Đối Thoại                                          Website:Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư Số 58 - Ngày 16 tháng 05 năm 2006

 

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 58
Tháng 5 năm 2006
 
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận, Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Điện thư gửi thẳng đến bạn đọc. Nếu bạn cần nhận điện thư hoặc góp ý, yểm trợ xin liên lạc: caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
 
Tin Ghi Nhận:
- Những ngày gần đây, dư luận rất bất bình về trường hợp tin một phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của cuộc bán đấu giá tại một khu chợ Malaysia. Trong nhiều năm nay, nhiều phụ nữ Việt Nam đã phải chịu sự chà đạp về nhân phẩm khi đi lấy chồng ở Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia,...
- Ngày 11/5/2006 một chiếc máy bay của quân khu V đã phát nổ trên trời và  lao vào nhà dân tại địa bàn tỉnh Bình Định. Xin được nhắc lại, cách đây không lâu, một chiếc máy bay khác cũng của quân khu V bị “tai nạn” trên đường đi làm nhiệm vụ làm chết gần hết ban chỉ huy quân khu. Một nguồn tin từ nội bộ cho hay, đã từ lâu, ban lãnh đạo của quân khu V và quân khu VII tỏ ra bất phục tùng Hà Nội.
- Khâu túi để chống tiêu cực! Khu quản lý Đường bộ II (Cục Đường bộ, Bộ Giao thông vận tải) CHXHCNVN  đã "sáng tạo" ra  biện pháp chống tiêu cực có một không ai trên thế giới : Lệnh  tất cả cán bộ, nhân viên của các trạm thu phí phải khâu túi quần, túi áo của mình lại! Sáng kiến vĩ đại này phản ảnh trình độ lãnh đạo đảng CSVN.
 
 
Sáng Kiến Genius (GiD – ĐDCND)
 
 
----- O -----
 
Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do (RFA) phỏng vấn
Ông Nguyễn Hòang Long, TV Trung Ương Đảng Dân Chủ Nhân Dân

Ngày 2/5/2006
 
Giới thiệu:
Trong một buổi phát thanh trước, luật sư Nguyễn Văn Đài từ Hà Nội trong bài viết mang tựa đề “Quyền Tự Do Thành Lập Đảng Ở Việt Nam” cho rằng các đảng phái dân chủ đã và đang hiện hữu ở Việt Nam có thể ra hoạt động công khai mà không trái với hiến pháp và luật pháp, Việt Nam có thể đa đảng hay không? Dư luận sẽ phải hiểu như thế nào, khi mà mới đây bộ trưởng công an Lê Hồng Anh phát biểu rằng “Việt Nam không cho phép các đảng phái đối lập hoạt động, đó là diễn tiến hòa bình”. Để tìm hiểu về những nhận định đó, Việt Hùng đã có cuộc trao đổi với người đại diện đảng Dân Chủ Nhân Dân là ông Nguyễn Hoàng Long và được ông cho biết quan điểm như sau:
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Chúng tôi không cho là một “diễn tiến hòa bình” bởi vì diễn tiến hòa bình là một điều tự nhiên nó sẽ diễn ra.  Đối với chế độ độc tài như cộng sản, anh biết rồi, chế độ cộng sản nó bị bất ổn và bất công của nó. Sự phát triển, đời sống của người dân càng đi lên, dân trí càng cao thì diễn biến càng mạnh hơn. Những người cộng sản cho chúng tôi là những người diễn tiến hòa bình nhưng thật tình chúng tôi đòi hỏi đấu tranh để dân tộc Việt Nam được tự do hơn, đất nước Việt Nam được hưởng những quyền mà nhân loại đã ban cho.
 
Việt Hùng: Ông nói đảng của ông là một lực lượng đối lập với đảng CSVN, phải chăng thì các ông chỉ đối lập “mồm” hay sao ạ ?
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Không, trong thời gian qua chúng tôi cũng làm rất nhiều việc. Anh phải hiểu là trong hoàn cảnh chúng tôi bị bịt mắt, bóp miệng và trói hai tay mà chúng tôi đã làm được những việc rất là tưng bừng. Thậm chí anh biết điện thoại cho anh tôi cũng không thể điện thoại ở nhà, chúng tôi ra ngoài đồng để gọi. Những khó khăn của chúng tôi, bởi vì chúng tôi hoạt động trong bí mật, do đó những họat động của chúng tôi ví dụ như rải truyền đơn, tuyên truyền chẳng hạn, đó là một hình thức để đấu tranh của chúng tôi, hoặc ủng hộ công nhân đình công, giúp đỡ những công nhân gặp khó khăn, và làm cho người dân thấy được bản chất của chế độ cộng sản, và người dân tự vươn mình lên để thay đổi chuyện đó.
 
Việt Hùng: Trong thời gian vừa qua cũng có ghi nhận một số những tin tức ở Việt Nam nói rằng có một số tờ rơi. Phải chăng những tờ rơi của các ông nhắm vào mục đích gì ?
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Khi chúng tôi ra đời, trong xã hội Việt Nam bây giờ chia làm 3 đối tượng. Những người bảo thủ hoàn toàn thì họ cho rằng đảng CS vẫn giữ nguyên như vậy. Nhóm người thứ hai muốn cho đảng CS vẫn tồn tại và đảng CS chỉ sửa đổi như chống tham nhũng để tiếp tục lãnh đạo đất nước. Còn những người như chúng tôi chẳng hạn cho rằng những người CS không thể lãnh đạo được đất nước này và không thể chống tham nhũng được, không làm cho đất nước Việt Nam giàu mạnh hơn được. Đó là quan điểm của chúng tôi.
 
Chúng tôi cho rằng sự lựa chọn của chúng tôi là đúng, bởi vì chúng tôi hướng đến dân chủ. Vì chúng tôi muốn xây dựng một chế độ chính trị tốt đẹp. Và chỉ có một chế độ chính trị tốt đẹp, tất cả mọi người mới có thể đóng góp để xây dựng đất nước được. Còn lãnh đạo của đảng CS bây giờ người dân chán ghét, họ không muốn đóng góp cho xã hội, không muốn xây dựng đất nước, thậm chí những người dân trong nước bây giờ họ chán ngán CS lắm rồi mà không biết cách nào thay đổi nó. Bởi vì họ bị một sự ràng buộc, xiềng xích họ. Bởi vì trước đây, lần thứ nhất nói là giải phóng về cách làm ăn, về kinh tế. Thì bây giờ phải giải phóng tư duy người ta, giải phóng tư tưởng, phải có quyền tự do, người ta được nói. Nhưng CS thì không cho ai nói hết. Nếu như trường hợp chúng tôi nói được với tất cả mọi người thì những hình thức (trước) đó chúng tôi không bao giờ làm nữa. Đó là phương pháp đấu tranh của chúng tôi thôi.
 
Việt Hùng: Trong thời gian vừa qua ở tại Việt Nam có xuất hiện một số phong trào, chẳng hạn như Phong Trào Dân Chủ cho Việt Nam, một số những bài viết gần đây của một số giáo sư, tiến sĩ, và thậm chí như mới đây một luật sư trẻ từ Hà Nội là luật sư Nguyễn Văn Đài có đưa ra một bài viết mang tựa đề là “Quyền tự do thành lập đảng ở Việt Nam”.
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Vâng, đó là quyền tự do. Luật sư Đài, người có am hiểu pháp luật và hiến pháp Việt Nam, thì người ta dựa vào rằng một đất nước nào đó thì không cấm người khác lập đảng chính trị, cũng không cấm người khác tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do hội họp. Nhìn bản chất thực sự của xã hội Việt Nam, do đó ông đòi hỏi rằng người Việt Nam có quyền tự do hơn nữa. Tự do lập đảng, ông nói rằng chuyện lập đảng là không sai trái. Về mặt lý thuyết thì đúng nhưng thực tế thì không. Bởi vì ông Lê Hồng Anh nói rằng cấm các lực lượng đối lập, cấm các đảng chính trị hoạt động.
 
Việt Hùng: Liệu rằng các ông chỉ đấu tranh trong vòng bí mật thì làm sao các ông có thể vận động được dư luận, cũng như để chứng tỏ điều gì đó, để tin vào đảng của các ông được?
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Vì chúng tôi mới ra đời chưa đầy một năm, lực lượng chúng tôi còn nhỏ lắm. Do đó chúng tôi phải xây dựng từng bước. Chúng tôi đi từng bước từ bí mật tới công khai, không thể công khai cùng một lúc được. Anh biết, công khai cùng một lúc là họ dập tắt luôn. Khi nói điện thoại như thế này tôi phải đứng một nơi rất vắng vẻ để điện thoại cho anh. Huống hồ gì tôi nói công khai, tôi công khai là tôi sống không được 30 phút đâu đối với nhà nước cộng sản. Do đó bây giờ muốn hoạt động và muốn gây dựng được lực lượng, anh hãy bí mật đã.
 
Trong thời gian vừa qua chúng tôi đã gây dựng được một lực lượng rất hùng mạnh ở Hà Nội, Sài Gòn và cả miền Trung nữa. Những anh em rất nhiệt tình và còn trẻ. Phần lớn là những người đã từng trải qua bậc đại học và người ta đã có một bức xúc đối với xã hội Việt Nam, và người ta không thích cộng sản nữa. Người ta thấy rằng sứ mệnh, lý tưởng của người ta là phải làm cho đất nước được tự do hơn, là phải gạt bỏ cộng sản qua một bên. Do đó mà chúng tôi sẽ khôn ngoan hơn để đi từ bí mật đến công khai. Bởi vì bài học của Nguyễn Vũ Bình là (bài học) xương máu với chúng tôi rồi.
 
