ðồng chí Nông
Ðức Mạnh - Tổng bí thư và Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Ðảng khoá
IX tại Hội Nghị TW 13
- Trưởng Ban Tư
tưởng Trung ương Nguyễn Khoa Ðiềm - Uỷ ban kiểm tra Trung ương Ðảng. -
Trưởng ban bảo vệ chính trị nội bộ TW Ðảng.
Ðồng kính gửi
:
- Ðại tướng Võ
Nguyên Giáp.
- Ð/c Lê Khả
Phiêu - Nguyên Tổng bí thư.
- Ð/c Nguyễn Ðức
Tâm nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng ban tổ chức Trung ương.
- Ð/c Phan Minh
Tánh (tức Chín Ðào) nguyên Trung ương Uỷ viên, nguyên Phó bí thư thành uỷ
Thành phố Hồ Chí Minh
- Ð/c Mười Hương
nguyên thường vụ thành uỷ Sài gòn - Chợ lớn
- Ð/c Nguyễn
Minh Triết - Bí thư thành uỷ TP Hồ Chí Minh.
- Ð/c Phạm Văn
Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Giám đốc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. -
Tổng biên tập báo Nhân dân và Sài gòn giải phóng.
- Các tướng lĩnh
Cựu chiến binh Quân khu 7 và 9.
Tôi Nguyễn Văn
Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên Uỷ viên Ban cán sự Ðảng, Uỷ viên tỉnh
Uỷ, Uỷ viên Thường vụ tỉnh Uỷ Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương, Bình
Phước) từ năm 1942 đến 1946 - Chi đội trưởng Chi đội I Liên Trung đoàn 301 -
310 - Tư lệnh đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn 1950. Bí thư Ðảng bộ Nhà tù Côn Ðảo
1953 thời chống Pháp - Chủ nhiệm hậu cần Bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ -
nghỉ hưu tại TP Hồ Chí Minh và các tướng lĩnh Cựu chiến binh Nam bộ có thư
kiến nghị yêu cầu thu hồi và tiêu huỷ cuốn “Ðại tướng Lê Ðức Anh” của Khuất
Biên Hoà do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản và Tổng Công ty Sách
Việt Nam phát hành.
Khuất
Biên Hoà viết cuốn sách “Ðại tướng Lê Ðức Anh” được Ðỗ Mười viết lời tựa với
bố cục năm phần cùng một số ảnh phụ hoạ để xuyên tạc lật ngược lịch sử
buộc tôi phải phê phán vạch trần bộ mặt thật của Lê Ðức Anh bằng thư này.
Không rõ Ban bảo vệ chính trị nội bộ và Ban Tổ chức Trung ương Khoá IX sau
khi đọc cuốn sách này có đối chiếu lịch sử Ðảng bộ tỉnh Bình Dương 1930 -
1975 để thấy rõ mưu đồ của Lê Ðức Anh và người viết không ? Tôi là nhân
chứng lịch sử Ðảng bộ tỉnh Bình Dương và một số tướng lĩnh Nam bộ cùng thời
với Lê Ðức Anh càng thấy rõ mưu đồ chính trị của Lê Ðức Anh mượn Khuất Biên
Hoà viết về cuộc đời hoạt động cách mạng bằng cuốn sách này là để ca ngợi cá
nhân nhằm che đậy tội lỗi đã gây ra trong các thời kỳ.
Sau khi đọc cuốn
sách này tôi và một số tướng lĩnh Cựu chiến binh Nam Bộ thấy cần có thư này
gửi đến Tổng bí thư Bộ Chính trị (BCT) Ban chấp hành Trung ương (BCH TW)
khoá IX tại Hội nghị Trung ương (HNTW) 13 để chỉ đạo xử lý. Trước đây, Khuất
Biên Hoà (KBH) đã trực tiếp gặp tôi ba lần bằng giấy giới thiệu của Viện
Lịch sử quân đội xin tư liệu để viết về Lê Ðức Anh (LÐA) và nhờ tôi giới
thiệu lên tỉnh uỷ Bình Dương để tìm hiểu, nhưng không rõ những gì KBH đã thú
thật với tôi là Viện đã cử hai đại tá viết về LÐA nhưng đều từ chối vì lịch
sử LÐA quá nhiều khuất tất.
KBH viết xong về LÐA nhưng lại không Nhà xuất bản (NXB) nào nhận in, thế mà
tháng 9/2005 Nhà xuất bản Quân đội nhân dân lại nhận in chắc là có sự chỉ
đạo của Bộ Trưởng bộ Quốc phòng để tung ra dư luận trước đại hội 10 chăng ?
Ngày 3/2/2005
chúng tôi gồm Nguyễn Văn Xô - Ðồng Văn Cống - Nguyễn Văn Thi đã có thư gửi
đến HNTW 12 khoá 9 đưa ra sáu vấn đề về LÐA yêu cầu cần giải quyết trước Ðại
hội (ÐH) 10. Nay đối chiếu với 5 phần KBH viết trong cuốn “Ðại tướng Lê Ðức
Anh” và các tài liệu của nhiều lão thành cách mạng, tướng lĩnh cựu chiến
binh đã viết về LÐA như “Vấn đề Ðảng tịch của đồng chí Lê Ðức Anh” - Thư Ðại
tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh gửi TW Ðảng - thư của
các tướng lĩnh trên 60 tuổi Ðảng Nguyễn Trọng Vinh, Nguyễn Tài, Ðoàn Thanh
Y, v.v... để thấy rõ nội dung sách đã viết của KBH có phải là chân tướng
thật của LÐA và nhằm mục đích gì ?
Trước hết cần
điểm qua nội dung 5 phần KBH đã viết.
1. Phần 1
: gọi là “Tuổi thơ và Cách mạng - Từ Trị Thiên đến Lộc Ninh”. Với 23 trang
sách KBH đã vẽ ra tuổi thơ LÐA từ năm đầu đi học đến ngày Nam Bộ kháng chiến
23/9/1945 đã viết sai địa danh trước 1945 làm gì có tỉnh Trị Thiên mà chỉ là
tỉnh Thừa Thiên. Phần này có 2 chỗ KBH viết có lẽ là thật : 1) Anh em LÐA có
4 người chết vì dịch đậu mùa nhưng LÐA được trời cứu nên chỉ mắt trái bị mờ
thành vẩy cá. 2) Chủ đồn điền cao su Lộc Ninh là De Lalant.
