Đối Thoại Website:Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt NamĐiện Thư Số 56 - Ngày 29 tháng 03 năm 2006 |
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận, Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Điện thư gửi thẳng đến bạn đọc. Nếu bạn cần nhận điện thư hoặc góy ý, yễm trợ xin liên lạc: caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
+ Trong lá thư lần 2 gửi ông Nguyễn Thành Tài, Phó chủ tịch UBNDTP, anh Đỗ Nam Hải, tức Phương Nam đã kịch liệt phản đối cung cách cử xử thiếu văn hoá và thô bạo của công an Q. Phú Nhuận đã thẩm vấn và giam giữ anh trái với qui định pháp luật. Cụ thể anh đòi hỏi ông Tài trong bức thư này:
-Huỷ bỏ ngay tức khắc và vô điều kiện QĐ
199/QĐ – UBND do chính ông ký ngày
-Làm rõ trách nhiệm của từng thành viên
trong tổ công tác của công an Q.Phú Nhuận, đã trực tiếp hành hung tôi
sáng ngày
-Ra lệnh cho công an Tp. HCM, là đơn vị dưới quyền ông huỷ bỏ ngay việc cho công an theo dõi tôi, xung quanh nhà tôi suốt ngày đêm.
TS. Lê Đăng Doanh
Ngày nay, ở nước ta, khởi sự doanh nghiệp tư nhân vẫn đòi hỏi sự dũng cảm, dấn thân và chịu đựng.
Dũng cảm vì, ngoài bất trắc vốn có của bất kỳ nền kinh tế thị trường nào, ngoài sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường, doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với quá nhiều khó khăn, trở ngại, hiểm nguy từ rất nhiều phía trong kinh doanh: như gom vốn, tìm mặt bằng kinh doanh, vượt qua mê hồn trận văn bản pháp quy vừa mù mờ và vừa rối rắm, thiếu ăn khớp với nhau. Dấn thân và chịu đựng vì – mặc dù đã có nghị quyết và luật – phải vượt lên bao thành kiến, cách làm tư lợi và tắc trách của không ít viên chức ở các cơ quan nhà nước có quyền “sinh,sát” đối với doanh nghiệp. Mặc dù tạo ra việc làm, đem lại thu nhập chính đáng cho người lao động, nộp thuế, tham gia các hoạt động từ thiện và bảo trợ xã hội, doanh nhân vẫn bị coi là “kẻ ích kỷ”, “chỉ làm giàu cho cá nhân mình” một cách vô căn cứ. Thành kiến phổ biến đến mức phim ảnh trên truyền hình hay tác phẩm văn học nếu có vai “giám đốc doanh nghiệp tư nhân” thì đó phải là một kẻ lưu manh, làm ăn liều lĩnh và lừa đảo, đồi bại về đạo đức, sống buông thả, táng tận lương tâm, vi phạm pháp luật. Nếu như trên ti vi, báo, đài nói đến tăng, giảm giá thì thường quy cho là tại “bọn tư thương ép giá” hoặc “tư thương đầu cơ” mặc dù không bao giờ chứng minh được hành vi đầu cơ đó như thế nào, cụ thể ai đầu cơ thế nào.
Và cho đến nay cũng chưa có quy định hướng dẫn về khen thưởng doanh nghiệp tư nhân được thưởng huân chương về đóng góp của mình cho xã hội. Sự nhẫn nhục chịu đựng, kiên trì, bền gan kinh doanh phải được coi là một đức tính quan trọng của doanh nhân ngày nay. Nếu nói đến văn hóa thì đó cũng là một giá trị văn hóa của sự chịu đựng và thích nghi.
Doanh nghiệp là một loại tế bào của xã hội, doanh nghiệp không chỉ là một đơn vị kinh doanh, doanh nghiệp là một cơ sở văn hóa và mỗi doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh của mình. Văn hóa của doanh nghiệp không tách rời với văn hóa của xã hội là hệ thống lớn bao gồm doanh nghiệp. Văn hóa trước hết của doanh nghiệp là tuân thủ pháp luật, là bảo đảm có lãi, không những nuôi được người lao động mà còn phát triển. Trên thế giới, từ Microsoft đến Honda, Sony đã sáng tạo ra bao nhiêu giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, góp phần phát triển văn hóa của loài người.
Một doanh nghiệp độc quyền, rất sang trọng về vật chất nhưng chính họ lại rất thiếu văn hóa và nhẫn tâm vì họ đã áp đặt phi lý gánh nặng chi phí kinh doanh lên bao nhiêu người dân. Thử hỏi quy định bắt người tiêu dùng điện thoại di động gọi có 1 giây nhưng phải trả tiền cho 60 giây là có văn hóa hay vô văn hóa? Phải chăng đó là văn hóa tước đoạt hàng ngày, hàng giờ tiền bạc của người tiêu dùng lại được áp đặt bằng quyền lực hành chính?
Từ Biti’s đến Thái Tuấn, gạch Đồng Tâm,v.v...mỗi doanh nghiệp đều xây dựng văn hóa và nền nếp kinh doanh của riêng mình. Trong kinh doanh, doanh nghiệp, doanh nhân có quan hệ kinh tế, xã hội với rất nhiều người trong xã hội, trong mỗi quan hệ đó đều thể hiện văn hóa kinh doanh. Trong quan hệ tín dụng với ngân hàng, từ việc cung cấp trung thực các thông tin về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, bảo đảm đúng các cam kết với chủ nợ dẫu việc kinh doanh của mình có khó khăn. Với các đối tác kinh doanh, chữ tín là văn hóa, là phẩm chất của doanh nhân, là kỷ luật và bản lĩnh kinh doanh. Với khách hàng, bảo đảm chất lượng, không lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng để lừa họ - mà trong khoa học kinh tế được xác định là sự bất đối xứng thông tin giữa người bán hàng và người mua hàng - để bán hàng kém phẩm chất, hàng dởm. Như thế là văn hóa, là có lòng tự trọng và tôn trọng các giá trị tinh thần. Trong kinh tế thị trường, khách hàng được coi là tài sản của doanh nghiệp, khách hàng càng được trân trọng trong những doanh nghiệp làm ăn chân chính, có uy tín. Có thể kể đến người bán hàng, tiệm ăn rất chiều khách, lấy công làm lãi, chăm sóc khách hàng rất chu đáo. Phải coi người doanh nhân biết xuất khẩu lá chuối tươi, rau muống xào tỏi đông lạnh ở Nhà Bè, xơ dừa ở Bến Tre, rơm sạch ở Ninh Bình, tượng đá ở Đà Nẵng v.v…là những người có văn hóa. Họ đã đem lại cho những cái được coi là không có giá trị những giá trị sử dụng và thẩm mỹ mà trước đó chưa hề được phát hiện.
