Đối Thoại                                          Website:Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư Số 63 - Ngày 07 tháng 05 năm 2007

 

ĐIỆN THƯ

Tự Do - Dân Chủ - Công Bằng - Thịnh Vượng

 
     
Cơ quan ngôn luận Đảng Dân chủ Nhân dân trân trọng gửi tới độc giả trong và ngoài nước thông tin liên quan đến Việt Nam . Đảng DCND cảm tạ các đóng góp từ nhiều nguồn để tờ báo mỗi ngày được phong phú.  Mọi liên lạc, góp ý gửi về : dangdanchunhandan@yahoo.com
 
                                                                                    Số: 63 - Tháng 5, 2007

Tin Ghi Nhận

- Phiên toà xử các lãnh đạo đảng Dân chủ Nhân dân gồm bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, luật sư Nguyễn Bắc Truyễn đã đươc nhà cầm quyền Hà nội công bố là ngày 10 tháng 5 và phát ngôn nhân Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, luật sư Trần Quốc Hiền vào ngày 15 tháng 5. Thân nhân của các nhà dân chủ này đã không được thông báo về phiên toà, nhiều người chỉ biết sau khi đọc tin trên báo, vì vậy đã không có thời gian để tìm luật sư. Riêng trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, gia đình đã làm đơn xin hoãn phiên toà để có thời gian cho luật sư nghiên cưứ vụ án, tuy nhiên vẫn chưa được trả lời từ phía chính quyền.

- Tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam trong thời gian qua chưa có sự cải thiện. Trên địa bàn TPHCM,trong 3 tháng đầu năm 2007, đã xảy ra 316 vụ tai nạn giao thông khiến 264 người thiệt mạng và 198 người bị khác bị thương. Số người thiệt mạng vì tai nạn giao thông ở TPHCM tăng 5,6 % so với cùng kì năm ngoái. Xin được nhắc lại là trong năm 2006, cả nước có 12.757 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông, tăng 10,72% so với năm 2005, và con số bị thương tích là 11.288 người.Theo một ước tính của Ngân hàng phát triển Châu Á, thiệt hại về người và vật chất do tai nạn giao thông ở Việt Nam một năm là vào khoảng 885 triệu.

- Ngày 10/4/2007, Chính phủ Việt Nam ban hành nghị định 63/2007/NĐ-CP về Quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Đáng lưu ý là các điều khoản sau:

Điều 6, khoản 7. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số để chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

Điều 9 khoản 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ trên môi trường mạng bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác ở cấp độ mật đã được pháp luật quy định.

Khoản 3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ trên môi trường mạng bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác ở cấp độ tối mật đã được pháp luật quy định.

Điều 19 khoản 3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không sử dụng tên miền quốc gia ''.vn'' trên trang thông tin điện tử đối với các tổ chức chính trị xã hội và cơ quan báo chí xuất bản của Việt Nam;

b) Không sử dụng tên miền quốc gia ''.vn'' hoặc không đặt máy chủ tại Việt Nam đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước;

Như vậy, nghị định 63/2007/NĐ-CP này đã đi thêm một bước rất sâu, nhằm thắt chặt kiểm soát thông tin cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để công an trấn áp các nhà bất đồng chính kiến trao đổi thông tin, và bày tỏ quan điểm trên môi trường mạng Internet.

- Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ, hôm 3-5-2007, đã đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia “cần đặc biệt quan tâm” vì vi phạm quyền tự do tôn giáo. Chúng ta biết rằng, vào năm ngoái, trước chuyến công du Việt Nam  của Tổng thống Bush, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách này như một cử chỉ ngoại giao đầy thiện ý. Nhưng tình trạng vi phạm quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam vẫn không được cải thiện. Hàng loạt các vị lãnh đạo tôn giáo vẫn bị xâm phạm quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại, quyền tự do hành đạo. Xin được nhắc lại là ngay sau chuyến thăm Vatican của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, chính quyền địa phương ở huyện Nho Quan - Ninh Bình đã ra lệnh đập phá bức tượng “Đức Mẹ sầu bi” vừa mới được bà con giáo dân dựng lên nơi đây. Chính quyền còn đe doạ giáo dân không được “làm to chuyện”. Những hành động như thế của chính quyền mang tính chất kỳ thị và xúc phạm nặng nề đến tôn giáo. Tuy nhiên, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam lại luôn khẳng định với quốc tế là Việt Nam  tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

----- O -----

Đảng Dân chủ Nhân dân

Thông Cáo

V/v: Phiên Toà Xử Đảng viên Đảng Dân Chủ Nhân Dân và Thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam

 

 

Bác sĩ Lê Nguyên Sang, Ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn và Luật sư Trần Quốc Hiền

(Ngày 3 tháng 5, 2007) -  Nhà cầm quyền Hà Nội đã chính thức thông báo sẽ đem các lãnh đạo Đảng Dân chủ Nhân dân gồm Bác sĩ Lê Nguyên Sang, Ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn và Luật sư Trần Quốc Hiền, thành viên khối 8406 và cũng là phát ngôn nhân của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam ra xét xử vào các ngày 10 và 15 tháng 5 năm 2007.

Đảng Dân chủ Nhân dân thành lập tại Việt Nam từ năm 2005, hoạt động trên căn bản đấu tranh ôn hoà cho nhân quyền, dân chủ và tự do cho Việt Nam. Các đảng viên đã phổ biến quan điểm, đường lối và chủ trương của Đảng bằng những hình thức hoàn toàn hợp pháp. Những cáo buộc của nhà nước CHXHCNVN nhắm vào các lãnh đạo Đảng như Bác sĩ Lê Nguyên Sang, Ký giả Huỳnh Nguyên Đaọ, Luật sư Nguyễn Bắc Truyễn vi phạm tội 88 luật hình sự "tuyên truyền chống nhà nước", chỉ che đậy âm mưu nhằm đàn áp thô bạo các nhà dân chủ, bóp nghẹt các tiếng nói phản kháng. Đấu tranh cho dân chủ, phê phán nhà nước, đảng viên tham nhũng, phát biểu và phổ biến các quan điểm chính trị khác biệt với đường lối của Đảng CSVN là một hình thức thực thi quyền công dân đã minh thị trong điều 69 Hiến pháp nước CHXHCNVN, không thể chụp mũ và vu cáo cho là "tuyên truyền chống nhà nước".

Đối với Luật sư Trần Quốc Hiền, vì tham gia, hoạt động trong khối 8406 và giữ vai trò phát ngôn nhân của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, đấu tranh cho quyền lợi công, nông dân mà bị bắt, bị gán ghép tội tuyên truyền và phá rối an ninh càng minh chứng bản chất hung bạo và vi hiến của nhà nước toàn trị Việt Nam.

Cũng như các luận điệu vu cáo đối với Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê thị Công Nhân và nhiều nhà dân chủ khác. Nhà cầm quyền Hà Nội vì muốn giữ độc quyền chính trị, đã thẳng tay đàn áp thô bạo các nhà bất đồng chính kiến chỉ vì họ đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do. 

Đảng Dân chủ Nhân dân cực lực lên án hành động đàn áp của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Đảng Dân chủ Nhân dân nói riêng và đối với các lực lượng,  phong trào hay cá nhân đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và tự do nói chung. Có áp bức, có đấu tranh. Đàn áp, bắt bớ, tù đày chỉ làm cho nhân dân lên án, dư luận thế giới tẩy chay, cô lập, đẩy Việt Nam vào con đường tụt hậu, chậm tiến và càng thể hiện rõ bản chất độc tài của chế độ toàn trị.

Đảng Dân chủ Nhân dân

Đỗ Thành Công

----- O -----

The People’s Democratic Party

For Immediate Release

May 3, 2007 – Based on official news from Viet Nam authorities, the trial of the founder and leading members of the People’s Democratic Party (PDP) including Dr. Le Nguyen Sang, Journalist Huynh Nguyen Dao, Lawyer Nguyen Bac Truyen is scheduled on May 10, 2007. The trial of Lawyer Tran Quoc Hien, member of Block 8406 and spokesperson of The United Workers-Farmers Organization of Viet Nam follows on May 15, 2007. Both trials will take place at  People’s Court in Sai Gon City .

The People’s Democratic Party was formed in Viet Nam in 2005. The party is aiming to nonviolently fight for human rights, freedom and democracy for Viet Nam . Members of the party have distributed and written articles to promote democracy on the internet as well in print inside Viet Nam . The party believes firmly that nonviolent democratic activities are legal, not in violation of any of Viet Nam ’s law. Party members were merely exercising their citizen’s rights which are stated clearly in Viet Nam ’s Constitution, article 69 to respecting “people’s rights of freedom of speech, freedom of press, freedom of forming associations”. However, Ha Noi authorities have arrested and continued to press charges against the PDP’s members in violation of the so called “article 88” Viet Nam ’s criminal law.

Also, Lawyer Tran Quoc Hien, member of Block 8406 and spokesperson of the United Worker-Farmers Organization of Viet Nam (UWFO), is improperly charged with violating article 88, “disseminate against the state,” and article 89, “having activities to sabotage the state’s security.”

This is similar to the charges made against Father Nguyen Van Ly, the Lawyers Nguyen Van Dai and Le Thi Cong Nhan, and many other democratic and religious activists.  Ha Noi authorities have ignored completely the people’s voices and rights. They continue to arrest and charge whoever dares to speak up with the same bogus and arbitrary accusations.

