Đối Thoại                                          Website:Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư Số 57 - Ngày 16 tháng 04 năm 2006

 

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

 

Điện Thư - Số 57
Tháng 4 năm 2006
 
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận, Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Điện thư gửi thẳng đến bạn đọc. Nếu bạn cần nhận điện thư hoặc góp ý, yểm trợ xin liên lạc: caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
 

Tin Ghi Nhận:

- Trong nửa đầu tháng 4 này đã xuất hiện hai sự kiện quan trọng: Bản Tuyên Ngôn đòi tự do dân chủ, do 118 người trong nước ký tên; và Tờ bán Nguyệt san “Tự do Ngôn luận” do linh mục Chân Tín công khai làm tổng biên tập. Đây là hai sự kiện quan trọng trong trào lưu đấu tranh cho nền dân chủ của đất nước. Chúng tôi, Câu lạc bộ dân chủ Việt Nam, xin kính chúc quý vị vững bước trên con đường tranh đấu.
- Thượng tướng Lê Thế Tiệm và Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh đã  cho ém nhẹm vụ việc xe lậu để chạy chức, chạy quyền vô trung ương.  Hai ông đã  không báo cáo trung thực về Chuyên án 798-T, xử dụng xe lậu do ban Tài chánh Trung ương mua cho các lãnh đạo đảng như Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt, Tướng Phạm Thanh Ngân...sử dụng.
 
----- O -----
 
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam
2006
của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam

 
Việt Nam, 8 - 4 – 2006
 
Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,
 
Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :
 
I. Thực trạng của Việt Nam
 
1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộcKhoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945 và thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945).
 
Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !
 
2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập (*) nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945).
Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên.
 
3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ǎngghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”.
Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
 
II. Qui luật phổ biến toàn cầu
 
1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !
 
2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.
 
3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.
Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước :
 
III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh
 
1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
 
Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây :
 
- Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.
- Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lậpQuyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.
- Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.
 
2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.
 
3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.
 
Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.
 
Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006
 
----- O -----
 

ĐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democracy Party

http://www.freewebs.com/dangdanchunhandan
dangdanchunhandan@yahoo.com

-----------------------------------------------

Thưa toàn thể Quốc dân Việt Nam,


Vận mệnh đất nước đang lâm nguy, Tổ quốc thiết tha gọi mời tinh thần ái quốc của tất cả các công dân Việt Nam. Được kế thừa danh dự ngàn năm từ các anh hùng liệt nữ, chúng ta đứng lên tranh đấu vì tương lai của chính con cháu chúng ta. Thời cơ để góp sức cho nước nhà đã đến, chẳng nên bàng quan đứng nhìn cơ đồ muôn đời ông cha ta phút chốc bị sụp đổ trong tay đảng cộng sản độc tài. Thực tiễn Việt
Nam kêu gọi những hành động dấn thân hơn nữa từ mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Với nhận thức nhiệt thành ủng hộ, đoàn kết cùng các cá nhân, lực lượng yêu nước đấu tranh vì nền dân chủ Việt Nam; đảng Dân chủ Nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần can đảm dấn thấn yêu nước của 118 người ái quốc trong danh sách Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006.
 
Tuần tự công khai hoá các hoạt động tranh đấu bất bạo động, từng bước tiến tới đấu tranh nghị trường luôn là một sách lược được thực thi của đảng Dân chủ Nhân dân. Nội dung Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 là một đối diện thực tế nêu bật lên được những nhận định thể hiện đầy sức sống, sức khám phá và tình thế nước ta trong một giai đoạn quan trọng - giai đoạn chứa những cơ hội đủ sức lột xác hòng vươn lên ngang bằng với những lân bang cùng cảnh ngộ. Mỗi khi xã tắc lâm cơn nguy biến, con dân dám chấp nhận hy sinh, truyền thống người Việt Nam ta xưa nay vốn vậy. Nghĩa cử 118 nhân sỹ hào hùng ký tên vào Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ sẽ được lịch sử dân chủ nước nhà ghi nhận. Đất nước hoàn toàn có quyền vững tin vào một tương lai tươi sáng, khi có được những người con bất khuất như các vị.

Đến hôm nay, thái độ cam phận sống cùng bất công, đói nghèo đã không còn hợp thời nữa. Điên cuồng đánh phá trào lưu đòi dân chủ trên toàn quốc chỉ là hành động bán nước hại dân của một thiểu số đảng viên cộng sản khư khư bám chặt tư lợi đặc quyền. Nhưng không vì một nhóm phản động kia mà hơn 80 triệu người Việt Nam ở trong nước lẫn hải ngoại không thể bắt tay liên kết cho những suy tư lớn, những chuẩn bị lớn… Dân chủ hóa nước nhà là giải pháp tối ưu giúp Việt
Nam thoát khỏi quốc nạn tham nhũng, bất công, tụt hậu… để phát triển hội nhập cùng thế giới. Trong hoàn cảnh hiện tại, chủ trương tiến công quyết liệt vào chế độ độc tài Cộng sản là nhiệm vụ hàng đầu của toàn dân .
 
Con đường đi tới dẫu lắm nguy nan song không hề vì vậy mà toàn thể anh chị em đảng viên đảng Dân chủ Nhân dân dám thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, vui buồn đời lao động; tất cả đảng viên Dân chủ Nhân dân trên toàn quốc và thế giới nguyện một lòng đi tiên phong trong công cuộc dân chủ hoá nước nhà, từng bước tiến công vào cơ cấu độc tài toàn trị cho đến ngày chúng sụp đổ hoàn toàn.

Liên tục trong thời gian qua, đảng Dân chủ Nhân dân đã mãnh liệt thực thi các hoạt động thiết thực. Đáp lại lời kêu gọi tranh đấu dân chủ, nhiều công dân nam nữ thuộc mọi tầng lớp trong xã hội không quản hiểm nguy đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Đảng. Sức mạnh có thể đập tan chế độ Cộng sản độc tài hiện nay chính là tác phong hành xử chuyên nghiệp, phương cách làm việc có tổ chức, hoạt động có phối hợp trên phạm vi toàn quốc và hải ngoại. Nhiều chương trình huấn luyện được thiết lập, nhiều kế hoạch làm việc đã phát động. Mang một lương tri thời đại, tất cả công dân Việt
Nam hãy bỏ lá phiếu ủng hộ nền dân chủ nước nhà bằng chính những hành động cụ thể của mình.

Tranh đấu cho quốc gia phồn vinh, dân sinh cường thịnh là quyền và trách nhiệm của tất cả những con người có huyết thống Việt; hoàn toàn không xuất phát từ sự ban ơn của đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản phải chịu trách nhiệm về sự tụt hậu của Việt
Nam suốt bao nhiêu năm qua. Khát vọng tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân phải được thực thi. Điều 4 hiến pháp phải được xóa bỏ; quyền tự do hội họp, thành lập đảng phái, sinh hoạt tín ngưỡng v.v... phải được công nhận. Chỉ có xã hội dân chủ mới huy động được toàn lực quốc gia để xây dựng nước nhà. Thế hệ tương lai Việt Nam không thể tiếp tục chịu đựng xếp hàng tung hô những điều nhảm nhí mà cả thế giới hôm qua đã vứt vào sọt rác lịch sử. Lộ trình phát triển Việt Nam phải là công sức hoạch định, đóng góp của toàn thể nhân dân; không thể là đặc quyền tự tác như họ đang âm mưu thực hiện trong đại hội X Cộng sản hiện nay.

Rồi đây, cuộc tranh đấu vì quyền con người tại Việt
Nam sẽ tiếp tục với một tầm vóc lớn mạnh hơn. Phấn đấu xây dựng một nền chính trị dân chủ và dân quyền là định hướng tương lai cả dân tộc trong nhiều thập kỷ tới. Hạnh phúc và mong ước của nhân dân phải được tôn trọng. Đó là lý tưởng của nhiều công dân ái quốc Việt Nam
, đang nỗ lực thực hiện từng ngày và sẵn sàng chết cho niềm tin này.