Điều này lại càng đúng đối với những nghề dịch vụ mà khách hàng không có khả năng kiểm nghiệm chất lượng như thiết kế xây dựng, khám-chữa bệnh, giải phẫu thẩm mỹ hay tư vấn luật pháp, kế toán…Xã hội cần đề cao những doanh nhân trung thực, nêu cao trách nhiệm và các giá trị tinh thần trong kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp và doanh nhân không chỉ coi trọng lợi nhuận mà còn rất coi trọng sự đóng góp cho xã hội từ đóng thuế đến tạo ra việc làm hay cả niềm vui của khách hàng nhờ được thỏa mãn với sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Sản phẩm ở đây hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là sản phẩm vật chất (may mặc, xe máy hay đồ chơi trẻ em), tinh thần như tư vấn, sức khỏe, sự hài lòng của khách hàng mà bao gồm cả con người đối với các cơ sở đào tạo. Không thể nào coi là có văn hóa nếu như các trường sản xuất ra những “người dỏm”, bằng cấp thật nhưng kiến thức, nhân cách, tinh thần làm việc, tinh thần trách nhiệm đều rất kém cỏi. Văn hóa ở đây vượt lên trên sự hào nhoáng của xe cộ, hội sở, quần áo hay các nữ thư ký ăn mặc sành điệu. Văn hóa ở đây nằm trong sản phẩm kinh doanh, mỗi hành vi kinh doanh, mỗi hợp đồng, mỗi cam kết của doanh nhân.
Trong nội bộ doanh nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả các trường học, viện nghiên cứu, văn hóa thấm sâu trong từng mối quan hệ trong doanh nghiệp giữa giám đốc với công nhân, giữa doanh nghiệp với khách hàng v.v…Vừa qua chúng ta đã phải chứng kiến những hành vi rất vô văn hóa của chuyên gia đánh công nhân, đối xử tàn tệ với người lao động ở một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. May mắn thay những việc đó chưa phát hiện thấy ở doanh nghiệp tư nhân trong nước, nếu không sự lên án và thành kiến chưa biết đến mức nào.
Đương nhiên, trong doanh nghiệp tư nhân còn không ít hành vi vô văn hóa và phản văn hóa, làm ăn chụp giật. Song, số ít đó không phải là đặc quyền cố hữu của doanh nghiệp tư nhân. Vơ đũa cả nắm, thành kiến còn tệ hại hơn sự ngu dốt vì nó bất chấp sự thật và dẫn đến những thái độ sai lầm.
Và để cho kinh doanh có văn hóa, doanh nghiệp có văn hóa thì công sở, cơ quan nhà nước các cấp cũng phải có văn hóa, viên chức phải hành xử đúng pháp luật, có trách nhiệm và có văn hóa. Không thể đòi hỏi doanh nghiệp trong sạch nếu bộ máy nhà nước tham nhũng; doanh nghiệp phải có văn hóa trong khi viên chức nhà nước ứng xử tư lợi và thiếu văn hóa. Muốn có văn hóa doanh nghiệp thì trước hết các công sở phải có văn hóa trong cách đối xử với công dân và doanh nghiệp. Viên chức nhà nước tự ý lạm dụng quyền hạn, hành động vượt quá quy định pháp luật, bắt chẹt, làm khó cho doanh nghiệp không thể coi là có văn hóa.
Vì vậy, toàn xã hội và mỗi một doanh
nghiệp hãy cùng phấn đấu để doanh nghiệp và công sở đều hoạt động đúng
pháp luật và đúng văn hóa. Hãy tôn vinh những doanh nghiệp làm ăn chân
chính, có năng lực cạnh tranh, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và cho
tiến bộ xã hội. Và phải lên án những hành vi vô văn hóa hay phản văn hóa
khi chúng xuất hiện ở bất cứ đâu để cho cái tốt, cái thiện được phát
triển. Đất Việt
GS.TSKH Nguyễn Mại
(Thành viên Tổ nghiên cứu Kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Phan Văn Khải).
I.Cần phải khách quan nhận định rằng, tình trạng do dự, chậm chạp trong việc đổi mới thể chế chính trị theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền là một khuyết điểm lớn, đã trở thành lực cản cho toàn bộ quá trình “đổi mới và mở cửa” ở nước ta. Đổi mới về kinh tế đến khoảng giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã xuất hiện hàng loạt vấn đề mà bản thân cơ chế kinh tế mới không thể giải quyết được, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện thể chế chính trị để đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
*
Hai vấn đề nổi bật nhất là nhà nước trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; và dân chủ trong kinh tế, chính trị và xã hội. Tình trạng quan liêu, lạm quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, cũng như những quyền cơ bản của người dân trong chế độ dân chủ chưa thật sự được tôn trọng, được bảo đảm bằng luật pháp là hệ quả tất yếu của việc chậm đổi mới thể chế chính trị. Trong kinh tế vẫn còn kéo dài tình trạng “người dân muốn kinh doanh phải được phép của nhà nước”, mãi đến năm 2000, khi ban hành Luật Doanh nghiệp mới trả lại cho công dân quyền “được kinh doanh những lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Chỉ chừng ấy thôi, mà mất hàng chục năm và cũng chỉ cần trả lại quyền cho chính chủ của nó – người dân – thì hàng chục vạn doanh nghiệp tư nhân ra đời, nhiều nghìn tỉ đồng vốn trong túi người dân được bỏ vào kinh doanh, mấy triệu người lao động có việc làm…
Đáng tiếc, cái quyền đương nhiên đó của người dân đã được luật pháp quy định rõ ràng như vậy lại bị giảm thiểu bởi một bộ phận không nhỏ công chức nhà nước lạm quyền thông qua các thủ tục hành chính phiền hà với hàng trăm giấy phép con (!). Trong các doanh nghiệp nhà nước, khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì tình trạng thiếu dân chủ cũng trở nên trầm trọng hơn trước, “bộ tứ - tự bố”, giám đốc có quyền không bị giới hạn, kể cả quyền làm phá sản doanh nghiệp. Chỉ cần nhắc lại vụ án có liên quan đến nguyên Tổng giám đốc PMU 18 mà có người đã đánh giá tính chất nghiêm trọng đến mức “thóa mạ cả một dân tộc”, thì có thể hình dung được tình trạng lộng quyền của không ít vị đứng đầu doanh nghiệp nhà nước.
