Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Cũng Chỉ
Là Con Người
Giới thiệu:
Trong một cuộc hành quân ở Quảng Ngãi hồi tháng 6 1970, quân đội Hoa Kỳ bắt được tập nhật ký của một nữ bác sĩ quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược miền Nam Việt Nam. Một nhân viên tình báo của quân đội Mỹ, Frederic Whitehurst kể lại ông chỉ giữ những tài liệu nào có liên quan đến tin tức tình báo, còn ngoài ra thì đốt hết những thứ “không giá trị”. Trong khi ông đang đốt những tài liệu được cho là “không giá trị” đó thì thượng sĩ thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu bước tới, khuyên ông nên giữ lại tập nhật ký nầy vì trong ấy “đã có lửa rồi”.Cũng theo Whitehurst, mấy ngày sau, Nguyễn Trung Hiếu mang về cho ông tập nhật ký thứ hai cũng của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
Sau đó, khi rời Việt Nam, Whitehurst đã mang theo hai cuốn nhật ký và giới thiệu hai cuốn này với gia đình và bạn bè cho tới khi ông tìm ra được gia đình bác sỹ Trâm ở Hà Nội để trao lại, sau 35 năm tập nhật ký đó “lưu lạc” ở Mỹ..
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942, trong một gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm – nguyên giảng viên trường Đại Học Dược khoa Hà Nội. Tốt nghiệp trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1966, Đặng Thùy Trâm xung phong vào công tác ở miền nam (chiến trường B, theo cách gọi của Cộng Sản).
Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc vào, tháng 3 năm 1967, ĐTT vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện (huyện) Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. ĐTT được kết nạp vào đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968. Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, ĐTT bị phục kích và tử trận khi cô mới chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi đảng và 3 năm tuổi nghề.
Từ “Quần Ống Túm”…
Sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai, tạp chí Reader’s Diguest tổ chức môt cuộc thi viết hồi ký chiến tranh. Giải thưởng được trao cho tác giả “Quần Ống Túm”, một trung úy phi công Mỹ bị Nhật bắt làm tù binh.
Tác giả thuật lại khi còn ỏ trong trại tù binh Nhật Bản, có một tên cai ngục Nhật nổi tiếng hung dữ, hay đánh đập tù nhân. Tên cai ngục nầy thường mặc túm ống quần nên tù binh Mỹ, dù biết tên y hay không, vẫn thường gọi y bằng cái biệt danh là “Quần Ống Túm”.
Một hôm, y tập trung tất cả các tù binh, trưng ra tất cả hành trang cá nhân để cho y khám xét. Khi xét tới một cuốn sổ tay của tác giả, y đọc qua vài hàng rồi tịch thu.
Vài hôm sau, “Quần Ống Túm” gọi sở hữu chủ của cuốn sổ tay ra hỏi về những bài thơ trong đó. Sau khi biết anh ta là tác giả những bài thơ trong ấy, “Quần Ống Túm” bỗng trở nên dịu dàng, hỏi thăm gia đình tác giả và cũng cho tác giả biết y cũng có vợ con, nhưng vì quân vụ nên đành phải xa gia đình. Té ra, những tình cảm của tác giả đối với gia đình, vợ con, quê hương đã làm cho “Quần Ống Túm” xúc động. Con người, tính nhân của nó thì ở đâu cũng vậy, dù ở bên nầy hay bên kia chiến tuyến, giữa hai kẻ thù đang chỉ súng chực bắn nhau. Dù ở bên nào thì đó “Cũng Chỉ Là Con Người”
… đến một tập Nhật Ký
Nhật ký ĐTT viết cái gì?
“Ngày 13.4.68. Mẹ ơi! Con biết nói sao khi lòng con thương mẹ trăm nghìn triệu mà cũng đành xa mẹ ra đi. Quân thù đang còn đó, bao nhiêu bà mẹ còn mất con, bao nhiêu người chồng mất vợ. Đau xót vô cùng.”
“Ngày 20 tháng 8 năm 1968, Viết đơn vào đảng nhưng vui thì ít mà bực dọc thì nhiều. Tại sao co đường đi của những đứa tiểu tư sản sao nhiều chông gai đê`n vậy! Đành rằng tính bản chất giai cấp nhưng mình rất rõ một điều mà cái lẽ dĩ nhiên ấy. Có một cái gì đó bắt bẻ, gọi là bắt bí của một vài cá nhân có trách nhiệm. Chẳng biết nói sao. Đời nó là như vậy đó. Dù thành tích anh có cố gắng bao nhiêu cũng không bằng một anh khác thuộc thành phần cơ bản, chỉ mới giác ngộ bước đầu. Nhiều người còn sống đã động viên mình đó là chỗ hơn của những anh tiêu tư sản. Hơn gì? Hơn cái khó khăn, cái cực nhọc.”