Việt
Nam, ngày 12 tháng 04 năm 2006.
 
Dân chủ nhất định thắng !
TV/TW Đảng Dân chủ Nhân dân
Nguyễn Hoàng Long
 
----- O -----
 
Tình hình bất đồng chính kiến ở Việt Nam

 

Huỳnh Việt Lang – ĐDCND

 

“Đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.”


 
Trong tình hình đất nước hiện nay, song song với việc kiện toàn hệ thống lý luận dân chủ, việc phát triển lý thuyết xây dựng tổ chức tranh đấu dân chủ cũng là một công tác quan trọng. Đấu tranh vì dân chủ là đấu tranh chính trị, đấu tranh chính trị về mặt hình thức là trước hết là đấu tranh tổ chức. Trong giới hạn bài viết này, người viết chỉ đề cập đến tình hình chung của xu hướng dân chủ trong nước; nhằm đảm bảo yếu tố an ninh, không đi sâu vào tình hình của bất cứ tập thể chính trị (đảng, câu lạc bộ, tập hợp) cụ thể nào trong nước.
 
Thực trạng sóng ngầm bên trong Việt Nam chưa bộc lộ hoàn toàn với cộng đồng hải ngoại, một phần do thông tin trao đổi giữa trong và ngoài nước chưa thực sự thông suốt. Bài học thực tế đã xác nhận: đa số nguyên nhân gây ra bại lộ tổ chức từ những năm 1980 đến nay, dẫn đến tình trạng nhân sự trong nước bị bắt hàng loạt thường xuất phát từ những mối liên hệ với người ngoài nước. Cộng đồng hải ngoại có vẻ đã chểnh mảng trong việc thanh lọc các tổ chức của mình. Kể từ sau vụ án gián điệp Đặng Mỹ Dung (Yung Krall) tháng 01/1978 do CIA cộng tác với FBI thực hiện, dẫn đến việc một trong những người điều phối mạng lưới điệp viên cộng sản ở Mỹ - đại sứ VN tại Liên Hiệp Quốc là Đinh Bá Thi bị trục xuất; khoảng thời gian còn lại là một tình trạng êm ả đáng sợ suốt gần 30 năm qua. Ðiệp viên cộng sản VN sang Mỹ trước 1975, ngay trong và sau 1975; sau đó là vào năm 1978 theo chủ trương cho người Tàu rời VN. Ðợt chuyển quân rầm rộ cuối cùng nhất nằm ngay trong chương trình ODP được thực hiện qua kế hoạch H. Phòng tuyến hải ngoại chống độc tài đã bị hở lưng trước mạng lưới tình báo cộng sản VN tại Tây Âu và Bắc Mỹ. Điều này khiến nhiều người trong nước khó tránh được ánh mắt nghi ngờ khi nhìn sang kia bờ Thái Bình dương. Các tập thể đấu tranh trong nước rất thận trọng trong việc liên lạc bên ngoài…

Từ vị trí của mình, mỗi người có quyền đặt vấn đề theo mỗi góc độ khác nhau. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu phân tích tập hợp bất đồng chính kiến Việt
Nam như là một tổ chức đối lập có nền tảng thể chế chung, tập trung quanh một hệ thống lý thuyết có lý luận chặt chẽ. Trong thực tế, những người yêu nước Việt Nam tìm đến dân chủ như một giải pháp tối ưu nhằm giải thoát tình trạng luôn bị áp chế tùy hoàn cảnh cá nhân, tập thể nhỏ và tầng lớp của mình. Xu hướng đấu tranh dân chủ trong nước là một hệ thống mở, có khả năng hòa nhập nhiều cơ chế hoạt động không rập khuôn nhau. Nương theo những quy phạm dẫn đạo (code of conduct) các đoàn thể vì lợi ích chung mà đối thoại để cùng hướng đến mục tiêu trước mắt: triệt hạ chế độ độc tài của đảng cộng sản. Hình thức đấu tranh võ trang đã rút lui vào quá khứ để thay thế vào đó là những phương thức đấu tranh cách mạng phi bạo lực.
 
Trong cuộc cách mạng dân chủ hiện nay, người chiến sĩ cách mạng không đợi chờ những ưu đãi từ cơ chế chính trị đương quyền mà là khả năng tự tạo ra lợi thế cạnh tranh, thuyết phục quần chúng ủng hộ cách mạng. Diễn biến chính trị hôm nay phụ thuộc phần lớn vào sức mạnh của trí tuệ. Hiện tượng hàng loạt nước Đông Nam Á và Á châu phát triển mãnh liệt nhờ vào nguồn lao động có kỹ năng giai đoạn cuối thế kỷ XX đã minh chứng cho nhận định này. Công nghệ thông tin đã rút ngắn được khoảng chênh lệch về tầm cỡ phát triển giữa Âu Mỹ và Á châu, chẳng riêng trong lĩnh vực kinh tế mà cả chính trị và công nghệ tiến hành cách mạng cũng vậy.

I. Những thiếu nữ đánh thanh la

Đầu tiên, ở Việt
Nam không có nhiều lắm những “nhà bất đồng chính kiến” - chỉ có những người bất đồng chính kiến. Tự bản thân những người hoạt động dân chủ đều nằm lòng một điều tối hậu rằng: trong cuộc đấu tranh cùng nhân dân, họ sống trong lòng nhân dân vì bản thân họ cũng thường là một thường dân; họ xa lạ với những đại từ “nhà’ hay “lều”. Các chiến sĩ dân chủ ở vùng nông thôn là những người biết làm ruộng, biết quấn thuốc rê, xử dụng thành thạo các ngôn từ dân dã… còn những người vào thành phố thì biết đạp xích lô, từng làm cu-li khuân vác và chạy xe ôm… Tức họ thực sống cùng nhân dân nên những điều họ nói ra dễ trở nên lọt tai với đại đa số quần chúng. Hơn nữa, khái niệm “bất đồng chính kiến” thì nặng về tầm mức nhận thức và dễ thường nằm lại ở đâu đó trong tầng lớp trí thức – không phản ánh hết được phạm vi xuất thân và hoạt động thực tiễn của những người đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay.

Thậm chí trên nhiều diễn đàn chính trị hiện nay, những người ái quốc trong nước đang chỉ làm công việc của một trạm phát tín hiệu: “Chúng tôi - những người yêu dân chủ đang có mặt” - hơn là cố công biểu diễn những ý tưởng cá nhân. Nhân dân đã nhận và chắc chắn sẽ hồi âm. Đó là một trong những thực tế hôm qua của chính người viết bài này. Những người bất đồng chính kiến hiện nay trong nước đều hiểu rõ các điều sau:

- Trước khi cùng toàn dân phất lên những hiệu kỳ vàng, đỏ hay cam…trong cuộc đại diễu hành trên toàn quốc, chính bản thân những người dân chủ xuất hiện công khai sẽ làm thay thế chức năng của những hiệu kỳ.

- Trừ một vài cá nhân có thể đếm được trên một bàn tay, tất cả những người yêu dân chủ trong nước hôm nay chưa hề được qua bất cứ một trường lớp đào tạo chính quy nào để trở thành chính khách. Hành trang bước vào phong trào của mọi người chẳng có gì ngoài một một lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa dân chủ.