Trong quan hệ xã hội, mặc dù Đảng đã mở
cuộc vận động dân chủ ở cơ sở, nhưng tình trạng người dân sợ “quan xã,
quan huyện” như chế độ cũ không phải là hiện tượng cá biệt. Nguyên nhân
chính là những cơ chế dân chủ đã được quy định không còn phù hợp với
hoàn cảnh mới của xã hội Việt
*
II. Dự thảo Văn kiện đề cập việc “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội…” xin được góp thêm một số ý kiến sau đây:
Một là, trong những năm gần đây, chức năng lập pháp, giám sát pháp luật của Quốc hội đã được thực hiện tốt hơn trước. Tuy vậy, nếu căn cứ vào nội dung của các luật và pháp lệnh đã được ban hành, có thể nhận định rằng, Quốc hội nước ta chưa thực hiện đúng chức năng lập pháp, theo đúng nghĩa của lập pháp. Quốc hội chỉ quy định những nguyên tắc, nội dung chưa đủ chi tiết để điều chỉnh mọi hành vi của công dân trong hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội. Do vậy, một phần đáng kể chức năng lập pháp của Quốc hội do cơ quan hành pháp thực hiện, làm cho cơ quan này “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Luật quy định chung chung thì nghị định và thông tư với những nội dung chi tiết, có khi trái luật là công cụ chủ yếu điều chỉnh hành vi của công dân. Tình trạng đó đã được phát hiện từ nhiều năm nay, nhưng vẫn không được sửa đổi.
Tôi cho rằng, không nên kéo dài hơn nữa, bởi đây không phải chỉ là vấn đề quy trình xây dựng pháp luật, mà đụng đến vấn đề cốt lõi của nhà nước pháp quyền: phân biệt giữa chức năng lập pháp của Quốc hội , chức năng hành pháp của Chính phủ và chức năng tư pháp của Tòa án. Mọi chuyện cần phải được khởi đầu và để Quốc hội thực hiện trọn vẹn chức năng lập pháp thì trong chương trình xây dựng luật năm nay cần chọn một hoặc hai dự án Luật, tiến hành xây dựng đủ chi tiết đến mức nghị định của Chính phủ để hướng dẫn cho công chức nhà nước trách nhiệm và quyền lực của họ trong việc thực thi luật. Tốt nhất là không còn thông tư của các bộ. Tôi cho rằng, hiện đã đủ điều kiện về chuyên gia am hiểu từng lĩnh vực phối hợp với chuyên gia luật pháp để giúp Quốc hội thực hiện.
Hai là, cần đổi mới không chỉ cấu trúc hiện hành của Quốc hội , như tăng số đại biểu chuyên trách, nâng cao chất lượng hoạt động…, mà cần suy nghĩ rộng hơn để làm cho Quốc hội thực sự trở thành cơ quan quyền lực cao nhất, đại biểu được ý chí và nguyện vọng của người dân. Quốc hội như bất kỳ tổ chức nào cũng được cấu trúc bởi các cá nhân, mà mỗi người đều có lợi ích riêng. Nếu một bộ trưởng , một chủ tịch tỉnh, hai người đứng đầu hai nấc thang trong hành pháp là đại biểu Quốc hội, thì không những thiếu thời gian thực hiện nghĩa vụ đối với cử tri đã bầu ra họ, mà nhược điểm chính là vì họ đại diện cho lợi ích của bộ máy hành pháp, nên không thể làm đúng chức năng là đại diện của cử tri. Cần xem đây là nhược điểm lớn nhất trong cấu trúc của Quốc hội hiện nay, mà việc khắc phục nó có lẽ phụ thuộc chủ yếu ở quan điểm, nhận thức của các nhà lãnh đạo cấp cao về sự lãnh đạo của Đảng, về tạo điều kiện để các tổ chức lập pháp, hành pháp, tư pháp hoạt động phối hợp, nhưng có tính độc lập và giám sát lẫn nhau. Nếu đạt được sự thống nhất về quan điểm, thì trong kỳ bầu Quốc hội 2007 cần khắc phục về cơ bản nhược điểm đó.
Ba là, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thực hiện luật pháp, vậy ai giám sát Quốc hội (?). Tôi cho rằng, chúng ta vẫn phải tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này bằng cách nghiên cứu cấu trúc các cơ quan quyền lực của các nước. Tại sao người ta thực hiện chế độ lưỡng viện, thượng viện và hạ viện (?). Một lý do chủ yếu là để phân chia quyền lực và để giám sát lẫn nhau, do vậy không có tình trạng tập trung quyền lực vào một tổ chức, sẽ sinh ra tình trạng lạm quyền. Tại sao có nhiều nước lập Tòa án hiến pháp độc lập với cả Quốc hội , Tổng thống và Chính phủ (?). Tại sao Thủ tướng Nhật Bản và Thủ tướng Thái Lan vừa qua đã sử dụng quyền giải tán Quốc hội (?). Rõ ràng là, ở các nước ấy, không có một người nào, kể cả người đứng đầu nhà nước và người đại diện cho cử tri lại không chịu sự giám sát của người khác.
Cơ chế nào cũng có nhược điểm, nhưng cái chung nhất là phải chịu sự giám sát, có như vậy mới giảm thiểu tình trạng lạm dụng quyền lực. Tôi nghĩ rằng, chúng ta hay nói đến các đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri là để mà nói, trên thực tế, hàng vạn cử tri bầu ra mỗi đại biểu Quốc hội , chỉ biết tên người đó lúc đi bầu, làm sao có thể giám sát được các hành vi của họ; còn thông qua Mặt trận Tổ quốc cũng chỉ để có một tổ chức của quần chúng mà thôi, Mặt trận làm gì có điều kiện để thực hiện việc đó. Do vậy, cần nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước để chắt lọc những gì thích hợp với nước ta, nhằm tìm được cấu trúc thích hợp của Nhà nước.
Hy vọng Đại hội Đảng lần này sẽ đánh dấu một bước tiến mới trên con đường hoàn thiện thể chế chính trị của đất nước.
TS. Nguyễn Thanh Giang
*
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nhưng, Phạm Hồng Sơn vào tù vì dịch và phổ biến tài liệu “ Thế nào là Dân chủ ” của Hoa Kỳ, Nguyễn Vũ Bình vào tù vì đệ đơn xin thành lập đảng Tự do - Dân chủ, Nguyễn Khắc Toàn vào tù vì giúp bà con đưa đơn thỉnh nguyện lên cấp trên, Lê Chí Quang vào tù vì dám sử dụng quyền tự do thông tin ở cửa hàng internet …
Dự thảo báo cáo chính trị đại hội X của
ĐCSVN quy định nội dung thiết chế dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
“ - Lấy việc xây dựng một bộ máy, một đội ngũ cán bộ, công chức thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân làm tiền đề để phát huy dân chủ XHCN. Mọi chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện ý chí, lợi ích chính đáng của nhân dân.