“Mình như một đứa con không gia đình lâu ngày tìm tới mẹ, nhưng người mẹ ghẻ còn bận bịu nâng niu với những đứa con riêng nên thờ ơ lạnh nhạt với con chồng. Muôn người đã tạo nên những người mẹ hiền vĩ đại là đảng, nhưng trong muôn người ấy có một người mẹ, mà chắc không phải là một người đâu, y hệt như người mẹ ghẻ trong truyện cổ tích.”
“Ngày 18 tháng 6 năm 1970. Chiều đã xuống, ánh nắng đã mờ tắt sau dãy núi xa. Những chiếc phản lực Moran đã thôi gào rú. Rừng chiều im lặng môt cách dễ sợ, không một tiếng chim kêu, không một tiếng người nói, chỉ có tiếng suối róc rách chảy và tiếng transitor đang phát ra một bản nhạc mình không biết nhan đề nhưng chỉ biết khúc nhạc êm dịu như một cánh đồng lúa trong sương chiều. Bất đắc mình quên đi tất cả, quên cái không khí đang đè nặng trên mình suốt mấy ngày nay. Từ sáng đến giờ, ngoài lúc ăn cơm, ba chị em mỗi đứa ngồi một góc, mắt đăm đăm theo dõi phát hiện địch, mắt không rời vị trí quan sát một chút nào nhưng đầu óc mình lại là hình ảnh những ngày đoàn tụ, sum họp. Mình sẽ trở về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình. Mình phải biết quí trọng từng phút từng giây hòa bình ấy vì có sống ở đây mới biết hết giá trị của cuộc sống.
“Ôi! Cuộc sống đổi bằng máu xương tuổi trẻ của bao nhiêu người, biết bao nhiêu cuộc đời đã chấm dứt để cho cuộc đời khác được tươi xanh.”
“Miền Bắc ơi! Có thống nhất miền Nam không nhỉ?”
Tôi trích dẫn ba đoạn của ba ngày khác nhau. Ngày 13. 4. 68, ĐTT nhắc đến mẹ của cô và nhớ thương mẹ. ĐTT viết: “Mẹ ơi! Con biết nói sao khi lòng con thương mẹ trăm nghìn triệu mà cũng đành xa mẹ ra đi.”
Thương mẹ nhưng cô ta phải bỏ mẹ ra đi. ĐTT tình nguyện vào chiến đấu ở miền Nam. ĐTT tưởng rằng đi Nam là “Chống Mỹ cứu nước” vì “Đế quốc Mỹ xâm lăng nước ta là kẻ thù của nhân dân ta” (*). ĐTT ra đi vì “Quân thù đang còn đó,”
Quân thù nào đây? Binh lính Mỹ hay quân đội miền Nam Việt Nam hay nhân dân miền Nam? ĐTT đã lầm, mà lầm to! Ở đây, không có ai là kẻ thù của người Việt Nam cả. Một bên là kẻ xâm lược, một bên là những người bị xâm lược. Trong hai người đó, ai là kẻ thù của ai? Kẻ đi xâm lược mới là kẻ thù của người bị xâm lược, chớ sao lại nói ngược. Miền Nam đang sống trong yên lành, bỗng trong đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ ba, 1960, phát động “Chiếu cố miền Nam” (Toàn bộ chủ trương là “Xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam”). “Chiếu cố miền Nam” là mỹ từ che dấu dã tâm “Xâm lăng miền Nam”. Vậy, kẻ xâm lăng là người miền Bắc, nói đúng ra là Cộng Sản Bắc Việt, người bị xâm lăng là nhân dân miền Nam. Như vậy, nói cho thật đúng nghĩa là người miền Nam bị xâm lăng mới coi ĐTT, Cộng Sản miền Bắc vào xâm lăng miền Nam mới chính là kẻ thù. ĐTT đã lầm. Nhưng có riêng gì cô ta lầm. Cả nhân dân miền Bắc đều lầm, nhiều người miền Nam cũng đã lầm nên tiếp tay cho Cộng Sản Bắc Việt. Sau 1975, trừ một số người vì quyền lợi riêng của mình, như chuột sa hủ nếp, còn hầu hết đều biết mình lầm, đều tỉnh mộng và khi tỉnh ra thì sự... đã rồi! Nếu ĐTT còn sống đến ngày nay, không chắc gì ĐTT không tỉnh mộng!