The People’s Democratic Party strongly protests Viet Nam ’s suppression on PDP’s members as well as other democratic and religious organizations and activists. Where there is injustice, there will be people struggling against it.  The more improper persecutions and imprisonments of Vietnamese dissidents, the more the Viet Nam government shows to the world its true face - that of an inhumane totalitarian.

The People’s Democratic Party

Do Thanh Cong

----- O -----

RFA phỏng vấn Ông Đỗ Công Thành:
Số 4 gạch chéo là khủng bố hay hủy bỏ điều 4 Hiến pháp?

RFA 07.05.07 

Giới Thiệu:

Vào ngày mùng 10/5 tới đây chính quyền TP/HCM sẽ đưa ra xử 3 thành viên đảng Dân Chủ Nhân Dân là BS Lê Nguyên Sang, nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo và LS Nguyễn Bắc Truyền bị truy tố về tội vi phạm điều 88, tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN.

Việt Hùng của Ban Việt Ngữ đã phỏng vấn đại diện đảng Dân Chủ Nhân Dân ở hải ngoại là ông Đỗ Công Thành, người từng bị nhà nước Việt Nam cáo buộc điều này và trục xuất khỏi Việt Nam hồi tháng 9/2006

Tòa Soạn Đối Thoại (doi-thoai.com): Đối Thoại đã sao chép bài phỏng vấn từ các chương trình phát thanh cuả RFA. Trong mục đích gởi đến độc giả các bài phỏng vấn bằng dạng viết thật nhanh, nếu có sự sơ sót , xin tác giả , độc giả và đài RFA thông cảm. Mời độc giả nghe lại buổi phát thanh để hiệu đính các chỗ sai trước khi sử dụng.

Việt Hùng: Thông tin mà chúng tôi nhận được trong cuộc nói chuyện với em trai của bác sĩ Lê Nguyên Sang cho biết rằng 10/5 là xử nhưng gia đình hoàn toàn không được phía các cấp chính quyền thông báo trong khi gia đình luật sư Nguyễn Bắc Truyễn thì lại được chính quyền thông báo trước 10 ngày, tức là đúng theo tinh thần điều 182 luật tố tụng hình sự.

Ông Đỗ Công Thành: Rất khó để có sự nhận định tại sao cùng một vụ án mà nhà nước lại có những quyết định và cách hành xử khác biệt như vậy. Theo sự nhận xét của tôi, họ nghĩ rằng bác sĩ Lê Nguyên Sang có thân nhân, gia đình, có những sự liên lạc trao đổi và có khả năng thông tin ra ngoài. Chính vì vậy cho nên họ e ngại rằng nếu thông báo cho gia đình của bác sĩ Lê Nguyên Sang biết thì nguồn tin có thể bị tiết lộ ra ngoài. Đó là sự suy luận của tôi thôi, thật sự rất khó để có thể biết được là tại sao nhà cầm quyền Hà Nội lại có những hành động bất cập như vậy.

Việt Hùng: Như vậy có thể nói rằng phiên tòa ngày 10/5 tới đây chỉ có luật sư Nguyễn Bắc Truyễn là có luật sư bào chữa, còn bác sĩ Lê Nguyên Sang và ký giả Huỳnh Nguyên Đạo là không có luật sư để bào chữa hay sao ạ?

Ông Đỗ Công Thành: Chúng tôi ghi nhận được luật sư Nguyễn Bắc Truyễn thì được thông tin sớm cho nên gia đình cũng đã có tìm kiếm được một luật sư. Bác sĩ Lê Nguyên Sang cũng như ký giả Huỳnh Nguyên Đạo cho đến giờ này không có một sự chính thức gì cụ thể hết.

Việt Hùng: Ông nói phiên tòa không công khai và không công bằng, điều gì để có thể nói như vậy trong khi ngày 3/5 vừa qua tòa án nhân dân thành phố Sài Gòn đã tổ chức họp báo về việc sẽ xét xử vụ án vào ngày 10/5 và ngày 15/5.

Ông Đỗ Công Thành: Trên nguyên tắc thì họ công bố đây là một phiên tòa công khai. Tuy nhiên, theo quy định của luật pháp, nhà nước phải thông báo cho gia đình biết trong một khoảng thời gian ít nhất là 10 ngày để gia đình có thời gian chuẩn bị thuê luật sư tìm hiểu vụ án. Trên danh nghĩa là họ công bố đây là một phiên tòa công khai, nhưng với cách hành xử như vậy thì có thể nói đó không phải là một phiên tòa công khai. Một phiên tòa rất vội vã như vậy, không có luật sư hiện diện. Trong suốt thời gian quá trình giam giữ thân nhân không được gặp, luật sư không được gặp.

Việt Hùng: Thưa ông Đỗ Công Thành, các ông nói rằng các ông đấu tranh bất bạo động trong khi báo chí ở tại Việt Nam nói rằng có những bằng chứng cụ thể như bác sĩ Lê Nguyên Sang đã 5 lần trực tiếp in hơn 1000 tờ truyền đơn và rãi truyền đơn. Nội dung của những tờ truyền đơn đó chống đảng, nhà nước Việt Nam.

Ông Đỗ Công Thành: Đảng Dân Chủ Nhân Dân thành lập chúng tôi xác định rằng đây là một cuộc đấu tranh bất bạo động, rất ôn hòa và chủ trương tự do, dân chủ và nhân quyền là một cái gốc để đòi hỏi nhà nước phải chấp nhận tiếng nói đối lập. Trên căn bản như vậy, những công tác, hoạt động mà chúng tôi thực hiện trong thời gian từ ngày thành lập cho đến ngày hôm nay thì hoàn toàn nó không mang một tính bạo động hay kích động.

Những việc rãi truyền đơn hay phổ bến trên mạng, viết bài, in báo v.v… là những việc làm mang tính phổ biến một tư tưởng, một quan niệm, một đường lối. Và những chuyện này đều hoàn toàn mang tính hợp pháp theo hiến pháp của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 69 đã xác định rất rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền thông tin và có quyền lập hội. Thành ra chúng tôi chỉ thực hiện quyền đó.

Việt Hùng: Nhưng thưa ông Đỗ Công Thành, ông nói rằng đảng của ông lấy tiêu chí là bất bạo động, đấu tranh cho dân chủ, cho tự do. Nhưng trong khi đó thì các ông lại rãi truyền đơn, rồi các ông tập hợp lực lượng, rồi lại kêu gọi biểu tình… những cái đó có nằm trong tiêu chí là bất bạo động hay không?

Ông Đỗ Công Thành: Như tôi đã trình bày, điều 69 trong hiến pháp nước CHXHCNVN xác định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp thì chúng tôi chỉ làm một việc là kêu gọi người dân biểu tỏ thái độ chính trị của mình. Phê phán sự sai lầm của nhà nước và đảng, tham nhũng, lạm quyền, hà hiếp của những quan chức đảng đối với nhân dân. Cái đó nó chỉ là biểu tỏ một chính kiến mà thôi, nó không phải là việc bạo động, kêu gọi bạo loạn. Hai sự kiện đó hoàn toàn khác nhau.

Việt Hùng: Nhưng phía Việt Nam thì nói rằng các làm những việc như số 4 gạch chéo trong một phóng sự gần đây trình chiếu trên tất cả các phương tiện truyền thông và truyền hình ở tại Việt Nam vẫn nói rằng Đảng Dân Chủ Nhân Dân của các ông và cá nhân ông về Việt Nam để tổ chức khủng bố tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn?

Ông Đỗ Công Thành: Khi tôi bị bắt, ngay từ giờ phút đầu là họ đã chụp mũ vu cáo cho chúng tôi là khủng bố. Và họ nói rằng cá nhân tôi về nước bằng mọi cách là đánh bom tòa lãnh sự quán ở Sài Gòn. Đây là vấn đề mà trong suốt thời gian chúng tôi phổ biến tư tưởng, quan điểm đấu tranh kêu đảng và nhà nước chấp nhận tiếng nói đối lập.

Công tác mà chúng tôi cố gắng đưa ra đó là điều 4 hiến pháp của đảng và nhà nước CSVN quy định đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước. Chúng tôi muốn kêu gọi mọi người, kêu gọi đảng thay đổi điều 4. Bằng cách đó, chúng tôi đã vận động đảng viên của chúng tôi viết số 4 gạch chéo, nó biểu tượng cho việc hủy bỏ điều 4, thay đổi điều 4, chấp nhận tiếng nói của các đảng phái đối lập.

Vì chúng tôi đã viết số 4 gạch chéo, họ cho đó là một hành động khủng bố bởi vì số 4 đó trùng với số 4 Lê Duẩn là sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Đó là thái độ vu khống. Cũng như khi họ trục xuất tôi thì họ vẫn nói rằng tôi vi phạm điều 88, và hiện nay họ đưa ra tòa những đảng viên của Đảng Dân Chủ Nhân Dân thì họ cũng cáo buộc vị phạm điều 88. Không nhắc nhở gì đến cái gọi là khủng bố. Đây chỉ là một sự vu cáo.

Việt Hùng: Báo chí ở Việt Nam thì nói rằng đảng của các ông đòi xóa bỏ điều 4 trong bản hiến pháp. Với việc làm mà các ông kêu gọi xóa bỏ hay bỏ điều 4 như vậy vô hình chung là tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN?

