Đối Thoại                                          Website:Doi-Thoai.com                          Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư Số 64 - Ngày 28 tháng 06 năm 2007

 

ĐIỆN THƯ

Tự Do - Dân Chủ - Công Bằng - Thịnh Vượng

 
     
Cơ quan ngôn luận Đảng Dân chủ Nhân dân trân trọng gửi tới độc giả trong và ngoài nước thông tin liên quan đến Việt Nam. Đảng DCND cảm tạ các đóng góp từ nhiều nguồn để tờ báo mỗi ngày được phong phú.  Mọi liên lạc, góp ý gửi về : dangdanchunhandan@yahoo.com
 
                                                                                    Số: 64 - Tháng 6, 2007
 
 
Thư Ngỏ Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush cuả Đại Diện Đảng Dân Chủ Nhân Dân
 
Photo
  
 
AP - Tue May 29, 4:30 PM ET
President Bush and Vice President Dick Cheney, center, meet with, from left, Thanh Cong Do, founding member of the People's Democratic Party of Vietnam; Nguyen Le Minh, chairman of the Vietnam Human Rights Network; the vice president; the president; Diem Do, chairman of the Vietnam Reform Party; and Dr. Quan Nguyen, chairman of the International Committee for Freedom to Support the Non-Violent Movement for Human Rights in Vietnam, meet to discuss Vietnamese democracy and human rights, Tuesday, May 29, 2007, in the Oval Office of the White House in Washington. (AP Photo/Evan Vucci)  
 
Ngày 29 tháng 5, năm 2007
 
 
Kính thưa Tổng Thống,
 
Tôi rất lấy làm vinh dự được có dịp bàn luận với Tổng Thống về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam hiện nay.   Thay mặt cho đảng Dân Chủ Nhân Dân cùng tất cả đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, những người khát khao mong muốn một nước Việt Nam dân chủ, tôi hân hạnh trình bày về những sự kiện xảy ra tại Việt Nam trong thời gian gần đây.
 
Vào ngày 8 tháng 4 năm 2006, nhiều người Việt Nam thuộc mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề đã liều mạng sống cuả chính họ, cùng công khai ký tên vào bản tuyên ngôn kêu gọi có sự thay đổi tại Việt Nam.  Họ đòi hỏi được tự do phát biểu ý kiến, tự do bầu cử, tự do báo chí, và tự do tôn giáo.   Đây là những quyền căn bản cuả con người song dưới chế độ cộng sản, tất cả quyền căn bản này đã bị tước đoạt.  Nhà cầm quyền Việt Nam không khoan nhượng trước những đòi hỏi chính đáng đó.  Từ đó đến nay nhiều người trong số này đã bị bắt giam và bị kết án tù dài hạn.  Nhiều người khác phải lẫn trốn hoặc chạy ra nước ngoài tị nạn.  Một số khác bị xách nhiễu, hăm doạ, hoặc bị cưỡng bách phải rút lui không được hoạt động nữa.   Tuy nhiên vào ngày này, một phong trào đấu tranh dân chủ lịch sử đã ra đời được mệnh danh là Khối 8406.
 
Kể từ đó nhiều tổ chức và đảng phái chính trị đã công khai ra đời tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do.  Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền được thành lập nhằm hội tụ tất cả các đoàn thể và cá nhân trong cuộc đấu tranh này.  Các đảng phái như đảng Thăng Tiến Việt Nam, đảng Dân Chủ 21, đảng Dân Chủ Nhân Dân, và Hiệp Hội Công Nông Việt Nam đều được hình thành tại Việt Nam.  Mỗi nhóm có đường lối riêng nhưng đều có cùng một mục đích: đó là thách thức đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận các đảng phái đối lập, và cùng nhau bắt tay xây dựng một nước Việt Nam tốt đẹp hơn.
 
Kể từ khi được nhận vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới, được xoá tên trong danh sách các quốc gia đáng quan tâm về tôn giáo, nhà cầm quyền Việt Nam đã gia tăng các cuộc đàn áp.  Gần đây, họ kết án cha Nguyễn Văn Lý 8 năm tù, luật sư về nhân quyền Nguyễn Văn Đài 5 năm tù và luật sư Lê thị Công Nhân 4 năm tù.  Các đảng viên cuả đảng Thăng Tiến Việt Nam bị lãnh những bản án khắt nghiệt.  Ba thành viên lãnh đạo cuả đảng Dân Chủ Nhân Dân gồm Bác Sĩ Lê Nguyên Sang, Luật sư Nguyễn Bắc Truyển nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo đều bị cầm tù lần lượt.  Năm thành viên Hiệp Hội Công Nông Việt Nam bị quản thúc, nhiều thành viên thuộc khối 8406, và những nhà đấu tranh dân chủ khác hiện vẫn còn bị bắt giữ không được đem ra xử án.
 
Trong tình hình cực kỳ khó khăn này, phong trào dân chủ tại Việt Nam trông chờ thế giới tự do, đặc biệt là Hoa Kỳ, ra tay hỗ trợ.  Thưa Tổng thống, vì là nguyên thủ cuả một quốc gia có truyền thống bảo vệ tự do dân chủ và nhân quyền, tôi xin yêu cầu Tổng Thống hãy thực hiện những điều sau đây nhằm cổ xúy cho nền dân chủ tại Việt Nam .
 
- Đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia đáng quan tâm về tôn giáo để xác quyết rằng việc vi phạm những lời hưá với cộng đồng quốc tế sẽ không được chấp thuận.
- Yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bằng cách trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị.
- Đưa Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới giúp Việt Nam phát triển nhưng không viện trợ quân sự cho Việt Nam vì mối đe doạ cuả Việt Nam đối với các quốc gia lân cận và đối với phong trào dân chủ.
- Hỗ trợ cho phong trào dân chủ trong nước Việt Nam , đặc biệt là các đảng phái và các hiệp hội lao động độc lập.  Các tổ chức này không những cần sự hỗ trợ về tinh thần mà còn cần sự trợ giúp thực tiễn qua chính sách dài hạn nhằm huấn luyện, giáo dục đào tạo, và cả về trợ giúp tài chánh.  Về lâu về dài, một chính quyền tự do dân chủ tại Việt Nam sẽ có lợi cho Hoa Kỳ hơn là một chế độ độc tài đảng trị.
 
Như Tổng thống đã từng nói trước đây: nếu ai đấu tranh cho tự do, Tổng thống sẽ hỗ trợ,  không quay lưng lại với người đó.  Một lần nữa, xin cảm tạ  Tổng Thống đã dành thì giờ quý báu lắng nghe chúng tôi.
 
Trân trọng,
Đỗ Thành Công
Phát ngôn viên đảng Dân Chủ Nhân Dân
 
----- O -----
 
Statement to the President of the United States of America, George W. Bush, on behalf of the People's Democratic Party
May 29, 2007 
 

Dear Mr. President,

I receive this opportunity to discuss human rights situations in Viet Nam with you as an honor. On behalf of the People's Democratic Party and the Vietnamese living inside and aboard who would like to see Viet Nam move forward to democracy, I am grateful to report to you what has been happening in Viet Nam recently.

Last year, on the 8th of April 2006, many Vietnamese people, regardless of backgrounds, classes and occupations, all together publicly risked their lives and signed a declaration calling for a change in Viet Nam . They want to have freedom of expression, freedom of vote, freedom of press and freedom of independent religious practice. These are basic human rights but under the rule of the Vietnamese Communist Party, these rights were denied. The Vietnamese government does not tolerate such daring. Up to date, many of them have been arrested and sentenced long periods in prison. Some went into hiding or sought refuge in other countries; other were harassed and intimidated; forced into denouncing their support. However, the historic Vietnamese democratic movement was born on that day, the so-called Block 8406.

Since then, more groups and political parties have publicly formed and taken up the struggle for a free Viet Nam . The Alliance for Democracy and Human Rights for Viet Nam formed with the purpose of unification of all human rights groups and supportive individuals.  The Viet Nam Progression Party, The Democracy Party of 21 Century, The People's Democratic Party, The United Workers-Farmers Organization of Viet Nam were all formed inside Viet Nam . They have different political agendas-- but in general, there is a common ground: that is, seeking to challenge the Viet Nam Communist Party to accept them as opposition organizations, and working together for a better Viet Nam .