Trong điều kiện cơ cấu giai cấp-xã hội đang có sự thay đổi sâu sắc, cần có các tổ chức thích hợp để thu hút và tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tham gia các công việc chung của Đảng, Nhà nước và xã hội.
Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế nhằm tổ chức, thu hút và tạo điều kiện để nhân dân thụ hưởng, thực hiện các quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … trong trật tự, kỷ cương và bằng pháp luật, đề cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước với công dân và công dân với Nhà nước.
Thực hiện dân chủ hoá sinh họat và phong cách lãnh đạo ngay trong Đảng và trở thành tấm gương thực hiện dân chủ cho toàn xã hội ”
Từ điển Triết học của Liên Xô do nhà xuất bản Tiến bộ tại Moskva năm 1975 thì quan niệm: “Dân chủ là một trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân … Trên thực tế, bất cứ nền dân chủ nào với tính cách là một hình thức tổ chức chính trị của xã hội, xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định … Trong những hình thái giai cấp đối kháng, nền dân chủ chỉ tồn tại một cách thực tế đối với những đại diện của giai cấp thống trị ”
Trong khi đó, tài liệu “ Thế nào là dân chủ ” của Mỹ lại ghi nhận rằng hiện thực dân chủ “phụ thuộc vào sự quyết tâm cống hiến và sự khôn ngoan tập thể của chính bản thân người dân chứ không phải dựa trên bất kỳ quy luật nào của lịch sử và chắc chắn cũng không dựa trên lòng nhân từ được mong mỏi từ các nhà lãnh đạo độc đoán.
Khác với một số nhận thức, một xã hội dân chủ lành mạnh không chỉ đơn giản là một đấu trường cho các cá nhân theo đuổi các mục đích của cá nhân họ. Dân chủ chỉ được thực hiện khi dân chủ là mong muốn của các công dân có quyết tâm sử dụng quyền tự do mà họ vất vả mới giành được để tham gia vào đời sống của xã hội – góp tiếng nói của họ vào các tranh luận tập thể, bầu ra các vị đại diện có trách nhiệm đối với các hành động của họ và chấp nhận đòi hỏi sự dung hoà và thoả hiệp trong đời sống công cộng … ”.
Thì ra, hoạt động dân chủ tuy đã được khởi
nguyên từ
I - Những ý niệm về dân chủ -
1 - Một cách thông thường và đơn giản, người ta thường hiểu dân chủ theo định nghĩa của J.J. Rudent : “ dân chủ là quyền lực của nhân dân”. Định nghĩa này xuất phát từ các từ nguyên cổ Hy Lạp : Démos là nhân dân, Krátos là sức mạnh, là quyền lực.
Định nghĩa này quá sơ giản và ngày càng trở nên khiếm khuyết so với yêu cầu của xã hội hiên đại.Trước hết vì nó chỉ tập trú dân chủ vào vấn đề quyền lực, quyền lực áp đảo, quyền lực khống chế, quyền lực cai trị, dù là quyền lực đó được gọi là của nhân dân.Vì từ nhân dân không đơn nghĩa nên rất dễ và đã từng bị lợi dụng quy cho một số đông, một tầng lớp, một thành phần xã hội nào đó … Dẫn chứng nghịch cảnh dễ thấy nhất khi ta được nghe tô vẽ rằng chuyên chính vô sản mang bản chất dân chủ tuyệt vời ! Nhà tư tưỏng cổ đại Plato cũng từng định nghĩa “ Dân chủ đến sau khi những người nghèo lật đổ những người giầu, tàn sát một số và giữ lại một số khác. Đó là chính quyền của người nghèo ”
Quyền lực phải được quy định bởi ba yếu tố
: quyền lực của ai, thuộc về ai, xuất phát từ ai ?, quyền lực do ai kiểm
soát ? và quyền lực được sử dụng cho ai, vì ai ? Do không được ràng buộc
chặt chẽ bởi ba yếu tố trên nên Plato đã phán xét được rằng démocratie ở
Dân chủ không chỉ chứa đựng những nội hàm chính trị, mà còn xã hội nữa. Định nghĩa trên không bao hàm được những thành tố xã hội phi chính quyền như giữa người với người, giữa các thành viên trong gia đình ( vợ chồng, cha con, ông cháu … ), trong học đường ( thầy, trò … ), giữa các sắc dân, giữa các tín ngưỡng …
Trong xã hội thông tin như ngày nay dân chủ không chỉ nhằm điều tiết những quan hệ trên dưới, giữa cai trị và bị trị, không chỉ có quan hệ phụ thuộc mà còn có quan hệ hoà hợp, quan hệ dưới lên, quan hệ phổ biến toàn xã hội …Người quản lý cũng như người bị quản lý, người chủ cũng như người trực tiếp sản xuất … đều phải được thông tin để bảo đảm cho xã hội hoạt động bình thường và cho sản xuất phát triển.
Ý niệm dân chủ này đã được quán triệt và
thực hiện từ công xã
2 - Theo B. Curasvili thì dân chủ là phương thức tổ chức những tác động qua lại về mặt xã hội sao cho giải thoát khỏi chuyên quyền. Đặc trưng phương thức tổ chức dân chủ của ông là sự bình đẳng của các bên, hoặc là ưu thế của những người bị quản lý so với những người quản lý.
Ý niệm này gắn được dân chủ với bình đẳng theo hàm nghĩa rộng gồm cả các quan hệ từ trên xuống dưới, quan hệ từ dưới lên trên, giữa quản lý với bị quản lý và quan hệ ngang. Mặc dầu vậy, ý niệm này vẫn chưa vươn tới được những quan hệ xã hội đời thường. Nó cũng chỉ chú ý được đến vấn đề bình đẳng mà chưa quán xuyến được lĩnh vực tự do. Ngày nay, ý niệm này còn tỏ ra khiếm khuyết ở chỗ không bao hàm được đời sống dân chủ trong xã hội thông tin. Trong xã hội thông tin, nhu cầu thông tin theo chiều ngang nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế nhiều khi còn bức xúc hơn cả những lý lẽ của dân chủ chính trị. Dân chủ về kinh tế trong xã hội thông tin nhằm đáp ứng vấn đề vai trò của người sản xuất ngày nay ngày càng phụ thuộc vào khối lượng thông tin mà họ nắm được. Trong sản xuất ngày nay, sự thông thạo chuyên môn còn phải bao gồm cả kinh nghiệm tiếp xúc cá nhân với quần chúng và khả năng đối thoại với dư luận xã hội … Tại các xí nghiệp Nhật Bản có biểu hiện sự lắng nghe ý kiến của người sản xuất rất rõ và trả tiền cao cho những ý kiến hay. Đấy cũng là hệ quả của dân chủ.