Còn lại khá
nhiều trang viết, KBH đưa ra rất chi tiết về thời gian hoạt động Cách mạng,
về người giới thiệu vào Ðảng, người chuẩn y kết nạp, đến chi bộ cộng sản đầu
tiên của LÐA . Là người tham gia trực tiếp lãnh đạo tỉnh Thủ Dầu Một từ 1942
- 1945 tôi vạch rõ những gì KBH viết về LÐA trong thời gian này là hoàn toàn
sai sự thật. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa 1942 Chi bộ Dầu Tiếng gồm những cán bộ
lãnh đạo Nam Kỳ khởi nghĩa như : Ð/c Văn Công Khai, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn
Văn Trung, Nguyễn Văn Thi, Bí thư là đồng chí Văn Công Khai, ngày 27/3/1943
Hội nghị tái lập tỉnh Thủ Dầu Một bí mật tổ chức tại làng số 1 sở Cao su Dầu
Tiếng. Bí thư tỉnh uỷ là đồng chí Văn Công Khai, các tỉnh uỷ viên gồm có :
Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung. Ðêm 23/8/1945 Hội nghị tỉnh uỷ mở rộng
được tổ chức tại Bưng Cầu để quán triệt nghị quyết xứ uỷ về Tổng khởi nghĩa
tại Nam Bộ do đồng chí Văn Công Khai- Bí thư tỉnh uỷ chủ trì. Tham dự Hội
nghị có các đồng chí tỉnh uỷ viên Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung và Bí thư
chi bộ các quận Lái Thiêu, Chơn Thành, Bến Cát, Uỷ ban khởi nghĩa do đồng
chí Văn Công Khai là trưởng ban, đồng chí Nguyễn Văn Tiết phụ trách Mặt trận
Việt Minh tỉnh. Ðồng chí Nguyễn Văn Thi phụ trách quân sự tỉnh, Ð/c Nguyễn
Văn Trung phụ trách công nhân. Tháng 11/1945 đồng chí Nguyễn Bình đã quyết
định thống nhất lực lượng võ trang Thủ Dầu Một thành Chi đội giải phóng quân
là chi đội 1.
Ban chỉ huy gồm
đồng chí Huỳnh Kim Trưng : Chi đội trưởng - đồng chí Nguyễn Văn Thi : Chi
đội phó - đồng chí Trương Khánh Vàng : Chi đội phó - đồng chí Vương Anh Tuấn
: Chính trị viên. Tháng 3/1946 Ð/c Nguyễn Ðức Thuận, đặc phái viên Xứ uỷ đã
triệu tập hội nghị tại nhà hương quản Tặc, xã Phú Hoà, thị xã Thủ Dầu Một,
chỉ định tỉnh uỷ Thủ Dầu Một gồm 7 Ð/c Nguyễn Văn Tiết làm bí thư, Ð/c Văn
Công Khai làm phó bí thư. Sau hội nghị này tỉnh uỷ đã thành lập Ðảng uỷ Chi
đội 1 do Ð/c Nguyễn Văn Thi làm bí thư. Lịch sử đảng bộ tỉnh Bình Dương đã
bị KBH, viết về LÐA, trích dẫn chắp vá coi LÐA một tỉnh uỷ viên trước 1945
là sai sự thật. Do đó trong thư tôi gửi Ð/c Lê Ðức Thọ ngày 2/8/1986 là :
“... tháng 2/1945 mới tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao su...
ngày vào Ðảng 1945 của đ/c LÐA do Ðảng bộ Thủ Dầu Một có thể là đúng. Còn
trước 1945 tôi chưa thấy rõ vì không có sự giới thiệu là một đảng viên nằm
vùng”. Ban bảo vệ chính trị nội bộ và Ban Tổ chức Trung ương Ðảng khoá 9 cần
khảo định lại những gì KBH đã viết để chứng tỏ LÐA vào Ðảng từ 1938 là đúng
hay sai ? Thật trớ trêu trong khi tài liệu “Vấn đề Ðảng tịch của
đ/c LÐA” đưa ra 2 tài liệu lưu trữ về hai bản lý lịch tự khai của LÐA là :
Bản khai tháng 11/1976, khi tham gia Ðại hội 4, là vào Ðảng năm 1945, thành
phần bản thân là viên chức. Còn bản khai tháng 8/1986, khi dự Ðại hội 6, là
vào Ðảng ngày 30/5/1938 thành phần bản thân là công nhân. Cả
hai lần khai trên đều ghi rõ: “Chưa sinh hoạt chi bộ” và không khai được cả
người giới thiệu vào Ðảng. Vậy KBH căn cứ vào tài liệu nào để viết ra
như vậy ?
Hay đó là lời kể
của LÐA ? Nếu LÐA tự kể càng chứng tỏ LÐA là con người tiền hậu bất nhất.
Trong thư ngày 3/2/2005 của 3 chúng tôi đã gửi BCH TW Ðảng khoá 9 tại HNTW
12, đ/c Bảy Cống hỏi LÐA : “Nghe người ta nói cậu là Surveillant”, “hay cậu
là 2è burcau (phòng nhì)” thì LÐA trả lời “Tôi làm công chức cho đồn điền”
sao LÐA không kể ra cho KBH viết lại tên sách. KBH viết... “Khi thực dân
Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ lần 2”, mọi người càng thấy sự lo xa của ông
(LÐA) là quí giá biết bao. Ông Nguyễn Văn Thi chạy đến nói : “anh em chỗ tôi
hăng hái nhưng không có súng, anh còn cho tôi mượn đỡ vài khẩu”... “ngay lúc
đó ông (LÐA) lấy hai chiếc cam nhông của Sở cao su chọn trong quần áo nâu
của mình một tiểu đội có súng và chừng 3 tiểu đội cung nỏ từ Lộc Ninh - Hớn
Quản về tham gia bao vậy đánh quân Pháp...” là hoàn toàn sai sự thật và
ngược lại. Chính tôi là người cung cấp vũ khí cho LÐA.
Trong thư ngày 3/2/2005 của 3 chúng tôi đã đưa vấn đề thứ 3 trong 6 vấn đề
LÐA là : “LÐA đã 2 lần để sổng toàn quyền De Coux, Thống đốc Nam Kỳ Hoffen
và chủ đồn điền DeLalant sĩ quan phòng nhì của Pháp.
Sau ngày
9/3/1945 quân Nhật đã bắt De Coux. Hoffen tại Sài Gòn giải về giam ở nhà De
Lalant. Tôi đã bàn bạc với LÐA kế hoạch phối hợp hành động
dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống, tiêu diệt đội bảo vệ
Nhật, dẫn độ De Coux và đồng bọn lên Buôn Ma Thuột để giao cho TW. Nhưng đêm
hôm sau LÐA bất ngờ huỷ kế hoạch lấy cớ sợ quân Nhật kéo lên khủng bố”.