Việt Hùng: Trong một lần nói chuyện thì ông có nói rằng đảng của ông số đông là những người trẻ. Mục đích chính của các ông là gì ạ ?
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Mục đích chính mà theo cương lĩnh chúng tôi đề ra là xây dựng một đất nước Việt Nam tự do. Tôi nhớ trước đây ông Lý Quang Diệu đã nói rằng xây dựng một Singapore không cộng sản, thì hôm nay chúng tôi nói rằng xây dựng một đất nước Việt Nam không cộng sản. Con đường ông Lý Quang Diệu đã chọn đúng và hôm nay chúng tôi nghĩ con đường chúng tôi chọn là đúng.
Cộng sản Việt Nam cũng thuộc về phong trào cộng sản của thế giới, của Liên Xô, của Trung Quốc, của Đông Âu. Khi những nước cộng sản đàn anh đã sụp đổ thì CSVN sẽ không tồn tại được bao lâu hết.
 
Việt Hùng: Nhưng trên thực tế đảng CSVN vẫn nắm quyền điều hành và lãnh đạo đất nước.
 
Ông Nguyễn Hoàng Long: Chúng tôi cố gắng rằng, mặc dù hôm nay chúng tôi rất nhỏ, nhưng với lý tưởng và nhiệt tình của chúng tôi thì tôi hy vọng rằng đồng bào sẽ ủng hộ phong trào dân chủ Việt Nam, trong đó có Đảng Dân Chủ Nhân Dân.
 
Việt Hùng: Xin cảm ơn ông Nguyễn Hoàng Long đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn đặc biệt ngày hôm nay.
 
----- O -----
 
LTS: Bài phỏng vấn dưới đây do báo Đàn Chim Việt thực hiện. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà văn Vũ Thư Hiên đã gửi cho Điện Thư  bài phỏng vấn này.
 
Nhà Văn Vũ Thư Hiên trả lời phỏng vấn báo Đàn Chim Việt
 
ĐCV: Là người thường xuyên theo dõi và tham gia cuộc vận động dân chủ, xin ông nhận định về ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, gọi tắt là Tuyên Ngôn 2006 với sự phát triển của phong trào dân chủ (như một phong trào, không phải như một tổ chức).
 
Vũ Thư Hiên: Trong câu hỏi của bạn đã có sẵn câu trả lời. Bạn ra câu hỏi như thế là tôi biết bạn nghĩ không khác tôi: ảnh hưởng của Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 là lớn. Lớn lắm. Nó là một bước tiến vọt của phong trào dân chủ. Tôi chờ bước tiến này từ lâu. Tôi biết nó sẽ có, tôi chờ. Sốt ruột chờ. Nay thì sự chờ đợi ấy đã được đền bù. Sướng nhất là khi tôi được thấy ở dưới Tuyên ngôn có hơn 100 người ký tên. Không sướng sao được? Hơn 100 con người là con số không lớn, đúng thế, cho dù lớn và nhỏ là những khái niệm tương đối, tuỳ theo quan niệm của mỗi người vào mỗi lúc mỗi nơi, nhưng trong một thời gian ngắn kỷ lục, vẻn vẹn có mấy ngày, tính từ khi Phương Nam hoàn tất bản thảo theo ý kiến của tập thể rồi gửi cho mọi người đọc lại góp ý kiến, mà có được bằng ấy người ký là con số lớn, rất lớn đấy. Con số ấy nói to rằng cái sự sợ hãi mà ĐCSVN dày công vun xới đã bắt đầu hết linh. Bắt đầu thôi, nhưng là sự bắt đầu có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Đấy là ý nghĩa trọng đại của nó. Trước đó không thể có con số ấy, mặc dầu con số ẩn thì lớn vô cùng, chỉ có thể phỏng đoán mà không thể nói chắc. Có nhiều chuyện vui dính dáng đến con số nọ, tôi xin kể một chuyện làm thí dụ. Ngay lập tức khi bản Tuyên ngôn vừa được công bố, có hai công an viên đến nhà một người ký tên, một anh bạn tôi. Anh mời họ vào nhà. Hai người khách được mời vào nhà, được mời hút thuốc, uống trà. Vào đề, khách nói tràng giang đại hải không cần biết chủ có nghe hay không về vai trò và sứ mệnh của Đảng cộng sản, rằng Đảng dù cho có không muốn cũng phải giữ cho chặt vị trí độc tôn lãnh đạo đất nước, chứ không ấy à, nước Việt Nam ta đã rã bành tô như mấy nước Đông Âu khốn khổ khốn nạn từ lâu rồi, nhân dân ta đã nheo nhóc, đã không cơm ăn, không áo mặc từ lâu rồi. Đại khái cũng giống như lời cảnh báo của ông cựu đại sứ Nguyễn Trung ấy. Ông Trung gọi sự thay đổi sang thể chế dân chủ ở mấy nước đó là “hiểm hoạ đen”, ông ấy thấy thế lấy làm lo cho Việt Nam lắm, ông vội khuyên đảng cộng sản lấy đó làm gương, chớ để đất nước đi vào vết xe đổ. Anh bạn tôi khiêm tốn gật gù. Hai anh công an ân cần khuyên: thôi, đã trót dại ký rồi thì cứ việc tuyên bố rút ra là xong, chuyện ấy là khuyết điểm nhất thời, đảng cho qua, không tính. Anh bạn tôi lịch sự đáp: “Các anh ạ, thấy người ta nói phải thì tôi nghe, tôi ký, chứ nếu Đảng cộng sản của các anh cũng nói phải như họ thì tôi cũng ký ngay”. Hai anh công an ngao ngán cáo lui. Lạ một cái là lần này họ không gây gổ, không doạ nạt. Hiền lành, lễ độ. Nếu không vận cảnh phục chưa chừng hai anh này dám nói khác cũng nên, ai đời có một bài đảng vĩ đại mà nhai đi nhai lại hết năm này sang năm khác, hết đời cha đến đời con, đứa chó nào không ngán, anh bạn tôi nhận xét thế. Đọc Tuyên ngôn 2006, tôi ứa nước mắt. Không phải những câu chữ trong bản Tuyên ngôn làm tôi xúc động đâu, những câu chữ ấy, những chữ ấy, chúng ta đã từng biết, chúng ta đã từng đọc, chúng không mới, không lạ. Không, không phải vì cái đó. Tôi xúc động là vì sự ra đời của bản Tuyên ngôn kia, vì chữ ký của những con người can đảm kia. Mừng lắm lắm.
 
ĐCV: Phong trào dân chủ ảnh hưởng thế nào khi có một hay nhiều bản tuyên ngôn khác theo sau?
 
Vũ Thư Hiên: Tôi hiểu bạn muốn hỏi gì. Thì cứ nói toạc ra với nhau cho tiện. Tức là đã có bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006, sao lại còn có sự ra mắt một bản Tuyên ngôn Dân chủ khác, bản thứ hai? Chuyện này có chút rắc rối thật, không phải là không có. Bạn đã đọc bức thư đầy nhân ái của ông Nguyễn Chính Kết gửi ông Nguyễn Khắc Toàn chưa? Gọi là gửi cho ông Toàn, chứ thực ra ông Kết muốn gửi cho tất cả mọi người. Trong bức thư ông Kết cố giải thích nguồn gốc sự trục trặc liên quan đến bản Tuyên ngôn 2006, để nói rằng không có mâu thuẫn gì trầm trọng trong hàng ngũ dân chủ đâu, chẳng qua có sự hiểu nhầm, là do có sự chật chưỡng về thời gian soạn thảo, lấy ý kiến, và cả trong mấy ngày sau đó, lại cũng là chuyện vặt vãnh thôi. Tất cả những gì ông Kết nói trong bức thư đều có thật, theo chỗ tôi được biết, nhưng bức thư không có sức thuyết phục đối với những người quan tâm. Sự thật lằng nhằng hơn, rối rắm hơn, kể ra cho hết đầu đuôi mọi sự thì dài dòng văn tự lắm, tôi xin phép không nói ở đây, nó lạc đề. Với tất cả mọi người, chuyện đã rồi là chuyện đã rồi, người ta không cần biết chi tiết. Người ta chỉ ghi nhận cái sự thật hiển hiện: ấy là Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 đã ra đời. Nó xuất hiện như một văn kiện lịch sử. Lịch sử đã ghi nhận cái thứ nhất, thì cái thứ hai chỉ là một phó bản muộn màng. Tôi xin nói thêm: Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 có thể chưa toàn bích, có thể ở chỗ này chỗ kia chưa chỉnh về câu chữ, nhưng nội dung của nó có đủ những gì tôi muốn thấy, thì tôi ủng hộ nó, tôi mong mọi người ủng hộ nó, ủng hộ hết lòng. Cần phải thấy rằng cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ là cuộc đấu tranh giữa hai thế lực không thể cộng tồn, không thể hoà giải hoà hợp. Đâu có phải là cuộc thi Tuyên ngôn, để chờ quần chúng chấm cho cái nào đỗ. Không, cái sự loạn tuyên ngôn chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho phong trào dân chủ đâu, các bạn ơi, ngược lại thì có.
 