Để hiểu thêm về những người dân chủ đấu tranh trong nước, ta có thể viện dẫn một câu chuyện sau: Vào năm 1789, Quốc dân nghị hội Pháp đưa bản tuyên ngôn nhân quyền lên nhà vua. Điện
Versailles vẫn mở yến tiệc linh đình, coi thường bản ý nguyện dân chúng. Mọi người thất vọng và căm phẫn. Nhà hùng biện Danton bước lên diễn đàn, thao thao bất tuyệt luận tội nhà vua. Ông ta nói chúng ta thiếu bánh ăn là vì nhà vua, hãy lôi nhà vua ra chợ thì anh em sẽ hết đói. Đám đông thính giả say sưa nghe Danton thuyết trình. Giữa lúc ấy có một thiếu nữ bước ra, vừa đánh thanh la vừa hô to: Hãy trả bánh ăn cho chúng tôi. Một số thiếu nữ khác ùa theo, đám đông rùng rùng cất bước. Người ta cho rằng, nếu hôm ấy không có người thiếu nữ Pháp đánh thanh la, lịch sử nhân loại sẽ không hề biết tới trên đời này có một bản tuyên ngôn đề cập đến nhân quyền. Bởi dân chúng hôm ấy có cuồng nhiệt đến đâu, rồi có lẽ cũng sẽ… giải tán, một khi nhà diễn thuyết Danton hạ đàn. Đa phần những hạt nhân dân chủ hôm nay gần hơn trong vai trò người thiếu nữ đánh thanh la, hơn là một nhà diễn thuyết hoàn hảo như Danton.

Do đó, chuyện thử đi điểm danh các lãnh tụ phong trào dân chủ ở Việt
Nam là một công việc vô bổ. Những người nhiệt huyết tự đứng ra đảm đương các công tác quan trọng trong nhóm, họ hoạt động với tư cách là người dám chịu trách nhiệm nhiều hơn người khác, hơn là - với tư cách một thủ lĩnh nắm quyền. Những hạt nhân dân chủ này cảm nhận sự nóng lạnh của đời sống nhân dân ngay trên da thịt và bao tử của chính mình. Khả năng tiếp cận các phương cách hoạt động bài bản từ Đông Âu và Trung Á quá nhọc nhằn, sau khi vượt qua sau những kiểm duyệt khắc nghiệt của chế độ độc tài cộng sản. Khái niệm “một đa số thầm lặng” không còn chính xác trong xã hội Việt Nam hôm nay. Một đám đông im lặng, ít lên tiếng song chẳng phải vì vậy mà đồng bào ta không nghe, không đọc và không trăn trở. Thay vào đó, mạng lưới cảm tình viên chính là hệ thống thần kinh ghi nhận các biến đổi của xã hội, nhanh chóng phản hồi về trung tâm, trước khi tiếp nhận lại các biện pháp đối phó.

Cuối cùng đặc điểm chắc chắn để nhận diện những người đấu tranh dân chủ là họ thường có khả năng làm việc như một lực sĩ; bên cạnh khả năng cố gắng chu toàn việc chung, họ cũng có một gia đình với tất cả những nhu cầu cơm, áo, gạo, tiền như bao người dân bình thường khác.

II. Sự phân tán về nhân sự và tổ chức

Để có thể chống đỡ hữu hiệu những áp chế từ bên trên xuống, hàng ngày phải đương đầu với PA 25 (phụ trách an ninh văn hoá) và PC35 (cục phản gián), tình trạng phân tán của lực lượng phù hợp với sách lược chú trọng đẩy mạnh các hoạt động dân chủ cấp cơ sở. Trước cơ cấu tổ chức lực lượng công an – công cụ đàn áp của chế độ - có đến 70% là cảnh sát, đặc điểm phân mảnh về tổ chức của phong trào dân chủ đã tỏ ra thích ứng.

Việc trông mong vào động thái thay đổi bên trong các định chế nhà nước độc tài cộng sản dẫn đến khả năng mở rộng không gian chính trị, tính đến thời điểm bế mạc kỳ họp hội nghị trung ương lần thứ 12 của đảng cộng sản VN, là một thất vọng bất khả biện minh. Sự kiên nhẫn chịu đựng của nhân dân trước tệ quan liêu và tham nhũng của hệ thống công quyền đã đến những giới hạn cuối cùng. Phần việc còn lại là tính năng động của xã hội dân sự, với đầu tàu là lực lượng dân chủ trong nước. Phương cách đấu tranh hiện nay là biết lẫn vào trong nhân dân, chứ không phải là bước ra khỏi hàng ngũ để thực hiện vị thế lãnh đạo của mình. Chính lòng dân là chiến lũy, là pháo đài che chở tốt nhất cho các hoạt động cách mạng dân chủ. Nhờ sự ủng hộ của đồng bào và hồn thiêng sông núi, những nhân sự khả dĩ lãnh đạo quần chúng trong vụ nổi dậy mùa Hè thu 1997 ở Thái Bình và khu hữu ngạn sông Hồng, đêm 21 tháng 3 năm 2005 ngay trung tâm Sài gòn vẫn tồn tại trong vòng bí mật. Đây là những minh chứng về hoạt động liên kết giữa xu hướng dân chủ với xã hội dân sự Việt
Nam.

Việc phân tích phong trào dân chủ đối lập trong nước hiện này cần được hiểu là một cơ chế đấu tranh, những quan điểm phân tích xuyên qua lăng kính một cơ chế chính trị trong mô hình xã hội nguyên chính trị ổn định chỉ khiến đẩy câu chuyện ngày càng đi xa khỏi thực chất hiện trạng nước ta. Từng bước tiến đến đấu tranh trực diện, các cơ sở được giao nhiều quyền chủ động. Bằng kỹ thuật nghịch đảo, một lãnh đạo an ninh cộng sản cao tay dư khả năng xác định được mục đích của một phong trào phản kháng trong xã hội. Nhưng để chặn đứng được quy trình phát động của cách mạng dân chủ thì chưa chắc sự đoàn kết của 13 ủy viên bộ chính trị cộng sản có thể giải quyết nổi. Đó là những gì đã diễn ra và chắc chắn không chỉ dừng lại ở Kyzgystan hôm qua. Chính hiện trạng đa nguyên của lực lượng dân chủ Việt
Nam trong nước và hải ngoại đã đem lại lợi thế này. Khi chỗ đứng của công dân luôn bị đặt trong vị trí bất xứng trong mô hình nhà nước toàn trị thì để đối ứng, lực lượng dân chủ được xây dựng trên một cấu trúc phi tập trung là cần thiết.

Mặt khác, những gì đã diễn ra ở Đông Âu chưa chắc xảy ra ở Việt Nam, một khi thực trạng nước ta lại gần hơn với Trung Á. Tế nhị hơn, lực lượng dân chủ Trung quốc sau cơn chấn động Thiên An môn đã có những cái nhìn tham khảo sang Việt Nam (1). Trong trận chiến dân chủ hôm nay, cần có một cái nhìn khách quan về thời cuộc là một trong những yêu cầu tối hậu. Dân chủ Việt
Nam sẽ thành công nếu chuyển tải được những bản sắc Việt Nam
, mọi sự mô phỏng cứng nhắc đều ẩn tàng những nguy cơ tự sát. Hạ thấp trình độ của đối phương là đồng nghĩa khinh suất trong chiến lược, thất bại về chiến thuật, là có tội với nhân dân, chiến hữu.