3 - Claude Polin định nghĩa : “ Dân chủ là một từ ngữ để chỉ vừa là lý tưởng của việc nhân dân tự cai trị lấy mình và cũng là để chỉ những thể chế có thật hay là phải có để bảo đảm những điều trên ” .
Định nghĩa này đã phân biệt được giữa cái lý tưởng và cái thực tiễn, cái hiển nhiên và cái cần phấn đấu của dân chủ. Tuy nhiên ở đây vẫn chỉ bao hàm chủ yếu lĩnh vực chính trị.
4 - Theo S. Alesiev, “ Dân chủ ngày nay là một hình thái của tự do cá nhân, đồng thời là phương thức quản lý xã hội, và cũng là chỉ số phản ánh trình độ hoạt động xã hội của dư luận”.
Trong quan điểm này, lần đầu tiên vấn đề cá nhân được đề cập cho nội hàm dân chủ. Có cá nhân đòi dân chủ thì mới có xã hội dân chủ. Có cá nhân dân chủ với bản thân mình thì xã hội mới buộc phải thực hiện dân chủ. Alesiev cũng rất quan tâm đến dư luận xã hội. Thái độ quần chúng và năng lượng tác động của họ vào đời sống chính trị xã hội thể hiện qua dư luận xã hội. Thông qua dư luận xã hội mà trạng thái dân chủ được bộc lộ ra một cách chân thực.
5 - Theo tài liệu “ Thế nào là dân chủ ” do bác sỹ Phạm Hồng Sơn lấy từ trang web của Đại sứ quán Hoa Kỳ và đã dịch ra tiếng Việt thì các cột trụ cơ bản của một nền dân chủ gồm :
Quyền tối cao của nhân dân
Chính phủ thành lập dựa trên sự nhất trí của người dân
Nguyên tắc đa số
Các quyền thiểu số
Đảm bảo các quyền cơ bản của con người
Bầu cử tự do và công bằng
Bình đẳng trước pháp luật
Thực hiện đúng luật
Hiến pháp đặt ra và giới hạn quyền lực đối với chính phủ
Đa nguyên về chính trị, kinh tế và xã hội
Thúc đẩy các giá trị của dung hoà, thực dụng, hợp tác và thoả hiệp.
Trong đó :
a – Chính phủ dân chủ là “ chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu cử tự do ”. Theo Abraham Lincoln , dân chủ là một chính phủ “ của dân, do dân và vì dân ”.
b - Về nguyên tắc đa số và các quyền thiểu số - Các thể chế dân chủ là các hệ thống trong đó mọi công dân được tự do đưa ra các quyết định chính trị theo nguyên tắc đa số. Nguyên tắc đa số phải được ràng buộc với sự bảo đảm các quyền con người của cá nhân, các quyền này, đổi lại, lại đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho bên thiểu số, dù đó là dân tộc ít người, nhóm tôn giáo hay chính trị hoặc chỉ đơn giản là những người thua cuộc trong tranh luận về một vấn đề lập pháp nào đó. Các quyền của thiểu số không phụ thuộc vào ý nguyện của bên đa số và cũng không thể bị loại bỏ hoàn toàn bởi biểu quyết của đa số.
c - Trong một thể chế dân chủ, chính phủ chỉ là một thành phần cùng tồn tại trong một kết cấu xã hội bao gồm rất nhiều các định chế khác nhau, các đảng chính trị, các tổ chức và các hiệp hội. Tính chất đa dạng này được gọi là đa nguyên và thể chế dân chủ đó quy định sự tồn tại, tính pháp lý hay quyền lực của các tổ chức và các định chế khác nhau trong một xã hội dân chủ không phụ thuộc vào chính phủ. Xã hội dân chủ luôn có hàng ngàn các tổ chức tư nhân hoạt đông ở phạm vi địa phương hay toàn quốc. Rất nhiều các tổ chức đó đóng vai trò trung gian giữa các cá nhân và các định chế của chính phủ hay các tổ chức xã hội liên hiệp khác mà họ là một thành phần.
6 - Theo Hồ Chí Minh thì “ Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân, của dân. Đầu tiên là vì dân, rồi đến của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến chính quyền trung ương là do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã là do dân tổ chức nên. Như vậy là của dân, do dân, vì dân. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân ”.
Ý niệm dân chủ này đã bao hàm được nội dung
cơ bản là nhà nước của dân, do dân, vì dân như tổng thống Hoa Kỳ Abraham
Lincoln đã đề xuất từ năm 1776. Điều đặc biệt là Hồ Chí Minh đã đưa tiêu
chí vì dân lên đầu, trong khi A. Lincoln xếp ở cuối. Dẫu sao, ở đây còn
thấy một thiếu sót cơ bản là chưa xác định được chính quyền này phải do
cái gì, do cơ quan nào kiểm tra, kiểm soát ?
II - Dân chủ với tự do –
Dân chủ trở thành lý tưởng của nhân loại vì nó là một học thuyết nhân danh con người và phụng sự con người. Nó bảo đảm tính hợp lý, hợp quy luật, hợp lẽ phải ( chân ); hợp nhân tính ( thiện ); hợp với khát vọng về sự hài hoà và những tình cảm cao thượng của con người ( mỹ ). Những giá trị căn bản phổ biến được dân chủ bao gồm là : quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng về điều kiện hay bình đẳng về cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân trong xã hội, sự thống nhất trong tính đa dạng ( hoà đồng, hoà điệu, chấp nhận lẫn nhau, khoan dung và bảo tồn tính đặc thù ) của các cá thể trong mỗi cộng dồng với nhau trong một quốc gia dân tộc, rộng hơn nữa là giữa các nền văn hoá, văn minh trên trái đất.
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
cách mạng Pháp năm 1789 từng viết : “ Người ta sinh ra tự do và bình
đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền
lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích nguyên văn câu này vào Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt
J.J.Rousseau đã nói đến tự do cá nhân trong “ Khế ước xã hội ” : “ Tự do là từ bản chất con người mà có. Luật đầu tiên của tự do là mỗi người phải được chăm lo cho sự tồn tại của mình. Những điều quan tâm đầu tiên là quan tâm đến bản thân. Ở tuổi lý trí, con người phải tự định đoạt các phương tiện sinh tồn của mình và do vậy, tự mình làm chủ lấy mình ”, “ Từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người và cả nghĩa vụ làm người ”.
Trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trước sự hoang dã của thế giới tự nhiên, con người không thể tồn tại bên ngoài cộng đồng huyết tộc.Cái cá nhân hoà tan tuỵệt đối trong cái cộng đồng. Sức mạnh cá nhân nằm trong sức mạnh cộng đồng. Sức mạnh cộng đồng là tổ hợp đơn giản của sức mạnh các cá nhân. Trong cộng đồng thị tộc, mặc dù khái niệm nhân dân chưa xuất hiện nhưng họ là tất cả các thành viên cộng đồng sống tự do, bình đẳng, không ai tách khỏi cộng đồng đòi hỏi một quyền ưu tiên nào cả. L. Morgan, nhà nhân chủng học Mỹ thế kỷ XIX nhận xét : “ Trong xã hội cộng đồng nguyên thuỷ toàn thể các thành viên trong xã hội thị tộc đều là những người tự do. Họ đều có quyền cá nhân như nhau, cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi quyền ưu tiên nào cả. Họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi quan hệ dòng máu. Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức nhưng vẫn là nguyên tắc của thị tộc ”
Theo thuyết Sáng thế, con người là hình ảnh của Thiên chúa, nên tự do cũng là món quà mà Thiên chúa ban cho con người, tự do tinh thần được coi trọng hơn tự do thân xác. Thậm chí, ngay cả khi con người bị biến thành nô lệ thì sự nô lệ thân xác vẫn không ngăn cản được ý chí tự do.
Những năm 20 của thế kỷ XIX đã xuất hiện cách giải thích tự do theo ý chí luận mà đại diện tiêu biểu là A.Schopenhauer. Ông cho rằng, ý chí là bản nguyên sống cố hữu của con người, ý chí sinh tồn hiện hữu khắp nơi và trở thành ý chí vũ trụ. Thế giới là ý chí biểu tượng của Tôi. Tôi cảm nhận thế giới qua lăng kính ý chí và biểu tượng của Tôi, bởi lẽ thế giới hiện ra không như nó vốn là như vậy, mà qua sự biểu tượng của Tôi. Ý chí của Tôi áp đặt cho thế giới đó một ý nghĩa chủ quan; ý chí tự do và sáng tạo dẫu sao cũng là mù quáng. A. Schopenhauer còn cho rằng tự do ý chí sẽ không còn ý nghĩa nếu khả năng của con người bị giới hạn theo những khuôn mẫu của lý trí. Chân lý duy nhất không dành chỗ cho sự tự do lựa chọn. Độc quyền, nhất nguyên, sự thiếu vắng tự do lựa chọn tự chúng đã mâu thuẫn với bản chất con người.
J.P. Sartre thì đề cập đến sự tự do lựa chọn thái độ sống của mỗi cá nhân. Ông viết : “ Con người là một dự phóng, sống bằng cuộc sống riêng của mình, thay vì là một đám rêu xanh mốc meo, hoặc một bắp cải ôi ” .
Thực ra, tự do cá nhân có chiều cạnh triết học của nó. Chiều cạnh triết học ấy được thể hiện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cái tự do mang tính bản năng với cái tất yếu mang tính xã hội. Triết học luôn cố gắng tìm tòi tính đặc thù của con người so với giới tự nhiên còn lại. Tính đặc thù ấy biểu hiện ở chỗ con người có ý thức, có ý chí tức là nó có tự do, nhưng mặt khác, con người cũng là một bộ phận của giới tự nhiên cho nên nó phải phục tùng những quy luật của giới tự nhiên, trong đó có quy luật nhân quả - quan hệ nhân quả với tư cách quan hệ phổ biến. Chính từ đó đã nẩy sinh một vấn đề quan trọng và nan giải đối với triết học, đó là vấn đề mối tương quan giữa tính chế định nhân quả của ý thức với tự do ý chí. Trong lịch sử triết học, vấn đề này còn được đặt ra và giải quyết như là vấn đề quan hệ giữa tất yếu và tự do ý chí của con người.
Trong khi giải quyết mối quan hệ giữa tất yếu và tự do ý chí ở con người, việc nhấn mạnh hoặc tất yếu hoặc tự do đã đưa tới hai quan điểm đối lập : định mệnh luận và duy ý chí luận.
Các nhà triết học theo quan điểm quyết định luận máy móc khẳng định sự tồn tại của tính chế định nhân quả và coi đó là định mệnh đối với mọi hành động, mọi hành vi của con người, kể cả lối ứng xử có ý chí ở họ. Hoạt động tự do, tích cực của con người là cái không thể có. Mọi hoạt động của con người đều là tất yếu. Không những lối ứng xử của một cá nhân riêng biệt, mà toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử đều được định trước. Con người chỉ là một sinh thể phục tùng một cách thụ động, mù quáng các quy luật của tự nhiên và của xã hội, ý chí của họ không thể để lại dấu ấn ở các sự kiện lịch sử.
Duy ý chí luận giữ một lập trường đối lập hoàn toàn với định mệnh luận. Các nhà triết học theo quan điểm vô định luận cho rằng tự do là tuyệt đối và được thể hiện ra thông qua quyền tự do mong muốn, quyền tự do có động cơ ứng xử; rằng thông qua tự do ý chí, quyền tự do hành động của con người dường như sinh ra từ tự ý thức, từ sự quan sát hàng ngày về người khác và từ tự quan sát của con người.
Khát vọng tự do là cơ sở bùng nổ sáng tạo trong cuộc sống mà cuộc sống là sự thực hiện những khát vọng và bùng nổ sáng tạo ấy. Tuy nhiên, chính cuộc sống lại đặt ra các nhu cầu, những giới hạn, những tính quy định cho hoạt động con người mà thiếu chúng, con người sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ, không thể kiểm soát được. Ở đây nẩy sinh mâu thuẫn, xung đột và đấu tranh giữa người với người, thúc đẩy sự giằng co giữa cái xã hội và cái phi xã hội trong con người.
Tư tưởng dân chủ phân biệt rõ ràng giữa tự do của cá nhân ( con người xã hội ) và tự do bản năng hay thú tính. Tự do mang tính người phải là tự do nhuốm mầu sắc lý tính. Theo Kant, nó phải tồn tại trước hết dưới dạng tự do ý chí, tức là quyền của cá nhân được khẳng định ý chí của mình. Quyền đó chỉ bị hạn chế bởi quyền tự do tương tự của những người khác, vì những người khác cũng có quyền năng như vậy.