Tôi đồng ý với bạn – phong trào mà ta đang nói tới ở đây có nghĩa một cuộc vận động lớn, một trào lưu lớn, trong đó có tất tần tật những nhóm, những cá nhân, có chung một đồng thuận – xoá bỏ chế độ độc tài, xây dựng thể chế dân chủ. Không phải một tổ chức. Chưa phải một tổ chức. Tuyên ngôn 2006 là tài sản của cái phong trào như thế. Nó chẳng là của riêng ai. Không có cái TÔI ở đây. Chỉ có cái CHÚNG TA. Tuyên ngôn Tự do Dân chủ do sự đóng góp của nhiều người mà thành, kể từ bản phác thảo của Hoàng Minh Chính, cuộc đi từ Sài Gòn ra Hà Nội của Trần Khuê và Phương Nam để nghe ý kiến của anh em dân chủ ở Hà Nội, đến bản thảo đầu tiên của Phương Nam được gửi đi để anh em hai miền Trung và Nam đóng góp thêm. Tôi có trong tay hầu như đầy đủ mấy bản ấy, tôi dám nói câu khẳng định rằng đúng nó là như thế. 
 
Lại nói chuyện một tổ chức dân chủ thống nhất. Trong giai đoạn này cái đó chắc chưa thể có. Từ cái phong trào dân chủ rộng rãi ấy sau này ta sẽ thấy xuất hiện một số tổ chức của những người dân chủ, đại diện cho những nhóm khác nhau về giới tính, về quyền lợi, về niềm tin, về phương pháp đấu tranh… : Phụ nữ Dân chủ, Thanh niên Tự do, Công đoàn Đoàn kết, Phật tử Truyền thống, Giáo dân Vì nước chẳng hạn. Trong điều kiện chính quyền độc tài ra sức ngăn chặn, cắt đứt liên lạc, xé lẻ những nhóm dân chủ trên địa bàn cả nước để họ không thể kết lại với nhau thì có nhiều tổ chức không phải là xấu. Ngược lại, còn tốt nữa. Nó sẽ làm cho tính năng động, tính tự quyết của các tổ chức nhỏ được nâng cao, gộp tất cả lại sẽ có một sức mạnh tổng thể liên tục lấn sân, giành giật các quyền dân chủ về tay, liên tục mở rộng các thành quả đã đạt được để mau chóng đi tới mục tiêu xoá bỏ độc tài. Nhiều tổ chức dân chủ không phải là điều đáng sợ. Đáng sợ là khi các tổ chức ấy không biết đoàn kết với nhau để làm công việc chung. Mà cái công việc ấy khó khăn lắm, gian nan lắm, đâu có dễ dàng. Bây giờ không phải lúc cãi nhau, không phải lúc xưng cái Tôi đáng ghét ra, làm thiệt hại cho cái mà CHÚNG TA đang ra sức đấu tranh để có.
 
ĐCV: Trong phong trào dân chủ hiện nay có hai khuynh hướng về chữ ký trên tuyên ngôn 2006: một cho là cần để học hàm, học vị, nghề nghiệp bên cạnh chữ ký, hai cho là mọi chữ ký của mọi công dân Việt Nam đều có ảnh hưởng đến phong trào như nhau. Ông quan niệm thế nào và tại sao?
 
Vũ Thư Hiên: Cái chuyện ấy mà dùng chữ khuynh hướng thì hơi to đấy, không nên. Nói về khuynh hướng thì nó thế này: quả là trong phong trào dân chủ có hai khuynh hướng thật, nhưng là ở lĩnh vực khác kia. Tình hình là thế này: giữa những người dân chủ có sự đồng thuận hoàn toàn về mục tiêu, nhưng về sách lược thì còn đôi điểm chưa nhất trí. Sự không nhất trí ấy, hay gọi là bất đồng cũng được, nhưng hơi to, nằm ở chỗ: một bên muốn lôi kéo những người cộng sản có xu hướng ly khai với nhà nước độc tài về với mình, kêu gọi sự hợp tác của họ. Bên kia, chủ trương ngược lại – cộng sản là cộng sản, chấm hết, không thể trông cậy bất cứ điều gì tốt lành ở những người cộng sản, họ chỉ muốn cải tiến chế độ độc tài của đảng cộng sản cho nó trường tồn mà thôi. Cả hai khuynh hướng, theo tôi nghĩ, đều có cái không có lý của họ. Đây là vấn đề sách lược đồng minh trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào, trong chuyện này phải tuỳ thời điểm cụ thể mà lấy quyết định thích hợp. Tôi không nghĩ cái đó là điểm bất đồng nặng nề, nó chỉ là vấn đề đặt nặng vế này hay vế kia trong sự nhận định vai trò đồng minh. Đặt nặng trọng tâm vận động vào những người cộng sản là sai, họ chỉ là một bộ phận của khối nhân dân đông đảo cần vận động; nhưng gạt họ hoàn toàn cũng không đúng, nằm trong hệ thống quyền lực họ có thể có tác động tốt cho vận động dân chủ lắm nếu họ nghiêng về phía dân chủ. Trong thực tế sự suy nghĩ khác nhau này chưa có gì sâu sắc đâu, chưa có gì trầm trọng đâu. Khốn nỗi trong khi ý kiến về chuyện đó chưa được thống nhất thì có người thích làm ầm lên, bé xé ra to. Nguồn gốc chuyện lủng củng này là do tính tự cao tự đại, không biết khiêm cung, tính ông tướng, óc lãnh tụ ở người này người kia, lúc hăng máu vịt lên, họ không còn thấy cái đại đồng ở đâu nữa, chỉ thấy có cái tiểu dị lồ lộ, cái ấy cũng có đấy. Từ chỗ thích làm ông tướng đi đến chỗ chia rẽ, công kích nhau, chửi bới nhau, tự quyền loại nhau ra khỏi hàng ngũ, chẳng phải là bước dài lắm. Nói là nói phòng xa thế thôi, chứ trong cuộc đấu tranh này kẻ nào làm bậy, kẻ đó tự khai trừ mình khỏi hàng ngũ dân chủ. Còn chuyện trưng học hàm học vị hoặc không trưng học hàm học vị thì chẳng có thể gọi được là bất đồng giữa hai khuynh hướng. Chẳng qua là chuyện giữa mấy ông mấy bà có những quan niệm, những ý thích khác nhau thôi. Ông A khoái trưng học hàm học vị thì bảo: trước khi tham gia quần chúng cần được biết có những ông nào bà nào đã có mặt, họ danh tiếng đến thế mà họ vẫn đấu tranh cho dân chủ, thì ta nên đi với họ. Dân mình lại vốn sính học hàm học vị, chiều họ tí đã sao? Ông B không thích cái cách trưng học hàm học vị thì bảo: làm như thế quần chúng sẽ coi cuộc đấu tranh cho dân chủ là của bọn giáo sư, tiến sĩ… không phải việc của tụi dân đen ta, chờ xem đám dân chủ cổ cồn kia làm được gì cái đã, chẳng đi đâu mà vội. Lại một lần nữa, cả hai đều có cái lý của họ. Cũng có lúc phải gắn học hàm học vị vào, khi ông A bà B thuyết trình trong giới của họ, hoặc để biết ai là ai nếu có sự trùng tên. Chứ còn trong cuộc đấu tranh cho dân chủ cụ thể đang diễn ra hôm nay, ngay bây giờ đây, thì trưng học hàm học vị ra để mà làm gì? Để khoe mẽ rằng trong hàng ngũ dân chủ ta nhiều bậc chức sắc à? Quan điểm của tôi là như vậy. Vị thế công dân (hay vị thế con dân của đất nước, tôi muốn nói trong thời kỳ nước ta còn bị đô hộ) là vị thế cao nhất trong trách nhiệm của con người trước vận mệnh đất nước. Thay vì phải trưng học hàm học vị ra, trong bản Tuyên ngôn chẳng hạn, ta cứ để ông này bà kia, ở đâu, làm nghề gì. Bác sĩ, kỹ sư, nông dân, công nhân, thương gia không phải là học hàm, học vị, chỉ là nói về nghề nghiệp thì cứ để, nhưng đừng tâng một anh mới tốt nghiệp đại học luật lên thành luật sư, nghe chướng lắm. Cứ giở sách sử ra mà xem, những anh hùng liệt sĩ của đất nước trong thời kỳ thuộc Pháp chẳng là giáo sư, tiến sĩ gì hết. Nhưng sử sách vinh danh họ. Chúng ta đều biết họ là ai. Bởi lòng yêu nước của họ. Bởi đức hy sinh của họ. Nào có phải họ là giáo sư hay tiến sĩ. 
 
ĐCV: Tình hình thực tế của phong trào dân chủ Việt Nam khiến Tuyên Ngôn 2006 thiếu chữ ký của một số người đang vận động dân chủ và tự do tín ngưỡng trong và ngoài nước. Theo ông, liệu những người thuộc các nhóm dân chủ này sẽ ký tên vào bản Tuyên Ngôn 2006 trên web hay trên giấy trong nước trong tương lai gần, và đây có phải là điều cần thiết hay không?
 