Ông Đỗ Công Thành: Theo một thể chế khi người dân cảm thấy rằng những quy định, những điều khoản trái với điều dân mong mỏi thì họ có quyền lên tiếng đòi hỏi thay đổi,  việc anh em chúng tôi kêu gọi sự thay đổi điều 4 hiến pháp là thực thi quyền công dân là hoàn toàn hợp lệ như tôi đã nhiều lần khẩn định hiến pháp nước CHXHCNVN nói rằng công dân có quyền tụ do phát biểu chính kiến, tự do ngôn luận thì những người này chỉ thực thi quyền của họ được qui định trong hiến pháp, công dân của một nước đòi thực thi quyền của họ được công nhận trong hiến pháp mà lại bị bắt, truy tố, giam cầm và bị xét xử thì điều đó nói lên bản chất của chế độ độc tài không tôn trọng quyền tự do chính kiến của nhân dân.

Việt Hùng: Nói như ông như vậy thì BS Lê Nguyên Sang, LS Nguyễn Bắc Truyền, nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo không phạm vào điều 88 của bộ luật hình sự Việt Nam ?

Ông Đỗ Công Thành: Đúng vậy, chúng tôi hoàn toàn không vi phạm vào điều 88

Việt Hùng: Nhưng những việc làm của các ông như rải truyền đơn, hình số 4 gạch chéo, kêu gọi mọi người biểu tình, rồi viết thư đòi gặp tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam tham dự APEC 14, ... thì những việc đó có phải là kêu gọi.

Ông Đỗ Công Thành:Trong một xã hội tôn trọng nhân quyền, chấp nhận sự khác biệt chính kiến thì người dân có quyền nói lên ước vọng của mình, nhận thức của mình. Đảng CSVN cũng công nhận rằng họ tôn trọng sự khác biệt ý kiến thì những người dân trong nước cũng như đảng Dân Chủ Nhân Dân chỉ thực thi quyền công dân của mình không có làm gì khác biệt vượt qua khỏi phạm vi đã qui định trong hiến pháp. Do đó những gì chúng tôi làm là trong khuôn khổ tôn trọng luật pháp, nếu nhà nước hiện nay đưa những anh em chúng tôi ra tòa và nói là vi phạm điều 88 thì tôi nghĩ rằng trên thực chất điều 88 và điều 69 là 2 điều đã mâu thuẩn lẫn nhau. Trong xã hội lấy căn bản hiến pháp làm chủ thì điều 69 là điều căn bản của một nước chứ không phải điều 88. Điều 88 là điều vi hiến và không có giá trị về mặt luật pháp.

Việt Hùng: Cám ơn ông Đỗ Công Thành.

Ông Đỗ Công Thành: Xin cám ơn quí đài

----- O -----

QUA V ÁN LINH MC NGUYN VĂN LÝ! NGHĨ GÌ V GIÁO HI CÔNG GIÁO VN?

Việt Cường - ĐDCND

 

Tôi là một kẻ vô thần! Đơn giản vì Bố tôi là cộng sản. Một cộng sản “gộc”, mà cộng sản thì không bao giờ chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào. Bố tôi chỉ cho treo ảnh HCM trong nhà để thờ cúng. Sau khi ông mất đi, Mẹ tôi về hưu và đã thỉnh Phật về thờ. Tôi cũng không thấy gì thay đổi, tháng hai lần thắp hương vào ngày mồng 1 và ngày rằm. Bàn thờ ngoài ảnh ông bà, bố tôi ra còn thêm tượng Phật. Tôi không nghĩ Mẹ tôi là Phật tử, bà chỉ biết thắp hương và cầu nguyện cho gia đình mình. Một Phật tử thật sự phải hiểu biết về giáo lý của Phật.
 
Thiên chúa giáo(TCG) trong con mắt của những người vô thần như chúng tôi thì có lẽ là “xấu” nhiều hơn tốt. Không hiểu từ bao giờ và bằng cách nào nhưng tuổi thơ của chúng tôi, những người cắp sách đến trường và được “dạy dỗ” dưới chế độ XHCN đều có “ác cảm” với những người TCG. Qua sách báo, truyện chúng tôi thấy các vị Linh mục luôn hoạt động chính trị, “chống phá” chính quyền cách mạng, cực đoan, bảo thủ...Ngay cả nguồn gốc của TCG cũng là ngoại lai, theo chân Thực dân Pháp vào VN và nhằm phục vụ cho chế độ thực dân và sau đó là Đế quốc. Các tổng thống của Miền Nam trước đây như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cũng là tín đồ TCG.
 
Với thời gian và sự chiêm nghiệm của mình thì nhận thức của tôi đã hoàn toàn thay đổi nhưng tôi tin rằng những suy nghĩ “cổ hủ” như trên vẫn còn ăn sâu trong nhiều người dân VN nhất là những người “vô thần” (vô thần có nghĩa là không theo một tôn giáo nào).
Dù bản thân “vô thần” nhưng tôi cũng cố gắng để tìm hiểu về tôn giáo và nhận ra rằng con người cần có tôn giáo, mỗi con người cần có một đức tin, phải biết sợ vào một Đấng tối cao nào đó. Nếu không thế con người (nhiều khi) sẽ hành động mất nhân tính, mất đi sự thương yêu giữa con người với nhau. Sự xuống cấp về đạo đức, tha hóa nhân cách của người VN ngày hôm nay cũng vì con người thiếu đi đức tin, không biết tin vào cái gì? Không biết sợ ai? Họ chạy theo vật chất và cố gắng tận hưởng những đam mê nhất thời mà vật chất đem lại cho họ để rồi khi cuộc vui tàn, tâm hồn trống rỗng và rồi để khỏa lấp nỗi cô đơn, sự trống vắng, buồn tẻ, vô vị họ lại phải lao đầu vào các cuộc vui triền miên mới và rồi vô vọng. Những người đó đang chết dần chết mòn, thậm chí đã chết khi họ đang còn sống. Ai? Cái gì? sẽ giúp họ bước ra khỏi vũng bùn đó? Để mỗi người đều có niềm vui chân thành, niềm say mê cuộc sống, và đều hướng tới một tương lai tươi đẹp? Chỉ có một thứ đó là Tôn giáo.
 
Tôn giáo không bao giờ là “thuốc phiện”, tôn giáo nào cũng hướng con người đến những điều tốt đẹp, hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ. Chính vì thế mà các tôn giáo lớn vẫn trường tồn qua bao nhiêu biến động thăng trầm của lịch sử. Tôn giáo như một đôi cánh nâng đỡ tâm hồn con người, giúp họ có niềm tin để vượt qua phong ba bão táp, vượt qua những cơ cực của ngày hôm nay để có một ngày mai tươi sáng. Tôn giáo hướng con người đến sự yêu thương và chia sẽ. Tinh thần chủ đạo của Phật giáo là sự Từ Bi (yêu thương và tha thứ) và của TCG là Bác Ái cũng chính là yêu thương và tha thứ cho con người.
 
Một tín đồ của mỗi tôn giáo đều có những cái riêng đó là những luật lệ, qui định của giáo phái mình. Nhưng ngoài những bổn phận riêng và bắt buộc của một tín đồ đối với Giáo hội thì trách nhiệm và bổn phận của một tín đồ đối với cộng đồng và xã hội cũng rất quan trọng và cần thiết. Đố là bổn phận và trách nhiệm của công dân. Một tôn giáo hay một tín đồ dù có tốt và tận tụy với giáo hội của mình bao nhiêu đi nữa mà không đoái hoài gì đến những người xung quanh, tồn tại độc lập với cộng đồng dân cư của mình thì giáo hội đó, tín đồ đó sẽ bị tách biệt và trở lên xa lạ với chính nhân dân mình.
 
Đây không phải là những lời hoa mỹ, giáo huấn mà là sự thật. Không những với các tín đồ mà còn với mỗi người dân. Muốn người khác quan tâm, lo lắng, chia sẽ với mình thì trước tiên mình phải quan tâm, lo lắng và chia sẽ với người khác. Một người bàng quang, vô tâm, không bao giờ nghĩ đến ai thì khi lâm sự hay gặp khó khăn thì sẽ không có ai giúp đỡ cả.
 
Các tôn giáo sỡ dĩ phát triển và trường tồn là vì các tôn giáo luôn yêu thương con người kể cả những người nghèo khó và bất hạnh nhất. Tôn giáo là niềm tin, là chổ dựa tinh thần (thậm chí cả vật chất) cho nhiều người. Nhất là những người đanh gặp khó khăn và tuyệt vọng.
 
Một tôn giáo nếu không yêu thương, đùm bọc và chia sẽ với con người, nhất là những người đang gặp họan nạn và khó khăn thì tôn giáo đó khó lòng mà phát triển được. Và chổ đứng của tôn giáo đó trong lòng dân tộc sẽ ra sao thì có lẽ ai cũng hiểu được.
Bây giờ xin đề cập đến chuyện của Giáo Hội Công Giáo VN qua việc chính quyền VN vừa mới xét xử và kết án một Linh Mục TCG là Nguyễn Văn Lý với bản án 8 năm tù.
Linh mục Nguyễn Văn Lý đầu tiên là một linh mục “xịn” vì ông được phong linh mục năm 1974, khi đó việc xài bằng giả và mua bằng giả hay “linh mục cuội” tức là những “linh mục kiêm đảng viên” chưa phổ biến rộng rãi như bây giờ. Đề nghị tất cả những ai cho rằng Cha Lý “đội lốt Linh mục” rút lại những lời vu khống thiếu căn cứ của mình. Việc Cha Lý làm là kêu gọi chính quyền VN tôn trọng các quyền con người đã được thế giới (kể cả VN) thừa nhận như tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, lập đảng...Hiến pháp VN cũng đã có qui định những quyền này. Tội danh “tuyên truyền chống nhà nước VN XHCN” là vi Hiến và trái với những quyền cơ bản nhất của công dân. “Tuyên truyền” có nghĩa là “dùng lời nói” mà khi dùng lời nói tức là Cha Lý đang thực hiện quyền công dân của mình tức là quyền “tự do ngôn luận”. Sai hay đúng thì chính người dân sẽ lên tiếng chứ việc “dùng lời để nói” không thể cấu thành tội danh được.
 