Như vậy rõ ràng
cả LÐA lẫn người viết là KBH đều là kẻ cố tình lật ngược lịch sử bất chấp sự
thật. Thử hỏi khi ấy LÐA nhiều súng, nhiều đội quân áo nâu, cung nỏ, xe cam
nhông như vậy sao không bắt sống hoặc tiêu diệt De coux, Hoffen, De Lalant
mà để sổng cả 3 tên này ?
2. Phần 2
gọi là : “Ðánh giặc Pháp ở Miền Ðông Nam Bộ”. Với 19 trang sách KBH kể ra
vanh vách họ tên, đơn vị lực lượng vũ trang ở Nam Bộ rồi phủ đầu là “khá
phức tạp” ngày khi mở đầu phần này KBH viết về trận quân Pháp tập kích vào
căn cứ Thuận Lợi rồi đưa ra việc gặp và ý kiến của ông Nguyễn Văn Hội là
nhân chứng ở Thuận Lợi. Không rõ đó là lời của ông Hội hay của KBH viết ra
mà cho rằng : “Sau này một vài người không hiểu rõ bối cảnh và tình hình lúc
đó nên cứ nói rằng giặc Pháp tiến vào đốt phá hết kho tàng của khu 7 là hoàn
toàn sai”. Trong thư ngày 3/2/2005 của 3 chúng tôi đã đưa
ra vấn đề thứ 4 trong 6 vấn đề là : “LÐA
đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích
vào Thuận Lợi, phá huỷ một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của Miền
Ðông”. LÐA
nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử hình vì tội để quân Pháp tập kích vào
Thuận Lợi mà đơn vị LÐA đóng tại Thuận Lợi bỏ chạy để quân địch đốt cháy kho
tàng 3 ngày đêm liền, đã trực tiếp đến gặp tôi nói việc
này. KBH đã viết về LÐA ra Việt Bắc lần đầu tiên tự khai lý lịch xuất thân
và cuộc đời hoạt động cách mạng vào 1953, xin chất vấn Ban tổ chức Trung
ương khoá 9 kiểm chứng xem lý lịch LÐA tự khai năm 1953 có khớp với 2 lần
khai trước khi dự đại hội 4 và 6 không ?.
3. Phần 3
gọi là “Trên chiến trường đánh cho Mỹ cút đánh cho nguỵ nhào”. Với 102 trang
sách KBH viết khá dài dòng về LÐA. Từ khi tập kết ra Bắc rồi 1963 đi tàu
không số về Cà Mau để hoạt động với chức Phó Tổng tham mưu trưởng, rồi từ
1963 - 1975 ra Bắc vào Nam 3 lần nữa. Trong chống Mỹ LÐA từ Ðại tá năm 1963
lên Trung tướng 1973 là công lao của ông nhưng có một vấn đề 3 chúng tôi đã
đưa ra trong thư ngày 3/2/2005 gửi BCH TW khoá 9 tại HNTW 12 đã nói rõ : “Trong
quan hệ gia đình LÐA là người chồng phản bội, ra Bắc được mấy năm, LÐA nói
với đồng chí Bảy Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy
chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch. Ðồng
chí Bẩy Cống nói : Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bẩy khóc rất dữ khi tiễn anh
đi tập kết, nghe nói sau đó chị về công tác ở Miền Ðông, căn cứ vào đâu mà
anh nói chị đi lấy chồng và theo địch ? Tôi không tán thành”.
Việc LÐA lấy
được vợ trên miền Bắc là nhờ Lê Ðức Thọ ủng hộ. LÐA về Nam từ 1963 - 1975
trong khi vợ ông hoạt động làm uỷ viên tỉnh uỷ Bình Dương cho đến ngày miền
Nam hoàn toàn giải phóng mà LÐA không dám tìm gặp để rõ thực hư.
Ðánh giá việc này trong 3 việc
“tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đồng chí Phạm Hùng và Nguyễn Thị Ðịnh cùng
đông đảo cán bộ miền Nam rất bất bình cho LÐA là tên vô đạo đức, quả không
sai. Vì thế KBH cố viết dài dòng từ trận
đánh này đến trận đánh khác và để LÐA kể lể rằng “Trên đời này những ai vừa
trải qua những thử thách nghiệt ngã, những ngày tháng căng thẳng cao độ thì
hẳn sẽ hiểu hết lòng thông cảm cho giấc ngủ ngon lành...” của một con người
vô đạo đức để ca ngợi chăng ? KBH có đưa ra LÐA một lần gặp đồng chí Hai Xô
tại cuộc họp Bộ Chỉ huy Miền và hai lần nói về đồng chí Bảy Cống vào Nam
1969 và 1973 khi LÐA ra Bắc trở về. Sao KBH không gặp và trao đổi gì với 2
đồng chí Hai Xô và Bẩy Cống về những gì đã viết về LÐA là đúng sai bao nhiêu
phần trăm.
4. Phần 4
gọi là “Làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia” Với 53 trang sách KBH viết khá
nhiều công trạng của LÐA tại mặt trận Cămpuchia (CPC) với tư cách tư lệnh
tiền phương. Trong thư ngày 3/2/2005 của 3 chúng tôi đã gửi TW Đảng đã chỉ
rõ sai phạm về chính trị và quân sự của LÐA. KBH đã hết lời ca ngợi LÐA là
nhằm che đậy những sai phạm lớn của LÐA tại CPC. Về chính trị LÐA đã cùng Lê
Ðức Thọ để xẩy ra vụ Xiêm Riệp 1983 mà KBH phải viết ra là “sai lầm” ở Xiêm
Riệp. Sai phạm này từ chủ trương “đánh địch ngầm” đến việc kiểm tra nhà ở
của một số uỷ viên BCT Đảng nhân dân cách mạng CPC, bao biện làm thay can
thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ Ðảng viên bạn, khiến bạn nghi ngờ tình
cảm quốc tế trong sáng của Ðảng, Nhà nước và Quân đội ta. Sai phạm này BCH
TW Ðảng ta phải cử người sang xin lỗi Ðảng bạn như KBH viết trên sách. Còn
về quân sự LÐA chủ trương trong năm 1980 quét sạch quân địch ngoài địa hình
mà trọng điểm là vùng rừng Ô ran đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá
tan âm mưu địch dùng phần tử 2 mặt lũng đoạn Ðảng và chính quyền của bạn.
LÐA chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau,
kéo dài 10 năm vẫn chưa diệt được quân Pôn pốt. LÐA chủ trương “khoá chặt
biên giới” để “xây dựng tuyến phòng thủ biên giới” gọi là mật danh K5.