III. Hoạt động xã hội của phong trào dân chủ

Liên tiếp từ cuối năm 1996 sang đầu năm 1997, công nhân Sài gòn đã phát động 8 cuộc đình công từ quy mô nhỏ (150 tài xế taxi Vina) đến mức độ lớn (800 công nhân xí nghiệp may Khánh Hội, 1.000 công nhân khu chế xuất Tân Thuận). Ngay trưởng phòng PA.15 vào thời gian này là đại tá Huỳnh Hạnh cũng nhận định: “Có sự chỉ đạo ngầm của nhóm kháng chiến cũ…”

Khái niệm “bất đồng chính kiến” ngày càng tỏ ra không còn thích ứng trước thực tế đấu tranh dân chủ ở Việt
Nam
. Bởi với những công việc mà các chiến sĩ dân chủ trong nước đã thực hiện được đến hôm nay, nếu gọi họ là những người “bất đồng chính kiến” e rằng không phản ánh hết được bình diện hoạt động trong xã hội của họ. Các hoạt động dân chủ trong nước không chỉ giới hạn trong việc đưa ra các kiến nghị, đề đạt trong lãnh vực chính trị; một khi những yêu cầu bảo vệ nhân quyền ngày trở nên cấp thiết hơn. Với thực chất thuần tuý là một tổ chức ngoại vi của chế độ, công đoàn nhà nước đã lẩn tránh vai trò đại diện cho người lao động thành thị. Trong các cuộc đình công, những thủ lãnh công nhân tự phát/tự giác đã khẳng định được vị trí của mình trong hàng ngũ những người dân chủ hoạt động không công khai. Tuy nhiên cũng cần khẳng định rằng, bên cạnh các hạt nhân phong trào, yếu tố dẫn đến thắng lợi trong các cuộc đình công chính là tinh thần quật cường của anh chị em công nhân. Những người lao động này đã đem nồi cơm của mình ra đối đầu với sự bất công, dũng cảm đứng lên vạch trần chính sách pháp lý vô đạo đức của nhà nước XHCN (2). 

IV. Tình trạng ẩn danh, đa nguyên về quan điểm

Bản chất của cuộc đấu tranh dân chủ Việt Nam hôm nay là sự xung đột giữa thiểu số độc tài thống trị và đa số lầm than bị trị, mức độ đã dần chuyển đến ngưỡng một mất một còn. Trong lúc thời cơ hành động chưa chín muồi, phải bảo toàn lực lượng luôn là mục tiêu thiết thực được đề ra, việc xuất hiện công khai chưa phải là yêu cầu cấp bách. Công cuộc đấu tranh dân chủ nước nhà trong giai đoạn hiện nay chưa phát triển đến hình thức đấu tranh nghị trường, cho nên, tình trạng nhân sự cần ẩn danh hoạt động bí mật là hoàn toàn hợp lý. Sách lược bảo toàn lực lượng này thích ứng để đương đầu cùng một chế độ phi chính thống - hoàn toàn không do dân cử, điên cuồng bám giữ sự tồn tại bằng các bằng các phương tiện bạo lực (công an, mật vụ, lao tù). Trong bầu không khí chính trị khắc nghiệt đó, có quá ít chỗ cho việc tồn tại những quan điểm độc lập phi cộng sản, do đó việc phải bảo vệ sự tồn tại những chính kiến bất đồng bằng phương án đấu tranh ẩn danh là hoàn toàn hợp lý.

Quá trình tranh đấu cho dân chủ không hề giống việc nhìn cây sung, để ngày qua ngày há miệng đợi quả rụng mà là một quá trình làm việc cật lực nhiều năm tháng. Kết quả thành bại trong cuộc đối đầu công khai giữa lực lượng cách mạng dân chủ với nhà cầm quyền độc tài là dựa vào thực lực, hoàn toàn không giống một trận đấu võ mồm đầy hoang tưởng. Trong tình hình đặc thù Việt
Nam hiện nay cũng cần xác định rằng, biểu tình không phải là hình thức đấu tranh ôn hòa thuần túy, chiến tranh biểu tình là một hình thức đấu tranh bạo lực chính trị. Khi cuộc chiến biểu tình đã phát động, lực lượng cách mạng đã chính thức chuyển sang đấu tranh công khai trực diện cùng nhà cầm quyền, lúc ấy, sẽ không có đất để lực lượng cách mạng rút lui hoặc thỏa hiệp.

Mặt khác, mục tiêu đấu tranh của dân chủ là xây dựng một xã hội đa nguyên về chính kiến. Do đó, hiện tượng xuất hiện các ý kiến khác nhau trong xu hướng chung dân chủ là một tất yếu. Chẳng có lý do gì cần phải nhân danh để xóa bỏ hay dập tắt sự dị biệt giữa các ý kiến, trừ phi muốn tạo một hình thức đoàn kết có tính mị dân hoặc cổ xúy cho một định chế độc tài mới.

Đang ở trong nước, người viết muốn đặt vấn đề từ góc độ này. Ở đây thuần tuý là một sự trao đổi, hòng mong qua đó, chúng ta rút ra những đóng góp nhất định cho phong trào chung. Tất nhiên, đối đầu cùng một chế độ độc tài chuyên nghiệp không thể chỉ bằng một lực lượng cách mạng nghiệp dư. Việc chú tâm đào tạo lực lượng cán bộ dân chủ có kỹ năng cao là một mục tiêu sanh tử của các tập thể chính trị dân chủ hôm nay. Nếu trong kinh tế, một trong những vũ khí quyết định thành bại trong nền kinh tế cạnh tranh thế kỷ XXI là kỹ năng của lực lượng lao động thì trong chính trị, kỹ năng làm việc của các cán bộ đấu tranh chính trị sẽ quyết định sự thành bại của cách mạng dân chủ.

Sài gòn, ngày 26/07/2005

(1) Nhà hoạt động dân chủ Vương Bính Chương (Wang Bingzhang) thường trú nhân Hoa Kỳ bị an ninh Trung quốc bắt trên lãnh thổ Việt Nam hồi tháng 07/2002, tòa Thẩm Quyến tuyên án tù chung thân. Theo BBC và RFA ngày 22/01 và
10/02/2003
.
Riêng ở hải ngoại, mới đây nhất có lời kêu gọi của phong trào Cửu Bình (www.9binh.com) mời người Việt tự do tham gia tập hội ở Washington DC vào trưa ngày 22/07/2005, kỷ niệm 3 triệu người thoái đảng ở Trung quốc.

(2) Tính đến thời điểm tháng 06/2005, gần 100% các cuộc đình công đã và đang xảy ra đều vi phạm pháp luật nhà nước XHCN; toàn thể những người lao động tham gia đình công đều có nguy cơ bị sa thải hợp pháp, thậm chí bị truy tố trách nhiệm hình sự - nếu giới chủ căn cứ vào bộ Luật Lao động nhà nước XHCN ở các điều 173, 174 và 178.


Tài liệu tham khảo:

- “Political Change in
Vietnam: in search of the middle class challenge to the state”, tạp chí Asian Survey, 2002. Của Martin Gainsborough.
- Tiểu luận “Ðiều kiện hình thành chính thể Dân Chủ tại Việt
Nam”; “Quyền Vi Chính”, 2004 & 2005. Của Việt Bào Phạm Văn Bản.
- Tiểu luận “Thử phán đoán cho một lộ trình dân chủ hóa nước nhà”, tháng 03/2005. Của Vân Việt Hà.
- Tiểu luận “Dân chủ hóa Việt
Nam - hiện thực và khả năng”, Mùa Xuân 2004. Của Lê Tùng Minh.
- “Tiểu luận số 1: Bảy hạn chế lớn của bất đồng chính kiến ở Việt
Nam” tháng 07/2005. Của Lâm Yến.
 
----- O -----
 
Những lãnh đạo lưu manh

Nguyễn Sơn – ĐDCND

 

“Độc tài, độc đảng là bà đẻ của tham nhũng vì hệ thống cai trị dựa trên sự bao che và tuỳ tiện để bảo vệ đặc lợi cho đảng cầm quyền, tạo ra một tầng lớp cai trị lưu manh “hồng hơn chuyên” toa rập nhau, đứng trên các qui định của pháp luật và sử dụng pháp luật để biện minh cho vai trò nhà nước độc tài nhằm nuổi dưỡng tham nhũng.”
 