Như vậy bản án của chính quyền dành cho cha Lý là bất công và cha Lý hoàn toàn vô tội. Cha Lý không làm chính trị thuần túy và chuyện nghiệp mà Cha Lý chỉ làm “chính trị công dân” tức là trình bày những suy nghĩ và những kiến nghị của mình liên quan về chính trị mà chính trị thì liên quan đến mọi người dân kể các tín đồ Công giáo. Chính Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng viện hóa đạo Giáo hội Phật giáo VN thống nhất cũng cho rằng không làm chính trị những phải có “thái độ chính trị”, tức là phải biết ủng hộ cái đúng cái hay, phản đối và lên án cái dở cái xấu. Đó chính là “bổn phận công dân”.
 
Chính vì Cha Lý hoàn toàn vô tội và bản án dành cho Cha là bất công nên các tổ chức nhân quyền trên thế giới, các quốc gia dân chủ, các lực lượng tiến bộ, cộng đồng người Việt trong và ngoài nước đã kịch liệt lên án bản án dành cho Cha Lý. Tòa Giám Mục Huế và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có thấy đúng như vậy không? Tại sao các Ngài lại im lặng? Không lẽ Cha Lý có tội? Không lẽ dư luận là sai? Nếu Cha Lý có tội tại sao các Ngài bề trên lại không trừng phạt? Kể cả hình phạt nặng nề là “rút phép thông công”?
 
Chẳng lẽ các Ngài chủ chăn của GHCGVN không biết rằng trong những di sản vĩ đại mà cố Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ Đệ nhị để lại đó là đã nâng đỡ tinh thần cho người dân Balan với câu nói “đứng lên! Các con đừng sợ hãi” và chính Ngài đã giúp người dân Balan dũng cảm đứng lên giải thể chế độ cộng sản ở Balan và sau đó là cả Đông Âu? Chẳng lẽ Giáo Hoàng sai?
 
Tôi đã đọc và hoàn toàn chia sẽ những ưu tư trăn trở của ông Trần Phong Vũ khi trả lời RFA và bài viết trên diễn đàn giáo dân. Đồng tình với những trăn trở này là Linh mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải, Linh mục Chân Tín. Tôi là người “ngoại đạo” mà còn hãnh diện thay cho 7 triệu giáo dân VN vì đã có những vị “ngôn sứ” của Chúa Trời dũng cảm như Cha Lý.
 
Thật lòng tôi thấy thất vọng vì các Bề trên của Cha Lý mà cụ thể là Giám mục Huế Nguyễn Như Thể và sau đó là các vị lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo VN. Trước một sự thật như vậy mà các Ngài còn im lặng và sợ hãi thì không hiểu nên nghĩ về các Ngài như thế nào đây? Linh mục Nguyễn Văn Lý là một tín đồ xuất sắc và dũng cảm của Giáo hội mà không một ai đứng ra bảo vệ Ngài thì Giáo hội sẽ ăn nói sao đây với 7 triệu giáo dân của mình?
 
Một trong những sứ mệnh của các vị ngôn sứ của Chúa Trời là “loan báo Tin Mừng” và Tin Mừng đó là “...kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…” Thế nhưng như lời của Linh mục Đỗ Văn Lực trong bài “Trái Tim Chưa Ngủ Yên” đăng trên DĐGD số tân niên phát hành tháng 3-07 vừa qua thì “Nếu không quan tâm và tranh đấu cho quyền làm người, GHVN sẽ đem Tin Mừng qua nẻo đường nào cho dân tộc?
 
Xin mượn những lời tâm sự của một giáo dân là anh Nguyễn Đình Thao qua lời ông Trần Phong Vũ (trên RFA) để gửi đến các vị lãnh đạo Giáo Hội VN “Anh Thao với tuổi đời 30, đã đi khắp 3 miền đất nước, đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh khổ ải của người dân Việt Nam, và anh viết là các vị Giám Mục phải nhân danh là đại diện của Chúa Kitô, là Ngôn Sứ của Chúa, để nói lên tiếng nói chân thật, để thay đổi được chế độ, thay đổi những tai ương mà đất nước đang phải gánh chịu.”
Ông Trần Phong Vũ gửi gắm rằng “...trong thâm tâm của tôi, tôi muốn những lời của Nguyễn Đình Thao, của biết bao những người Công Giáo khác sẽ thấm nhập vào trái tim, vào trí óc của những người đồng đạo với tôi ở trên quê hương, và đặc biệt với những nhà lãnh đạo trong Giáo Hội, để may ra có thể làm một điều gì đó cho đất nước, trong hoàn cảnh khó khăn, nghiệt ngã hiện giờ”
 

----- O -----

PHÂN TÍCH CHÁNH “ CHỊ” THÁNG 04/2007

 

Vài năm gần đây do nước ta hạ mình chơi với mấy anh tư bản giãy chết,  nên em cũng cơ hội sắm được cái máy điện toán sê-cân- hen và cũng nối mạng để ngó xem các anh” tư bản xấu xa” thế nào, nhân tiện biết được luôn tình  hình “ ổn định chính trị “ ở nước ta ra sao và vô tình thấy nhiều bác bị gọi là” phản ðộng”, “gián điệp”,” chống phá”, “cơ hội” nhưng muốn yêu các bác luôn. Gần đây có nhiều hiện tương mà em thấy giật mình, nên hôm nay đánh liều muốn được chia sẻ cùng các bác và mọi người những suy nghĩ mông lung, có hơi phần mạnh bạo học đòi kiểu phân tích chánh “chị” sau đây, mong rằng không làm phiền thời gian của các bác và mọi người.

Chỉ trong vòng hơn 01 tháng, thế giới được chứng kiến liên tiếp 02 hình ảnh bóc trần cho cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt nam. Kẻ thì lè lưỡi, nhún vai tỏ vẻ chả lạ gì cái thói vô học, lưu manh của chuyên chế XHCN, người thì bàng hoàng, kinh ngạc, tức giận vì bị xúc phạm bởi cùng là con người. Những hình ảnh sống động hẳn hoi, chả cần phải bình luận. Hìình ảnh thứ nhất là những kẻ nhân danh công lý XHCN bịt miệng và cả… mũi bị cáo trong cái tòa án “nhân dân”, hình ảnh thứ hai là “đầu trâu mặt ngựa ào ào”   xúc phạm, ngãn cản các nữ khách của  Ðại diện một quốc gia ngay sát cửa lãnh thổ của họ. Nếu nhìn bề ngoài thật khó hiểu hết chỗ nói khi cái chế độ “ưu việt” đến thế muốn tồn tại mà lại tự “ phô” ra những hình ảnh thật “đẹp mắt” vô tiền khoáng hậu trong lịch sử kiểm soát chính trị và ngoại giao “xảo quyệt “của các chính thể độc tài XHCN.

 Có người cho rằng do sự ngu dốt, tiếm quyền của bộ CA hiện nay. Nhưng bộ CA cũng chỉ có 01 uỷ viên bct, làm sao có thể tự tung tự tác qua mặt 13 vị kia được và đố vị nào dám tự quyền nếu không muốn lãnh trọn đòn “ trách nhiệm”. Kẻ thì cho là sau khi vô được một số thành quả quốc tế như WTO, PNTR rồi APEC và đặc biệt là được thoát khỏi CPC ( không phải Campuchia nãm xưa !), các anh Cộng sản độc tài muốn trả thù các anh Dân chủ suốt một nãm qua làm mưa gió, gây xôn xao dư luận trong, ngoài nước. Nhưng chả nhẽ các anh cộng sản độc tài lại thiển nghĩ đến độ không tính đến cái ép-phê ngược sau khi ra tay sẽ ăn nói ra sao với thế giới văn minh mà các anh CS đã mong muốn “ làm bạn với tất cả” và sẽ xử lý thế nào với dý luận ngấm ngầm trong nước đang ủng hộ các anh Dân chủ. Có phải cứ vào được WTO là xong đâu, còn phải cần biết bao gian nan để thực thi những điều đã cam kết một cách “đắng cay” nữa chứ, nếu không, còn mỗi con bài tăng trrưởng kinh tế “ năm sau cao hơn năm trước” mà không nhào nặn cho đỡ phô, cho cao hơn tốc độ gia tăng tai nạn giao thông thì “ dân nó tung hê bỏ mệ”, còn CPC thì có phải ra rồi là không bị vào lại nữa ðâu, chả nhẽ không nhìn thấy bầu cử ở Mỹ phải tính đến hơn thua hàng chục lá phiếu, trong khi người Việt ủng hộ Dân chủ ở Mỹ luôn ở con số vài chục vạn. Ðấy là còn chưa kể cử tri người Việt ở các quốc gia khác. Ðâu còn cái thời, chuyện ở đó đâu ảnh hưởng đến mình. Hàng năm các anh cs độc tài vẫn phải gặp các anh quốc tế báo cáo tình hình để kiếm vài tỷ đô ODA để làm bê-tông cốt…tre ( sự thật 100%!) và làm vài canh bạc triệu đô cho vui ( tội gì không chơi, dân sau này trả!), vẫn phải thăm gặp, úy lạo các anh phương Tây có truyền thống “ can thiệp công việc nội bộ” để xây dựng bộ mặt giao dịch cho dễ nhìn để kình lại anh Trung cộng. Thế mà lại để xảy ra 02 chuyện dở hơi nói trên, khác nào tự vả vào mặt mình. Các anh trưởng đoàn cộng sản Việt nam chắc sẽ phải nhớ khi ngáp ngủ hoặc hắt-xì hơi sẽ phải rụt tay che mồm nếu không làm liên tưởng tới hình cha Lý bị bịt miệng thì có mà đổ bể cuộc “ hội kiến”. Ngay tại thủ đô ngàn năm văn vật mà anh phó thủ tướng đành phải “ngậm tâm” khi bà “đại biểu quốc hội” của nước “đế quốc đầu sỏ” chất vấn là họ không phải tù nhân, không phải người vi phạm pháp luật mà lại ngãn cấm họ thô thiển thế!