However, after getting acceptance into WTO, removal from the CPC and the granting of PNTR. The Viet Nam authorities have increased suppression. Recently, they sentenced Father Nguyen Van Ly to 8 years in jail, human rights lawyer Nguyen Van Dai to 5 years and Lawyer Le Thi Cong Nhan to 4 years imprisonment. Members of the Viet Nam Progression Party were brought to trial and given very harsh sentences. Three leading members of the People's Democratic Party, Dr. Le Nguyen Sang, Lawyer Nguyen Bac Truyen, Journalist Huynh Nguyen Dao were imprisoned with 5, 4 and 3 years respectively. Five members of the United Workers Farmers Organization of Viet Nam were detained; many other Block 8406 members and democracy activists are still under arrest without trial.

In this extremely difficult situation, the democratic movement in Viet Nam is looking towards the free world, especially the United States , for support. As a country stands up for freedom, democracy and human rights, I am asking you,   Mr. President to please consider these efforts to promote the democracy in Viet Nam

- Put Viet Nam back onto the CPC list to show that violation of internationally recognized promises is not acceptable.

- Ask Viet Nam to respect the Universal Declaration of Human Rights by releasing all non-violent political prisoners.

-  To engage in economic development to help Viet Nam out of poverty. But with consideration not to increase military aid and equipment because of the dangers Viet Nam poses to other Asian countries and to the democratic movement.

- Support the democratic movement inside Viet Nam , in particular the independent political parties and labor unions.  However, they are not only in need of symbolic support but also long-term policy that will support training, education and financing. In the long run, a free and democratic Viet Nam is more beneficial and conducive to the US 's interests than a dictatorial regime.

As you have said before, if  someone stands up for freedom, you will not turn your face away. Again, thank you for your times and efforts in listening to our voices.

 

Respectively,

Do, Thanh Cong

Spokesperson of the People's Democratic Party

 ----- O ----

Thả vô điều kiện và ngay lập tức các tù nhân bất đồng chính kiến tại Việt Nam

Huỳnh Long – Đảng DCND

 
Sự kiện những người đấu tranh dân chủ cho Việt Nam còn bị giam hãm trong các nhà tù chuyên chế là một thực tiễn rực cháy bi tráng, đáng để cho nhân loại trên toàn thế giới chiêm nghiệm giá trị về những quyền tự do vốn có của con người. Quả thật, các chế độ có chính sách khắc nghiệt về dân chủ và nhân quyền chính là các tiền đồn bạo chúa trên thế giới. Sự độc tài chuyên chế với chính nhân dân mình trong thế kỷ XXI là một  cần tạo ra một viễn cảnh mới cho mùa xuân nhân bản được thiết lập trên toàn quốc. Quá trình hội nhập toàn cầu không thuần tuý chỉ về mặt kinh tế mà tách rời những biến đổi nhận thức cần thiết trong tư duy chính trị. Tự việc hội nhập toàn cầu không thể làm tiến triển nền kinh tế quốc dân nếu không gắn liền với những cởi mở thiết thực hơn về xã hội. Một lối rẽ đúng đắn là cần thiết cho tình hình Việt Nam hôm nay. Hành động trao trả tự do vô điều kiện cho các tất cả tù  nhân chính trị tại Việt Nam hôm nay là một cơ hội cần có cho chính nghĩa lên tiếng.
 
Những tù nhân vì đấu tranh dân chủ này chính là những công dân ưu tú của nước nhà; hơn ai hết, ở họ thể hiện một tinh thần trách nhiệm cao độ về vận mệnh quốc gia – dân tộc. Dám hy sinh lợi ích cá nhân cho sự phồn vinh của tổ quốc, họ là những công dân ái quốc dũng cảm và đáng được tôn trọng. Đã bắt đầu vào mùa chim thiên di về phương Nam , thời tiết bắt đầu trở lạnh; liệu sau khung sắt phòng giam giá rét, các công dân lương thiện kia sẽ trăn trở những gì về xã hội và chế độ đương nhiệm tại Việt Nam hôm nay. Những thay đổi mang tính cải cách không hề thấy xuất hiện ở Việt Nam , tình trạng này không ngăn được sự thất vọng đã lên đến tột đỉnh của nhân dân cả nước. Việc thả vô điều kiện những người bất đồng chính kiến sẽ là một nỗ lực cho thế giới thấy là Việt Nam đang thay đổi. Không thể để chủ nghĩa Marx – Lenine thành một một gánh nặng ý thức hệ đè bẹp xã hội Việt Nam . Sao nỡ vì lý do bất đồng chính kiến mà đem đồng bào mình ra làm miếng mồi ngon cho những hành vi vô nhân tính sau song sắt nhà tù.
 
Lòng quả cảm của các chiến sỹ dân chủ Việt Nam đã làm rung động lương tri nhân loại. Thế giới tự do và dân chủ đã cảm nhận được sâu sắc những đau khổ mà người dân Việt Nam đang phải trải qua. Hình mẫu độc đảng lãnh đạo chính trị không thể ăn khớp cùng nền kinh tế thị trường tự do. Thành tích cai quản đất nước không thể qua thái độ tăng liên tục số người bị bắt giam, câu lưu, phong tỏa, thường xuyên đe doạ và theo dõi… những người bất đồng chính kiến. Mạng sống con người đâu phải là cỏ rác. Những người yêu nước lên đường để đấu tranh vì hạnh phúc nhân dân chớ không phải đi chết. Là người trong một nước sao lại không thương nhau ? Các lực lượng dân chủ tiến bộ trên toàn thế giới cần nhận lấy một phần trách nhiệm trong sứ mệnh cao cả này trong bối cảnh Việt Nam được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Việc ủng hộ dân chủ là một khẳng định xác lập vị trí đứng về phía chân lý của các chính quyền được mệnh danh dân cử. Thế giới tự do dân chủ cần liên tục gây áp lực và nhắc nhở đối tác lãnh đạo đương quyền Việt Nam . Các nỗ lực dân chủ hóa Việt Nam cần được nhìn nhận như một chiến lược đối ngoại thường trực đối với các quốc gia dân chủ trên thế giới.
 
Việc đem chuyên chế độc tài ra đối đầu với dân chủ nhân dân chỉ dẫn đến tình trạng bất khả thắng - dẫu đó có là chính đảng hùng mạnh đến đâu chăng nữa. Sự đồng thuận xã hội chỉ có được sau khi thông qua những phản biện tranh luận dân chủ, sự đồng thuận không thể đến từ những sắc lệnh hành chính. Chính quyền đương nhiệm Việt Nam đừng thiển cận cho rằng dân chủ và tự do là một giấc mơ ảo vọng của nhân dân. Trên đời này không hề có thứ lịch sử giao cho một đảng chính trị cái quyền lãnh đạo vĩnh viễn ! Tình trạng tiếp tục bắt bớ, giam cầm những nhân sự bất đồng chính kiến càng thể hiện sự bế tắc trong chính sách của chế độ về mặt quản lý nhà nước; nghiêm trọng hơn: trong chủ trương đoàn kết toàn dân để phát triển đất nước. Đã đến lúc phải nhìn nhận rằng yêu nước tức yêu dân chủ là một cứu cánh xây dựng phồn vinh quốc gia. Giải pháp khủng bố nhân quyền nhằm duy trì quyền lực chỉ phù hợp với những quốc gia có hệ thống pháp luật tật nguyền.
 
Chính quyền đương nhiệm Việt Nam cần phải tôn trọng các hình thức phản biện xã hội. Thông qua muôn lần cọ xát các quan điểm, nhận thức khác nhau; phương án giải quyết tối ưu mới hình thành cho xã hội. Hành động thường xuyên bức hiếp chính dân mình là tội ác và nguyên nhân chính gây ra tình trạng băng hoại xã hội Việt Nam hiện nay. Cao trào đấu tranh dân chủ tại nước nhà hiện nay là quá trình phản biện xã hội có tổ chức, tồn tại khách quan trong cuộc sống, hoàn toàn có ích cho ổn định và phát triển quốc gia. Chỉ có những tư duy độc đoán, quan liêu mới phủ nhận quá trình vận động tự nhiên này. Các cải thiện nhân quyền và dân chủ không thể dừng lại ở những cam kết mà cần thực thi triệt để hơn. Hình ảnh chậm tiến về kinh tế và chuyên chế về chính trị không phải là một biểu tượng cố hữu của Việt Nam . Không bao giờ quá muộn cho một chính sách sửa sai - trước khi mọi chuyện bộc phát ra ngoài phạm vi quản lý của một chế độ. Trong khi đất nước sắp bước vào hội nhập với sân chơi quốc tế, chính quyền đương nhiệm phải công nhận quyền hoạt động chính trị và tự do bày tỏ chính kiến của công dân. Đó cũng là yêu cầu của sự phát triển nước nhà có tính tăng trưởng cao và bền vững. Nhân dân có quyền bày tỏ ý kiến đối với những quyết định quốc sự và giám sát các công việc nhà nước.
 