Mặc dù đã huy
động nhân dân bạn các nơi lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ
đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông, căng giây thép gai ngăn quân Pôn pốt
từ Thái Lan lấn sang để khoá chặt biên giới nhưng địch vẫn mở được hành lang
tiến sâu vào đến 30 - 40 km.
Chủ trương sai lầm này LÐA đã làm cho
hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và
nhân dân bạn bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 Km.
KBH viết ra và
LÐA thừa nhận : “Chuyện sai lầm ở Xiêm Riệp” mà người chỉ huy trực tiếp là
LÐA không dám đứng ra xin lỗi bạn. Ðến khi bộ phận tiền phương của Cục Khoa
học quân sự Bộ Tổng tham mưu tại CPC đề nghị nên có sự đánh giá khách quan
hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn thì LÐA nổi giận ra lệnh cho 10
đại tá cơ quan này về nước. Lý do cho về nước LÐA đưa ra là : “tinh giảm bộ
máy ở chiến trường”, nhưng thực chất là để Bộ Tổng tham mưu tại CPC do ông
chỉ huy dễ độc quyền hơn như trong thư 3 chúng tôi ngày 3/2/2005 đã gửi BCH
TW Ðảng.
KBH đã viết ra
toàn là thành tích của LÐA trên Mặt trận CPC để che đậy sai lầm và đánh bóng
con đường thẳng tiến của LÐA đi vào uỷ viên TW Khoá 4 rồi vào BCT khoá 5 để
“đầu xuôi đuôi lọt” một cách ghê sợ.
5. Phần 5
gọi là : “Trong công cuộc đổi mới đất nước”. Với 60 trang sách KBH đã vẽ ra
chân dung LÐA trong công cuộc đổi mới cũng rất mới.
Từ hàm Trung tướng sau 4 năm 1984 - 1987 LÐA leo lên tột đỉnh từ Ðại tướng,
Bộ trưởng Quốc phòng đến Chủ tịch nước. Ðể gìn giữ bộ mặt này LÐA đã tạo ra
một chân dung bên trong của tâm địa ngay từ vụ Xiêm Riệp 1983 càng bộc lộ rõ
trong thời kỳ đổi mới đến những mưu đồ chính trị bằng vụ Sáu Sứ 1991, Vụ cục
II 1995, vụ T4 1997 - 1999, vụ nói xấu, vụ khống nhằm lật đổ Tổng bí thư Lê
Khả Phiêu như trong thư ngày 3/2/2005
của 3 chúng tôi đã gửi BCH TW Ðảng.
Ðây là những vụ
án chính trị siêu nghiêm trọng từ khi LÐA vào được BCT khoá 6 đều có bàn tay
của LÐA nên dư luận cho đó là nguyên nhân không giải quyết được, cứ bàn giao
hết khoá 7, khoá 8, rồi khoá 9 hiện nay, làm cho trong Ðảng, trong quân đội
và cả trong nhân dân bất bình ngày càng tăng cao.
Thế mà Ðỗ Mười
viết trong lời tựa cho LÐA là người “sinh hoạt và lối sống thì giản dị mẫu
mực” có lẽ vì LÐA chỉ giản dị mẫu mực trong số những người vô đạo đức mà
thôi. Còn Ðỗ Mười cho : “LÐA
là một trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn”
vì LÐA là tầm cỡ chui sâu leo cao bằng binh nghiệp để lên đến đại tướng, Bộ
trưởng Quốc phòng, Chủ tịch nước như phân tích ở trên mà Ðỗ Mười gọi là nhà
quân sự lớn chăng ? Còn KBH kết thúc cuốn sách lại viết LÐA
: “là niềm tin của hàng
triệu đồng bào, là cây cao bóng cả, là tấm gương sáng cả về đạo đức lối
sống, cả về năng lực tư duy và năng lực hành động cho thế hệ cán bộ lãnh đạo
đất nước ngày hôm nay và mai sau” thật là
mỉa mai sau khi đã đọc các phân tích nói trên của tôi vạch ra. KBH tự bịt
tai, bịt mắt mới không nghe thấy nhìn thấy từ khi Ðại tướng Võ Nguyên Giáp
rồi Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh đến một số tướng lĩnh cao cấp đã gửi thư
đến BCH TW Ðảng tố cáo gì ?
Không nghe được
“Tiếng sấm rền vang bên hồ Trúc Bạch” của một số Cựu chiến binh Hà Nội đã
viết về Hội nghị quân sự quân uỷ Trung ương tháng 8/2004 chăng ? Không biết
gì về Hội nghị của hơn 40 vị cựu uỷ viên BCT. Tổng bí thư, bí thư Trung
ương, Phó chủ tịch quốc hội, Phó chủ tịch nước mà dư luận gọi là Hội nghị
Diên Hồng thời đổi mới đã nói gì hay sao ? Chỉ có Ðỗ Mười và những kẻ tay
chân được LÐA cất nhắc mới coi LÐA là niềm tin (chứ không phải hàng triệu
đồng bào) là cây cao bóng cả, tấm gương sáng mà thôi.
Còn về đạo đức
lối sống chắc KBH không đủ trình độ phản bác đánh giá của 2 đồng chí quá cố
Phạm Hùng và Nguyễn Thị Ðịnh cho LÐA là tên vô đạo đức. Về năng lực tư duy
và năng lực hành động như phân tích ở năm phần viết của KBH quả là đã thể
hiện rõ đạo đức lối sống của LÐA
cho dù ngòi bút của KBH đã tô vẽ cách
nào đi nữa LÐA vẫn là con người lừa dối Ðảng, bằng con đường binh nghiệp leo
cao chui sâu để cuối đời thò ra nhiều mưu đồ chính trị thâm độc.
6. Kết luận
và kiến nghị :
Cuốn sách viết
về LÐA của KBH đã có ý đồ từ lâu khi Viện Lịch sử quân đội giới thiệu đến
gặp tôi chứ không phải và viết xong tháng 8/2005 như ghi ở cuối sách. Sau
khi tôi cùng 2 đồng chí Hai Xô và Bảy Cống gửi thư ngày 3/2/2005 đến BCH TW
Ðảng khoá 9 tại HNTW 12, rồi TW Ðảng cử Ðoàn cán bộ vào gặp 3 chúng tôi khi
hai đồng chí Hai Xô và Bảy Cống sức khoẻ đang yếu đã yêu cầu Ðoàn làm việc
trực tiếp với tôi mà thư thứ 3 ngày 23/9/2005 tôi gửi BCH TW Ðảng khoá 9 đã
nói rõ khi đồng chí Hai Xô nằm bệnh viện Thống nhất LÐA đã vào thăm rồi KBH
đã viết lên báo “Hà Nội mới” số ra ngày 14/7/2005 không dám nói ra câu trả
lời của đồng chí Hai Xô rằng : “Ðúng, đây là vấn đề lịch sử của Ðảng” để đáp
câu hỏi của LÐA “Nghe nói anh có thư gửi BCH TW Ðảng phải không”.