Hegel cho rằng tự do ý chí của cá thể không thể thoát ly khỏi tiến trình chung của sự phát triển xã hội. Trong “ Những bài giảng về triết học của lịch sử ” Hegel đã quan niệm tiến trình này là quá trình lột xác và khai nở của ý niệm tự do qua các giai đoạn : 1- Thời kỳ mông muội : không một ai tự do. Thời kỳ xuất hiện xã hội có nhà nước ( nô lệ và phong kiến ) : một người ( phương Đông ), hoặc một nhóm người ( phương Tây ) tự do. 3 - Thời kỳ hiện đại ( xã hội tư sản của Châu Âu thuở ấy ) : một số cộng đồng văn minh tự do. 4 – Tương lai : toàn thể nhân loại sẽ đi đến trạng thái tự do hoàn toàn, khi sự chuyển hoá và thâm nhập vào nhau tới độ đồng nhất giữa tự do ý chí và tất yếu của xã hội, được hoàn tất trong ý niệm tuyệt đối.
Giới hạn của tự do hành động bởi cả bản tính tự nhiên của con người lẫn của thế giới, tạo nên một không gian sinh tồn mang tính xã hội cho con người, hay không gian của tự do. Tự do chân chính chỉ có ý nghĩa với điều kiện là mỗi người thừa nhận những giới hạn của không gian này, cũng như tính tương hỗ hay chế ước nhau của quyền lợi và nghĩa vụ.
Marx và Engels đồng ý với quan niệm của Hegel : tự do là sự nhận thức được tất yếu. Tất yếu nẩy sinh từ bản chất bên trong của các sự vật, hiện tượng và nói lên tính quy luật, trật tự, kết cấu của chúng. Tất yếu tồn tại trong tự nhiên và xã hội dưới hình thức các quy luât khách quan. Tuy nhiên, Marx và Engels đã đi xa hơn khi cho rằng tự do không chỉ là nhận thức được tính tất yếu mà còn là hành động dựa trên sự nhận thức đó, nghĩa là vận dụng nó vào hoạt động thực tiễn của con người. Trong “ Chống Duhring ” Engels viết : “ Tự do không phải là ở sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật tự nhiên mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và cái khả năng – có được nhờ sự nhận thức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định ”, “ Tự do là ở sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên ”
Marx và Engels cho rằng sự hoàn thiện nhất của lịch sử là ở chỗ con người được giải phóng khỏi thân phận nô lệ, trở thành người tự do, được phát triển tự do mọi khả năng lao động sáng tạo của mình, kết hợp được một cách hài hoà sự phát triển tự do của mỗi cá nhân với sự phát triển tự do của cả cộng đồng.
Tự do mà chúng ta hướng tới và đang đạt tới là sự tự do của những cá nhân. Không tồn tại một tự do nào khác ngoài tự do của con người. Nhưng nếu các cá nhân muốn nhận được toàn bộ hay thậm chí là một phần tự do có thể là tự do của họ thì cần phải hiểu là tự do của mỗi cá nhân phụ thuộc vào những gì tất cả mọi cá nhân cùng nhau hợp nhất thành xã hội đã làm được và sẽ làm được. Nó phụ thuộc vào khả năng hoạt động và sự lựa chọn hoạt động mà cá nhân sử dụng. Đến lượt mình, các khả năng và sự lựa chọn có ở mỗi cá nhân lại phụ thuộc vào các phương tiện nào để hoạt động và để đáp ứng nguyện vọng được tạo ra trong xã hội mà cá nhân thuộc về, cũng như phụ thuộc vào việc các thành viên khác của xã hội có cho phép hay không cho phép cá nhân đó làm.
Động viên tinh thần của nền dân chủ, bổ sung nó về mặt đạo dức, dựa vào trách nhiệm của cá nhân và sự tôn trọng của mỗi người đối với quyền và lợi ích của người khác – đó là những điều kiện cần thiết để làm lành mạnh hoá xã hội, sử dụng một cách văn minh các quyền và tự do.
Engels đã chỉ ra mối quan hệ không tách rời giữa tự do và trách nhiệm : “ Con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình, nếu khi thực hiện nó con người có tự do ý chí một cách đầy đủ ”.
Quan niệm cận hiện đại về tự do luôn gắn kết với sự hình thành và khẳng định tư tưởng về con người cá nhân, về xã hội công dân và nhà nước pháp quyền. Tổng thống Pháp F. Mitterrand nói : “ Không có thứ dân chủ không cần đến nhà nước … Nhà nước cấp tiền để thực hiện những quyết định dân chủ dưới dạng các bộ luật hoặc các văn bản dưới luật; nó bảo đảm việc duy trì pháp luật - nỗ lực phải có để thực hiện dân chủ, nó bảo vệ và bảo đảm sức sống của các quyền tự do của nhân dân ”.
Montesquieu từng nói : “ Tự do là quyền làm cái mà luật pháp cho phép. Gíá như công dân có thể làm cái mà luật pháp này ngăn cấm thì hẳn là họ sẽ mất tự do vì những công dân khác cũng có thể làm được điều giống hệt như thế ”. Trước đó J. Locke cũng đã phát biểu : “ Mặc dù những lời lý giải có thể giả dối đến đâu, mục đích của luật vẫn là không thủ tiêu và hạn chế mà là bảo toàn và mở rộng tự do….nơi nào không có luật, nơi đó cũng không có tự do”.
Tuy nhiên, môi trường để cho cá nhân công dân thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ pháp luật với nhà nước là dân chủ.
Nhà nước dân chủ pháp trị coi nhiệm vụ của mình, sứ mạng của mình là bảo đảm tất cả các quyền tự do cho mỗi công dân cụ thể; không cho phép mình phục tùng bất cứ chuẩn mực nào đứng trên hiến pháp, dù là nhà vua hay đảng.
Tuyên ngôn của đảng Cộng sản từng dõng dạc tuyên bố : “ Giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ ”.
Chẳng nhẽ dân chủ là sự thống trị của giai cấp vô sản ? !
Tiếc thay, tư tưởng của Tuyên ngôn này cũng đã được thể hiện rõ ràng trong giải thích của từ điển Triết học Liên Xô: “ … nền dân chủ chỉ tồn tại một cách thực tế đối với những đại diện của giai cấp thống trị ”.
Thực ra, trong học thuyết dân chủ, vấn đề chính trị quan trọng không phải là vấn đề ai cầm quyền, mà là cách thức giám sát việc sử dụng nó. Vì không nhà cầm quyền nào không thể bị quyền lực mê hoặc nên vấn đề chính trị cơ bản không phải là ở chỗ giao quyền lực cho ai, mà thực ra là ở cách thức giám sát hữu hiệu nhất đối với quyền lực thông qua các thiết chế chính trị.