Mong thay, đây là một đề nghị hoàn toàn có tính đối thoại mà chính quyền đương nhiệm cần thiện chí đón nhận.
 
1/ Phải cho phép Liên đoàn Chữ Thập đỏ Quốc tế viếng thăm hệ thống trại giam và công bố con số tù nhân chính trị thật sự bị giam giữ tại Việt Nam .
 
2/ Phải thả vô điều kiện và ngay lập tức những người bị tù đày vì bất đồng chính kiến.
 
3/ Chính quyền đương nhiệm cần ngưng ngay những hành động đàn áp, bức cung, vu khống có hệ thống những công dân dân chủ yêu nước hiện nay.
 
Bất chấp những đàn áp bạo quyền phi lý, phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam vẫn tiếp tục lớn mạnh. Có nhiều chiến sỹ đấu tranh bị bắt giam cầm nhưng chế độ này không thể bỏ tù cả phong trào dân chủ Việt Nam . Nhà nước chuyên chế hiện nay cần tỏ ra thiện chí trước khi mọi chuyện trở nên quá muộn; quý vị ráng thử một lần cởi lòng mình ra để cho lương tâm quý vị được sống ! Không thế lực đen tối nào có thể dập tắt được lòng kiên nhẫn và năng lực tranh đấu của những người dân chủ yêu nước hôm nay. Nền an ninh quốc gia cần phải được xây dựng trên nền tảng đối thoại dân chủ và tôn trọng quyền công dân.
 
Dân chủ nhất định thắng !

Việt Nam

 

----- O -----

Hiệp Hội Đoàn Kết Công-Nông Việt Nam

The United Workers-Farmers Organization of Viet Nam

Phát Ngôn Nhân Hiệp Hội : Pham Linh  – Sài Gòn, Việt Nam

Email: hiephoicongnongvietnam@yahoo.com

Thông Cáo

Việt Nam ngày 16  tháng 6 năm 2007

 

Kính Gửi:

-          Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush

-          Chủ tịch nước CHXHCNVN, Ông Nguyễn Minh Triết

-          Đồng Bào Trong và Ngoài nước

-          Các Cơ quan Truyền thông

-          Các Tổ chức Nhân quyền và Lao động Quốc tế

 

Về việc: Kêu Gọi Nhà Cầm Quyền Hà Nội Trả Tự do cho Thành viên Hiệp Hội và Các nhà Bất đồng Chính kiến

Chủ tịch nước Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam,  Ông Nguyễn Minh Triết sẽ chính thức viếng thăm nước Mỹ từ ngày 18 đến ngày 23 tháng 6 tới đây. Cuộc gặp giữa Chủ tịch Nguyễn Minh Triết với Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush chắc chắn sẽ mang lại rất nhiều quyền lợi cho hai chính phủ. Chúng tôi, Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam –  đại diện cho quyền lợi của tầng lớp Công nhân và Nông dân Việt Nam – hy vọng rằng, cuộc gặp gỡ của các ông sẽ mang lại lợi ích thiết thực nhất định cho những người lao động cùng khổ tại Việt Nam như chúng tôi hiện nay.

Tuy nhiên,  việc chính quyền Cộng sản Việt Nam đem sinh mạng chính trị của các chiến sĩ dân chủ ra làm “món hàng trao đổi” đang bị dư luận thế giới lên án gay gắt và đang làm tổn hại rất lớn tới công cuộc đấu tranh đòi nhân quyền tại Việt Nam. Rất nhiều nhận định cho rằng, việc chính quyền Hà nội dễ dàng đoạt được những mục đích quan trọng trong năm 2006 như vào WTO,  được PNTR hay tổ chức được APEC thông qua các “món hàng trao đổi”, cộng với việc làm ngơ của Tổng thống Bush trước việc Hà nội ngang nhiên ngăn cản các cuộc gặp gỡ của các quan chức, dân biểu và phóng viên với các nhà hoạt động dân chủ ngay trong thời gian diễn ra Hội nghị APEC đã trở thành nguyên nhân chính,  dẫn đến hành động tăng cường đàn áp và bắt bớ hàng loạt đối với các nhà dân chủ trong thời gian vừa qua. Bởi lẽ, nhà cầm quyền Hà Nội vừa xả được ấm ức dồn nén bấy lâu để trấn áp phong trào, lại vừa tăng cường được “kho hàng dân chủ” để sẵn sàng trao đổi khi cần thiết.

Điều gì sẽ xảy ra  đối với các chiến sĩ dân chủ sau khi “Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Hoa Kỳ” (câu mà chắc chắn 600 tờ báo của Việt nam sẽ loan tải khi ông Triết rời khỏi nước Mỹ). Điều chúng tôi đang lo ngại sâu sắc đó là: sẽ lại có một đợt tăng cường đàn áp, bắt bớ khốc liệt hơn đối với phong trào dân chủ. Sinh mạng của các chiến sĩ dân chủ đang lơ lửng trước lưỡi hái của bạo quyền. Vì vậy, bằng kháng thư này, Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam chính thức yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội hãy tôn trọng nhân quyền và thể hiện cụ thể bằng cách thực hiện các hành động sau đây:

  1. Trả tự do cho các thành viên của Hiệp hội đã bị vu khống bằng các phiên toà vi hiến như anh Trần Quốc Hiền hoặc đang bị giam giữ trái phép tại B5,  trại giam Đồng nai như Nguyễn Tấn Hoành, Trần Thị Lệ Hằng, Đoàn Văn Diên, Đoàn Huy Chương. Cùng với các nhà hoạt động dân chủ khác như: các thành viên đảng Dân chủ Nhân dân, bác sĩ Lê Nguyên Sang, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, luật sư Nguyễn Bắc Truyển;  luật sư Nguyễn Văn Đài, UB Nhân quyền VN và Lê Thị Công Nhân, phát ngôn nhân đảng Thăng Tiến VN; Linh mục Nguyễn Văn Lý v...v.

  1. Tuyên bố công khai và cam kết tôn trọng nhân quyền, không tiếp tục truy bức, bắt bớ, xách nhiễu và đe doạ tất cả những ai đã, đang và sẽ đấu tranh cho nhân quyền tại Việt nam bằng phương pháp bất bạo động. Lưu ý rằng, những người này đang bị chính quyền Việt Nam khoác cho các tội cực kỳ phi lý và phi pháp đó là: “tuyên truyền chống phá nhà nước Việt Nam ” hoặc “xâm phạm an ninh quốc gia”.

  1. Thừa nhận tính hợp pháp vốn có của Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt Nam cũng như các tổ chức dân chủ khác như Khối 8406, Liên Minh Dân chủ Nhân Quyền Việt Nam v.v., các đảng phái chính trị đối lập như Đảng Dân chủ Nhân dân, Đảng Thăng tiến, Đảng Dân chủ XXI v..v

Chúng tôi tin tưởng rằng, để minh chứng cho lời tuyên bố của Tổng thống George W. Bush là sẽ hỗ trợ và không quay lưng lại với những ai đấu tranh cho tự do, dân chủ và để đảm bảo sinh mạng cho các công dân Việt Nam, cũng như để nâng cao uy tín của hai nước Việt Nam và Mỹ, kính mong hai ông sẽ quan tâm, cùng thúc đẩy và thực thi những yêu cầu của chúng tôi.

Xin trân trọng cảm ơn và kính chào

Thay mặt Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam

Phạm Linh

Phát ngôn nhân

----- O -----

QUYỀN LỰC ĐỘC TÀI VÀ MẠNG SỐNG NGƯỜI DÂN                                         

Võ Trọng Tín

 
 
Khi chế độ độc tài còn duy trì được hệ thống kinh tế khép kín và đóng cửa hoàn toàn với thế giới bên ngoài, mạng sống của người dân hoàn toàn nằm trong tay của chế độ là điều dễ hiểu. Hiện nay, khi Việt nam đã buộc phải mở cửa hội nhập với thế giới, đời sống vật chất của người dân đã gần như thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ quan quyền lực, nhưng cuộc sống của người dân cả về phương diện tinh thần và thể chất lại đang bị đe dọa trầm trọng hơn trước, nếu như trước đây chỉ là sự thiếu thốn, còn ngày nay không chỉ thiếu thốn ( cho dù đã giảm hơn trước ở phương diện nhu yếu phẩm) mà thêm vào đó là sự dư thừa quá lớn các chất độc hại đối với sự sống, sự mất đi những yếu tố cân bằng của môi trường thiên nhiên và hệ thống đạo đức xã hội đã bị băng hoại. Những nguy cơ chết người đó chính là hậu quả của một thể chế chính trị độc tài.
 