Có lẽ vì thế mà
sau đó LĐA chỉ đạo KBH tung ngay ra cuốn “đại tướng Lê Đức Anh” tháng 8/2005
để NXB Quân đội nhân dân vội in ấn phát hành trong tháng 9/2005. Việc làm
này của thầy trò LDA va KHB nhằm hai mục đích sau đây:
a. Thầy trò LÐA
- KBH tung ra được cuốn sách này trong cả nước cứ tưởng sẽ mang lại :
“...niềm tin của hàng triệu đồng bào... về đạo đức lối sống cả về năng lực
tư duy và năng lực hành động...” của LÐA như KBH đã viết và được Ðỗ Mười phụ
hoạ tâng bốc là : “Nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn...” sẽ không bị thư
ngày 3/2/2005 của 3 chúng tôi đã gửi BCH TW Ðảng khoá 9 tại HNTW 12 tố cáo 6
vấn đề để vạch rõ chân tướng thực của LÐA chỉ là người man khai lý lịch
Ðảng, là người vô đạo đức cả lối sống lẫn hành động và tư duy mà thôi. Sau
khi hai đồng chí Hai Xô và Bảy Cống đã qua đời thực hiện di nguyện của hai
đồng chí đó ngày 23/9/2005 tôi tiếp tục gửi thư đến BCH TW Ðảng khoá 9 trước
HNTW 13 rằng : “không thể và không cho phép một thế lực nào tìm cách ngăn
cản mọi tố cáo nhằm vạch trần lịch sử chính trị của LÐA đã chui sâu leo cao,
đã gây ra bao vụ việc chính trị siêu nghiêm trọng, đã gây bè phái trong lãnh
đạo TW Ðảng và Quân đội để chống lại những người cộng sản chân chính”
b. Tung ra được
cuốn sách này thầy trò LÐA - KBH hy vọng sẽ làm cho phe cánh và tay chân dù
đã nghỉ hưu hay tại chức sẽ ủng hộ LÐA để tạo ra được thế lực ngăn cản trước
mắt là HNTW 13 không phán xét các vụ án chính trị siêu nghiêm trọng mà LÐA
là kẻ chủ mưu phải giải quyết trước ÐH 10. Như trong thư ngày 23/9/2005 đã
gửi BCH TW Ðảng khoá 9 lần nữa tôi xin nói rằng : “Khoá 9 không xử lý dứt
điểm các vụ án chính trị siêu nghiêm trọng và lịch sử chính trị LÐA thì lịch
sử dù 10 năm, 20 năm nữa sẽ phán xét BCH TW Ðảng khoá 9 là thiếu trách
nhiệm, không cương quyết xử lý để làm mất lòng tin của cán bộ Ðảng viên
trong toàn Ðảng, toàn Quân và toàn dân”.
Nay qua thư này
tôi và các tướng lĩnh Cựu chiến binh trên 50, 60 tuổi Ðảng ở Nam bộ kiến
nghị đến đồng chí Tổng bí thư, BCT, BCH TW Ðảng khoá 9 tại HNTW 13 cần quyết
định thu hồi và tiêu huỷ cuốn sách “Ðại tướng Lê Ðức Anh” của KBH. Kiến nghị
Ban Tư tưởng Văn hoá TW chỉ đạo kiểm điểm NXB Quân đội nhân dân và tác giả
KBH để công khai trên các báo cho người đọc cả nước biết rõ đây là cuốn sách
mang đầy âm mưu chính trị cá nhân. Nếu sau HNTW 13 Ðảng không thu hồi tiêu
huỷ, không xử lý NXB và người viết, chúng tôi sẽ đưa bài viết này lên các
phương tiện truyền thông để ngăn chặn dư luận phát triển theo chiều hướng
của tay chân LÐA.
Trân trọng
kính chào !
----- O -----
VẤN ĐỀ ĐẢNG TỊCH CỦA LÊ ĐỨC ANH
Trong vấn đề này, ngoài các thư từ của các lão thành cách mạng, tướng
lĩnh quân đội... có hai tài liệu còn lưu trữ: Một tài liệu
tháng 11 - 1976, khi đồng chí Lê Đức Anh tham gia Đại hội 4 và được đề cử
vào Ban chấp hành Trung ương. Lúc ấy đồng chí Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu
9; một tài liệu nữa làm tháng 8 - 1986 trước Đại hội 6. Lúc đó đồng
chí Lê Đức Anh là Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp bạn Camphuchia,
Ủy viên Bộ Chính trị. Trước đó đồng chí Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 7.
+ Tài liệu thứ nhất ghi: - Thành phần gia đình: Trung nông;
Bản thân: Viên chức
- Tham gia cách mạng:
1937
- Vào Đảng:
7 - 1945
- Chính thức:
8 - 1945
“Bản thân học đến năm 1937, ra dạy tư ở Phú Vang, được kết nạp Đảng
vào năm 1938, nhưng chưa sinh hoạt chi bộ. Giữa năm 1939, người anh
rể (Hồ Văn Nguyên) bị bắt nên mất liên lạc. Cuối năm 1939 vào Hội An, năm
1940 vào Đà Lạt - Lộc Ninh. Tháng 11 năm 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động
trong công nhân cao su. Tháng 7 - 1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi
nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30 - 8 - 1945 là ngày làm Tỉnh ủy
viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”.
+ Tài liệu thứ hai làm tháng 4 - 1986 (bước vào Đại hội 6)
ghi:
- Thành phần gia đình:
Trung nông
- Bản thân:
Công nhân
- Ngày và nơi tham gia
cách mạng: 1937
- Ngày nhập ngũ:
Tháng 8 - 1945
- Ngày vào Đảng:
30 - 5 - 1938
- Ngày chính thức:
05 - 10 - 1938
+ Quá trình hoạt động cách
mạng:
“1937 : Tham gia phong trào Bình Dân ở Phú Vang, được kết nạp
vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5 năm 1938.
Giữa năm 1939, địch khủng bố mất liên lạc, vào Hội An, Đà Lạt, Thủ
Dầu Một làm ăn.
4 - 1944: Được giao các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng
Lợi.
8 - 1945: Chỉ huy quân đội vũ trang Thủ Dầu Một, làm trung đội
trưởng, chính trị viên đại đội, chính trị tiểu đoàn, chính trị viên chi đội
1, sau là trung đoàn 301, trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một”.