Một điều đáng nói nữa, ĐTT rất thương mẹ. Ai cũng có mẹ, và ai cũng thương mẹ. Đó là nhân tính. Người ta thông cảm nhau, người ta thương nhau, mến nhau qua môt tình cảm thương mẹ như thế. Đó là lý do tại sao người ta thông cảm, thương ĐTT khi đọc nhật ký của cô. Đó là tính người.
Ngoài người sinh ra mình, ta gọi bằng mẹ. Có một người mẹ to lớn hơn, vĩ đại hơn, đó là “Mẹ Việt Nam”. Ngày nay, người ta gọi “Mẹ Việt Nam” nhiều quá, kêu gọi nhiều quá, và không ít người lợi dụng nó để tuyên truyền cho chế độ của mình hay kiếm chút lợi ích, chút hư danh cho cá nhân mình. Do đó, ngày nay, khi người ta nhắc tới “Mẹ Việt Nam”, người ta thấy buồn cười và... mai mỉa.
ĐTT có thêm một người mẹ vĩ đại khác. Đó là đảng Cộng Sản. ĐTT viết: “Muôn người đã tạo nên những người mẹ hiền vĩ đại là đảng,” Việc nầy không có gì lạ. Những đứa bé sinh ra ở miền Bắc, ngay khi chưa cắp sách đến trường cũng đã được nhồi nhét vào óc chúng “Đảng là người mẹ vĩ đại.” Khi cắp sách đến trường thì phải thuộc nằm lòng, nhai đi nhai lại suốt ngày, suốt năm, suốt tháng “Năm điều bác Hồ dạy” qua đó “Trung với đảng” là điều trước nhất, giống như người có đạo Thiên Chúa thì tin triệt để vào Jésus Christ, hoặc Phật tử thì tin vào Phât tổ vậy... Nói cho đúng thì niềm tin của ĐTT là do một sự lừa phỉnh. Tội nghiệp cho các trẻ em thơ ngây bị đầu độc trí óc. ĐTT cũng không thoát ra ngoài cái vòng kim cô ấy.
Đọc đoạn thứ hai trích dẫn ở trên, người ta cũng thấy tội nghiệp cho ĐTT khi cô cảm nhận được thân phận mình khi sống trong chế độ Cộng Sản: Thân phận Tiểu Tư Sản trong chế độ Cộng Sản. Mặc dù ĐTT hoàn toàn tin tưởng vào đảng, coi đảng như “một người mẹ hiền vĩ đại”, cô ta vẫn cứ bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử như mọi người. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì “tính giai cấp” là điều cấm kỵ trong một chế độ tự do, “Mọi người sinh ra đều bình đẵng” như đã qui định trong hiến pháp Mỹ nhưng “phân biệt giai cấp” lại là điều tất yếu trong chế độ Cộng Sản. Từ chỗ đó, ĐTT cảm thương cho thân phận mình đã đi... lộn đường. Thật ra, cho tới lúc chết đi, ĐTT cũng chưa biết rằng mình đi... “Lạc đường vào lịch sử”. Đáng trách ĐTT ngu dốt, hay đáng thương cho phận người?! Lịch sử Việt Nam trong mấy chục năm qua, rối beng như cuộn chỉ rối, tù mù như trong sương mai đậm đặc, tuyên truyền lừa mị thật giả khó phân, khó có ai định hướng được cho đời mình. Ngồi ở Mỹ, nghĩ về quê hương, tôi vẫn thấm thía câu của Ngô Thời Nhiệm đối đáp với Đặng Trần Thường: “Mấy chục năm nay, giặc giã triền miên, thế sự đảo điên, nhân tâm ly tán, làm sao mà biết được đâu là chính, đâu là tà...” Một người có sở học cao, không những của một cá nhân mà từ cả một dòng họ Ngô Gia như Ngô Thời Nhiệm mà còn phải than như thế, thì huống chi một đứa trẻ như ĐTT đã được nhồi nhét vào trí óc những điều gian trá ngay từ khi còn bé.