Chả hiểu mới vào WTO các anh CS học hỏi được những gì, nhưng hai hình ảnh trên cho thấy hình như các anh CS đang có bộ não bị thoái triển trở nên hành xử kiểu hoang dã trâu bò vì trong “ tiền sử” của các thành viên WTO chưa bao giờ có tiền lệ như thế!

Các kênh BBC, CNN, TV5… chùm từ vệ tinh xuống Việt nam mà còn bị hãm lại 30 phút để anh vãn hóa tư tưởng đủ thời gian loại bỏ các tin tức độc hại ( cho chế độ) thì khó giải thích được tại sao bộ phận truyền hình ảnh của phiên tòa cha Lý lại “quên” mất kỹ thuật tế nhị đó!

Các anh mật vụ chính trị A42 lúc nào chả muốn kiếm công tác phí và quyết bảo vệ đảng đến khi…hết độc đảng mà lại để lọt 02 “ mụ” đàn bà của 02 tên “ gián điệp” ( 01 còn đang bệnh trong tù, 01 đang bị quản thúc nghiêm ngặt ) nghênh ngang tới tận cửa sứ quán, rồi các “ bậc mày râu” lại phải ùa ra giằng co, cãi vả ầm ĩ trước ống kính của mấy người ngoại quốc luôn “ thiếu thiện chí”, nếu phải như thế thì sao không nhào vô, đá văng camera như bà lễ tân nhà hát lớn Hà nội vừa qua có phải là tuyệt chiêu phi tang chứng , đằng nào chả mang tiếng là côn đồ . Không hiểu các lãnh đạo có tình ý gì mà chỉ trỏ thế, chỉ khổ cho mấy anh công an sắc phục có, thường phục có, mặt mũi bị giơ ra rõ như ban ngày, không biết sau này trốn đâu, chả biết sau này có ai chấp nhận cái kiểu phân bua “ chúng em chỉ là người thừa hành, chỉ đâu đánh đấy” không.

Việc các anh cộng sản VN đàn áp, bắt bớ, sách nhiễu những nhân vật đối kháng, đối lập gần ðây chả còn xa lạ với dân chúng. Chỉ cần bấm một cái là có tin tức cập nhật liền, vừa hình, vừa tiếng, nét hơn ” Sony”. Nhiều người thấy bắt nhiều, canh gác bao vây nhiều thì sợ hãi, nhưng cũng có kẻ lại thấy, thế mà “ họ” đếch sợ thì ghê thật, bị bệnh nặng cũng đếch thèm “xin” ra tù, đếch cần đặc xá, con gái trông phơi phới mà “ tù chưa phải là xấu nhất”, lại còn sẵn sàng làm tù nhân dự khuyết, giữa phiên tòa toàn an ninh, súng ống hằm hằm mà cứ hô “đả đảo đảng cs VN”,…khó mà kể hết. Thế thì mình cũng phải xem lại, “ quái” gì phải sợ nữa. Còn cái trò báo chí quốc doanh thay nhau bôi xấu thì cũng có cái hay, làm cho dân càng sướng vì thấy bọn “nhà nước” của các anh CS đang lao đao, run sợ bởi những kẻ chỉ có bút, giấy và…” đầu”, còn chuyện tiền bạc thì chả dại lại đi tin các anh CS, riêng em đã bị 01 vố nhớ đời đang phải sám hối với ông Thiệu vì trước đây cứ “ chửi” ổng đã cuỗm 16 tấn vàng đi, gần đây nhờ một bác CS lên tiếng cải chính mới biết là chả phải, còn 16 tấn vàng đó đâu thì chỉ có chờ đến Tết…hết độc đảng may ra mới biết. Trong khi các sếp hiện nay tiêu tiền như vứt đi, con ruột, con rể tung hoành ngang dọc, nhà, đất mua rẻ như cho không,  mà bố cứ kêu chống tham nhũng leo lẻo.

Chả biết trong giới lãnh đạo cấp cao hiện nay có “cấp tiến” “cấp tiếc” gì hay không, nhưng những điều vừa tua một vòng cho thấy hình như có cái gì cố tình cho “ xấu mặt” luôn để cho “đổ” thì đổ luôn, kiểu như nói nhiều lời phải mà không nghe thì mặc kệ cho “mày” liều. Nghĩ lại thì hình như suy nghĩ kiểu này là kiểu giàu trí tưởng bở, coi thường các anh cộng sản thâm hiểm, đa mưu. Nhưng nghĩ đi, nghĩ lại thì lại thấy nhiều anh chống cộng “ khét tiếng” mà còn quay ra ủng hộ ca ngợi các cụ “cộng sản nòi” phản tỉnh như cụ Chính, cụ Ðộ,… thì lẽ nào lại không có mấy bác cộng sản thời tư bản “vận động” ngấm ngầm cho các anh dân chủ, mà cũng vì lợi chung cả, cho cả con cháu mình sau này, ai chắc được con cháu mình sẽ không là nạn nhân của cái độc tài, nếu vẫn còn. Nhìn ra các nước XHCN đông âu trước đây, có nước chỉ qua một đêm đã đổi màu cờ, hôm trước có vị còn hô vang “ XHCN muôn năm”. Chả ai biết được chữ Ng!

 Cứ suy diễn kiểu này thì lòng vòng lắm, em xin tạm dừng ở đây và chờ xem tình hình diễn tiến thế nào và cũng chờ dạy bảo từ các bác. Viết đến đây em cũng cảm thấy nhẹ lòng chút chút, nhất là cũng nói hộ được cho vài người bạn thỉnh thoảng dốc bầu trong bữa nhậu, vì thấy nhiều bác tranh đấu gian nan, kiên cường quá làm bọn em cũng sốt ruột. Mong cho các bác luôn chân cứng đá mềm. Mong cho ngày “ấy” chóng đến.

                                                                                                           Em của các Bác

----- O -----

 

MỘT CON ĐƯỜNG ĐI LÊN DÂN CHỦ

 
(Phần 3)
V. NHÌN NGƯỜI, NGẪM TA
A. Từ lý luận dân chủ đến hiện thực dân chủ ở Pháp
 