Vì vậy, ngày vào Đảng (30 - 5 - 1938), ngày chính thức (05 - 10 -
1938) ghi trong bản tóm tắt lý lịch năm 1986 của đồng chí Lê Đức Anh là
một nghi vấn. Việc các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội
yêu cầu Đảng thẩm tra vấn đề Đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh từ năm 1982,
và từ năm 1986 (khi có bản tóm tắt lý lịch của đồng chí Lê Đức Anh lần thứ
2) là một yêu cầu xác đáng.
Trong công tác Đảng viên thì vấn đề Đảng tịch bất cứ thời kỳ
nào cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Điều lệ Đảng quy định: Đảng viên chỉ
được tính tuổi Đảng từ khi được kết nạp Đảng chính thức. Có nghĩa rằng
chỉ có thể chính thức được công nhận là Đảng viên từ ngày được chi bộ chính
thức kết nạp.
Trong bản tóm tắt lý lịch lần thứ nhất (tháng 11 - 1976) của đồng chí
Lê Đức Anh có ghi rõ: chưa sinh hoạt chi bộ. năm 1939 thì mất liên
lạc. Cho dù được kết nạp dự bị năm 1938 thì cũng không thể kết nạp chính
thức, vì chưa sinh hoạt chi bộ.
Bản tóm tắt lý lịch: 11 - 1976 ghi là:
“Tháng 11 - 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao
su”. Vậy, tiếp mối liên lạc hoạt động gì? Hoạt động Việt Minh Cứu Quốc
hay hoạt động Đảng? Hoạt động Đảng là hoạt động với tư cách đảng viên chính
thức hay đảng viên dự bị? Giả định đã tiếp mối liên lạc về Đảng thì sau đó
hoặc là được kết nạp dự bị lại, hoặc là sau một thời gian thử thách
được chính thức kết nạp vào Đảng. Trong tóm tắt lý lịch tháng 11 -
1976 không nói điều này. Xin lưu ý là từ tháng 4 - 1944 đến tháng 7 -
1945 là 1 năm 3 tháng. Lúc đó đang là cao trào cách mạng tiền khởi
nghĩa, có vùng Đảng đã hoạt động bán công khai.
Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 còn ghi là:
“Tháng 7 - 1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm
ngày kết nạp và lấy ngày 30 - 8 - 1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ
Dầu Một làm ngày chính thức”. “Lấy đó làm ngày kết nạp”...nghĩa
là thế nào? “Lấy đó làm ngày chính thức”...nghĩa là thế nào? Nghĩa là lấy
đó mà thôi, chứ không phải là đã được kết nạp, được làm lễ chính thức.
Đồng chí Năm Thi trong bức thư gửi đồng chí Lê Đức Thọ yêu cầu xác
minh lý lịch và các vấn đề về đồng chí Lê Đức Anh viết ngày 2 - 8 - 1986
có nói:
“Đầu năm 1945, tôi (Năm Thi là Ủy viên Ban cán sự Thủ Dầu Một) được
phân công đến Lộc Ninh để kiểm điểm khả năng tổ chức lực lượng Mặt trận Việt
Minh... Tháng 2 - 1945 một tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao
su... Ngày vào Đảng năm 1945 (của đồng chí Lê Đức Anh) do Đảng bộ Thủ
Dầu Một có thể là đúng. Còn trước năm 1945, tôi (Năm Thi) chưa thấy rõ vì
không có sự giới thiệu nào là một đồng chí đảng viên nằm vùng”.
Nhiều đồng chí cho rằng: đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp hoặc
chưa được kết nạp chính thức. cho nên mới dùng cái từ “lấy đó làm
ngày kết nạp, lấy đó làm ngày chính thức”.
Vì vậy, yêu cầu thẩm tra đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh của nhiều đồng
chí lão thành cách mạng là có lý do xác đáng.
Cần lưu ý là:
Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976
ghi: Thành phần là “viên chức”. Viên chức là thuộc thành phần tiểu tư
sản. Được kết nạp năm 1938, nhưng không có ngày.
Điều lệ Đảng trước đây quy định: Thời gian dự bị của những người
được kết nạp Đảng thành phần tiểu tư sản là 6 tháng. Còn xuất thân thành
phần công nhân thời gian dự bị là 3 tháng.
Cho nên khi khai ngày kết nạp (dự bị) là 30 - 5 - 1938 và ngày
chính thức là 05 - 10 - 1938 (cách nhau 4 tháng 6 ngày thì tất nhiên kèm
theo đó phải khai tụt xuống là xuất thân công nhân). Vì nếu xuất thân
viên chức thì thời gian dự bị phải là 6 tháng. (Đó là chưa nói các nghi vấn
khác như một số đồng chí đảng viên đã đặt vấn đề từ năm 1982).
Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 ghi:
“Tham gia Mặt trận Bình Dân, bị địch khủng bố mất liên lạc vào Nam
Bộ làm ăn. Tháng 4 - 1944, tiếp tục hoạt động”. Như vậy là chỉ nói
tham gia Mặt trận Bình Dân, không nói rõ tham gia Đảng. Chỉ nói “mất
liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4 - 1944 tiếp tục hoạt động”. Như vậy
là từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1944 làm ăn, không hoạt động gì,
thời gian đó là hơn 5 năm. 5 năm không phải là thời gian ngắn.
Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 như vậy, thế thì làm sao lại tòi
ra trong bản tóm tắt lý lịch lần 2: ngày vào Đảng là ngày 30 - 5 - 1938,
ngày chính thức là ngày 05- 10 - 1938? Vì sao đến năm 1986 lại nhớ cụ thể
ngày tháng kết nạp chính thức đến như vậy? Nếu được kết nạp chính thức rồi
mà trong suốt 5 năm ấy, sao không tìm cách bắt liên lạc với Đảng? Khi vào
Hội An, phong trào cách mạng ở Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam rất mạnh. Tổ
chức Đảng và các tổ chức công khai như các hội ái hữu, các nghiệp đoàn đều
hoạt động mạnh, ngay trong Sở đạc điền mà đồng chí Lê Đức Anh làm thư ký
cũng có tổ chức quần chúng của Đảng.
Nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên nghi vấn đồng chí Lê Đức Anh chưa
được kết nạp vào Đảng là có lý do.