Tuy nhiên, ĐTT cũng đã có một chút tỉnh ngộ. ĐTT đã thấy người “Mẹ hiền vĩ đại” ấy đã hiện nguyên hình một bà mẹ ghẻ, “y hệt như người mẹ ghẻ trong truyện cổ tích.”
Người mẹ ghẻ trong truyện cổ tích thì như thế nào?
Ca dao Việt Nam có câu:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng.”
Người ta cũng thấy hình ảnh người mẹ ghẻ đó trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” của Lý Văn Phức:
Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu
Thờ cha sớm viếng khuya hầu
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn
Nồng nàn tức là độc ác. Người mẹ ghẻ độc ác, như “con mẹ Tào Thị”, như bà phù thủy, chính là hình ảnh “người mẹ ghẻ trong truyện cổ tích.”
Người mẹ ghẻ đó là đảng mà đứa con chồng chính là ĐTT vậy.
ĐTT yêu gia đình, yêu hòa bình. Đó là những tình cảm rất cao quí và trong sáng, không những cho từng cá nhân, từng gia đình mà cho cả xã hội nữa! ĐTT viết: “... nhưng đầu óc mình lại là hình ảnh những ngày đoàn tụ, sum họp. Mình sẽ trở về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình. Mình phải biết quí trọng từng phút từng giây hòa bình ấy vì có sống ở đây mới biết hết giá trị của cuộc sống.”
Vậy thì do đâu ĐTT không có những ngày đoàn tụ, sum họp, không thể trở về để “chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình” không thể “quí trọng từng phút từng giây hòa bình.” Mấu chốt vấn đề là ở câu hỏi ở cuối đoạn văn nầy: “Miền Bắc ơi! Có thống nhất miền Nam không nhỉ?” Thống nhất với miền Nam, có nghĩa là “Chiếu cố miền Nam” như trong chủ trương đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1960, như trên đã nói, đó chính là “xâm lược miền Nam” vậy. Như thế, ĐTT không được sum họp đoàn tự với gia đình, không được sống những ngày hòa bình vì ĐTT đã tham gia công việc xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt. Việc đó, đâu có phải là do ở những kẻ “địch” của ĐTT là những người bị miền Bắc xâm lược.
Đọc đoạn cuối của tập nhật ký, trước khi cô ta bị giết, có lẽ cũng có nhiều người xúc động. Một người thương nhớ mẹ vô cùng, yêu gia đình, yêu tổ quốc và dân tộc mình, mặc dù bị lừa phỉnh, yêu hòa bình, yêu cuộc sống và biết mình sắp chết, để người khác được sống “Ôi! Cuộc sống đổi bằng máu xương tuổi trẻ của bao nhiêu người, biết bao nhiêu cuộc đời đã chấm dứt để cho cuộc đời khác được tươi xanh.” Cô ta nghĩ tới những cuộc đời chấm dứt qua đó, trong tương lai, có thể là cuộc đời cô ta, để cho những cuộc đời khác được tươi xanh là thế hệ mai sau. Đó là những hy sinh rất cao cả, rất đẹp, chỉ tiếc là không nhằm lúc, không nhằm thời, đầy lầm lạc. Dù có thế đi nữa, thì “Điểu chi tương tử, ký minh giả ai, nhân chi tương tử kỳ ngôn giả thiện. Lời nó ấy, lời viết ấy, tâm tư tình cảm ấy, xuất phát từ một tấm lòng thiện, nhất là từ cái tính thiện của một người biết mình sắp chết! Cũng là do cái tính người mà người ta xúc động trước những tâm tư, tình cảm ấy.
Chỉ tiếc, ĐTT đã lầm như cả một dân tộc đã lầm!
Với những tình cảm ấy, tư tưởng ấy, tấm lòng chân thành ấy, nếu như ĐTT còn sống tới bây giờ, chắc hẵn cô ta cũng sẽ là một Dương Thu Hương thứ hai, một người đã từng tin đảng, theo đảng với tất cả lòng yêu mến tổ quốc và đồng bào nay đã vỡ mộng. Càng tin tưởng bao nhiêu thì sự tan vở càng khủng khiếp đau xót bấy nhiêu!
Khi nói chuyện nhật ký ĐTT với vài người bạn, có người không đồng ý với tôi về sự thương cảm ấy. Tôi cũng biết vậy.