1. Chủ nghĩa dân chủ của các nhà Khai trí, các nhà Bách khoa từ điển được phổ biến ngày càng rộng trong giới trí thức rồi lan ra quần chúng qua các phòng khách, các tiệm cà phê và các câu lạc bộ, ở đó những tư tưởng mới này được tranh luận sôi nổi và tán đồng. Chế độ quân chủ chuyên chế bị lên án. Vua quan bị ghét bỏ. Nếu Louis XIV bị đem đi chôn (1715) trong sự ghẻ lạnh chung thì Louis XV bị chôn trong sự căm ghét (1774). Và năm sau, ở Paris đã xuất hiện các biểu ngữ “ Chúng tao sẽ diệt sạch vua chúa và cả nòi Bourbons” (1) ( Germaine et Claude Willard, sự hình thành quốc gia Pháp, tr129). Không khí cách mạng sục sôi ấy cứ nhen lên, mạnh dần, và dẫn đến cao trào cách mạng 1789- 1794. Năm đầu cuộc cách mạng này được đánh dấu bằng hai sự kiện nổi bật: việc phá ngục Bastille (14-7-1789) giành lấy Tự do và đêm 4-8-1789, đốt sạch các văn tự, bắt đầu xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi phong kiến, giành lấy bình đẳng. Hai mươi ngày sau, Quốc hội lập hiến trịnh trọng công bố Tuyên ngôn nhân quyền và quyền công dân.
2. Với việc Robespierre, lãnh tụ cách mạng được suy tôn là “ Người không thể mua chuộc” bị lật đổ, cuộc cách mạng của đẳng cấp thứ 3 đi vào thoái trào. Và từ đó đến nay, nước Pháp trải qua bao nỗi thăng trầm: thêm ba cuộc cách mạng nữa vào năm 1830, 1848, 1871, hai đế chế, hai lần Vương quyền phục hưng, năm chế độ cộng hoà, hai cuộc thế chiến. Cuộc giành giật giữa dân chủ và bảo thủ cũng khá gay gắt. Có thể nêu hai vụ tiêu biểu: Vụ nhà văn, nhà thơ lớn Victor Hugo, vì đấu tranh cho tự do  đã bị lưu đày 19 năm ròng ( 1851-1870); vụ sĩ quan Do Thái Dreyfus bị vu cáo làm gián điệp, phải 12 năm (1894-1906) mới được minh oan, vụ này đã chia rẽ sâu sắc xã hội Pháp thành phe dân chủ và các phe đối lập.
Bình đẳng, tự do, đã giành được về mặt pháp lý, còn lâu mới trở thành hiện thực: quyền đầu phiếu ban đầu còn theo tài sản và mãi đến sau Cách mạng 1848 mới thành phổ thông. Phụ nữ Pháp phải đến Quyết định năm 1944 mới được ứng cử nhưng không phải thường được trúng cử đâu. Như thế là cuộc đấu tranh cho dân chủ hiện thực đã kéo dài hàng mấy trăm năm. Và đến nay vẫn còn là vấn đề nóng bỏng ở nước đã mở đầu một cách huy hoàng, dứt khoát và điển hình chế độ chế độ dân chủ. Claude Julien có viết cả một cuốn sách ( Sự tự sát của các nền dân chủ) để tố giác các vi phạm dân chủ về mọi mặt: chính trị, xã hội, văn hoá, tư tưởng,… Ông nói: “ở Pháp cũng như ở Hoa Kỳ, ở Đức cũng như ở Anh, những bất bình đẳng xã hội, những đặc quyền của tiền bạc, sự thụ động của các công dân, sự xơ cứng các thể chế đang lên án các nền dân chủ”. Những bằng chứng cụ thể, tỉ mỉ, nhiều vô kể, tác giả đưa ra, không thể chối cãi được. Nhưng có điều rõ ràng là với sự thiết lập dân chủ chính trị, nhân dân đã giành được những thắng lợi rất cơ bản: chính thể dân chủ, đảng nghị viện, phân ra các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nếp sống xã hội đã dân chủ hơn nên những biểu hiện thiếu dân chủ không còn được xem là bình thường. Người ta không chịu nổi và đã lên án nghiêm khắc. Cuốn “ sự tự sát của các nền dân chủ” thể hiện sự đòi hỏi cao hơn của dân chủ.
 
B. Mấy suy ngẫm về quá trình đi lên dân chủ ở Pháp.
 
Một là: Qúa trình nhân văn – duy lý – dân chủ ở Pháp là sự quá độ từ văn minh truyền thống, văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, văn minh gốc kỹ thuật ( civilisation technogène ); hay diễn đạt theo lối nói lâu nay là từ kinh tế phong kiến sang kinh tế tư bản chủ nghĩa.
  1. Sự tan rã của phương thức sản xuất phong kiến Pháp bắt đầu dần dần trong các thế kỷ trước, đến thế kỷ XVI thì mạnh lên đột ngột. Trên mọi lĩnh vực, thế kỷ này là thế kỷ về đổ vỡ nhưng chưa phải là cách mạng; “là thời bình minh của chủ nghĩa tư bản” ở Pháp. Nền sản xuất tiểu nông cũng như đại tư hữu phong kiến tan rã dần. Nhưng phương thức sản xuất phong kiến, văn minh truyền thống chưa bị phá huỷ. Vì lúc này chỉ mới là thời tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản: giai cấp tư sản chưa đủ mạnh để phá hẳn phương thức sản xuất cũ. Cho nên hành động và tư tưởng của nó còn hạn chế trong chủ nghĩa nhân văn là chính.
  2. Đến thế kỷ XVII, giai cấp tư sản phát triển hơn đi vào giai đoạn tiền tư bản chủ nghĩa. Quý tộc phong kiến đã suy vi. Giai cấp tư sản còn non yếu nên vẫn dựa vào Nhà nước phong kiến. Chỉ có bộ phận nhỏ của giai cấp này- tầng lớp tư sản xí nghiệp ( công trường thủ công) là cách mạng hơn. Đại diện tư tưởng cho bộ phận này và cho “ giai cấp tư sản đang lên và tiến bộ, chăm làm và mạnh dạn, đầy tài năng và ham chinh phục” (2) là các nhà duy lý. Nhưng chủ nghĩa duy lý vẫn gắn với tư tưởng nhân văn thế kỷ XVI. Trước đây Descartes đã định đặt cho cuốn “ Luận văn về phương pháp” cái tên là “ Dự án về khoa học phổ biến có thể nâng bản tính ta lên trình độ cao nhất về hoàn thiện của nó” ( Project de science universelle qui puisse élever notre nature à son plus haut degré de perfection).
  3. Đến thế kỷ XVIII, sự tích luỹ tư bản ở Pháp liên tục bằng buôn bán nhưng theo nhịp độ nhanh hơn. Đáng lưu ý là các lực lượng sản xuất phát triển: xuất hiện các nông trại tư bản chủ nghĩa lớn, các xí nghiệp hàng xa xỉ tăng lên, cơ giới hoá tiến bộ rõ rệt, kéo theo sự tiến bộ của công nghiệp mỏ và luyện kim. Người ta đã sử dụng những máy hơi nước đầu tiên. Văn minh gốc kỹ thuật được rõ nét.
 
Trước thế kỷ XVIII, những quan hệ sản xuất tư bản có thể len lỏi thâm nhập vào các tổ chức phong kiến của nền sản xuất. Nhưng hệ thống cũ này bây giờ cản trở việc sử dụng máy móc…Nó đã trở thành một trở ngại không vượt qua nổi cho việc vận dụng và phát triển các lực lượng sản xuất mới. Chính đó là nguồn gốc sâu xa của những tư tưởng tiên tiến, tư tuởng dân chủ, chuẩn bị cho Cách mạng 1789. Ngay cả nhà văn không cách mạng, như Tổng giám mục Fénelon (1651-1715), cũng đã lên án Louis XIV, ông vua chuyên chế : “ Ngài chỉ yêu vinh quang và sự thoải mái của mình. Ngài quy mọi của cải về cho mình, tưởng như ngài là Chúa trên trái đất này và mọi cái chỉ được tạo ra để cung phụng cho ngài” ( Sự hình thành quốc gia Pháp, tr 105).
 