Vậy tại sao từ năm 1986, khi có bản tóm tắt lý lịch lần 2 của
đồng chí Lê Đức Anh, và có lời ghi ở góc phải trên bức thư ngày 2 - 8 - 1986
đồng chí Năm Thi gửi đồng chí Lê Đức Thọ là: “Điều tra lý lịch ngày vào
Đảng có phải là 44 hay 39?”. Ban Tổ chức Trung ương và Ban Bảo vệ chính trị
nội bộ lại không tiến hành kiểm tra và xác minh?
Đồng chí Nguyễn Đức Tâm cho biết:
Đồng chí Nguyễn Đức Tâm có trực tiếp báo cáo với đồng chí Lê Đức Thọ,
Trưởng Ban Tổ chức Trung ương khóa ấy về vấn đề lý lịch đồng chí Lê Đức Anh.
Đồng chí Lê Đức Thọ đang nghiên cứu nhân sự Tổng Bí thư nên không có thời
gian xem xét tiểu sử đồng chí Lê Đức Anh và chỉ gặp đồng chí Lê Đức Anh bảo
đồng chí Lê Đức Anh viết báo cáo gửi lên Ban Tổ chức Trung ương và để sau
Đại hội hãy hay.
Thư đồng chí Lê Đức Anh gửi đồng chí Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ chức
Trung ương ngày 16 - 11 - 1986 chỉ đề cập 3 vấn đề mà theo đồng chí Lê Đức
Anh là “do nhóm Trần Văn Trà, Tô Ký, Năm Thi, Huỳnh Văn Một, v.v... sẽ
nói trong dịp Đại hội toàn quân vào cuối tháng 11 năm 1986:
1.
Làm cai cao su.
2.
Tại sao tôi (Lê Đức Anh) lãnh
đạo khởi nghĩa ở các vùng đồn điền cao su ở phía bắc Thủ Dầu Một mà không
bắt và giết tên Giám đốc đồn điền cao su?
3.
Tại sao tôi (Lê Đức Anh) không
bắt được bọn quan chức cao cấp của Pháp bị bọn Nhật giam giữ ở Lộc Ninh, Thủ
Dầu Một khi đã giành được chính quyền?”
Trong bức thư gửi đồng chí Lê Đức Thọ ngày 16 - 11 - 1986 của đồng
chí Lê Đức Anh, đồng chí Lê Đức Anh hoàn toàn không đề cập đến vấn đề
đảng tịch.
Đồng chí Nguyễn
Đình Hương cho biết:
“Trong thời gian chuẩn bị Đại hội 6 xẩy ra sự kiện anh Văn Tiến Dũng
và anh Chu Huy Mân không trúng đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc. Lúc đó
cân nhắc ai làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, kết quả là Bộ Chính trị giới thiệu
đồng chí Lê Đức Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và khi xem xét không bàn gì
về lịch sử chính trị đồng chí Lê Đức Anh”.
Khóa 6, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Đồng chí
Nguyễn Đức Tâm báo cáo với đồng chí Nguyễn Văn Linh một số vấn đề về lịch sử
chính trị đồng chí Lê Đức Anh, nhưng đồng chí Nguyễn Văn Linh không có ý
kiến gì.
Đến Đại hội 7, đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Đồng chí
Nguyễn Đình Hương, Trưởng Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, báo cáo
với đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí Đỗ Mười thấy thư phản ánh có vấn đề phải
nghiên cứu, nhưng lúc ấy đồng chí Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị, bầu
làm Chủ tịch nước nên đồng chí Đỗ Mười không có ý kiến gì.
Đồng chí Nguyễn Đình Hương, Khi làm Phó Ban Tổ chức Trung ương kiêm
Trưởng Ban Bảo vệ chính trị nội bộ được đồng chí Lê Đức Thọ và Nguyễn Đức
Tâm giao nghiên cứu các thư phản ánh về lịch sử chính trị đồng chí Lê Đức
Anh. Lúc đó đồng chí Lê Đức Anh đã được Trung ương và Bộ Chính trị cử làm Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng rồi Chủ tịch nước, cho nên cũng dừng lại.
Đến khi Đài phát thanh đưa tin đồng chí Lê Đức Anh được nhận huy hiệu
60 năm tuổi Đảng thì các lão thành cách mạng, cán bộ, đảng viên lại có thư
yêu cầu xem xét đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh.
Sau Đại hội 9, qua các hành động vi phạm nguyên tắc, lộng quyền, vu
khống của đồng chí Lê Đức Anh, cho đến nay, khi vụ T4 được phát hiện, thư
phản ánh về tiểu sử đồng chí Lê Đức Anh lại rộ lên.
Ban Tổ chức Trung ương, Ban Bảo vệ chính trị nội bộ từ cuối khóa 5,
khóa 6, khóa 7, khóa 8 đều thấy đảng tịch của đồng chí Lê Đức Anh cần
phải xem xét lại. Nhưng do nể nang, lấy lý do là đã được bầu vào chức vụ
cao của Đảng và Nhà nước, nên bỏ qua, không xem xét. Không thể lấy thái
độ hữu khuynh ấy để làm căn cứ mà không thẩm tra lại lý lịch đồng chí Lê Đức
Anh.
Đồng chí Lê Đức
Anh tự khai vào Đảng ngày 30 tháng 5 năm 1938 và chính
thức ngày 05
tháng 10 năm
1938 là khai man.
----- O -----
Lời Ban
biên tập:
Do điều kiện hạn
chế trong việc truy cập Internet, chúng tôi xin gửi đến bạn đọc trong nước
bài phỏng vấn sau đây của đài Á Châu Tự Do ( RFA) với ông Lê Hồng Hà về một
bài viết ký tên ông Đỗ Mười. Ông Lê Hồng Hà nguyên là Bí thư Đảng đoàn - Bộ
Công an, ông sớm nhận ra những khuyết tật của đường lối cộng sản. Trong quan
điểm của mình, ông Lê Hồng Hà luôn cổ vũ cho tiến trình dân chủ hoá ở Việt
Nam.
Ông Lê Hồng Hà nhận định về bài của ông Ðỗ Mười
khi bàn về định hướng XHCN
Việt Hùng, phóng viên đài RFA, Nov
25, 2005
RFA
- Liên quan đến định hướng và công tác chuẩn bị cho Ðại Hội 10 đảng cộng sản
Việt Nam, mới đây, sau một thời gian dài im tiếng, như muốn chứng tỏ về cái
gọi là quyền uy của mình, ông Ðỗ Mười, nguyên Tổng bí thư đảng cộng sản Việt
Nam đã có bài viết mang tựa đề: "Về định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa trong xây
dựng đất nước Việt Nam hiện nay". Do đâu mà ông Mười lại cho rằng, "con
đường tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội của Việt Nam đang bị các thế lực thù nghịch
ngăn cản, một số đảng viên dao động, thậm chí phản bội đầu hàng ...." .