Tình trạng đảng viên lãnh đạo cao cấp đảng csvn tham nhũng, đục khoét công quỹ đã đến mức bút mực không ghi hết tội. Trong khi Trung Quốc đã xử bắn nhiều đảng viên can tội tham nhũng thì taị Việt Nam, dù vẫn còn áp dụng luật tử hình nhưng chưa thấy đảng đem những lãnh đạo lưu manh ra trị tội.
 
Các cấp lãnh đạo đảng ở ngành Dầu Khí, tham nhũng hàng triệu dollars cũng chỉ bị tuyên án vài năm tù. Trong tù, có tiền chạy chọt, đút lót sống thoải mái, vô tư như ở ngoài đời, thậm chí họ còn có thể tung tiền ra để chạy được trại giam tốt. Tham nhũng bị vài năm tù, ra tự do ôm chục triệu dollars sống đế vương “hạ cánh an toàn” tại sao phải sợ? Vụ án dính đến Nam Cam, thiếu tướng Bùi Quốc Huy UV Trung ương đảng được tha rất sớm. Riêng vụ bà Lã thị Kim Oanh, bản thân bà Oanh bị án tử hình nhưng các đảng viên trung ương có dính líu vẫn bị xử phạt rất nhẹ, tượng trưng.
 
Dư luận cho rằng ngày nào đảng csvn tử hình vài trăm kẻ tham nhũng “gộc” liên hệ đến lãnh đạo như trong Bộ Giao Thông Vận tải cỡ Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến...thì tệ nạn tham nhũng mới có khả năng giảm. Giảm chứ không thể chấm dứt được vì vấn nạn của tham nhũng không chỉ giải quyết bằng án tử hình, nó chỉ giúp cho Đảng thuyết phục được dư luận trong và ngoài nước rằng một số lãnh đạo đảng csvn đang quyết tâm bài trừ tham nhũng để cứu đảng.
 
Vụ án PMU18 hiện đang còn rất nóng. Dù Nguyễn Việt Tiến, Thứ trưởng thường trực Bộ GTVT đã bị bắt nhưng dư luận vẫn chưa an tâm. Còn bao nhiêu đảng viên cao cấp cỡ Bộ trưởng, thứ trưởng có dính líu đến PMU 18, còn cả ngàn PMU 18 khác chưa được phát hiện hay đang được Đảng che đậy? Với tiềm năng quản lý một số tài khoản hàng tỷ dollars, PMU 18 không thể một mình ăn hết được. Các lãnh đạo Bộ GTVT phải chia chác, phân phối tài khoản đồng đều đến các con sâu tham nhũng ở những bộ phận khác từ chục năm nay theo phương cách ăn đồng chia đều. Hiện tượng cho hàng trăm ô tô đến các cơ quan, ngành…. xác minh được mối liên hệ chia phần này.
 
Một cách duy lý, nếu Bùi Tiến Dũng không “đấm mõm” ông Nguyễn Việt Tiến thì ông Tiến không để yên cho Dũng ăn. Ngược lại, ông bộ trưởng Đào Đình Bình không phải dại đến nỗi để cho cấp dưới tham nhũng hàng trăm triệu dollars, đưa người nhà vô nắm các vị trí ngon trong Bộ GTVT, còn bản thân ông Bộ trưởng thì không liên hệ gì hết, chỉ vì ông cho biết đã “xử lý không nghiêm minh” mà vụ việc tham nhũng mới tày trời như vậy.
 
Sau khi biết mình có thể bị bắt, Bùi Tiến Dũng đã tung gần nửa triệu dollars để cho đàn em lo chạy án. Cuộc họp bàn kế chạy án có mặt hai thứ trưởng và một cán bộ lãnh đạo cao cấp ngành an ninh, thiếu tướng Cao Ngọc Oánh. Ai là những kẻ giấu mặt liên hệ với Bùi Tiến Dũng trong cuộc họp bàn kế chạy án? hai lãnh đạo cấp thứ trưởng đó là ai? thuộc bộ nào?. Ngoài 100 ngàn dollars đưa cho Dũng “Huế” để chạy án, số còn lại 400 ngàn dollars đã chia cho ai trong cuộc họp mặt tại khách sạn Melia, Hà Nội? Những khúc mắc này chắc có liên quan chằng chịt đến đường dây ăn đồng, chia đều từ Bộ GTVT đến các Bộ khác.
 
Tham nhũng, bệnh ngoài da
 
Mới đây, theo TTX VN hôm 31 tháng 3, 2006 Nhật Bản lại chính thức rót thêm hơn 700 triệu dollars nữa cho các dự án xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở như  “ xây dựng nhà máy nhiệt điện Ninh Bình II, xây dựng cầu Nhật Tân (cầu Hữu Nghị Việt-Nhật), cầu sông Hồng, cải thiện môi trường nước thành phố Sài Gòn giai đoạn 2, cải thiện môi trường nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2, viện trợ đào tạo công nghệ thông tin bậc phổ thông trung học, xây dựng hệ thống tưới tiêu Phan Ri-Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận), xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ ở những khu vực nghèo khó và nâng cấp những cơ sở y tế địa phương.”
 
Đây là những khoản tiền béo bở mà hầu hết sẽ do PMU 18 bao thầu nếu không bị phanh phui. Nhật là quốc gia cho Việt Nam vay nhiều nhất với khoản tiền lãi nhẹ, cạnh đó ngân hàng thế giới cũng góp phần không nhỏ trong việc cho vay để xây dựng các công trình có tầm mức quốc gia. Thực ra, tham nhũng đục khoét công quỹ chỉ là bệnh ngoài da. Với mức độ tham nhũng cỡ  Bùi Dũng Tiến, nếu 300 triệu dollars chạy vô túi Dũng và bọn lãnh đạo lưu manh trong tổng số 1 tỷ dollars dự án thì vẫn chưa đáng nguy hiểm. Cái đáng sợ nhất là số còn lại tiếp tục bị ăn, bị khấu trừ vào những công trình dởm do quá trình đục khoét, rút ruột qui mô từ nhiều cơ phận, khó lòng truy ra và liên hệ đến hàng ngàn cá nhân khác. Kết quả là để lại cho nhân dân, đất nước một gia tài rỗng ruột, một gánh nặng nợ khổng lồ gồm những công trình què quặt, mất chất lượng dẫn đến nguy cơ tại nạn với biết bao thảm hoạ khó lường. Chỉ cần một cơn địa chấn nhẹ, vài trận bão to, lũ lụt...những công trình xây dựng hạ tầng cơ sở “dởm” sẽ sụp đổ hàng loạt, kéo theo hàng ngàn người thiệt mạng, cả nước sẽ rơi vào cảnh bị tàn phá, thiệt hại rất khủng khiếp.
 
Cầu và hầm chui Văn Thánh mới vừa khánh thành xong thì đã thủng. Đường cống ngầm vừa đặt xuống đất thì có dấu hiệu bỉ rỉ rò. Hệ thống nước làm dối gây ra nạn chất dơ ngấm làm đường nước bị đen. Theo tin báo Thanh Niên, ngày 4/4, người dân ở đường Cao Thắng nối dài, P.12, Q.10 (TP.HCM) đã phát hiện hệ thống cống tròn đặt phía sau nhà bị lún, mối nối giữa 2 đốt cống lẽ ra phải có bê tông bịt lại, nhưng đơn vị thi công đã không làm, để hở rộng khoảng 5cm, khiến nước chảy tràn lan ra ngoài.
 