Bất kỳ một chế độ độc tài nào cũng chỉ tồn tại được chừng nào còn duy trì được sự kiểm soát tư tưởng của người dân (kiểm soát các luồng thông tin, kiểm soát sự lưu thông qua biên giới) và duy trì được một mức độ thu nhập đủ để người dân còn có hy vọng vào một ngày mai khả dĩ hơn về miếng cơm, manh áo.
 
Trong quá trình vận hành của một bộ máy, việc tiếp nhận các phản hồi ( feed-back) một cách chính xác và trung thực đóng vai trò quan trọng để điều chỉnh, khắc phục các sai lệch, hỏng hóc có thể của các bộ phận nhằm tránh nguy cơ tổn hại lớn hoặc nguy hại cho toàn bộ hệ thống. Với chính thể độc tài hiện nay ở Việt nam, cơ chế tiếp nhận phản hồi của xã hội đã và đang bị bóp méo, ngăn chặn do e ngại sự tự do của thông tin ( thiết chế tiếp nhận phản hồi, cảnh báo xã hội) sẽ làm suy yếu quyền lực của kẻ độc tài. Việc khống chế và cản trở thông tin trong xã hội Việt nam hiện nay không chỉ nhằm ngăn chặn sự quảng bá các tư tưởng, nhận thức tiến bộ trong dân chúng mà còn nhằm che đậy những suy đồi, mục ruỗng của chế độ. Do đó, thường các thông tin phản hồi của một cơ quan, một bộ máy chỉ được lộ diện khi đã xảy ra hỏng hóc hoặc tổn hại trầm trọng tới mức không thể che giấu nổi. Việc truy nguyên sai lầm, hỏng hóc cũng sẽ bị khống chế che đậy sao cho đỡ tổn hại đối với kẻ cầm quyền. Dân chúng chính là người phải gánh chịu mọi hậu của những sai lầm, hỏng hóc đó của xã hội. Những làng ung thư và vụ việc chất 3-MCPD gây ung thư trong nước tương đang nổi cộm hiện nay là những ví dụ thương tâm dễ thấy đối với nạn nhân là người dân và sự vô trách nhiệm tàn bạo của kẻ cầm quyền.
 
Dù dốc hết sức kiểm soát thông tin đối với người dân, chế độ cộng sản Việt nam đang phải đối mặt với một thách thức lớn của thời đại công nghệ truyền thông không biên giới, không thời gian. Tốc độ phát triển và sự không ngừng cải tiến các công nghệ truyền thông kỹ thuật số, không dây, chi phí thấp, độ an toàn luôn được nâng cao như hiện nay đang làm tấm màn bưng bít, cắt xén, xuyên tạc, bóp méo thông tin của cộng sản đang ngày càng trở nên vô tác dụng. Sự hội nhập ( bắt buộc vì sống còn của chế độ ) với thế giới văn minh cũng làm cho khoảng cách giữa các “ trạm gác biên giới” ngày càng bị “doãng” ra. Những luận điệu tuyên truyền một chiều, chụp mũ, bôi nhọ của chế độ đối với trào lưu tiến bộ đang trở thành “ gậy ông lại đập lưng ông”. Nhiều người dân cảm thấy từ ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến khinh bỉ, phẫn nộ sự dối trá, xuyên tạc trắng trợn, vô liêm sỉ của hệ thống tuyên truyền của chế độ, khi được tiếp cận với các nguồn tin độc lập khác. Đối mặt với thách thức, chế độ cộng sản Việt nam đang cố sức gia tăng các rào cản đối với thông tin. Cho dù đã hoàn toàn kiểm soát mọi phương tiện truyền thông và trước đó đã có nhiều văn bản nhằm hạn chế thông tin, thủ tướng mới nhậm chức khoảng 01 năm đã lần lượt ra 02 văn bản nhằm khống chế thêm việc tiếp cận thông tin của giới báo chí. Dù vẫn đang nắm quyền lực hoàn toàn, nhưng kẻ cầm quyền đã dự cảm được nguy hiểm ngày càng khôn lường nếu những suy đồi của chế độ bị tiết lộ đầy đủ cho dân chúng.
 
Về kinh tế, chế độ đang phải ra sức tìm kiếm mọi nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tế gia tăng về số lượng, bất kể sự hao tổn trong đầu tư cao bao nhiêu và những trả giá về môi sinh trầm trọng ở mức độ nào. Chỉ số ICOR ( tỷ số giữa số đơn vị đầu tư để có 01 đơn vị tăng trưởng) tại Việt nam thuộc loại cao nhất thế giới ( 5,01 so với 2,7 của Taiwan ). Các chỉ số  chất độc trong môi trường của Việt nam gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Các thực thể cân bằng, điều hòa của tự nhiên như không khí, sông, hồ, núi đồi, rừng và cả biển đang bị tàn phá và ô nhiễm trầm trọng. Về hình thức đó là hậu quả của chính sách tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, nhưng đằng sau nó là một động lực chính trị của kẻ cầm quyền nhằm che dấu, khỏa lấp những mục ruỗng, thối nát của hệ thống chính trị đã trở thành vô phương cứu chữa-ngoại trừ sự thay đổi, bằng sự xoa dịu cuộc sống vật chất của người dân, sau bao năm tháng thiếu thốn. Nhưng đằng sau sự tăng trưởng kinh tế, cuộc sống hàng ngày hàng giờ của mỗi người dân đều đang bị đe dọa và bị tổn hại trầm trọng. Những đe dọa, rủi ro rõ rệt nhất có thể thấy là nguy cơ tử nạn trên đường giao thông ( mối năm có trên 01 vạn người bỏ mạng), nguồn nước sinh hoạt và thực phẩm hàng ngày đang hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát về chất lượng. Đó là hai nguy cơ có thể đại diện cho hậu quả của chính sách quản lý “ phát triển kinh tế bằng mọi giá để duy trì quyền lực” của cộng sản Việt nam. Một nguy cơ có thể thấy hậu quả tức thì đối với đời sống, tính mạng của người dân và một nguy cơ gây hậu quả âm thầm và di chứng lâu dài tới nhiều thế hệ.
 
Những con số tăng trưởng kinh tế luôn được nâng cao và thổi phồng, sự gia tăng kích cỡ và số lượng của các công trình công cộng với những thất thoát khổng lồ và chất lượng đầy rủi ro, sự phồn thịnh bên ngoài của một số đô thị lớn với những tệ nạn xã hội tràn lan, một tầng lớp “ phú ông” giàu có đang hình thành cùng với những lớp người không đất, không nhà cửa, sự tăng cao khả năng mua sắm để thỏa mãn các nhu cầu hưởng thụ vật chất kèm theo những suy đồi đạo đức ngày càng kinh ngạc … Đó là những vấn đề có tính hai mặt đang tồn tại hiện nay của xã hội Việt nam, nhưng mặt thứ hai của nó luôn bị che giấu, gây sao lãng thay cho việc tuyên truyền, khoa trương mặt thứ nhất.
 
Nếu tỉnh táo, người dân Việt nam phải đặt một câu hỏi: mức thu nhập sau một năm được tăng thêm 10%, 20% thậm chí 30, 40% ( trên cơ sở tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn quốc khoảng 08%) có ý nghĩa gì nếu ngay ngày mai ta đã là nạn nhân trên đường quốc lộ, đã là một bệnh nhân ung thư hoặc hàng ngày ta buộc phải dùng một lượng chất độc thường xuyên ngay trong bữa ăn hoặc phải hít một lượng khí độc khi đến sở làm và trước khi trở về nhà? Xa hơn nữa, có một câu hỏi cần đặt ra: việc gia tăng thu nhập vài %  một năm có đủ bù đắp cho những cạn kiệt về tài nguyên đất nước và môi trường sống, các thế hệ con cháu ta sẽ phải gánh món nợ nước ngoài là bao nhiêu và họ sẽ sống ra sao khi các  nguồn lực thiên nhiên như nước sạch, đất trồng trọt, dầu mỏ…đang bị hủy hoại và cạn kiệt? Thẳng thắn hơn, chúng ta cần phải đặt một câu hỏi: đến bao giờ thì chúng ta cùng phải lên tiếng đủ để phế truất những kẻ lãnh đạo vô trách nhiệm, đang được nuôi sống bằng chính công sức, mồ hôi của chúng ta (đóng góp qua thuế)?
 