Liệu ông Mười có phải là nhà lý luận thực tiễn như ông nói hay không, liệu
ông có phải là người đã đánh giá đúng thực tế những gì đang diễn ra tại Việt
Nam hay không? Nguyên do nào, đã nghỉ hưu rồi mà sao ông vẫn tâm huyết với
đường hướng của Việt Nam nhiều đến như vậy?
Bắt đầu từ buổi phát thanh hôm nay, chúng tôi xin gửi tới quí thính giả loạt
bài ghi nhận phản ứng của những nhà theo dõi và bình luận thời cuộc Việt Nam
cả trong và ngoài nước do Việt Hùng thực hiện. Hôm nay là cuộc nói chuyện
với một trong những nhà lý luận thực tiễn hàng đầu tại Việt Nam là ông Lê
Hồng Hà. Từ Hà Nội ông đưa ra cái nhìn về bài viết của ông Ðỗ Mười:
Ông Lê Hồng Hà: Chứng tỏ rằng ông Ðỗ Mười không hiểu được tình hình
thế giới đang vận động ra làm sao. Ông không thể hiểu được tại sao Liên Xô
và các nước Ðông Âu đổ vỡ về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Sau khi sụp đổ chế độ
Xã Hội Chủ Nghĩa rồi thì người ta tiến lên hay thoái bộ như thế nào, ông
không lý giải nổi, ông không hiểu được.
Ông cũng không hiểu được quá trình đổi mới của xã hội Việt Nam. Hiện nay xã
hội Việt Nam có cái gì mới so với trước đây 30 năm, ông cũng không hiểu nổi,
rồi ông ấy muốn lôi nước Việt Nam trở lại đường lối cổ hủ đã đưa Việt Nam
đến chỗ suy sụp của thời kỳ 75 - 85, thế cho nên đứng về mặt chất lượng thì
phải nói rằng bài viết của ông Ðỗ Mười chất lượng không có.
Việt Hùng: Với cái nhìn của ông tại sao ông Ðỗ Mười lại viết trong
thời điểm hiện nay?
Ông Lê Hồng Hà: Muốn hiểu được tại sao lại có bài viết ấy thì tôi xin
được nói rằng, ông Ðỗ Mười cũng như nhiều ông bảo thủ trong cơ quan lãnh đạo
hiện nay, người ta xuất phát từ mục tiêu là phải bảo vệ cho kỳ được 3 vấn
đề:
- Bảo vệ cho kỳ được chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Bảo vệ Chủ Nghĩa Xã Hội mà họ gọi là lý tưởng.
- Bảo vệ uy tín của Ðảng đang xa xút dữ dội.
Họ nhất định là phải bảo vệ 3 cái đó, cho nên trong cách suy nghĩ của họ,
trong cách phân tích của họ, hoàn toàn không thấy bóng dáng của vấn đề dân
tộc Việt Nam này lên xuống ra làm sao? Lợi ích của dân tộc Việt Nam khi nào
bị chặt, khi nào bị trà đạp, khi nào được cải thiện.
Xã hội Việt Nam lúc nào xuống và lúc nào lên. Người ta không lấy lợi ích dân
tộc, người ta không lấy đời sống của dân tộc, người ta không lấy sự phát
triển của xã hội làm nền, làm một chủ thể để phân tích, mà người ta chỉ xoay
quanh vấn đề là mặc kệ nó, đất nước này ra sao kệ, đời sống của nhân dân xa
xút ra làm sao kệ.
Người ta cứ phải làm sao để mà viết, để bảo vệ được 3 cái điểm ấy thì tức là
người ta cho rằng đấy là người ta trung thành nhất với xã hội, người ta
trung thành nhất với Mác-Lênin, người ta kiên định cách mạng cho nên bài này
của ông Ðỗ Mười cũng như trong 10 năm vừa qua xuất phát từ một ý đồ, phải
bảo vệ cho kỳ được 3 vấn đề đó.
Việt Hùng: Nếu mà nói như vậy, phải chăng trong chính trường Việt Nam
hiện đang diễn ra những tranh cãi lý luận, như vậy theo ông giới nghiên cứu
đánh giá vấn đề này ra sao?
Ông Lê Hồng Hà: Ðang diễn ra một cuộc tranh luận ở trong nội bộ ở đất
nước của chúng tôi. Trong cuộc tranh luận ấy những ý kiến muốn bảo vệ Chủ
nghĩa Mác-Lênin, muốn bảo vệ lý tưởng Chủ Nghĩa Xã Hội, muốn bảo vệ uy tín
của đảng đang xa xút thì họ đang bị thua, tôi xin nói là họ đang bị thua.
Thí dụ như về Chủ Nghĩa Mác-Lênin trong giới lý luận ở Việt Nam đã có nhiều
người nêu lên vấn đề là không có Chủ Nghĩa Mác-Lênin. Khái niệm về Chủ Nghĩa
Mác-Lênin xuất hiện kể từ năm 1930 do Stalin đặt ra. Từ đó trở đi nó đem
những nội dung, phản ảnh nội dung hệ thống quan điểm của Stalin chứ không
phải nguyên mẫu của Marx nữa.
Ở Việt Nam cái gọi là nội dung của Chủ Nghĩa Mác-Lênin ấy, không những chỉ
phản ảnh hệ tư tưởng của Stalin mà còn pha thêm tư tưởng của Mao Trạch Ðông
nữa. Cho nên trong một thời gian dài, trong tất cả giáo trình của Việt Nam,
sách giáo khoa về Mác-Lênin đều phản ảnh hệ thống quan điểm của Stalin và
của Mao Trạch Ðông.
Vì vậy gần đây, trong giới lý luận người ta đề nghị rằng, không có chủ nghĩa
Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác-Lênin mà Việt Nam đang nói là hệ tư tưởng của
Stalin - Mao Trạch Ðông. Không thể nào đặt vấn đề trung thành với chủ nghĩa
Mác-Lênin. Ðặt vấn đề như thế sẽ trở thành vô nghĩa.
Việt Hùng: Phải chăng chính vì những vấn đề này mà uy tín của Ðảng
thêm phần thuyên giảm trong bối cảnh xã hội ngày nay? Nếu chỉ nói riêng
trong vấn đề lý luận và chỉ về vấn đề này không thôi, liệu có còn giữ được
uy tín trong hàng ngũ đảng viên nữa hay không thưa ông?
Ông Lê Hồng Hà: Về vấn đề giữ uy tín của đảng trong điều kiện đảng đã
gây nên sự tụt hậu xa của xã hội Việt Nam. Uy tín của đảng trong