(Đường lún khi vừa thi công xong)
 
Đường Nguyễn Hữu Cảnh vừa thi công xong thì bị lún vì bỏ qua nhiều công đoạn quan trọng. Hiện tượng đúc cột tiêu bằng bê tông cốt tre thay vì cốt sắt. Hiện trạng Cầu Phả Lại thi công dối, rút ngắn tiến độ thi công để chạy theo thời gian nên đổ xi măng khô nhanh làm mặt đường bị nứt khi chưa hoàn tất. Nhiều công trình mới có khả năng bị hư hại, sụp đổ vì sử dụng xi măng dởm, trộn tỷ lệ cát cao hơn xi măng, hàng loạt hệ thống cầu đường không xây dựng theo đúng qui trình công nghệ xây cất, sử dụng thép xây dựng không đúng chất lượng và số lượng.  Công trình xây dựng nhà máy nước Cầu Đỏ (Đà Nng) tốn 380 tỉ đồng do VINACONEX 10 thi công, chưa hoàn tất đã nứt bể tùm lum, sụp đổ gây tai nạn giao thông làm thương vong rất nhiều người.
 
(Tốn 380 tỉ  nhưng nứt bể tùm lum làm bị thương 19 người)

Nhà Nước mượn nợ - Đảng viên chơi gái, cá độ - Nhân dân trả nợ

 
Bắt đầu năm 2006, Việt Nam phải trả nợ khoảng 2 tỷ dollars cho các khoản nợ vay lãi nhẹ. Tổng nợ nước ngoài, theo Bộ Tài chính Việt Nam, chiếm 34% GDP năm 2005, tức khoảng 20 tỉ USD. Các “con nợ” này gồm hơn 65% là cơ quan nhà nước, số còn lại 35% gồm doanh nghiệp nhà nước và các công ty đầu tư kinh doanh.
 
Trong năm 2006-2010, VN phải trả nước ngoài 10-11 tỉ USD nợ. Gánh nặng trả lãi này sẽ là cái ách, tròng lên cổ dân tộc Việt Nam. Nạn nhân của những lãnh đạo lưu manh chính là những thế hệ tiếp nối, phải trả các khoản nợ khổng lồ cho những công trình quốc gia “dởm”. Giống như bọn giả dạng người tiêu dùng đi vay tiền ngân hàng. Tiền thì bọn lưu manh tiêu xài, nạn nhân bị giả danh phải còng lưng trả nợ. Người tiêu dùng là nhân dân Việt Nam, bọn lưu manh chính là những con sâu tham nhũng đảng viên cộng sản.  Cái nghịch lý của đất nước hiện nay là nhà nước CHXHCNVN muối mặt đi vay nợ  để đảng viên phung phí, chơi gái, cá độ….còn nhân dân Việt Nam thì đưa đầu ra trả nợ cho Đảng từ thế hệ này đến thế hệ khác.
 
Cái lõi của vấn nạn – Nhà nước độc tài, đảng trị
 
Độc tài đi ngược lại xu thế văn minh của nhân loại, độc tài làm cản trở tiến trình phát triển tự nhiên trong xã hội.
 
Độc quyền kinh tế gây ra nạn độc quyền mua bán, làm khuynh đảo giá cả thị trường, một mình một chợ nâng giá món hàng mà không ngại bị cạnh tranh, không sợ  tẩy chay vì khách không còn sự chọn lựa nào khác ngoài việc phải mua món hàng vừa dởm vừa đắt tiền. Độc quyền kinh tế dẫn đến tệ trạng sản xuất hàng ẩu, thiếu chất lượng, khinh thường khách hàng,  nâng cao gấp chục lần giá trị thành phẩm mà vẫn không sợ bị thua lỗ, dẹp tiệm, khánh tận vì không có đối thủ cạnh tranh.
 
Nếu được quyền chọn lựa, người tiêu dùng chọn độc quyền kinh tế, tự trói buộc quyền mua sắm của mình,  hay đa nguyên kinh tế - tự do chọn lựa nhiều mặt hàng tiêu dùng từ nhiều nhà sản xuất, rẻ bền và phù hợp giá trị hàng hóa nhờ quá trình cạnh tranh?
 
Độc tài, độc đảng gây ra nạn tha hoá quyền lực. Nhà nước cầm quyền đứng trên hệ thống pháp luật, tuỳ tiện ứng xử, cai trị đất nước và nhân dân hoàn toàn sai phạm mà không sợ các đảng phái đối lập dành mất quyền lãnh đạo. Độc tài, độc đảng hình thành hệ thống quan lại bám chặt vào quyền lực vì sợ mất  đặc quyền nên càng lúc càng phản động, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
 
Độc tài, độc đảng là bà đẻ của tham nhũng vì hệ thống cai trị dựa trên sự bao che và tuỳ tiện để bảo vệ đặc lợi cho đảng cầm quyền, tạo ra một tầng lớp cai trị lưu manh “hồng hơn chuyên” toa rập nhau, đứng trên các qui định của pháp luật và sử dụng pháp luật để biện minh cho vai trò nhà nước độc tài nhằm nuôi dưỡng tham nhũng.
 
Quyền chọn lựa thể chế chính trị qua cuộc bầu cử tự do, bình đẳng là quyền căn bản của nhân loại, đã được minh thị trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký kết và tham gia gồm :
 
- Ðược tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.
- Ðược bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.
- Ðược quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
 
Độc tài, độc đảng tìm mọi cách thủ tiêu quyền tự do chọn lựa vai trò lãnh đạo và sợ hãi tiến trình cạnh tranh chính trị. Vì vậy đảng csvn đã cưỡng đoạt quyền này của Nhân dân Việt Nam ngay từ lúc đảng giành được chánh quyền.
 
Nếu được quyền tự do chọn lựa, nhân dân Việt Nam chọn độc tài, độc đảng hay dân chủ, đa đảng?. Có ai tước bỏ mình quyền tự do chọn lưạ từ mặt hàng tiêu dùng cho đến đảng phái chính trị không? Có ông bà nhân dân nào thích phải sống suốt đời suốt kiếp với lãnh đạo bất tài, vô cảm, vô trách nhiệm, lưu manh, tham nhũng và hủ hoá không?
 
----- O -----
 
Đảng đến chu kỳ

Nguyễn Quang Duy

 

Kinh tế tự do phát triển theo các chu kỳ tăng trưởng và suy thoái. Suy thoái kinh tế có thể do một hay nhiều nguyên nhân khác nhau: cung và cầu hàng hoá mất quân bình, chính sách vĩ mô sai lầm, hệ thống tài chính thiếu minh bạch, ... hay thiên tai, chiến tranh.
 
Khi nghiên cứu về chủ nghiã tư bản, Karl Marx đã nhìn ra được những chu kỳ và nhận thấy các chu kỳ này càng ngày càng bị thu hẹp, xẩy tới mau hơn. Từ đó, Marx dự đoán chủ nghĩa tư bản đang trên đường phá sản.
 
Không như Marx nghĩ, thông tin mỗi ngày mỗi tiến bộ và thể chế dân chủ mỗi ngày một hoàn chỉnh hơn. Các nguyên nhân gây suy thoái do đó đều được phát hiện sớm hay được tiên đoán trước. Các sai lầm trong quản lý kinh tế và quản lý quốc gia được nhanh chóng sửa đổi với những hậu quả ít trầm trọng hơn. Nhờ đó, các nền kinh tế tự do thăng tiến một cách bền vững và là nền tảng xây dựng xã hội tự do, thịnh vượng và bình đẳng.
 
Marx không sống đến lúc học thuyết của ông được mang ra thí nghiệm. Ông cũng không thể tưởng tượng được cả hệ thống xã hội chủ nghiã dưạ trên lý thuyết cuả ông hoàn toàn sụp đổ. Chủ nghiã cộng sản do ông đề ra và những người kế thưà khai triển, thực hiện đã bị nhân loại từ bỏ cả về lý luận lẫn về thực tiễn.
 