Vũ Thư Hiên: Tôi không thấy có gì quan trọng lắm trong sự thiếu vắng chữ ký của một số người mà chúng ta thường được nghe tên. Bản Tuyên ngôn 2006 ra đời, theo tôi biết, đúng là trong sự vội vã. Có cần vội vã thế không là chuyện khác, có những nhận định khác nhau trong vụ này. Vì sự vội vã ấy, số chữ ký ta muốn được thấy chưa đủ. Trong một thời gian gấp rút như thế rõ ràng không thể có sự thông tin rộng khắp cho mọi người đều biết để ký. Lại trong điều kiện phải giữ bí mật nữa chứ. Thôi thì ai tán thành sau này ký cũng chẳng muộn. Nhưng cũng có những trường hợp khác. Chẳng hạn, có người do tính cẩn trọng thái quá, có còn cẩn trọng đến mức xét nét nữa, họ thấy chưa hài lòng với những câu chữ nào đó trong Tuyên ngôn ấy thì họ không ký. Lại có người không ký chỉ vì thấy trong số người đã ký có tên những người mà họ không ưa. Lôi thôi lắm. Bạn hỏi tôi: vậy thì liệu rồi đây họ có ký không? Làm sao tôi trả lời được. Tôi không thể trả lời thay cho bất cứ ai. Tôi không có cái quyền ấy. Trong sự trả lời phỏng vấn này cũng vậy, tôi chỉ đại diện cho chính tôi mà thôi. Tôi nghĩ sự ra đời của bản Tuyên ngôn 2006 là tất yếu, sự kiện ấy tất phải xảy ra vào một lúc nào đó, nó không thể không xảy ra, nhưng trong đó cũng có yếu tố ngẫu nhiên, tại sao nó lại xảy ra đúng vào ngày 8 tháng 4, mà không phải sớm hơn một hôm hay muộn hơn một hôm. Trường hợp ra đời của nó cũng giống như bất cứ văn kiện lịch sử nào khác, nó là nó, vừa đủ, vừa chưa đủ, đẹp rồi đấy mà xem kỹ vẫn thấy có chỗ chưa chỉnh, nói nó chưa toàn bích là như vậy. Tôi ủng hộ Tuyên ngôn 2006 ngay lập tức dù nó chưa toàn bích vì tôi thấy nội dung nó như thế là đủ những cái tôi muốn rồi, cứ thế đã là tốt rồi, tôi không cần cái tốt hơn. Nhưng người khác thì không, họ muốn nó phải được viết lại cơ, cứ là phải theo ý họ cơ, mới thật là tốt. Rồi đây những nhóm, những cá nhân không hài lòng ấy có ký hay không, là chuyện của họ. Có chữ ký của họ thì tốt, không có cũng không sao. Mong sao đừng vì thế mà họ xa rời cuộc đấu tranh chung. Có người từng đóng vai trò que diêm nhóm lên ngọn lửa dân chủ. Nhưng khi đã có cả đống lửa rồi mà vẫn cứ loay hoay với sự tự khoe vai trò que diêm của mình thì buồn cười lắm. Nói tóm lại, trong mọi cuộc đấu tranh, không phải ai đã lên đường thì người đó sẽ đi tới đích. Cái sự nửa đường đứt gánh là chuyện bình thường. Sự rơi rụng trên đường cũng là chuyện bình thường. Đừng chạy sang phía bên kia là được rồi.

 
ĐCV: Mới đây DCVOnline, trong loạt bài về Tuyên ngôn 2006, đăng bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn” của Lưu Vũ và “Tuyên ngôn 2006 và não trạng sứ quân” của Trần Trung Việt gây khá nhiều tranh luận cả bề ngoài (trên diễn đàn DCVOnline) và cả ở bên trong phong trào nhất là bài “Tranh nhau miếng bánh Nhà Dân Chủ Lớn”. Ông nhận xét thế nào về quan điểm của tác giả trong hai bài vừa nêu? Có bánh dân chủ, có nhà dân chủ, và có não trạng sứ quân trong phong trào dân chủ không thưa ông?
 
Vũ Thư Hiên: Tôi có đọc hai bài của anh Lưu Vũ và của anh Trần Trung Việt. Tôi thấy gì trong hai bài ấy? Tôi thấy được tình cảm thiết tha của tác giả đối với phong trào dân chủ, cảm giác đau xót của họ trước những lủng củng trong đó. Không có sự công kích phong trào dân chủ đâu, hoàn toàn không. Cái đó rõ lắm, đáng quý lắm. Họ trong sáng trong khi cầm bút viết hai bài đó, tôi nói khẳng định. Đấy là về nội dung. Tôi chỉ đặc biệt khó chịu với bức hình con khỉ minh hoạ cho bài của anh Lưu Vũ. Thật quá tệ, ai lại đi làm như thế cơ chứ! Tôi giận cái hình con khỉ ấy lắm lắm đấy, các bạn trong ban biên tập ạ. Những người dân chủ trong nước không phải là những con khỉ, thưa các bạn. Họ có thể kém hiểu biết về mặt nào đó do thiếu thông tin, họ có thể mắc sai lầm này sai lầm khác, có người lại còn bị mắc độc kế của chính quyền nữa, nhưng đó là những người đang đứng đầu sóng ngọn gió trong cuộc đấu tranh của cả dân tộc, họ cần đến sự ủng hộ, sự đồng cảm, cả tình yêu nữa, nếu có thể nói như thế, của tất cả chúng ta. Giễu cợt họ là rất không nên. Việc đặt tên cho bài viết cũng không đạt. Tôi nói thế với tư cách độc giả thôi, tôi nói cảm tưởng của tôi thôi, tôi không phải nhà phê bình nói về nghiệp vụ báo chí, cảm tưởng thế nào tôi nói thế ấy, mong hai tác giả không giận. Tên bài thì kêu, nhưng không thích hợp, các bạn ạ. Làm gì có miếng bánh Nhà dân chủ Lớn để người ta tranh nhau cơ chứ? Chưa đến lúc ấy đâu. Nếu bây giờ đã có miếng bánh ấy rồi thì nó đang ở đâu nào? Trong Bắc bộ phủ chăng? Không phải. Trong những nhà tù, trong những phòng thẩm vấn, vâng, ở những chỗ ấy. Làm gì đã có những vùng dân chủ cát cứ với những sứ quân cân đai mũ áo để mà có não trạng sứ quân? Nguyên nhân những lủng củng ấy ở chỗ khác kia, bạn ơi, không phải ở miếng bánh mà anh Lưu Vũ chỉ ra đâu, cũng không phải ở những sứ quân đâu. Giá mà ở nước ta bây giờ có được thập nhị sứ quân dân chủ nhỉ? Thì rồi sẽ có một Đinh Bộ Lĩnh dân chủ thâu gồm họ lại, khỏi lo. Những sứ quân dân chủ có thể gây lộn với nhau, nhưng chỉ trong những cuộc chiến tranh nước bọt thôi, có gì đáng sợ. Dân chủ lủng củng vẫn còn hơn độc tài toàn trị không lủng củng, nó hơn hẳn, hơn không so sánh được. Anh Trần Trung Việt rất sắc sảo khi miêu tả tình trạng:“Cờ phe tao đẹp hơn cờ phe mày. Lãnh tụ của chúng tôi xứng đáng hơn lãnh tụ của các anh. Tuyên ngôn chúng tôi ngon lành hơn tuyên ngôn của các anh. Sáng kiến của chúng tôi tuyệt vời hơn sáng kiến của các anh. Chữ nghĩa của chúng tôi hùng hồn hơn chữ nghĩa của các anh. Cương lĩnh của chúng tôi đúng đắn hơn cương lĩnh của các anh. Và hàng trăm cái để hơn thua khác. Đó là chưa kể đến những cáo buộc ác ý, chụp mũ nếu không công khai thì cũng được rỉ tai trong nội bộ của các tổ chức, các nhóm”.
 
Tình hình phong trào dân chủ ở trong nước, theo chỗ tôi được biết, không đến nỗi tệ đến thế đâu. Tình hình mà anh Việt miêu tả giống ở hải ngoại nhiều hơn. Ở trong nước, ngoài mấy người có thể đếm trên đầu ngón tay còn thừa, chỉ có mấy người ấy thôi, là hăng hái tán phát những bản photocopy (không nhiều lắm vì khá tốn kém), bằng cách gửi lên internet (rẻ rề) những lời mạ lị nhau, bới móc đời tư của nhau, bằng nhiều thủ đoạn, không từ cả bịa đặt trắng trợn. Thậm chí người ta bịa chuyện ông Trần Khuê ăn chặn tiền giải thưởng của tổ chức Quan sát Nhân quyền (HRW) tặng bà Nguyễn Thị Thanh Xuân. Chuyện này hoàn toàn không có. Tôi có đủ chứng cứ để nói rằng nó là chuyện bịa đặt. Ai không tin có thể hỏi thẳng HRW. Hay là chuyện ông Nguyễn Thanh Giang nhận tiền ủng hộ anh em dân chủ để xây nhà nữa. Cũng lại bịa nốt. Những người này không tranh luận về cách thức đấu tranh, mà chỉ trích, chửi bới nhau, chỉ vì thái độ đối xử của anh này đối với anh kia trịch thượng, vì những tự ái vặt. Không, đại đa số những người dân chủ không sa lầy trong vũng bùn ấy. Họ vẫn đoàn kết trong cuộc đấu tranh nhiều tai vạ hơn là giành được “miếng bánh Nhà Dân chủ Lớn” hoặc cái danh vọng lãnh tụ hão huyền. Làm sao được, những người thích cãi nhau nọ cũng là những con người mà, với tất cả những chỗ yếu thường có. Ta phải thừa nhận sự thật ấy thôi, phải chịu nó thôi, không thừa nhận nó vẫn cứ tồn tại. Lại có một sự thật này nữa, như là một nghịch lý: mấy ông chửi nhau ấy, vâng, chính những ông ấy, vẫn là những người đấu tranh cho dân chủ, mới buồn, tôi biết họ cả mà. Cái sự cãi nhau rất tầm phào ấy làm cho họ xuống giá thê thảm trong con mắt quần chúng, làm cho những việc họ làm mất hết tác dụng. Mà say máu cãi nhau, họ nào có biết. Đành phải thừa nhận sự thật này với niềm mong ước tình trạng ấy chóng qua. Nhân vô thập toàn, cổ nhân đã dạy. Tôi chợt nhớ đến một câu thật là hay của Erik Maria Remark trong cuốn “Biểu Tượng Đen”: “Chúng ta quý những anh hùng, nhưng họ phải là anh hùng không có rận”.  
 