Rõ ràng việc thao túng, bóp nghẹt thông tin cùng với phát triển kinh tế bằng mọi giá đang là sách lược của chế độ cộng sản Việt nam nhằm kéo dài sự tồn tại của nó, bất chấp các hậu họa cho dân tộc.
 

                                                                                                            Võ Trọng Tín

                                                                                                            Tháng 6/2007

----- O -----

Ba sự tầm thường hoá Chủ nghĩa Mác

Vũ Hải Đăng – Đảng DCND

 

   Trong tác phẩm Các Mác viết năm 1914, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh: Chủ nghĩa Mác là hệ thống các quan điểm, lý luận và học thuyết của Mác. Mác đã kế thừa hoàn chỉnh một cách thiên tài ba trào lưu tư tưởng chủ yếu ở cuối thế kỷ XIX, thuộc ba nước tiên tiến nhất của loài người: Triết học cổ điển Đức, môn Kinh tế chính trị cổ điển Anh, và Chủ nghĩa Xã hội Pháp gắn liền với các học thuyết cách mạng Pháp nói chung. Tính triệt để và tính hoàn thiện tuyệt vời của những quan điểm của ông toàn bộ hợp thành chủ nghĩa duy vật hiện đại và CNXH khoa học hiện đại, trở thành lý luận và cương lĩnh của phong trào công nhân ở tất cả các nước tiên tiến văn minh cũng như các nước đang tiến tới văn minh trên Thế Giới.”
 
   Chính Mác cũng đã từng cho rằng ông không phải là người tạo ra chủ nghĩa Mác hay tư tưởng Mác, ông thích dùng khái niệm "Chủ nghĩa xã hội khoa học" cho học thuyết của ông hơn. Với việc này Mác phân rõ ranh giới với các phác thảo xã hội và nhà nước khác, những cái mà ông xếp vào chủ nghĩa xã hội không tưởng hay chủ nghĩa vô chính phủ. Mác phê phán những người đi trước và cùng thời này, rằng họ chỉ "mơ ước" một xã hội công bằng theo lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp, mà không nghiên cứu một cách khoa học về các điều kiện để thực hiện nó và cũng không vươn đến chúng với triển vọng thành công trên thực tế.
 
   Như vậy, toàn bộ các bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác đều hướng tới nhằm giải thích một cách khoa học về quy luật phát triển xã hội, nghiên cứu xã hội Tư bản chủ nghĩa (CNTB) để chỉ ra sự phát triển hợp quy luật tiến lên xã hội Xã hội chủ nghĩa (CNXH) là giai đoạn thấp của xã hội Cộng sản chủ nghĩa (CNCS), chỉ ra phương hướng, biện pháp để thực hiện cuộc cách mạng XHCN (cách mạng vô sản), trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện xã hội có tác động, ảnh hưởng đến cuộc cách mạng đó. 
 
   Có thể kết luận Mác là nhà bác học nghiên cứu về những quy luật phát triển xã hội và cách mạng nhằm cải biến xã hội. Ông là nhà sáng lập CNXH khoa học (hay còn gọi là CNCS khoa học), một học thuyết cách mạng quốc tế.
 
   Mác được thế giới công nhận là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại, ông đã đúc kết một chân lý của mọi thời đại:Quyền lợi không bao giờ có thể cao hơn trạng thái kinh tế của xã hội và trình độ văn minh của xã hội thích ứng với trạng thái kinh tế đó”. Vì vậy không thể có CNXH nếu như không đạt được những thành tựu lớn lao về kinh tế. 
 
   Có một vấn đề đặt ra, một nước phong kiến có nền kinh tế lạc hậu, trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ quân chủ chuyên chế, có thể tiến thẳng lên CNXH hay không. Về vấn đề này Mác chưa có điều kiện để nghiên cứu. Sau này, do thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga, trong giai đoạn chủ nghĩa Tư bản đã phát triển thành chiến tranh Đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, Lênin mới đưa ra quan điểm: “các nước phong kiến lạc hậu có thể tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn TBCN, với sự giúp đỡ của các nước đi trước mà cách mạng XHCN đã thành công”. Điều này dẫn đến việc, chủ nghĩa Mác trở nên thích dụng (giúp ích) đối với các phong trào đấu tranh dành độc lập ở các nước thuộc địa, đặc biệt là các quốc gia Châu Á trong đó có Trung Quốc và Việt Nam. Các nhà yêu nước đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác con đường để thoát khỏi khủng hoẳng về đường lối, họ đã biết kết hợp khéo léo sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của cao trào cách mạng vô sản lúc bấy giờ để dành được chính quyền, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.
 
   Sau khi dành được chính quyền, các nhà yêu nước đã tiến hành ngay một chiến dịch: quốc gia hoá, dân tộc hoá, cá nhân hoá học thuyết cách mạng quốc tế của Mác. Sản phẩm tinh thần của chiến dịch đó là sự ra đời của các tư tưởng: “tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Kim Nhật Thành…”, mà thực chất chỉ là sự tầm thường hoá chủ nghĩa Mác, phục vụ cho mục đích chính trị dân tộc hẹp hòi, về sau còn giúp cho các nước này duy trì chế độ XNCH sau khi Liên bang Xô Viết đã sụp đổ. Câu phương ngôn của Mác: Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại đã không được thực hiện trong thực tiễn, mà người ta đã hành động theo phương châm: Lãnh tụ nước nào thống soái vô sản nước đó. Nếu như sau khi cách mạng Pháp thành công, phải gần mười năm sau mới sinh ra một nhà độc tài Na-Pô-Lê-Ông, thì ngay khi cách mạng Trung Quốc còn chưa thành công và đang khủng hoẳng đường lối, đã xuất hiện một nhà độc tài Mao Trạch Đông, về sau được tôn vinh là người có 4 cái vĩ đại: “Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại và Người cầm lái vĩ đại”. Thực chất 4 cái vĩ đại người ta gán cho Mao là bước thụt lùi của cách mạng vô sản thế giới, là sự tầm thường hoá chủ nghĩa Mác. Dưới sự lãnh đạo của Mao, nền kinh tế Trung Quốc thất bại thảm hại, mô hình CNXH được ông xây dựng theo mô hình trại tập trung lao động quân sự khổng lồ, trong đó mỗi người dân lao động là một người lính phục tùng mệnh lệnh của cán bộ. Ông đã sử dụng quyền thống soái về chính trị - quân sự để áp đặt quyền lực đó lên toàn bộ nền sản xuất xã hội, các hoạt động kinh tế đều phải tuân thủ mệnh lệnh quân sự. Cuộc thí nghiệm Đại nhảy vọt về kinh tế và Đại cách mạng văn hoá của giai cấp vô sản do Mao phát động đã đẩy lịch sử Trung Quốc tụt lùi hàng thập kỷ. Chính ông là người đưa ra một quan niệm tai hại: “Nghèo là cách mạng, là XHCN, còn giàu là bóc lột, là TBCN”, dùng để bào chữa cho những thất bại của ông trên lĩnh vực phát triển kinh tế. Chủ nghĩa Mác, từ mục tiêu và phương pháp thực hiện nhằm giải phóng sức sản xuất, để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy tiến bộ xã hội, đã bị xuyên tạc thành một hình thái thống trị xã hội bằng quyền lực độc tài, gây cản trở cho sự phát triển. Chủ nghĩa Mác khoa học đã biến thành phương tiện của nhà cầm quyền để thực hiện các mục đích chính trị nhằm tranh dành quyền lực độc tôn, thống soái. Những người theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông đã tầm thường hoá chủ nghĩa Mác, phủ nhận quy luật phát triển xã hội, họ cho rằng có thể xây dựng CNXH bằng biện pháp bạo lực, khủng bố tinh thần nhân dân, cưỡng ép lao động bằng mệnh lệnh và kỷ luật quân sự.
 