Võ văn Kiệt và các chu kỳ cuả đảng cộng sản Việt Nam
 
Trong góp ý Đại Hội X, ông Võ văn Kiệt đã viết "...có dịp tĩnh tâm suy nghĩ và tự tìm tòi, phân tích, tôi hiểu được rằng, suy cho cùng, những thành tựu cũng như những thất bại mà Đảng gặp phải, dường như phụ thuộc vào hai loại phương pháp tư duy khác nhau. Trong nhiều giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam, phương pháp tư duy “tả khuynh”, chủ quan, duy ý chí đã từng giữ vai trò chủ đạo. Chỉ khi nào phương pháp tư duy đó vấp phải những khó khăn, thất bại thì nó mới tạm thời rút lui, để luồng tư duy khách quan, giàu trí tuệ đóng vai trò chỉ đạo, sửa chữa sai lầm và khắc phục hậu  quả." Theo ông các giai đoạn lịch sử khi "tả khuynh" lãnh đạo đảng cộng sản được liệt kê như sau:
 
Giai đoạn 1 "Thời kỳ mới thành lập Đảng, xu hướng “tả khuynh” đã là một động cơ của Xô Viết Nghệ Tĩnh và dẫn tới thất bại, lực lượng Đảng bị tổn thất nghiêm trọng."
Giai đoạn 2 "Đến Nam Kỳ khởi nghĩa, lại một xu hướng manh động, “tả khuynh” đã dẫn tới thất bại nghiêm trọng và lực lượng của Đảng bị tổn thất rất nặng nề."
Giai đọan 3: "Từ 1951 trở đi, xu hướng “tả khuynh” lại có chiều phát triển mạnh do sự tác động của các chuyên gia Trung Quốc."
Giai đoạn 4:  "... Đại hội IV, xu hướng “tả khuynh”, chủ quan duy ý chí lại thắng thế để đưa ra những quyết định về đường lối và chủ trương sai."
Giai đoạn 5: "Nhưng từ 1983, sau khi chỉ mới “hé” cửa, bung ra được một chút, xu hướng giáo điều “tả khuynh” lại muốn gò lại nền kinh tế, ..."
Giai đoạn 6: "Nhưng từ sau 1989, sau khi thu được những thắng lợi rất lớn về kinh tế, từ sự sụp đổ của Đông Âu và sau đó là sự sụp đổ của Liên Xô thì xu hướng giáo điều “tả khuynh” lại phục hồi. "
 
Trong giai đoạn hiện tại ông nhận xét "Những vấp váp, trì trệ và sự chững lại trong tiến trình Đổi Mới, nguyên nhân của nguyên nhân có phải chính là xu hướng giáo điều “tả khuynh” vẫn còn tồn tại, muốn co kéo, kiềm chế những tiềm lực phát triển, nhưng lại mang danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, chống chệnh hướng."
 
Vài ý kiến về cách liệt kê của ông Võ văn Kiệt
 
Trong ba giai đoạn đầu, thay vì đấu tranh dành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, đảng cộng sản theo chủ nghĩa Mác Lê, lấy đấu tranh giai cấp làm cứu cánh, lấy khẩu hiệu "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ" làm phương tiện. Dùng bạo lực tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Hậu qủa vẫn còn lưu lại đến ngày nay.
 
Ông Kiệt đã cố tình tránh né một giai đoạn lịch sử quan trọng. Giai đoạn mà những người cộng sản như ông dùng bạo lực, vũ trang, khủng bố và chiến tranh để "giải phóng miền Nam". Chủ trương này và chiến thắng cuả đảng cộng sản đã gây bao tang thương cho dân tộc, đổ vỡ cho đất nước, các khoản nợ chiến phí ngày nay vẫn chưa trả xong, ...
 
Trong thời gian trên, tại miền Bắc, đảng cộng sản ra sức xây dựng một hệ thống tòan trị rập khuôn Liên Sô thời độc tài Stalin còn ngự trị. Đảng cộng sản sử dụng hiến pháp như công cụ cai trị. Độc quyền lãnh đạo được thể chế hoá qua hiến pháp. Nguyên tắc chọn đại diện quốc hội theo kiểu "đảng cử dân bầu". Cử tri chỉ được phép chọn lựa những người đã được đảng cộng sản giới thiệu. Mọi văn kiện luật pháp được bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng sưả soạn thông qua các nghị quyết cuả đảng, trước khi đưa ra quốc hội phê chuẩn.
 
Mô hình dân chủ giả tạo này hiện tại vẫn còn được sử dụng tại Việt Nam. Theo đó, quốc hội, chính phủ, tòa án, mặt trận tổ quốc, quân đội và cảnh sát tất cả đều được đặt dưới sự độc quyền lãnh đạo cuả đảng cộng sản. Đổi mới kinh tế nưả vời đi liền với mô hình dân chủ giả tạo chính là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng xã hội toàn diện tại Việt Nam. (Xin xem bài "Hiến Pháp Sô-viết và Các Hiến Pháp Việt Nam")
 
Thực ra những người không cộng sản đều nhận ra đảng và khuynh hướng cộng sản là tả khuynh. Khuynh hướng tả khuynh như ông Kiệt liệt kê lại đi sát nhất với cương lĩnh cuả đảng cộng sản. Tuy vậy, góp ý của ông Kiệt đã chính thức lên án các khuynh hướng cực đoan cuồng tín trong đảng. Khi các khuynh hướng này "thất bại thì nó mới tạm thời rút lui". Và đảng cộng sản là tiền đồn cho các thành phần cực đoan quá khích mang "danh nghĩa bảo vệ Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa xã hội, chống chệnh hướng".
 
Khi mà đảng cộng sản chưa chính thức nhận các tội mà họ đã gây ra cho đất nước cho dân tộc. Thì hòa hợp trên bất cứ phương diện nào với đảng cộng sản cũng chỉ là tiếp tay với tội ác. Rõ ràng công cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cần dứt khoát và triệt để, nhằm đạt được những thay đổi thực sự tận gốc tận rễ để các thành phần cuồng tín cực đoan không còn cơ hội thao túng.
 
Khác với những người cầm quyền cộng sản không ngừng nêu cao khẩu hiệu "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghiã xã hội". Ông Kiệt đã chỉ ra được đảng cộng sản đã trải qua các chu kỳ do các sai lầm chính trị cuả khuynh hướng cực đoan cuồng tín trong đảng. Cách phân loại khuynh hướng cuả ông Kiệt sẽ rất hữu ích trong việc viết lại lịch sử cuả đảng cộng sản và lịch sử Việt Nam.
 
Đảng đến chu kỳ
 
Hiện trạng Việt Nam sau hơn 60 năm đảng cộng sản cầm quyền đã được 118 nhà dân chủ quốc nội diễn tả như sau: "là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp; là dân tình điêu đứng và phẫn uất; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường; là Đất nước thụt lùi tụt hậu thậm chí tới cả trăm năm so với nhiều Nước trong khu vực. Các bảng xếp hạng mọi mặt trong đó Việt Nam luôn đứng bậc thấp và các bản báo cáo tình hình trong đó Việt Nam luôn bị điểm mặt do các Chính phủ và Tổ chức Quốc tế công bố hằng năm là những bằng chứng. Mọi biện pháp do đảng Cộng sản đưa ra đều mang tính chắp vá, nửa vời, nhằm xoa dịu Nhân dân và che mắt Quốc tế, chẳng hề giải quyết được chuyện gì. Tất cả chỉ vì độc đảng, mà lại độc đảng Mác xít cộng sản! "
 
Đảng cộng sản đang sửa soạn bước vào đại hội X. Trước thềm đại hội, đảng cộng sản đã phải làm ngơ trước hàng trăm góp ý từ các bậc lão thành nhiều tuổi đảng còn lương tâm. Nhiều vị đã tố cáo lãnh đạo cộng sản tả khuynh Lê đức Anh là đảng viên giả vì chưa bao giờ được kết nạp. Những vị này đòi hỏi đảng phải từ bỏ chủ nghiã Mác-Lênin, từ bỏ mô hình chuyên chế Stalin, đổi tên đảng, tên nước, chấp nhận đa nguyên đa đảng, trả lại quyền tự do cho dân tộc, hoà nhập vào cộng đồng thế giới .v.v.. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, đảng cộng sản đã gặp phải những phản ứng công khai và đồng loạt ngay từ bên trong nội bộ đảng.
 