ĐCV: Được biết ông vừa tham dự một hội nghị của Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế tại Đức, xin ông trình bày sơ qua về hội nghị, thành quả và những điểm thú vị, tích cực có thể phát triển và sử dụng trong cuộc vận động, đẩy mạnh phong trào dân chủ Việt Nam.
 
Vũ Thư Hiên: Hiệp hội Nhân quyền Quốc tế (ISHR) là một tổ chức phi chính phủ và bất vụ lợi. Như tên gọi của nó, hiệp hội này được thành lập chỉ để bảo vệ nhân quyền. Nó bảo vệ bất cứ ai, ở bất cứ đâu, là nạn nhân của sự chà đạp nhân quyền, không trừ cả người cộng sản bị chế độ thần quyền truy bức. Nó không nhận bất cứ tài trợ nào của các chính phủ, giữ tư cách độc lập với các chính quyền, chỉ tồn tại bằng các khoản ủng hộ của các hội đoàn phi chính phủ và cá nhân. Mà tồn tại được từ năm 1972 tới giờ, vẫn vững vàng, vẫn hoạt động có hiệu quả, mới tài. Đại hội đồng của ISHR họp năm nay có mời khách. Lần đầu tiên tôi được đến dự để tham gia đề tài “Bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí”. Cựu tổng thống Tiệp, ông Vaclav Havel không tới dự được vì sức khoẻ kém có gửi tới lời chào mừng bằng videomail. Tôi được thấy hình hai ông Havel, một ông tù trong bộ áo xọc với hai công an viên kẹp hai bên, một ông tổng thống khi nền dân chủ thắng lợi. Cũng như ở mọi cuộc hội thảo quốc tế, trong các forum mỗi diễn giả nói về tình hình nhân quyền nước người ấy. Tôi được gặp nhiều khách mời từ Trung Quốc, Cuba, Albania, Crotia… Người Trung Quốc đông hơn cả, có cả người Hoa Lục, người Đài Loan. Những người thuộc giáo phái Pháp Luân Công hoạt động mạnh nhất. Họ tranh thủ từng phút để tố cáo sự đàn áp nhân quyền, đàn áp tự do tín ngưỡng của Bắc Kinh, trên bục diễn giả, trong những cuộc gặp riêng với các đoàn. Họ chiếm lĩnh cả những phút giải lao bằng cách cống hiến những tiết mục đặc sắc: một giáo sư nhạc viện Bắc Kinh thổi tiêu, các cô gái trình diễn các màn múa hoa sen, múa lụa… Cứ như là văn công chuyên nghiệp. Hăng hái lắm. Đáng để chúng ta học tập. Ấn tượng mạnh hơn cả đối với tôi là cuộc gặp gỡ với hai người. Một là nhà cách mạng Huber Matos của Cuba. Ông này chống chế độ Batista từ năm 1952, sống lưu vong ở Costa Rica để tiếp tế súng đạn cho chiến khu Sierre Maestra, sát cánh cùng Fidel Castro, Che Guevara, Raul Castro… trong cuộc cách mạng lật đổ chính quyền Batista để xây dựng một nước Cuba mới. Nhưng nước Cuba mới này vừa thanh toán xong độc tài Batista thì lại thành độc tài cộng sản. Van nài “đồng chí Fidel, đồng chí đừng thiêu rụi cuộc cách mạng” không được, ông bị Fidel Castro cho 22 năm tù. Chịu án xong ông ra nước ngoài, viết cuốn “Đêm Đã Đến Cách Nào” kêu gọi người Cuba chống cộng. “Một nhà cách mạng kiên cường” theo chính lời Fidel Castro nói về ông trở thành “tên phản động nguy hiểm”. Bây giờ Matos là một ông già hiền từ, ít nói, nhưng ngọn lửa yêu nước tiếp tục sáng rực trong ánh mắt. Hai là cuộc gặp gỡ với Yolanda Huera Madenha – một người đàn bà nhỏ nhắn, xinh đẹp, một trong những người khởi xướng phong trào “Những người đàn bà vận đồ trắng” (Women in White). Họ là những người mẹ, người vợ của những người đàn ông chống Castro rồi bị Castro cầm tù. Họ xuống đường biểu tình đòi thả chồng con họ, bắt đầu bằng vài chục người, rồi đông lên hàng trăm người, kéo theo cả những người không có chồng con ở tù. Gặp hai người từ Cuba ấy, tôi có cảm giác xấu hổ. Tôi thấy tôi, chúng tôi, những người từng sống ở miền Bắc Việt Nam kém họ. Kém xa. Chúng tôi biết cả đấy, như họ, hoặc chẳng kém gì họ, nhưng chúng tôi cam chịu. Cam chịu dài dài. Đoàn khách từ Crotia đến cũng để lại ấn tượng mạnh – những người bảo vệ nhân quyền (họ xưng là human rights defenders chứ không thích ai gọi họ là chiến sĩ nhân quyền) trẻ măng, có một người ngồi xe lăn, rất quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ đề nghị một cuộc gặp riêng trước giờ tôi lên tàu trở lại Paris để hỏi về số phận những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam. Hoá ra họ biết về Việt Nam nhiều, hơn là tôi hình dung. Thật cảm động. Nhưng thôi, tôi nói đã dài về cuộc họp mặt này. Chỉ xin thêm một câu: trong tổ chức của ISHR có một người Việt Nam rất năng động, hoạt động rất hiệu quả là anh Vũ Quốc Dụng. Xin các bạn liên hệ với anh ấy trong các công việc liên quan tới nhân quyền.
      
ĐCV: Trước những phát triển chung, cả tích cực và tiêu cực, trong tiến trình vận động dân chủ những ngày gần đây, và kết quả (không nổi cộm) từ Đại hội X của ĐCSVN, ông hình dung phong trào dân chủ những ngày sắp đến sẽ ra sao?
 
Vũ Thư Hiên: Nước ta là nước nhỏ. Vận mệnh của Việt Nam lệ thuộc khá nhiều ở những biến chuyển trên trường quốc tế. Nếu không có sự sụp đổ của Liên Xô và gần hết phe xã hội chủ nghĩa, chắc Việt Nam không thay đổi được như ngày nay. Phải thừa nhận rằng ở Việt Nam đã có những thay đổi về mặt đời sống theo chiều hướng tốt lên, tốt là một khái niệm tương đối, tôi nhắc lại, nhưng có tốt. Trong tình hình chế độ độc tài vẫn còn đó, các quyền tự do cơ bản cho con người vẫn chưa có. Các chính sách kinh tế thay đổi đã thay đổi bộ mặt xã hội, nhưng không có gì do định hướng xã hội chủ nghĩa sinh ra như người ta quảng cáo, cái định hướng lẩm cẩm ấy chỉ làm cho sự phát triển chậm hơn thôi, vì thế trong sự giàu lên của xã hội, thu nhập quốc dân tăng, thì bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo còn tệ hơn bất cứ lúc nào trong thời kỳ trị vì của đảng cộng sản.. Đảng cộng sản có biết tjhj2 là thế không? Biết đấy, biết tốt, nhưng nó chỉ cần giữ chặt sự ổn định vị thế kẻ cai trị độc tôn, cho nên trong chính trị không có gì thay đổi cho phù hợp với phát triển kinh tế. Từ đây tất yếu sẽ sinh ra những mâu thuẫn không thể giải quyết nổi. Cũng nhờ những biến chuyển của tình hình thế giới trong đó Việt Nam bắt buộc phải hội nhập và tìm cách thích ứng, đã có sự cởi mở hơn thời cực thịnh của chế độ toàn trị. Vào thời cực thịnh ấy những người ký tên dưới bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ 2006 chắc chắn bây giờ đang ở trong các trại tập trung. Nhưng đó là những bước lùi bắt buộc, không thể cưỡng lại, chứ ý chí của nhà cầm quyền thì rắn lắm - trong chính trị thì bất di bất dịch, họ không nhả ra cho ai cái gì đâu. Chỉ có thể đấu tranh mà giành lấy thôi. Tôi không theo chủ nghĩa vô chính phủ, nhưng tôi chán cái chính trị xơ cứng cố thủ của đảng cộng sản lắm. Cho nên chẳng phải bây giờ, các thứ Đại hội của đảng cộng sản trước đây cũng vậy, chúng chẳng có ý nghĩa gì với tôi hết. Tôi chẳng chờ đợi bất cứ điều gì mới mỗi lần đảng cộng sản họp Đại hội. Đại Hôi X thì cũng thế. Nó chẳng là cái gì, nó chẳng mang lại cái gì mới cho đất nước ta đâu. Chẳng có chuyện phe siêu bảo thủ thắng lớn, phe cấp tiến đại bại đâu. Họ đều là một đồng một cốt, nếu tiếng châp choeng của dàn nhạc bị lỗi nhịp thì không phải là giữa họ với nhau có mâu thuẫn. Tôi chờ đợi sự thức tỉnh của nhân dân. Chỉ có cái đó mới mang lại sự thay đổi. Kẻ nắm quyền cai trị chẳng bao giờ tự nguyện rời bỏ ngai vàng, chân lý này xưa như trái đất. Con đường dân chủ đã được khai phá, chỉ còn cách tiến lên thôi, bạn ơi. Chẳng có cách nào khác. Không lùi được nữa rồi. Lùi là chấp nhận cái nguyên trạng tồi tệ làm cho đất nước lụn bại bên cạnh nhân loại đang đi nhanh vùn vụt. Cũng không thể chần chừ. Chấp nhận hy sinh mà tiến. Thời gian ủng hộ chúng ta. 
 