   Phương pháp quản lý kinh tế kiểu “trại lính” vẫn còn được duy trì ở các nước XHCN trong một thời gian dài. Khi nói đến kinh tế XHCN, người ta nghĩ ngay đến kinh tế quản lý tập trung, kinh tế kế hoạch hóa, kinh tế quan liêu bao cấp, hay nền kinh tế mệnh lệnh. Đó là một nền kinh tế không có sức sống, cứng nhắc và lãng phí, cuối cùng nó đã bị tan rã và sụp đổ. 
 
   Sự tầm thường hoá chủ nghĩa Mác còn được diễn ra trong việc xây dựng nhà nước vô sản, một nhà nước kiểu mới, nhà nước này không những tự đặt mình lên trên nhân dân mà còn đứng trên mọi giai cấp, đấy là nhà nước Đảng trị. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội cho nên: “Hiến pháp không được coi trọng bằng điều lệ Đảng, Pháp luật không được tuân thủ bằng nghị quyết Đảng, các cấp uỷ Đảng đứng trên Chính quyền các cấp”. Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã biến thành nhà nước Đảng quyền, Đảng trị. Quốc hội Việt Nam, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, có trên 70% đại biểu là quan chức Cộng sản đang kiêm nhiệm chức vụ, vừa điều khiển cơ quan Lập pháp vừa giữ chức vụ trong cơ quan Hành pháp, chẳng khác nào Đảng vừa đá bóng vừa thổi còi, vì vậy không thể có nhà nước Pháp quyền ở Việt Nam khi Đảng Cộng sản còn cầm quyền.
 
   Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh được tôn vinh là vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại.  Nhưng, tất cả điều đó chưa thể khẳng định người Cộng sản Việt Nam đầu tiên này là một học trò trung thành của chủ nghĩa Mác. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và cách mạng thực ra là sự pha trộn giữa tư tưởng dân tộc của các chí sĩ yêu nước Việt Nam với đường lối cách mạng của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Lênin, mối liên hệ với chủ nghĩa Mác rất mong manh, ông còn lẫn lộn giữa vấn đề nhà nước và dân tộc với CNXH.
 
   Trong toàn bộ các tác phẩm của mình, Mác chưa bao giờ nhắc đến một hình thái nhà nước nào là nền chuyên chính của toàn thể nhân dân, Mác luôn cố gắng giải thích về lịch sử đấu tranh giai cấp, qua đó chứng minh bản chất của nhà nước là chuyên chính của giai cấp, dùng để trấn áp các giai cấp đối kháng. Nhà nước là lực lượng sinh ra từ xã hội, nhưng lại tự đặt mình lên trên xã hội và ngày càng trở nên xa lạ với xã hội, nhà nước nào cũng là bộ máy bạo lực của giai cấp với sự hoàn bị của các tổ chức quân đội và công an, sẵn sàng đàn áp các bạo động chống lại lợi ích của giai cấp, sức mạnh bạo lực khiến cho nhà nước trở nên xa cách với xã hội, lại càng xa cách hơn với quần chúng, vì vậy nhà nước chỉ có thể là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp chứ chưa bao giờ là nền chuyên chính của toàn dân. Trong các cuộc chiến tranh thì nhà nước còn có thêm vai trò là lực lượng bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bởi vì sức mạnh bạo lực của nhà nước được tạo ra từ sức mạnh của nhân dân, dân là gốc của nước, không có nhà nước nào đặt ngoài nhân dân mà chỉ có nhà nước đặt trên nhân dân. Mác đã chứng minh: chỉ có tuân theo các quy luật phát triển xã hội, cùng với việc mở đường cho sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, hình thành nên trạng thái kinh tế của xã hội ở trình độ cao, thích ứng với trạng thái kinh tế đó là trình độ văn minh của xã hội, trong đó con người được nâng lên tầm vóc mới, thoát dần khỏi việc bị phụ thuộc một cách nô lệ vào sự phân công và quản lí, khi đó nhà nước sẽ dần tiêu vong. Nhà nước tiêu vong thì bạo lực và bất công trong xã hội mới chấm dứt và nhân dân mới thực sự trở thành người làm chủ.
 
   Vậy thì tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân là như thế nào, đấy chẳng qua chỉ là một quan niệm không tưởng về một nhà nước là nền chuyên chính cách mạng của toàn thể nhân dân, ông đã viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì việc làm mới đúng. Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất kì việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác – Lênin. Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác – Lênin.  Ông đã tầm thường hoá chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, coi nhà nước vô sản cách mạng là của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc, lẫn lộn giữa học thuyết cách mạng quốc tế với tư tưởng dân tộc, nhầm tưởng rằng CNXH đã mang lại công bằng cho nhân dân. Ông quan niêm mơ hồ về một chính quyền chưa từng có trong lịch sử, một chính quyền lý tưởng đến mức người ta có thể duy trì nó mãi mãi, coi đó là thành quả cách mạng vĩ đại của nhân dân. Cho nên, chính quyền đó đã không thành hiện thực như mong muốn, càng ngày chính quyền đó càng xa rời dân, bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lí kinh tế, đạo đức của một bộ phận lớn cán bộ Đảng viên bị tha hoá, lập trường tư tưởng yếu kém, nạn tham nhũng trở nên phổ biến, làm chậm tiến trình phát triển của đất nước, khiến cho dân tộc ta ngày càng tụt hậu xa hơn với thế giới.
 
   Cuối cùng là vấn đề công bằng xã hội. Không có vấn đề nào lại có ảnh hưởng sâu sắc và gây ra hậu quả đáng sợ hơn vấn đề thực hiện công bằng xã hội theo kiểu quân chủ nghĩa (làm nhiều hay làm ít thì đều được hưởng như nhau) . Trong Kinh Thánh cũng đã nói về công bằng xã hội: “Khi cày, thợ cày phải mong chia phần, và khi đập lúa, kẻ đập lúa cũng phải mong được chia phần”. Lý lẽ trên tưởng như giản đơn, nhưng lại rất sâu sắc, đó chính là sự kích thích vật chất, là động lực của lao động và là nguồn năng lượng tinh thần của mọi sự phát triển xã hội. CNXH vẫn cần kích thích vật chất, Mác đã viết: “Đó là một xã hội Cộng sản vừa từ trong xã hội Tư bản thoát ra; vì vậy mà, về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, trí tuệ, xã hội ấy còn mang những dấu vết của xã hội cũ, xã hội đã hoài thai ra nó. Mặc dầu đã có sự tiến bộ, nhưng quyền lợi bình đẳng vẫn luôn luôn bị giới hạn trong khuôn khổ xã hội cũ, quyền lợi của người sản xuất tương xứng với lao động mà người ấy đã cung cấp; sự bình đẳng, ở đây, là ở chỗ dùng lao động làm đơn vị đo lường chung”. Vậy mà người ta đã tầm thường hoá chủ nghĩa Mác bằng cách tô vẽ thêm vào đó những lý tưởng nhân đạo không tưởng, muốn rằng mọi người đều lao động vì lợi ích chung của tập thể và đều được hưởng như nhau, phủ nhận vai trò của kích thích vật chất. Vì vậy mà ở Việt Nam, có trường hợp lương của kỹ sư thấp hơn lương của người lao công, lương của chuyên gia thấp hơn lương của người bảo vệ…? Các công trình phục vụ văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và y tế chỉ phân ra tuyến trung ương và địa phương, cho nên người giàu và người nghèo, người có trình độ và không có trình độ cứ sinh hoạt chung cùng một môi trường như vậy, cái kiểu đánh đồng tất cả với nhau như thế gây nên tình trạng rất lôn xộn, không thể quản lý tốt được. Qua thời gian dài thực hiện công bằng xã hội theo kiểu quân bình chủ nghĩa không tưởng, đã dẫn đến sự bành trướng của văn hoá bình dân. Văn hoá bình dân đã nhiễm vào tầng lớp lãnh đạo, tầng lớp giàu có và cả tầng lớp trí thức. Những người có vị trí xã hội cao, nhưng trình độ văn hoá thấp kém, họ đã lãnh đạo đất nước theo ý kiến chủ quan của cá nhân. Bộ mặt đất nước ngày càng lộn xộn, sự nhũng nhiễu nhân dân của các bộ máy công quyền trở nên phổ biến. 
 