Trong thời đại tin học, trò chơi "góp ý" đã vượt qúa tầm kiểm soát của đảng cộng sản. Hàng chục ngàn các bài phân tích, thảo luận và góp ý đã được phổ biến rộng rãi. Trong đó có nhiều góp ý từ các bạn trẻ, như bạn Nguyễn Tiến Trung trên diễn đàn BBC. Sự kiện này thể hiện lòng quan tâm cuả mọi giới đến vận mệnh đất nước, trong đó có vận mệnh chính mình và gia đình.
 
Sự kiện 118 nhà đấu tranh dân chủ quốc nội lên tiếng "Kêu Gọi cho Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam" là một bước tiến quan trọng cho cao trào đấu tranh chính trị. Một mặt các vị đòi buộc đảng cộng sản phải lập tức huỷ bỏ hiến pháp giả tạo, thay thế bằng một hiến pháp văn minh dân chủ, phi đảng hoá hệ thống quản lý quốc gia. Mặt khác kêu gọi các đảng dân chủ công khai hoạt động, kêu gọi các đảng viên công sản phản tỉnh rời bỏ đảng cộng sản quay về với chính nghiã dân tộc, kêu gọi quân đội, công an và cảnh sát đứng về phía nhân dân và kêu gọi toàn dân đứng lên tự giải thoát khỏi những trói buột cuả đảng cộng sản. Các vị cũng kêu gọi thế giới hỗ trợ nhân dân Việt Nam đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước.
 
Xưa nay đảng cộng sản tồn tại nhờ lý luận chính trị. Nó là phương tiện để cả guồng máy đảng tuyên truyền cho chế độ. Trò chơi góp ý đã để lộ sự bế tắc về lý luận và chỉ rõ nguyện vọng chung cuả dân tộc là đảng cộng sản phải vạch ra và phải thực hiện một lộ trình dân chủ. Dân chủ hoá hệ thống chính trị tại Việt Nam.
 
Theo lời Giã Khánh Lâm, tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc Hồ Cẩm Đào đã góp ý cho việc thu xếp nhân sự và đường lối của đảng cộng sản Việt Nam. Nếu đảng cộng sản theo lệnh họ Hồ thì đảng cộng sản lộ nguyên hình tay sai bán nước. Đây chính là hành động tự sát, hay đảng cộng sản đang tự đào mồ chôn chính mình./.
 
Tài Liệu tham khảo
 
- Lời Kêu Gọi cho Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái tại Việt Nam năm 2006 của 116 Nhà đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam.
- Võ văn Kiệt, "Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới"

 

----- O -----

 

Tâm thư gửi Đại hội

 

Dư luận xã hội từ sau khi hội nghị Trung ương 14 bế mạc, đang là một chuyên mục “nóng hổi” ở tất cả mọi nơi, từ quán nước vỉa hè, quán bia, quán cà phê, các buổi sinh hoạt Câu lạc bộ, trong các cuộc họp v.v...được bàn tán, truyền tin cho nhau rất sôi nổi : nhân vật này không xứng đáng, nhân vật kia xứng đáng vào Ban chấp hành Trung ương 10, hai văn kiện báo cáo chính trị và báo cáo xây dựng Đảng vẫn như nguyên. Đảng xin ý kiến góp ý vào dự thảo báo cáo chính trị, thực chất là “chưa thật lòng” là dân chủ “giả cầy”.
 
            Từ hơn một năm nay, đại hội khoá 9 đã có bước chuẩn bị 2 văn kiện : báo cáo chính trị và báo cáo về công tác xây dựng Đảng trình đại hội X, qua ba kỳ họp toàn Ban chấp hành Trung ương (hội nghị Trung ương 12, 13, 14) để thảo luận bổ xung hoàn thiện, cuối cùng ra đời bản báo cáo chính trị không thể hiện được “tầm cao trí tuệ” một báo cáo được dư luận nhận xét “giáo điều bảo thủ” độ 10 chuyên viên cấp huyện tỉnh ngồi viết 1 tháng là xong, không thêm bớt gì từ khởi thảo đến nay vẫn y nguyên.
 
            Đầu tháng 2/2006 đăng toàn văn để trưng cầu dân ý, được hơn 1 vạn ý kiến, bằng 1 phần mười so với đại hội 9 (10.000/1.000.000) giảm 10 lần, Trung ương Đảng đánh giá nhận định vấn đề này như thế nào ?
            Số lượng thư góp ý tuy giảm 10 lần, nhưng chất lượng góp ý : Nhìn chung các ý kiến rất thẳng thắn, tâm huyết, thể hiện tinh thần trách nhiệm với Đảng, với dân tộc, mong muốn Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta ngày càng phát triển. Ban chấp hành Trung ương bày tỏ sự trân trọng cảm ơn các tầng lớp nhân dân, cán bộ đảng viên đã nhiệt tình đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết với Đảng. (Diễn văn bế mạc hội nghị Trung ương 14 do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đọc) Hội nghị Trung ương 14 đánh giá rất đúng, so với các kỳ đại hội trước đây tuy nhiều bài góp ý nhưng số cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học, nhân sỹ trí thức trong và ngoài nước đặc biệt là cán bộ đã từng là uỷ viên Ban chấp hành Trung ương nhiều khoá có bài góp ý ít hơn, đại hội này các đối tượng nói trên lại rất nhiều, nội dung đa dạng phong phú, tập trung đến các vấn đề quan trọng của đất nước, vận mệnh dân tộc, họ không sợ bị trù dập, bắt bớ, né tránh bất kỳ một vấn đề nào, họ biết có những vấn đề mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng sẽ không tiếp thu không cho tranh luận công khai các vấn đề như :
 
            1. Phải có tự do báo chí.
            2. Tư nhân được quyền ra báo.
            3. Đa nguyên đa đảng.
            4. Bỏ chủ nghĩa xã hội.
            5. Chủ nghĩa Mác đã lỗi thời.
            6. Bỏ đuôi từ định hướng XHCN.
            7. Kinh tế quốc doanh là chủ đạo.
v.v...
 
Song họ vẫn nói, vẫn viết bởi vì thực tế chứng minh lý thuyết và lý thuyết phải bằng thực tế chứng minh, ba mươi năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, 10 năm cả nước xây dựng thời kỳ “quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” theo đúng học thuyết Mác - Lênin hoàn toàn thất bại, đất nước xác xơ, dân chết đói, 20 năm trở lại cái cũ đã tiêu diệt, đất nước trở lại xanh tươi, thân thể mỗi người có da, có thịt, gương mặt rạng rỡ tươi vui, câu ca ngày nào là ước vọng : Một yêu anh có may ô (áo may ô), hai yêu anh có cá khô ăn dần, nay thì ước vọng ô tô nhà lầu...
 
            Người viết góp ý cho là đúng, người được góp ý (Đảng) cho là sai, vậy ai là người “tài phán” cần phải có người thứ 3 !... Đảng cứ một mình một ghế rồi độc quyền chân lý áp đặt tư duy, áp đặt đường lối chính trị, kinh tế, biết bao giờ tổ quốc và nhân dân mới mở mày