----- O -----
Thử Thách Quyền Lực Đảng CSVN
Nguyễn Sơn – ĐDCND
“Từ sai lầm này  đến sai lầm khác, thế hệ này đến thế hệ khác tiếp tục trở thành nạn nhân của những quyết định lạc hậu và phản động của đảng CSVN. Hơn 80 triệu dân, biết bao nhiêu đầu óc tầm cỡ, bao nhiêu tinh hoa dân tộc cứ phải cúi đầu nhẫn nhục, để anh mục đồng dắt đi từ cánh đồng khô này đến cánh đồng cháy khác.”
 
Từ lâu vai trò độc tôn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã thành chân lý nhờ vào bộ máy trấn áp của mật vụ, công an và quân đội. Khi đảng CSVN nắm chính quyền, trước sức mạnh của nòng súng, hơn 60 năm qua không ai dám bàn về vị trí lãnh đạo của đảng. Gần đây, sự ra đời của Đảng Dân chủ Nhân dân (DCND) đánh dấu bước ngoặt, không phải đặt lại vai trò lãnh đạo của đảng CSVN mà để góp phần cùng với các đảng phái anh em khác, đẩy đảng CSVN ra khỏi vai trò lãnh đạo - Nhân dân chính là người sẽ thực hiện quyết định đó.
 
Chủ nghĩa cộng sản đã lỗi thời  trước xu thế của lịch sử. Vì vậy, những sứ giả, những kẻ thừa sai rao giảng chân lý giả hình trước Nhân dân  mất chỗ dựa tinh thần, bị khủng hoảng, nên đâm ra lúng túng. Không biện minh được tính lý luận, thiếu thực tế trước đà tiến hoá, chủ nghĩa cộng sản bị đẩy lùi vào bóng tối. Trước bối cảnh này, các nhà lý luận đảng CSVN nặn ra cái gọi là “kinh tế thị trường  định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này, ngay cả Mác chắc cũng phải lăn đùng ra giẫy giụa, khóc thét trước đứa con bệnh hoạn, sản phẩm mà CSVN cho là một đột phá lý luận đầy cơ bản và sáng tạo của đảng.
 
Hội nghị Trung ương đảng CSVN thứ 13 và 14 và kết qủa của ĐH 10 cho thấy đảng CS đối diện với tình trạng khủng hoảng nội bộ và suy thoái trầm trọng. Hiện nay, Tổng cục 2 (TC2) khuynh đảo toàn đảng  đã làm cho Bộ chính trị bị tê liệt. Giải quyết rốt ráo các vụ án tham nhũng đang làm rúng động dư luận sẽ lôi ra hàng loạt các vụ án oan, vụ án tham nhũng khác mà TC2 và đảng đã từng nhúng tay, có dính líu đến nhiều Ủy viên Trung ương đảng, UV Bộ Chính Trị. Luôn cả phải giải quyết trường hợp đảng tịch của Lê Đức Anh, vấn đề công khai hồ sơ khi tham gia đảng, vấn đề liên hệ giữa TC2 và vây cánh của Lê Đức Anh, Đỗ Mười.  Thực ra, về mặt quyền lực, TC2 đã đứng trên đảng CSVN, TC2 chỉ đạo các sách lược và sắp xếp nhân sự lãnh đạo. Đảng và TC2  dựa vào nhau để sống còn. Đảng cần TC2 để trấn áp, bảo vệ bộ máy đảng và cai trị xã hội dưới chế độ toàn trị, ngược lại TC2 cần đảng, hợp thức hoá vai trò của mình để cả hai cùng tồn tại.
 
Mặc dù áp lực chính trị rất mạnh mẽ. Các góp ý đòi hỏi đảng phải thay đổi cho phù hợp với trào lưu thế giới càng lúc càng tăng. Dù vậy, vai trò lãnh đạo đảng vẫn chưa bị thử thách. Trào lưu dân chủ có tiến bộ hơn, đảng có nhượng bộ một chút trước áp lực của công luận, trước viễn ảnh phải vuốt ve siêu cường để vô được WTO, trước việc cần ngả sang Mỹ để cân bằng chiến lược với Trung quốc. Nhưng đảng CS quyết  không nhượng bộ đến nỗi phải sửa đổi hay hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, điều khoản qui định ngôi vị độc tôn lãnh đạo đảng CSVN. Đảng chọn thái độ đối đầu với sức mạnh của Nhân dân.
 
Từ lâu, đảng CSVN đã không khoan nhượng với bất cứ lực lượng chính trị nào dám thách thức quyền lực của đảng. Căn bệnh gia trưởng, phong kiến, tâm lý cha già dân tộc, tính tự mãn vì bị quyền lực thoái hoá đã che mất lý trí những nhà lãnh đạo Đảng CSVN.
 
Bị bao vây trong lồng kính tập trung dân chủ, những khối óc trong Bộ chính trị xa lạ với sinh hoạt chính trị dân chủ, đa nguyên. Những quyết định sai lầm ảnh hưởng đến sinh mạng cả dân tộc đều thu gọn trong các cuộc họp kín ở Bộ Chính Trị. Cụ thể, chỉ  ý kiến của một hoặc hai UV  BCT đã mang yếu tố quyết định. Cuộc cải cách ruộng đất gây bao thảm hoạ cho cả miền Bắc, chiến dịch đánh tư sản mại bản làm sụp đổ nền kinh tế miền Nam, chính sách tập trung cải tạo những quân nhân viên chức chế độ miền Nam làm chia rẻ cả dân tộc, để lại bao đau sót, hận thù chồng chất, quyết định ký kết các hiệp ước với Trung quốc làm mất đất, mất lãnh hải cha ông bao đời gây dựng.  Và gần đây nhất quyết định đưa Việt Nam vào cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đang  ra sức kéo lùi đà tiến hoá của dân tộc.
 
Từ sai lầm này  đến sai lầm khác, thế hệ này đến thế hệ khác tiếp tục trở thành nạn nhân của những quyết định lạc hậu và phản động của đảng CSVN. Hơn 80 triệu dân, biết bao nhiêu đầu óc tầm cỡ, bao nhiêu tinh hoa dân tộc cứ phải cúi đầu nhẫn nhục, để anh mục đồng dắt đi từ cánh đồng khô này đến cánh đồng cháy khác.
 
Sự ra đời Đảng Dân chủ Nhân dân không phải ngẫu nhiên như trái sung rụng từ trên cây xuống. Đây là kết qủa của quá trình chuẩn bị âm thầm, từng bước xây dựng căn bản chính trị và lực lượng để đảng hình thành và hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn. Nó là kết tinh của những khối óc trăn trở từ thành viên Câu Lạc Bộ Dân Chủ, và Ủy ban Vận động Tự do cho Tù nhân Chính trị Việt Nam, là kết hợp khởi đầu của những trí thức từ Nam chí Bắc. Tất cả hội tụ lại vì đau xót trước đất nước tan hoang, bị dày xéo bởi một tập đoàn lãnh đạo ù lỳ, phản động nhất trong lịch sử dân tộc. Sau một năm kể từ ngày công bố Tuyên Ngôn lập đảng, với hơn 95% đảng viên có bằng Đại Học hoặc cao hơn, liên tục tham gia đấu tranh đòi Tự do - Dân chủ trải rộng từ Nam đến Bắc; đảng DCND hiện hữu và chiến đấu theo dòng sinh mệnh của dân tộc sẽ là một thách đố chính trị đối với đảng CSVN.
 
Từ lâu, bộ máy đảng quen với quán tính “không đối lập” cho đến khi bị đứng trước thử thách. Đảng CSVN giờ đây đang bị bứt ra khỏi qũy đạo quen thuộc – qũy đạo không đảng phái đối lập chính trị hoạt động tại Việt Nam - Thông thường thì họ phản ứng rất quyết liệt, thô bạo và chủ trương trấn áp tới cùng. Đảng CS không ngần ngại sử dụng bạo lực, chuyên chính nhằm triệt tiêu đối lập. Đó là phương cách duy nhất của cường quyền để bám chặt vị trí độc tôn.
 
“Muốn lật đổ chế độ, phải để cái thối nát đến chỗ tận cùng”. Lênin đã nói vậy, như một lời tiên nghiệm cho các chế độ toàn trị. Vấn nạn của dân tộc Việt Nam là chế độ độc tài- toàn trị hiện nay đã thối nát đến chỗ tận cùng chưa ? Những tệ nạn tham nhũng đã đến chỗ ghê tởm chưa ? Những nhũng lạm, cửa quyền, tuỳ tiện từ bộ máy cai trị cấp làng, xã, huyện cho đến tỉnh thành đã đến chỗ không chịu đựng được nữa chưa ? Những hà hiếp, áp bức Nông dân gây ra bao cảnh khiếu kiện, nghèo đói, oan ức - Những đàn áp, bóc lột khi tiếp tay tư bản ngoại quốc, quay lưng lại nỗi bất công của Công nhân đã chín muồi chưa ?...
 
Nếu chưa thì nhân dân Việt Nam còn chịu đựng sự cai trị độc tài của Đảng CSVN đến bao giờ ?
 
Điều gì đã làm cho cả dân tộc từng tự hào về lòng quật khởi chống ngoại xâm lại bị tê liệt trước nanh vuốt của độc tài, đảng trị.  Độc tài là giặc nội xâm, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Vậy thì tại sao những thế hệ thanh niên đã từng lao mình vào cuộc chiến chống ngoại xâm nhưng lại thụt lùi trước cuộc chiến chống độc tài?. Điều gì đã làm cho những lực lượng  trí thức ưu tú nhất, tiếp tục quay lưng trên nỗi đau khổ của dân tộc, cứ nhắm mắt, bịt tai nhìn đất nước, nhân dân càng lúc càng tang hoang, thảm bại.
 