   Tóm lại, chủ nghĩa Mác đã bị các nhà cầm quyền Cộng sản tầm thường hoá đến mức mất đi các giá trị khoa học, khiến cho lý luận xa rời với thực tiễn, các chính trị gia Cộng sản trở thành các diễn viên siêu hạng, họ ra sức tô vẽ cho các thành tích ít ỏi và dấu đi thật tài tình nhiều khuyết điểm. Họ độc quyền lãnh đạo đất nước. Trong khi đó, ở các nước Tư bản hiện đại, do chấp nhận đa nguyên chính trị, nên Đảng Cộng sản vẫn được hoạt động hợp pháp, chủ nghĩa Mác được chính quyền các nước đó nghiên cứu, học tập. CNTB đã biết thích nghi với hoàn cảnh mới, trở nên hoàn bị hơn, nhiều lý luận của chủ nghĩa Mác đã được vận dụng vào thực tiễn xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Có thể nói CNTB hiện đại đã biết tự hoàn thiện, phát huy được tính ưu việt của mình, đạt được nhiều thành tựu vĩ đại cống hiến cho nhân loại, nâng đời sống nhân dân lên mức khá giả, và hơn hết, đã mở đường cho các trào lưu tư tưởng trên thế giới được tự do phát triển nhằm vươn tới một xã hội tiến bộ văn minh. Điều này trái ngược với các nước XHCN, cụ thể là Việt Nam, Đảng Cộng sản duy trì đường lối bảo thủ, bóp nghẹt các quan điểm chính trị đối lập, cấm đoán mọi trào lưu tư tưởng không phải là chính thống (chỉ có Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là chính thống), thậm chí còn chặn đứng mọi tiếng nói của nhân dân (dân phải lên tận trung ương kêu oan). Một thể chế chính trị cứng nhắc sẽ dẫn đến một nền kinh tế kém năng động, Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới mà không có cải cách thể chế chính trị thì không thể dành được những thắng lợi to lớn, không tận dụng được cơ hội và không vượt qua những thách thức, có nguy cơ bị thua ngay trên sân nhà.
 
   Mác cả cuộc đời cống hiến cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người, vậy mà những người sau ông, tự nhận là đi theo phương hướng đường lối của ông, lại đưa xã hội đi tụt lùi, trong khi Thế giới đã bay vào vũ trụ thì Việt Nam vẫn quanh quẩn với việc xoá đói giảm nghèo. Người ta bào chữa cho thực tế yếu kém đó là Việt Nam có một nền chính trị ổn định? Chả phải các dân tộc thiểu số, sống tách biệt với thế giới văn minh đang có một cuộc sống ổn định hay sao, họ đâu muốn sự ổn định đó bị phá vỡ…? Đảng Cộng sản đang ru ngủ quần chúng bởi sự ổn định giả tạo, lại một lần nữa họ đi ngược lại chủ nghĩa Mác – Lênin. Về vấn đề giáo dục quần chúng, Lênin đã từng viết: “Chắc chắn rằng cách mạng giáo dục được người ta một cách nhanh chóng và triệt để, điều không thể có được trong các thời kỳ hoà bình phát triển về chính trị. Và điều đặc biệt quan trọng là cách mạng đã giáo dục không những các nhà lãnh đạo mà cả quần chúng nữa”.
 
Ngày nay, ngọn cờ cách mạng đó sẽ chuyển sang tay các lực lượng dân chủ tiến bộ trong và ngoài nước. Kể từ năm 2006, nhiều tổ chức và đảng phái chính trị đã công khai ra đời, tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ và tiến bộ. Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền được thành lập nhằm hội tụ tất cả các đoàn thể và cá nhân trong cuộc đấu tranh này. Các đảng phái như Đảng Thăng Tiến Việt Nam, Đảng Dân Chủ 21, Đảng Dân Chủ Nhân Dân, và Hiệp Hội Công Nông Việt Nam đều được hình thành tại Việt Nam. Mỗi tổ chức có đường lối riêng, nhưng đều cùng một mục đích là: “thách thức Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận các đảng phái đối lập, cùng nhau bắt tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.(Thư Đảng DCND gửi Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush)
 
   Thế giới đã bước vào kỷ nguyên tri thức. Đây là thời điểm có tính chất quyết định đến vận mệnh của dân tộc. Lịch sử đã chứng minh rằng, bất kỳ ai nếu đi ngược lại sự tiến bộ chung của xã hội, thì đều bị tiêu diệt. Vì vậy những kẻ đang từng ngày phản bội lại giá trị chính thống của chủ nghĩa Mác, đục khoét, bòn rút, vơ vét của công để làm giàu cho cá nhân, gây thiệt hại cho đất nước sẽ phải bị tiêu diệt. Những người bảo thủ, trì trệ, không biết thích ứng để theo kịp sự phát triển của thời đại cũng sẽ bị đào thải. Đây là một tất yếu.
 

         Hà Nội, ngày 3 - 6- 2007

----- O ----

VÀI SUY NGHĨ NHÂN KÌ BU C QUC HI XII

Cơ quan cm quyn va là k thi hành lut va t cho mình là k lp pháp,

h có th tàn phá quc gia bng nhng ý chí chung sai lm ca h.

Nếu h nm gi c quyn xét x na

 thì h có th đè nát mi công dân theo ý mun ca họ”.

 

Montesquieu ( De Lesprit des lois)(*)

 

Tuệ Minh

 
1. Ngày bầu cử quốc hội XII đã qua. Lẽ ra đó phải là ngày mà cử tri trong toàn quốc hân hoan, hy vọng. Nhưng trái lại, cử tri mang một tâm trạng chán chường, mệt mỏi, thất vọng. Lần bầu cử này không có tiến bộ nào so với những lần trước. Một vở “hề tuồng” diễn đi diễn lại với bố cục và diễn xuất quen thuộc đến mức nhàm chán. Từ nhiều năm nay, dân ta đã đúc kết, truyền tai nhau một đẳng thức : “Bầu cử Quốc hội = đảng cử + dân bầu”. Đẳng thức thật đơn giản nhưng hàm chứa một sự thật sâu sắc về cái gọi là “bầu cử Quốc hội” ở Việt Nam. Đảng cử là một khái niệm diễn tả được tình trạng quyền tự do bầu cử- ứng cử của dân bị vi phạm nghiêm trọng. Dân đi bầu mà không biết kẻ được bầu thực ra như thế nào ngoài mấy dòng tiểu sử. Người dân không có điều kiện lựa chọn vị đại biểu xứng đáng cho mình. Xuất phát từ đảng cử sẽ chỉ sinh ra đảng biểu chứ không thể nào có dân biểu được. Họ không phải là những người đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Vì vậy không thể nào có được Quốc hội của nhân dân như mong đợi của mọi người.
 
2. Đảng Cộng sản (ĐCS) khống chế tỉ lệ người ngoài ĐCS vào Quốc hội tối đa 10%, là một trong những biểu hiện thô bạo nhất của độc tài, chuyên chế. Quyết định giữ nguyên tỉ lệ này làm cử tri mất niềm tin. Họ hằng mong đợi ĐCS khởi động cải cách chính trị để đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại, đó là sự phát triển kinh tế phải được hậu thuẫn bởi nỗ lực dân chủ hoá mọi mặt, trong đó dân chủ hoá chính trị được xem là mấu chốt có tính quyết định. Nhưng không chỉ về mặt bầu cử quốc hội mất dân chủ. Quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng vẫn bị chà đạp ở Việt Nam. Trong năm 2006 có ít nhất 8 tờ báo bị đình bản và phạt vạ vì đã đưa tin “nhạy cảm” vượt quá mức “cho phép”. Trong lĩnh vực báo mạng, ĐCS tăng thêm mức độ quản lí chặt chẽ bằng việc quy định đăng ký tên miền có phần mở rộng .vn, các trang web của các nhóm, tổ chức trong nước không được thuê máy chủ (server) ở nước ngoài, qua đó ĐCS có thể khống chế được nội dung và số phận của tất cả các trang web của các nhóm- tổ chức trong nước.
 
 Hàng loạt các nhân vật bất đồng chính kiến bị khủng bố tinh thần, bị đấu tố như thời cải cách ruộng đất, bị bắt giam vì bày tỏ lập trường- quan điểm chính trị của mình. Điều đó cho thấy ĐCS không hề có thiện chí đưa đất nước hướng tới một xã hội dân chủ. Khẩu hiệu “ xây dựng một xã hội công bằng- dân chủ- văn minh” mà ĐCS vẫn rao giảng ngày nay không khác gì chiếc bánh vẽ “thiên đường cộng sản” trước đây. Bánh vẽ này thực sự nguy hiểm, nó giống như một thứ thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Nếu còn giữ nguyên thể chế chính trị độc tài chuyên chế thì “một xã hội công bằng- dân chủ- văn minh” chỉ là thứ ảo ảnh mị dân.
 