Hai là: quá trình nhân văn – duy lý – dân chủ là một quá trình liên tục hoà quện vào nhau.
  1. Giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau: Montaigne, nhà nhân văn thời Phục hưng đã báo trước Descartes bằng tư tưởng về óc hoài nghi, óc hoài nghi khẳng định mà sau này Descartes kế thừa một cách sáng tạo. Descartes lại nâng chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng lên một tầm cao mới: nhân văn trên nền tảng khoa học, cơ học. Và từ tư tưởng coi trọng con người, chăm lo hạnh phúc con người (chủ nghĩa nhân văn), các nhà tư tưởng tiếp tục đấu tranh chống cuồng tín giáo điều, đề cao lí trí và quy luật, luật pháp, trật tự (chủ nghĩa duy lý). Hai dòng tư tưởng ấy chan hoà vào nhau và đến thế kỷ XVIII, kết tinh lại thành tư tưởng dân chủ hoàn chỉnh, thành chủ nghĩa dân chủ: con người là chủ thể của xã hội.
  2. Qúa trình trên diễn ra không chỉ trong lịch sử nói chung mà ở ngay từng nhà tư tưởng, như phần về chủ nghĩa dân chủ đã phân tích.Như thế là vì hai đối tượng chính của quá trình này ở đâu cũng đều là chế độ quân chủ thần quyền (monarchie divine) và nhà thờ Ki-tô giáo Tây Âu ( Pháp). Chế độ phong kiến thần quyền là chế độ của bất bình đẳng (đặc quyền, đặc lợi do nguồn gốc gia đình), của bóc lột nông nô (tô, tức). Qúa trình đó, nhà thờ Ki-tô giáo áp bức về tinh thần, tha hoá con người, làm con người thấy mình thấp bé (tội tổ tông), không cho phép con người được tự do tư tưởng, tự do suy nghĩ, không được phép có tư tưởng độc lập.
  3. So sánh với nước ta thì phong kiến Việt Nam , theo chuyên chế Á Đông còn nặng nề hơn vì thần quyền kết hợp chặt với thế quyền, vương quyền cao hơn thần quyền: vua phong sắc cho cả các thần khắp nước. Còn về tôn giáo thì ở Việt Nam, để giành dân chủ, không phải chống hẳn 1 tôn giáo nào mà đối tượng đấu tranh phức tạp hơn: những mặt tiêu cực, phản tiến bộ của một số học thuyết đã ăn sâu vào tập quán, phong tục của dân tộc đến mức trở thành bộ phận không thể thiếu của văn hoá Việt Nam truyền thống.
Ba là:
  1. Dân chủ được xác lập cùng với việc đặt cơ sở cho xã hội công dân. “ Tuyên ngôn nhân quyền và quyền công dân” đã nêu, ở đầu văn bản, rằng quyền tư hữu tài sản, coi nó là thiêng liêng,  bất khả xâm phạm. Đây là thắng lợi lịch sử quyết định không thể đảo ngược của công dân, của nhân dân, của giai cấp tư sản. Từ nay, xã hội phát triển  với quyền tự do tư hữu dưới nhiều hình thức: tư nhân, tập thể lớn hay nhỏ. Mọi xã hội xây dựng trên cơ sở kinh tế khác đều không bảo đảm cho kinh tế phát triển, xã hội tự do, nhân cách phát huy.
  2. Cùng với xã hội công dân, sống bằng kinh tế hàng hoá phổ biến đã hình thành quốc gia dân tộc (nation) Pháp.
Trước kia, nước Pháp gồm nhiều địa phương theo chủ nghĩa tự trị rất nặng nề, từ nơi này sang nơi khác phải nạp thuế. Sau cách mạng 1789, nước Pháp chia thành các tỉnh trực thuộc chính quyền trung ương, hoạt động theo một thị trường quốc gia thống nhất chung.
Đây là điều, theo bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, chưa xảy ra được ở Việt Nam . Tuy tính dân tộc rất cao (do chống ngoại xâm liên miên), ở Việt Nam chưa hình thành nổi quốc gia dân tộc theo nghĩa hiện đại của từ này.
C. Mấy suy nghĩ bước đầu về con đường đi lên dân chủ ở Việt Nam .
Nghiên cứu con đường đi lên dân chủ ở Việt Nam đòi hỏi công phu to lớn của nhiều nhà khoa học. Vả lại, đó chưa phải là trọng tâm của tiểu luận này. Ở đây, chúng tôi thử nêu mấy bước đầu để cùng nhau trao đổi hòng tìm ra con đường tốt nhất cho dân tộc tiến lên.
  a, Hằng số của xã hội Việt Nam
1.1. Nước ta vốn là nước kinh tế nông nghịêp tự cấp tự túc cho đến khi, sau thế chiến I, thực dân Pháp tiến hành khai thác lần thứ nhất. Nền kinh tế ấy bị sứt mẻ chừng nào đó nhưng vẫn lạc hậu, chưa tiến lên thành kinh tế hàng hoá trong cả nước.
Đến khi ta giành được độc lập thì lại tiến hành chiến tranh liên miên trong một phần ba thế kỉ ( 1946- 1979) nên tình hình trên không chuyển biến mấy. Mà như ta đã thấy, không có kinh tế hàng hoá thì không có xã hội công dân, sinh hoạt dân chủ được.
1.2. Trong chiến tranh- ở vùng tự do và ở hậu phương miền Bắc, sau chiến tranh- ở khắp cả nước, trước “khoán 100” là kinh tế chỉ huy, kế hoạch hoá gò bó, trói buộc mọi sáng kiến cá nhân của người sản xuất cá thể, của người kinh doanh riêng lẻ.
1.3. Điều cần lưu ý nữa về phát huy cá nhân con người là Việt Nam có bờ biển dài ( 3260km) đáng lẽ phát triển mạnh về hàng hải, nhất là ở vị trí ngã ba đường giao lưu đông- tây thì toàn bộ sức lực cơ bắp và cân não người Việt Nam dường như bị hút hết vào cuộc đấu tranh chống địch hoạ dai dẳng và chống thiên tai hàng năm trên đất liền. Mà hàng hải là ngành thử thách con người hơn hẳn nông nghiệp, nó buộc năng lực, bản lĩnh, cá tính con người bộc lộ rõ hơn: giông bão giữa biển cả thử thách ác liệt hơn bão lụt trên đất liền nhiều.
2.1 Tuy Việt Nam trải qua tam giáo đồng nguyên nhiều thời kì, nhưng được giai cấp phong kiến thống trị ủng hộ nên Nho giáo đã chiếm ưu thế và ảnh hưởng sâu nặng thành nếp sống trong xã hội ta như tục thờ cúng tổ tiên, óc cấp bậc, địa vị, tôn ti trật tự…
Nó ăn sâu đến mức ngay cả các tổ chức tự gọi là “ khoa học” và “tiền tiến nhất” ( đảng cộng sản, công đoàn) cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của nó. Trong nhiều đảng bộ nông thôn vẫn có “chi bộ họ ta”…
2.2.             Chủ nghĩa tập thể phương Đông (làng, họ) mà nho giáo củng cố, đòi hỏi cá nhân hy sinh tất cả cho tập thể, càng được chiến tranh ái quốc và chủ nghĩa tập thể mác xít tăng cường thành vững chắc mãi cho đến khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu vào giữa những năm 80 thế kỉ XX. Một điều có thể khẳng định là bản chất nho giáo không thuận lợi cho sự hình thành nếp sống dân chủ.
3.1.             Ở xã hội theo văn minh truyền thống Việt Nam , tình cảm nhân đạo bàng bạc trong nếp sống. Người ta “thương người như thể thương thân”, “ lá lành đùm lá rách”,…
3.1.1.        Số phận những “hồng nhan bạc mệnh”, những chinh phụ, cung phi, nhân dân lao động được một số nhà thơ, nhà văn thông cảm, thương xót (truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyền kì mạn lục,…). Nhưng những mầm tư tưởng nhân văn ở đây vẫn còn yếu ớt, chưa trở thành tư tưởng có tính lý luận, chưa thành chủ nghĩa hẳn hoi, chưa đạt trình độ coi con người là một chủ thể đầy quyền lực, có vị trí xứng đáng trong xã hội, trong thiên nhiên, trong vũ trụ, như Pascal đã coi con người tuy là một cây sậy mềm yếu trong trời đất nhưng là “cây sậy đang suy nghĩ”, biết tư duy.
3.1.2.        Cũng khó nói nho giáo bồi đắp chữ “nhân” cho dân tộc Việt Nam , vì theo nho giáo, con người, người dân thường chỉ là kẻ cho thiên tử “ chăn dắt” mà thôi.
Tiếc rằng tình cảm nhân văn cổ truyền Việt Nam đang bị phá hoại mạnh mẽ trong nền kinh tế hàng hoá ở giai đoạn tích luỹ tư bản ban đầu, coi đồng tiền là trên hết.
3.2.1.        Trong một xã hội truyền thống thì nếp sống được ca ngợi như chuẩn mực là kính trên nhường dưới cho trong ấm ngoài êm, trên thuận dưới hoà. Chứ không phải là lối cãi cấp trên, cãi người lớn, coi thường thậm chí phủ nhận các vị có uy tín, xét lại các tín điều. Do đó, tư duy lý luận bị hạn chế. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, hiếm thấy nhà triết học hẳn hỏi với những suy tư về những vấn đề vũ trụ quan, nhân sinh quan rộng lớn: nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc con người, có trời không, vì sao lại thiên địa nhân mà không phải ngược lại?...Thậm chí một “sao Khuê” như Nguyễn Trãi với “nhận thức năng động, khai sáng” cũng bị chuyên chế tập quyền nhà Lê bóp chết (…)khiến hiện tượng Nguyễn Trãi không còn tái lập” ( lịch sử tư tưởng Việt Nam, t1, tr294)
Điều tai hại trên, nay cũng đang lặp lại đây đó ở nước ta.
3.2.2.        Nếu con người chỉ mới sử dụng khoảng 5% số tế bào não của mình thì dân tộc Việt Nam cũng chỉ mới phát huy phần rất nhỏ bé của tư duy lí trí của mình. Nhà toán học thời Lê, Lương Thế Vinh (1442- )viết sách Đại thành toán pháp, nội dung chỉ ngang toán cấp tiểu học bây giờ.
Cũng chẳng thể vin vào chỗ Khổng Khâu từ chối trả lời học trò về trời, về những vấn đề siêu hình mà bảo rằng nho giáo là duy lý, rằng dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng của nho giáo nên cũng là duy lý.
Dân Việt Nam không cuồng tín tôn giáo như ở các nước khác nhưng không phải là duy lý. Vì văn minh truyền thống, chế độ toàn trị đã lấn át, đè nén tư duy lý trí Việt Nam . Bằng chứng là ngày nay, ở trong môi trường thuận lợi ( trường học chuyên, xã hội phương Tây), nhiều học sinh Việt Nam đã đạt giải cao về thi toán, vật lý quốc tế,…nhiều Việt kiều xuất sắc về tin học, điện tử, quản lí,…