Điều gì có thể làm chúng ta bật dậy, không đắn đo suy nghĩ, không so đo thua thiệt, không sợ sệt chần chừ, cả nước, người người lớp lớp, có cuốc dùng cuốc, có búa dùng búa, có viết dùng viết, có cái gì dùng cái nấy tràn về khu Bùng Binh Sài Gòn, lao về khu Ba Đình Hà Nội. Cả triệu con tim rực lửa, gầm vang trời đòi “Dân chủ, Tự do”. Liệu Bộ chính trị, trung ương Đảng CSVN, những ông già bệnh hoạn, bảo thủ; vỏn vẹn trăm người có bị nghiền nát trước sức mạnh của Nhân dân không?
 
Cái sức mạnh kết tinh từ hàng chục năm của những dân tộc từng bị Cộng sản cai trị,  bị dồn nén, bị áp bức, mà chính cựu Tổng thống Tiệp Khắc Václav Havel đã từng nhận định: Ðây không phải là sự kiện từ trên trời rơi xuống, mà nó là một cái gì có tính cách tự nhiên, không thể tránh khỏi, hậu quả của một giai đoạn chuyển biến lịch sử làm ám ảnh hệ thống chính quyền Cộng Sản. Kết tinh từ hàng ngàn lý do, những kẻ phản tỉnh đã hiện hữu từ lâu, kể từ ngày chính quyền này ra đời vì họ không thể chấp nhận được sự tàn bạo, tùy tiện sử dụng bạo lực để đàn áp tất cả những ai khác chính kiến. Hơn nữa cũng chính vì hệ thống cai trị độc tài này đã trở nên lão hoá, cứng nhắc không thích hợp cho bất cứ một sự ứng dụng mới mẻ nào có ý hướng thay đổi cấu trúc chính trị của nó”.
 
Đảng CS Nga, CS Tiệp, CS Ba Lan, CS Đông Đức, CS Hungary, CS Romania…. đã bị đổ nhào, liệu Đảng CSVN có thoát khỏi qui luật này không? Nhân Dân Việt Nam chính là người sẽ trả lời câu hỏi lịch sử đó.
 
----- O -----
 
ĐÌNH CÔNG LÀ TIỀN ĐỀ LÀM THAY ĐỔI HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI VIỆT NAM ?
 
                                                                                                                Nguyễn Hải Sơn
 
Cuộc đời con người gắn liền với công việc, do vậy không có công ăn việc làm là một cảnh khốn nạn của đời người và là tiền đề cho những bất ổn xã hội. Nhưng có một nghịch lý vào một thời điểm nào đó, người công nhân không muốn làm việc để đòi lại quyền lợi cho mình, đó là đình công.
 
Ai đi làm cũng mong kiếm được đồng tiền để nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình và một ít để dành khi ốm đau hoạn nạn. Đồng lương càng cao so với mặt bằng chung thì người lao động càng vui vẻ với công việc của mình, còn ngược lại đồng lương eo hẹp thì người lao động chuyển đi nơi khác hoặc suy tính lại sức lao động của mình. Khi người công nhân biết được đồng lương của mình đang bị xén bớt thì họ sẽ tìm cách phản ứng lại. Sự tranh chấp giữa chủ và thợ xảy ra. Cuộc sống càng khó khăn, công việc càng khan hiếm thì sự tranh chấp càng căng thẳng. Phản ứng của người công nhân có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Lịch sử đã từng có chuyện công nhân đập phá máy móc vì cho rằng máy móc bóc lột sức lao động và là nguyên nhân làm cho họ thất nghiệp. Phản ứng tiêu cực của giai cấp công nhân có thể là thảm họa cho ông chủ và cho cả nền kinh tế.
 
Sự phẫn nộ của hàng vạn công nhân là cơn sóng thần đập vào nền kinh tế vốn đã ốm yếu như Việt Nam.
 
Anh chị em công nhân là những người ra đi từ những vùng quê nghèo khó của miền Bắc, miền Trung, miền Tây. Những nơi này trước kia là căn cứ cách mạng, họ ra đi từ một vùng đất mà nhiều thế hệ cha ông đã hy sinh để giành độc lập. Họ mang trong người dòng máu ngang tàng của những bậc anh hùng. Trước đây nghe theo lời tuyên truyền của Cộng Sản (CS), cha ông của họ đã không tiếc tài sản, xương máu để đóng góp, hy sinh cho đến ngày thắng lợi. Nhưng không bao lâu sau sự tức giận đã bùng lên, bởi vì lòng yêu nước của họ đã bị phản bội. Hòa bình lập lại, tưởng rằng có thể sống hạnh phúc trên mảnh đất quê hương, không ngờ các thế hệ con cháu phải lang thang đến tận phương Nam để tìm việc.
 
Đồng tiền ở quê khó kiếm, làm ruộng một nắng hai sương đến mùa mới gặt hái mới thu hoạch hoa màu, còn tiền bạc thì ngày nào cũng phải chi. Tiền ma chay giổ chạp, rồi còn phải tiền công trái, an ninh quốc phòng, đền ơn đáp nghĩa… Hồi còn bao cấp ai cũng nghèo giống nhau nên không có gì xấu hổ, còn bây giờ người ta so đo, đố kỵ nhau dữ lắm. Nhà hàng xóm có con Đờ-rim tàu (Dream Trung quốc) thì nhà mình cũng phải có, nhà thằng em đúc một tấm thì thằng anh phải làm cao hơn. Người ta nhìn nhau để sống, để ganh ghét hơn thua.
 
Mật ít ruồi nhiều, chính sách dành cho người có công, thương binh liệt sĩ không phải bao giờ cũng sẵn. Tài nguyên quốc gia thì ít nhưng những hy sinh đóng góp cho cách mạng thì quá lớn, do đó khó có chuyện phân chia công bằng. Người có tiền đút lót thì được công nhận thương binh, liệt sĩ; còn những ai không có tiền, không thân thế thì cha mình là liệt sĩ cũng không được gì.  Biết vậy thôi thì cứ vô Nam kiếm ăn cho rồi.
 
Những con người sống ở vùng quê vốn chịu đựng, chân chất như hạt lúa, củ khoai. Xa làng xóm gia đình là cả một nỗi nhớ, thế mà có những cô công nhân 4, 5 năm chưa một lần về quê ăn Tết. Sự chịu đựng đã biến trái tim họ khô cằn. Hoàn cảnh đã làm cho con người ta lì lợm và cương quyết hơn. Một tuần làm việc 7 ngày, một ngày làm việc từ 7 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Ngày nào không tăng ca là một ngày nhàn hạ. Họ làm việc như một cái máy nên khi được nghỉ một ngày là lăn ra ngủ. Có nhiều phóng sự viết về công nhân: Những công nhân không thấy ánh mặt trời, bởi vì họ đi làm lúc mặt trời chưa mọc và họ trở về khi phố đã lên đèn. Phương tiện giải trí là chiếc Ti-Vi, với những chương trình nhạt phèo. Sách vở báo chí không có, một tờ báo 2 ngàn, thôi để thêm tiền đi chợ. Nếu ai đã từng sống trong tình cảnh của anh chị em công nhân sẽ thấy được sự chịu đựng và chi li của họ.
 
Đoàn Thanh niên CS là cánh tay phải, đội hậu bị của đảng. Đoàn muốn phát triển đoàn viên trong anh chị em công nhân nhưng hầu như chẳng quyến rũ được ai. Một sân chơi cho anh chị em công nhân không có, vừa rồi công ty Nike tặng cho công nhân ở khu công nghiệp Đồng Nai mấy cái sân bóng đá mi-ni trồng bằng cỏ nhân tạo. Không biết anh chị em có dùng cho việc giải trí, luyện tập thể thao không?
 
Thực tế đồng lương của người lao động VN quá thấp, mỗi tháng chỉ nhận vài trăm ngàn nhưng phải chi phí nhiều thứ: tiền thuê nhà, tiền ăn, tiền may sắm… còn tiền gửi về quê giúp đỡ cha mẹ già nuôi em ăn học. Với hàng trăm thứ lo toan họ phải sống thắt lưng buộc bụng. Khi lạm phát xảy ra, đời sống của những người có đồng lương thấp càng thêm khó khăn hơn; như vậy đòi tăng lương là điều hợp lý. Nhưng với cơ chế đảng lãnh đạo tuyệt đối như hiện nay thì công đòan không phải là người đại diện cho công nhân mà là để bảo vệ quyền lợi của đảng. Những kiến nghị, yêu cầu của công nhân không được giải quyết; do vậy đình công là biện pháp cuối cùng để đòi lại quyền lợi cho mình.
 
Nhà đầu tư là những người đến từ Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan… những con người mà cách đây 40 năm đi góp nhặt từng đồng. Họ giàu lên nhờ con đường tư bản mà quốc gia họ đã chọn lựa. Đất nước của họ trở thành cọp, thành rồng trong những năm tháng mà CSVN xúi giục dân chúng đánh thắng “tên đế quốc đầu sỏ và hung hãn nhất thời đại”. Tinh hoa của nhân loại, lương tâm của thời đại để làm chi trong khi dân Việt cứ mãi đi làm thuê, làm mướn? Trong chiến tranh lạnh, khi hai bên đều đổ tất cả nhân tài, vật lực để hù dọa nhau thì dân tộc VN tự biến thành cuộc chiến tranh nóng. Sau một thời gian hả hê với “chiến thắng vang dội địa cầu”, VN trở thành quốc gia nghèo nàn, lạc hậu với biết bao thương tích. Sức lao động ở VN rẻ như bèo; bác sĩ, kỹ sư ra trường mỗi tháng còn nhận vài trăm ngàn, huống gì những người không được học hành đến nơi đến chốn.
 