            3. Chuyến công du Trung Quốc trước ngày bầu cử hơn một tháng của ông Nguyễn Phú Trọng (1), chủ tịch Quốc hội VN, gợi cho người ta nhiều suy nghĩ. Theo báo chí đưa tin, một trong những mục đích của chuyến đi này nhằm trao đổi kinh nghiệm lập pháp giữa hai nước. Khôi hài là ở chỗ tại sao ông Nguyễn Phú Trọng không sang học hỏi kinh nghiệm lập pháp ở Mỹ, hoặc ở châu Âu, nơi có kinh nghiệm lập pháp lâu đời, mà lại sang học hỏi kinh nghiệm lập pháp ở một quốc gia có nền độc tài lớn nhất thế giới? Liệu trong chuyến đi ấy, phía Trung Quốc có nhúng tay vào việc duy trì một Quốc hội Việt Nam không quyền lực hay không? Trung Quốc có “trao đổi kinh nghiệm đối phó” với các nhân vật đấu tranh dân chủ và với các sức ép ngoại giao trên hồ sơ nhân quyền không? (2)
 
Chúng tôi xin nhắc lại rằng, ĐCSVN cần sớm thoát ra khỏi vòng thao túng của Trung Quốc càng sớm càng tốt, trước hết chỉ nên giữ một quan hệ có mức độ, và thuần tuý về mặt kinh tế. Trong quá khứ, sự phụ thuộc của ĐCSVN vào Liên Xô và Trung Quốc đã mang lại cho chúng ta nhiều bài học lịch sử đắt giá. Không thể và không nên mắc thêm sai lầm nào tương tự như thế nữa.
 
            4. Ba nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là thảo luận, quyết định các vấn đề lớn của đất nước; lập hiến, lập pháp;giám sát hành pháp (3) .Trên cả ba trụ cột này, Quốc hội Việt Nam đều rất yếu kém. Nguyên nhân trực tiếp là do chất lượng đại biểu; cơ cấu đại biểu;  quyền hạn  của Quốc hội.
                                
Chất lượng đại biểu bao gồm cả tài năng và phẩm chất đại biểu. Với cách thức bầu cử như hiện nay thì không bao giờ chúng ta có được một Quốc hội có nhiều đại biểu đạt yêu cầu về chất lượng, tức là có thể đảm đương được trọng trách của một vị đại biểu. Đã có nhiều bài báo trong nước than phiền về chất lượng đại biểu của Quốc hội Việt Nam còn quá thấp. Tác giả bài viết này cũng đồng tình với nhận xét ấy. Quốc hội là nơi đại diện cho trí tuệ, ý chí của nhân dân. Chúng ta không thể chấp nhận kéo dài tình trạng đại biểu Quốc hội không có năng lực hành động cũng như không đủ trình độ luận bàn và đưa ra giải pháp về một số vấn đề lớn của đất nước. Trước hết, cần có bầu cử tự do để nhân dân có nhiều cơ hội lựa chọn những đại biểu tài năng và tâm huyết thực sự. Ngoài ra, cần phải có một quan niệm đúng đắn về vai trò của Quốc hội và của đại biểu Quốc hội. Quốc hội không giống như một cái chợ, cũng không giống như một cái sân khấu, càng không phải là nơi để kiếm chác lợi lộc (4).
 
Muốn giải quyết bài toán chất lượng đại biểu yếu kém, cũng cần phải xoá bỏ ngay tình trạng đại biểu kiêm nhiệm như hiện nay. Phải nỗ lực xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp với 100% đại biểu chuyên trách.
 
Cơ cấu đại biểu là sự sắp đặt có chủ ý của ĐCS về thành phần đại biểu trong Quốc hội. Cách thức làm việc như vậy hết sức lạc hậu. Nó chống lại bầu cử tự do. Nói cách khác, cơ cấu đại biểu là một cách hạn chế chất lượng đại biểu. Những người tài năng ngoài ĐCS bị ngăn cản vào Quốc hội bằng nhiều cách.( Người ta nói nôm na rằng, ghế trong Quốc hội đã bị các quan chiếm hết của dân). Các vị quan chức bên tư pháp, hành pháp ngay ở cương vị của mình còn không hoàn thành công việc, nay kiêm thêm công việc của một đại biểu Quốc hội thì không những Quốc hội yếu kém, mà bên hành pháp, tư pháp cũng ngày càng yếu kém. Cơ cấu đại biểu cũng là một  cách để ĐCS chi phối, kiểm soát nghiêm ngặt Quốc hội.
 
 Không những thế, cơ cấu đại biểu còn là một trong những nguyên nhân quan trọng phá vỡ chức năng giám sát hành pháp của Quốc hội. Thật vậy, khi các đại biểu quốc hội cũng là các quan chức bên tư pháp, hành pháp thì xảy ra tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi. Kẻ làm luật cũng là kẻ hành luật, nên không tránh khỏi nội dung và tinh thần của luật phụ thuộc vào lợi ích của nhóm thống trị. Luật pháp khi ấy không được xây dựng trên nền tảng của tinh thần công bằng- hợp lí- khách quan, mà là ý chí chủ quan của một nhúm người đang nắm quyền lực trong tay(5). Từ đó có tình trạng lạm dụng luật, bất chấp luật bắt đầu ngay từ những người cầm quyền. Quan chức lạm quyền, chà đạp luật thì dân khó lòng tuân phục luật, dẫn đến rối loạn hành pháp, rối loạn kỉ cương, rối loạn xã hội. Nó gần với cái lí của Thượng bất chính, hạ tắc loạn mà người xưa đã nói.
 
 Luật nhà nước không nghiêm minh, bộ máy hành pháp và tư pháp vừa rệu rã vừa hư hỏng khiến dân đen khó lòng dựa vào luật để tìm công bằng, lẽ phải. Luật không bảo vệ được dân thì dân phải tự tìm cách bảo vệ mình theo cách riêng của họ. Thời nào cũng thế, khi luật Nhà nước suy thì “luật rừng” thịnh. Bên cạnh luật chính thống của Nhà nước, tồn tại song song nhiều thứ “luật rừng” trong xã hội khiến dân chúng lầm than, cuộc sống chứa đựng nhiều rủi ro bất trắc. Số phận con người trở nên bấp bênh. Bản thân luật Nhà nước cũng bị quan chức sử dụng như một thứ luật rừng- công cụ của riêng họ để hành xử với nhau, và hành xử với dân.
 
Không chỉ Quốc hội ban hành luật , mà Chính phủ,Viện Kiểm sát, các Bộ ngành, Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Quận cũng ban hành “luật” riêng với nhiều dạng khác nhau như: Nghị định, Thông tư, quy định,…Ngay một cơ quan như Bưu điện Thành phố Hà Nội cũng ban hành quy định nghiêm cấm này nọ đối với người sử dụng Internet ở các hàng Net công cộng! Hay một cơ quan như Cục biểu diễn không chuyên cũng dám ra quy định cấm sinh viên các trường nghệ thuật đến nhà hàng, quán Bar biểu diễn. Một quốc gia với tình trạng luật pháp rối ren, nhốn nháo như vậy liệu có mang đến cho người dân sự an toàn, ấm no, hạnh phúc hay không?
 
Quyền của Quốc hội bị hạn chế, Quốc hội đứng dưới đảng. ĐCS điều khiển, chi phối Quốc hội từ A đến Z. Các đại biểu không được tự do nói lên quan điểm của mình tại Quốc hội (6). Những vấn đề lớn như vấn đề biên giới Việt - Trung; vấn đề Hiến pháp quy định một đảng phái lãnh đạo đất nước (7); vấn đề vi phạm nhân quyền,…Là những vấn đề luôn bị cấm kị tại Quốc hội. Ngay cả việc bộ máy Nhà nước, ĐCS, Quân đội sử dụng ngân sách như thế nào thì Quốc hội cũng không được phép can dự. Đường lối, các sách lược về kinh tế, ngoại giao, quốc phòng vẫn còn là những chuyện xa lạ với Quốc hội; hoặc giả đôi khi đưa ra Quốc hội chỉ để thông qua một thứ đã được an bài. Quyền lực của Quốc hội nằm ở đâu? Ai đã tước đi quyền lực ấy?!

 

5. Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 mở ra một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên hội nhập và phát triển kinh tế, luật pháp, văn hoá của