4.1. Trong lịch sử, xã hội Việt Nam phát triển không theo hình thái xã hội, kinh tế dứt khoát, dứt đoạn mà theo kiểu trầm tích: các hình thái xã hội – kinh tế chồng lên nhau như những lớp đất đá trong địa chất. Thực dân Pháp đã mặc nhiên (hay cố tình?) đi theo xu hướng này: vừa duy trì xã hội truyền thống ở nông thôn rất rộng lớn, vừa bước đầu đưa văn minh công nghiệp vào một số ít thành phố, thị xã. Nhưng nhiều địa điểm này đã bị nông thôn hoá trở lại bởi cuộc kháng chiến nhiều thập kỉ và bởi lối quản lí quan liêu trong thời gian hoà bình không ngắn sau đó.
4.2. Lối phát triển theo trầm tích, xen kẽ này làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam nham nhở, không thuần nhất. Nhưng xã hội phát triển, chừng nào theo lối đồng thuận (consensus). Tiêu biểu về mặt này là hiện tượng các nhà nho đầu thế kỷ 20 chấp nhận chủ nghĩa dân chủ phương Tây, vốn xa lạ với một xã hội rất đẳng cấp, tôn ti trật tự phương Đông. Nhưng tai hại là sự chấp nhận này, không qua đấu tranh lý luận và tư tưởng, đã dẫn đến dân chủ hình thức chủ nghĩa như hiện thấy tràn lan trong xã hội ta. Mà dân chủ hình thức chủ nghĩa tai hại hơn thiếu dân chủ, vì nó dễ lừa mị người ta. Như thuốc an thần, nó xoa dịu tạm thời, nó giữ bệnh tiềm ẩn mà không chữa bệnh, nó làm người ta tưởng đã có dân chủ thật sự rồi nên không cần đấu tranh để xác lập dân chủ.
4.3. Mặt tích cực của phát triển theo trầm tích là: nếu những người quản lý vĩ mô sáng suốt nhận thức ra được và đầy đủ năng lực thì ta có thể chủ động giữ được những nếp tích cực của văn minh truyền thống Việt Nam , giữ được lòng nhân ái dân tộc. Còn không, sẽ xảy ra cảnh hỗn loạn của chủ nghĩa tư bản sơ khai “dã man”, của sự kết hợp giữa bóc lột phong kiến và bóc lột tư sản.
B, phương hướng tiến lên của dân chủ hoá ở Việt Nam .
1. Con tàu nhân loại đang lao vùn vụt lên phía trước, chuyển sang nền văn minh mới, hậu công nghiệp, tin học. Dân tộc ta đứng trước thách thức nghiêm trọng: tiến nhanh để bắt kịp con tàu, hoà nhập vào cộng đồng thế giới hay lê bước chậm chạp để nhỡ tàu, kéo dài cuộc sống lạc hậu, cổ hủ.
2. Muốn hoà nhập văn minh thế giới, Việt Nam phải tính đến 4 đặc điểm đã phân tích ở trên:
- Kinh tế hàng hoá còn yếu
- Tàn dư của nho giáo nặng nề
- Có truyền thống nhân văn dân gian những non kém về tư duy duy lý.
- Lịch sử phát triển theo lối trầm tích.
Tóm lại, xã hội ta trước nay là xã hội thần dân: thần dân cũ và thần dân mới (từ sau 1945); con người sống nép mình dưới thần tượng cá nhân (ơn vua, ơn lãnh tụ) hay tập thể (ơn Đảng). Nay phải tiến lên xã hội hiện đại, với con người và nhân phẩm được giải phóng.
Xã hội hiện đại là xã hội với kinh tế thị trường văn minh+ nhà nước pháp quyền dân chủ+ xã hội công dân. Cả ba thành phần ấy phục tùng nghiêm ngặt chế độ dân chủ. Tức là ở nước ta hiện nay, chính trị phải theo kịp kinh tế để xã hội không đi khập khiễng, không rối tinh, lúng túng trong khủng hoảng xã hội – kinh tế.
3. Trong kinh tế thị trường văn minh, cạnh tranh diễn ra lành mạnh, theo pháp luật, vì lợi ích của người tiêu dùng. Ở đó, sẽ nghiêm trị hàng giả, buôn lậu, tham nhũng. Dư luận, báo chí lên án lối sống chụp giật, mafia; biểu dương nếp sống lương thiện. Kinh tế hàng hoá sẽ phát triển tận hang cùng ngõ hẻm, tận miền núi, vùng sâu, biên giới, hải đảo, tạo cơ sở thuần nhất để hình thành quốc gia dân tộc hiện đại. Kinh tế này là kinh tế mở cửa nhưng dân tộc: nó chống lại việc biến nước ta thành thuộc địa mới, thành thị trường chỉ tiêu dùng hàng nước ngoài; nó bảo vệ nền sản xuất hàng hoá tiên tiến trên thế giới.
4. Nhà nước pháp quyền dân chủ không phải là Nhà nước dùng pháp luật để “trị”dân. Đó là Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, là Nhà nước dân chủ với dân. Nhà nước này coi trọng bình đẳng.  Pháp bất vị thân: mọi người, kể cả cán bộ đảng cộng sản, nhân viên nhà nước đều phải khuôn mình vào Hiến pháp, pháp luật. Không có miễn trừ hay giảm nhẹ cho chức vị, công lao, nguồn gốc xuất thân. “ Chủ nghĩa lý lịch” phải được bãi bỏ; đặc quyền về giai cấp, về tầng lớp phải được xoá hẳn. Pháp luật dân chủ là cái chuẩn duy nhất để quản lí một xã hội hiện đại. Pháp luật phải đóng vai trò như quy luật tự nhiên, khách quan, trước đó mọi người phải khuất phục nếu không muốn bị nó trừng trị.
Hiến pháp chuyên chính vô sản phải chuyển thành hiến pháp dân chủ nhân dân, tôn trọng quyền lợi mọi tầng lớp nhân dân yêu nước, trung thành với tổ quốc; thành hiến pháp hoà hợp dân tộc, đại đoàn kết.
5. Xã hội công dân. Theo đúng vai trò chức năng của nó, Nhà nước chỉ là một bộ phận của xã hội. Nhà nước không được trùm lên toàn xã hội. Còn có một bộ phận nằm ngoài hay ít bị Nhà nước chi phối. Đó là xã hội công dân gồm các tổ chức tự phát, phi chính phủ, có các mối quan hệ tự quản, tương đối độc lập với Nhà nước. Đó là các tổ chức kinh tế; các hội khoa học, văn học, nghệ thuật; các tổ chức xã hội, các hội từ thiện, tôn giáo,…
5.1 Các tổ chức kinh tế là của người dân kinh doanh, làm ăn sinh sống. Nó sẽ được bảo đảm sinh hoạt nhờ quyền tư hữu được xã hội thừa nhận và tôn trọng bằng pháp luật cơ bản: Hiến pháp. Độc lập về kinh tế, không bị ràng buộc vì miếng cơm manh áo, con người cất cao đầu, suy nghĩ tự do, phóng khoáng. Ngày trước, đã có các nghề “tự do thoải mái” là nghề thầy giáo, thầy thuốc, thầy kiện,…Cần phục hồi tự do cho các nghề nghiệp này hoạt động theo pháp luật như trong mọi xã hội văn minh, ở đó ngay từ xa xưa, các trường đại học cũng đã tự trị với các trường phái học thuật của nó và nhờ thế đã đẩy khoa học tiến nhanh.
5.2.Các hội khoa học, văn hoá, nghệ thuật thức tỉnh nhân tâm, động viên tinh thần dân chủ, khai trí cho nhân dân. Các tổ chức ấy thu hút, tập trung trí tuệ của dân tộc. Nó phải có quyền suy nghĩ độc lập, suy nghĩ thậm chí không theo chính thống, miễn là vì lợi ích dân tộc, tổ quốc. Có thế mới nảy ra những sáng kiến ích quốc, lợi dân, mới đề phòng được sai lầm trong chủ trương, chính sách của Nhà nước,…
5.2.1 Các tổ chức khoa học là bộ phận duy lý trong ý thức của dân tộc. Nếu được tự do phát triển, không bị khống chế trong hệ thống chính trị, nó sẽ đòi hỏi và tạo ra không khí dân chủ trong bộ phận tự giác nhất của dân tộc, và từ đó lan rộng ra toàn xã hội. Vì rằng khoa học cần dân chủ như sự cháy cần ôxy. Phát triển mạnh, các tổ chức nghiên cứu sẽ đặt cơ sở khoa học vững chắc cho các chủ trương, biện pháp dân chủ về quản lý,  chỉ đạo.
5.2.2. Các tổ chức văn học, nghệ thuật có trọng trách bồi dưỡng tình cảm cho con người Việt Nam , duy trì tinh hoa nhân bản của văn hoá dân tộc, tiếp thu văn hoá tiến bộ thế giới. Nó phải được tự do hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật mới có thể thúc đẩy phát triển tài năng, trí tuệ của các nhân tài.
5.3. Các tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, tôn giáo giữ gìn và phát huy tình cảm, tư tưởng nhân văn của ông cha ta. Các tổ chức ấy góp phần xây dựng nên nếp sống lành mạnh Việt Nam , những tập tục tốt, thuận lợi cho việc thi hành pháp luật.
Các tổ chức ấy hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật được pháp luật bảo hộ. Các tổ chức xã hội, các chùa, nhà thờ, thánh đường, các giáo hội,…tách ra khỏi Nhà nước, được tự trị, trở thành bộ phận thực sự của xã hội công dân.
6. Trên đây, tôi đề cập phương hướng dân chủ chung cho cả xã hội trước mắt và lâu dài. Còn cụ thể thì hai biện pháp trong tầm tay, ôn hoà, có thể thực hiện ngay để dân chủ hoá là:
1) Chủ động trước mà mở rộng thành phần đại biểu Quốc hội cho những người ứng cử tự do. Họ đại biểu cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cho một bộ phận nhân dân thật lòng yêu nước, dù trước đây hay hiện nay không theo quốc giáo.
2) Thực thi quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp bằng cách để cho tự do báo chí, tự do xuất bản thực sự ( có báo tư nhân, có đài nhân dân,…) như ở các nước văn minh, hiện đại ngày nay mà ta chủ trương vươn tới.
Chỉ cần 2 biện pháp này cũng đã đủ để chuyển biến tốt ngay lập tức tình hình chính trị, bộ mặt đất nước, như đã từng xảy ra thời Mặt trận bình dân trước đây (1936-1939)./.
 
Phạm Ngọc Uyển
 
Chú thích:
(1). Dòng vua đang trị vì ở Pháp lúc bấy giờ.
(2). Maurice ThoreZ. Diễn văn ngày 2-5-1946. Báo France nouvelle ngày 11-5-1946. Trích theo cuốn “ Sự hình thành quốc gia Pháp”.
 
 
      Cơ Quan Ngôn Lun Đảng DCND