Ưu việt vì dân nhất của chế độ dân chủ là ở chỗ nó bảo đảm khả năng thiết lập sự giám sát đối với hoạt động của những người cầm quyền hay là của những cá nhân có chức quyền. Nó cũng đồng thời cho phép, trong trường hợp cần thiết, phế truất những người cầm quyền mà không sử dụng bạo lực.
Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 đã công bố rõ rầng : “ Khi một hình thức chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên ( bảo đảm quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân ) thì nhân dân có quyền thay đổi hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập một chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào để cho các quyền lực đó có khả năng bảo đảm an ninh và hạnh phúc cho họ nhiều nhất ”
Nhà xã hội học- Triết học người Áo hiện đại K. Popper phát biểu như sau : “Tôi hiểu dân chủ không là một cái gì đó không xác định, giống như “ quyền lực của nhân dân ” hay là “quyền lực của đa số”, mà là một hệ thống các thiết chế ( trong số đó đặc biệt là các cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu, tức là quyền của nhân dân bãi miễn chính phủ của mình ), hệ thống cho phép thực hiện sự giám sát xã hội đối với những người cầm quyền và bãi miễn họ theo ý muốn của những người không cầm quyền, cho phép những người này đạt tới những cải cách vượt khỏi tầm của nhà cầm quyền mà không cần sử dụng bạo lực ”.
Tự do, nếu không bị hạn chế, sẽ tự thủ tiêu bản thân mình. Quyền lực nhà nước cần thiết và có chức năng giám sát tự do nhưng dân chủ càng cần thiết hơn đề giám sát quyền lực nhằm bảo vệ các quyền tự do thiêng liêng chân chính của con người.
III – Dân chủ với bình đẳng
Con người không chỉ có khát vọng tự do mà còn đòi hỏi phải được bình quyền, bình đẳng trong xã hội. Bình đẳng là cái gốc tạo sự công bằng. Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ của Hoa Kỳ ra đời năm 1776 đã mở đầu bằng sự khẳng định một trong những điều thiêng liêng nhất :“ Chúng tôi coi những chân lý sau đây là hiển nhiên : tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng …”. Bình đẳng là một trong những khả năng bẩm sinh của con người. Nó đòi hỏi không được có sự hành xử phân biệt giữa các vị thế xã hội, giữa tuổi tác, màu da, giới tính hay quốc tịch …Nó bao gồm các quyền bình đẳng trong các quan hệ dân sự, thương mại, quan hệ tố tụng, quan hệ giữa người dân với chính quyền …
Kant coi tự do và bình đẳng như là quyền độc nhất, có từ xưa, không bị bất cứ hạn chế nào do điều kiện sống cụ thể. Tự do và bình đẳng liên kết bền chặt hình thành nên phẩm chất con người và cá tính con người.
Tuy nhiên khát vọng tự do, bình đẳng cùng với những yêu cầu điều tiết những mâu thuẫn nẩy sinh giữa các phạm trù này đòi hỏi hình thành quyền lực trong xã hội. Từ đấy nhà nước ra đời. Khi nhà nước xuất hiện, con người, một mặt với tư cách là toàn thể có thêm quyền lực mới : quyền lực chính trị; mặt khác, với tư cách là những người bị trị, bị tước bớt quyền. Quyền lực của họ bị cắt xén, bị thâu tóm, tập trung trong tay nhà nước. Nguồn gốc của quyền lực nhà nước là quyền lực nhân dân, nhưng bệnh quan liêu vốn dĩ của nhà nước luôn có xu hướng tách nhà nước ra khỏi nhân dân, đặc biệt khi bộ máy nhà nước được thiết kế và xây dựng không hợp lý, không có cơ chế kiểm soát.
Quyền lực nhà nước tồn tại như một tất yếu nhằm duy trì trật tự xã hội . Nhưng theo Marx, đã có hai loại trật tự : “ trật tự xã hội cần thiết ” và “ trật tự thặng dư ”. “ Trật tự thặng dư ” là thứ trật tự phụ trội được áp dụng không phải vì quyền lợi của xã hội mà chủ yếu dành riêng cho quyền lợi của những người cầm quyền : nhà nước, đảng … “ Trật tự thặng dư ” là đối lập với trật tự đem lại lợi ích và cần thiết cho xã hội. Những nhà nước thiết lập nên và lạm dụng “ trật tự thặng dư ” để đè nặng ách thống trị lên đầu người dân đau khổ đều từ bỏ cái mà Khổng tử gọi là “ thừa thiên mệnh ”.
Lịch sử từng chứng kiến nghịch lý trớ trêu. Cộng đồng xã hội lập ra nhà nước. Nhưng nhà nước vốn để phục dịch xã hội, chẳng bao lâu trở thành ông chủ đối với xã hội, đứng trên xã hội, thống trị trở lại xã hội. Họ được quyền đặc miễn. Từ đó mà nẩy ra chế độ chuyên quyền độc đoán. Áp bức tràn lan, bất công khống chế xã hội. Tình hình đó làm các nhà tư tưởng tiến bộ nghĩ đến phải có một khế ước xã hội. Con người trong xã hội phải có trách nhiệm lẫn nhau, giữa người cai trị và người bị trị.
Cho nên từ khi nhà nước xuất hiện thì quyền dân chủ thực chất là phải bao gồm những yêu sách về sự bình đẳng chính trị và xã hội của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước, nhằm bảo đảm cho cá nhân có được khả năng hành động theo ý mình, tự quyết định và làm chủ ý chí của mình mà không làm hại đến người khác, và do đó đem lại khả năng giải phóng toàn diện những năng lực bản chất người của mỗi cá nhân. Engels khẳng định : “ Từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là con người, rút ra cái quyền có một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra là cho mọi công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong một xã hội ”.
Muốn có một xã hội dân chủ phải có một hệ thống chính trị dân chủ. Môi trường để cho cá nhân công dân thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ với nhà nước là dân chủ. Dân chủ đóng vai trò như là điều kiện tiên quyết, là phương tiện để xây dựng một thiết chế xã hội tiến bộ - một thiết chế xã hội bảo đảm và hiện thực hoá các quyền tự do và bình đẳng của con người. David Bentham đã chỉ ra rằng : “ Dân chủ là một phương tiện để thực hiện lợi ích chung, bởi vì nó cho phép nhân dân xác định được lợi ích chung đó là gì cũng như kiểm soát quá trình mà ở đó nó được thực hiện một cách có hiệu quả trong thực tiễn ”.
Hệ thống chính trị dân chủ chỉ có thể tồn tại trong một nhà nước dân chủ pháp trị.với những đặc điểm cơ bản sau :