Khi đồng lương không đủ chi tiêu thì công nhân đòi tăng lương, nhưng đề nghị này không dễ dàng được chấp nhận. Những bất hợp lý trong lao động càng kéo dài thì tranh chấp âm ỉ giữa chủ và thợ càng tăng lên. Kêu công đòan cũng không thấy chuyển biến, các cơ quan hữu quan xuống kiểm tra, đề nghị với ông chủ thế này thế khác nhưng rồi đâu cũng vào đấy. Cuối cùng anh chị em công nhân tự phát đình công, như vậy người công nhân đã có một vũ khí đấu tranh để đòi lại quyền lợi cho mình. Không ai dạy công nhân đình công cả, họ đã tìm thấy một công cụ trên con đường mưu cầu tốt đẹp cho cuộc sống của mình.
 
Sau khi đình công xảy ra, mấy ông chính quyền, sở thương binh-lao động-xã hội, quản lý khu công nghiệp ngồi với nhau để phán quyết rằng: Tất cả những cuộc đình công đều sai pháp luật. Xin đừng nhắc đến pháp luật ở VN, bởi vì làm đúng lụât thì người dân chẳng bao giờ có được cái quyền của mình. Ví dụ như cái hộ khẩu để chứng nhận quyền cư trú thì đến nay nhiều người vẫn không có. Hiến pháp đã quy định quyền cư trú của công dân nhưng luật pháp lại cản trở quyền cư trú bằng đủ các nghị định? Ai muốn có thì phải “chạy”.  Điều 12 của tuyên ngôn quốc tế về quyền dân sự và chính trị của LHQ nói rành rành là mỗi người sinh ra đều có quyền cư trú, nhưng thực tế qua những năm cai trị của CS nhiều công dân VN không có cái quyền này. Họ gặp rất nhiều khó khăn trong các giao dịch pháp lý và dân sự. Bất cứ chính quyền nào không cho công dân của mình một quyền cư trú là vi phạm hiến pháp và vi phạm quyền con người.
 
Với chính sách vắt kiệt sức lao động và với một môi trường lao động tồi tệ như hiện nay, chẳng bao lâu nữa, VN sẽ mất nguồn lao động có tiếng là cần cù và thông minh. Do an toàn lao động bị bỏ lơ nên tai nạn thường xảy ra làm tốn kém tiền bạc, thời giờ, thậm chí làm mất khả năng lao động của công nhân. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ đang diễn ra gay gắt. Vì đời sống lam lũ nên không một ai muốn mình là công nhân cả. Nhiều thanh niên kiếm cho được cái bằng đại học để vào đời, vì thế chuyện mua bằng bán cấp như là một vấn nạn. Chỉ cần một cái bằng đại học là có cơ hội thóat ra khỏi kiếp thợ. Người thành phố khá giả không muốn con mình trở thành công nhân, lương một tháng không đủ cho các cô cậu quý tử chơi một đêm. Bất công xã hội đang hoành hành vì chính sách xã hội không quan tâm đến người lao động. Khẩu hiệu “lao động là vinh quang” của thời bao cấp không còn chổ trong ý nghĩ của người công nhân là làm thế nào để kiếm đủ tiền sinh sống.
 
Trong kinh tế học lao động người ta thường dùng đến cụm từ tái tạo sức lao động. Nghĩa là phải ăn uống, nghỉ ngơi, lao động như thế nào để ngày mai có thể làm việc tốt hơn, năng suất cao hơn. Sau mấy chục năm bị CS cai trị, sức lao động người VN ngày càng què quặt, mệt mỏi. Cả năm 2005, VN chỉ có một bằng sáng chế đăng ký với thế giới và tình hình mất sức lao động ngày càng tăng. Sức lao động cũng là tài nguyên quốc gia. Rừng đã trụi, biển đã cạn và con người ngày càng khô đét. Một dân tộc như thế không sớm thì muộn sẽ là nô lệ cho ngoại bang.
 
Những ông chủ từ nước Rồng, nước Cọp đến các khu công nghiệp đầu tư. Chính quyền địa phương chỉ việc lấy đất của nông dân xây dựng thành khu công nghiệp, khu chế xuất để chào mời. Nhà tư bản khai thác sức lao động theo những biến động của thị trường; còn đảng vẫn định hướng XHCN, nghĩa là hòan tòan không có chuyện bóc lột, bóc da gì ở đây cả. Nhà tư bản tin rằng trong một thể chế độc tài như VN, người công nhân chẳng thể nào chống lại những qui định, luật lệ do nhà nước ban hành. Nhưng thực tế không phải vậy, từ đầu năm 1995 đến nay, trên cả nước đã có 978 cuộc đình công của anh chị em công nhân, trong đó doanh nghiệp FDI chiếm 64,3% số vụ. Hầu hết các cuộc đình công đều không có công đòan lãnh đạo và đúng theo trình tự của Luật Lao động (nguồn của Tổng Liên đòan Lao động VN).
 
Các ông chủ tư bản cân nhắc tối đa lợi ích của mình. Để kêu gọi đầu tư nhiều địa phương phải hạ giá thuê đất xuống bằng không, điều này đã vô tình phá hoại chính sách đầu tư chung của chính phủ, làm ngân sách địa phương giảm sút và bệnh thành tích có cơ hội sinh sôi nẩy nở. Nếu không có đầu tư nước ngoài và ngoại hối không biết chính phủ VN sẽ giải quyết nạn thất nghiệp như thế nào?
 
Đình công và thất nghiệp đều là không đi làm, chỉ khác nhau ở chỗ: thất nghiệp là người lao động mất công ăn việc làm, còn đình công là người lao động chủ động nghỉ việc để đòi yêu sách. Đình công và thất nghiệp đều gây nên những xáo trộn xã hội nhưng đình công sẽ mang lại một khí thế mới cho nền kinh tế, đình công sẽ mặc cả lại quyền lợi giữa chủ và thợ. Khi kinh tế tăng trưởng nhưng giai cấp công nhân không được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó thì đình công sẽ xãy ra.
 
Giai đoạn sa sút kinh tế sẽ làm tăng thất nghiệp và để lại nhiều hệ lụy. Thất nghiệp có làm giảm đình công không? Những ai đã từng sống trong thời kinh tế bao cấp sẽ hiểu được giá trị việc làm, tất cả người lao động đều phải vào các xí nghiệp quốc doanh hoặc hợp tác xã; vì không có kinh tế tư nhân nên người lao động khó kiếm được việc làm. Thời đói khổ nhưng làm gì có chuyện đình công; một phần nữa là do sợ hãi, đảng sẽ chụp mũ những người muốn đình công là phá họai chính sách kinh tế XHCN. 
 
Hiệu ứng đình công? Đình công có tính lây lan, bởi vì anh chị em sống trong cùng một khu làm việc, hơn nữa họ có quan hệ thôn làng nơi đã cất bước ra đi. Thông tin được truyền miệng còn nhanh hơn cả truyền hình. Tâm lý của con người VN là thấy “người khác ăn khoai mình cũng vác mai đi đào”, cho nên thấy công nhân đình công đòi tăng lương và đòi được thì mình cũng làm theo.
 
Không chỉ công nhân làm trong các doanh nghiệp FDI đấu tranh đòi tăng lương mà công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cũng đòi tăng lương. Không thể có chuyện trong cùng một khu công nghiệp, trong cùng một khu nhà trọ, cùng một công việc nhưng lương của công nhân làm cho tư nhân thấp hơn 2,4 lần so với công nhân làm việc cho FDI. Để giải quyết sự bất công này chính phủ phải quy định một mức lương tối thiểu chung cho tất cả thành phần kinh tế.
 
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh thì việc tăng lương quá dễ dàng, bởi vì VN vẫn còn là một nền kinh tế bao cấp. Mọi công nhân viên chức trong bộ máy nhà nước đều được ưu đãi về chính sách và lương bổng. Còn các doanh nghiệp tư nhân thì đủ các “ngón nghề” để làm cho đồng lương tối thiểu ở mức thấp nhất. Căn cứ vào đồng lương tối thiểu để đóng bảo hiểm xã hội và các chế độ khác cho người lao động, do vậy các ông chủ tư nhân không muốn tăng lương cơ bản nên xé nhỏ nó ra để tính theo các chi phí khác như tiền phụ cấp, tiền chuyên cần, tìên tăng năng suất… Ông chủ tính thì công nhân cũng tính, một đại diện công nhân đã phát biểu: “Nếu yêu cầu của chúng tôi không được giải quyết thì chúng tôi vẫn vào làm, nhưng tới đợt cao điểm giao hàng, chúng tôi tự ý nghỉ việc 4 ngày rồi đi làm lại. Để xem lúc đó công ty có thỏa thuận lại không? Công ty không thể đuổi việc vì theo luật quy định tự ý bỏ việc 5 ngày mới bị xử lý”. Chiến thuật đấu tranh kiểu này đã đưa công ty vào thế thụ động. Nếu ông chủ và công nhân không thỏa hiệp được thì quyền lợi công ty sẽ thua thiệt hơn là công nhân.
 
Nếu như tăng lương tối thiểu cho tất cả các doanh nghiệp không phân biệt chủ sở hữu, thì chưa chắc sẽ chấm dứt các vụ đình công. Bởi vì ngòai lương ra, anh chị em công nhân còn đòi giảm giờ làm, đòi không được tăng ca quá mức, đòi công khai đơn giá gia công, đòi được nghỉ có lương khi ốm đau bệnh tật…
 
Có những câu hỏi về tình hình tăng lương tối thiểu hiện nay, nếu trả lời được chúng ta có thể bảo đảm lợi ích của người công nh