Ai thương cho Nguyễn Chí Thiện với 27 năm tù dưới chế độ Cộng Sản miền Bắc, ai thương cho những tài hoa héo tàn như Phùng Cung, Trần Dần, Tạ Hữu Thiện, Phùng Quán, v.v... trong Trăm Hoa Đua Nở, ai thương cho hàng triệu người miền Nam điêu linh vì CộngSản Bắc Việt xâm lược, ai thương cho những người bỏ xác trên biển Đông và Vịnh Thái Lan khi đi tìm tự do, ai thương cho hai triệu người Việt Nam nay đang lưu lạc nơi quê người, ai thương cho năm ngàn người bị chôn sống ở Huế hồi tết Mậu Thân mà ĐTT có gọi họ là “những con rắn độc” như Hoàng Phủ Ngọc Tường, ai thương cho những người hy sinh thân mình để bảo vệ miền Nam, nay đang nằm đìu hiu nơi nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, hay rải rác ở một nghĩa trang nào đó ở một quận huyện nào đó, hay không còn mồ mả đâu cả. Ai nghĩ tới:
“Hồn tử sĩ ù ù gió thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?!
Chúng ta thương một người mà cũng phải thương cả triệu người cũng chỉ bởi chúng ta là người có tính người, hoàn toàn trái ngược với người cộng Sản.
Trả lời bài phỏng vấn của BBC, ông Vương Trí Nhàn cho biết ông đã biên tập tập nhật ký ấy của ĐTT và viết lời giới thiệu, có nghĩa là ông đã sửa chữa lại những câu ông cho là tối nghĩa, thay đổi những chữ ông cho là không thích hợp.
Sao ông ta lại làm thế?
Ông ta không phải là thầy giáo dạy Việt văn cho ĐTT. Ông ta chỉ là bạn học của ĐTT khi hai người học cấp ba ở Hà Nội. Ông ta không nên sửa như thế vì ông không đủ khả năng để hiểu hết ý tứ, tình cảm của ĐTT để mà làm như thế. Điều có làm được chăng là ông nên theo gương học giả Nguyễn Hiến Lê khi dịch Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoi. Ông Nguyễn Hiến Lê không biết tiếng Nga, tiếng nguyên bản. Ông dịch lại qua một vài bản dịch Pháp Văn. Khi gặp một câu tối nghĩa hay ông ta nghi là chưa chính xác với ý của tác giả, ông cẩn thận giải thích từng câu một. Ông trích dẫn cho độc giả biết bản dịch nầy thì dịch như thế nầy, bản dịch kia thì dịch như thế kia và ông đề nghị một câu dịch tiếng Việt mà ông cho là đúng ý với nguyên tác nhất.
Nếu ông Vương Trí Nhàn gặp một câu ông cho là khó hiểu, tối ý, một chữ ông cho là không đúng, tại sao ông ghi chú câu đó, nói rõ là ông nghĩ rằng tác giả muốn nói như thế nầy, viết lại câu văn đó như thế nầy (phần phụ chú) thì hy vọng đúng ý với tác giả và tỏ ra biết tôn trọng tác giả hơn. Tại sao ông ta bỏ câu văn cũ, viết lại câu văn mới mà ông tự cho là đúng, rõ.
Nhìn rộng ra, câu văn trong nhật ký bắt nguồn từ một tâm hồn trong sáng, từ một tình yêu tổ quốc, đồng bào vô vị lợi, thì làm sao ông Vương Trí Nhàn, với một tâm hồn u tối, nhỏ nhen, ích kỷ có thể hiểu được mà sửa văn người ta.
Thật vậy, bàn về việc viết và in sách ở trong nước, ông Vương Trí Nhàn cho rằng, mỗi người viết phải tự kiểm duyệt mình trước. Tự kiểm duyệt mình trước có nghĩa là phải theo nội qui của trường thi, điều mà ông Phan Khôi kêu tên cụ Đồ Chiểu mà than rằng: “Ới cụ Đồ Chiểu ơi, “Ở đây nào phải trường thi ra đề hạn vận một khi buộc ràng.” Tự kiểm duyệt mình trước có nghĩa là tránh phạm húy, không dám đụng chạm vì sợ, không dám nói thẳng, viết thẳng mà viết tréo đi, méo mó đi, khác đi cho vừa lòng cấp trên. Viết mà sợ để được sống như Nguyễn Tuân: “Nguyễn Tuân đã nói một câu bất hủ, tuy ngắn nhưng mô tả đúng nhất, cho thân phận những nhà văn xã hội chủ nghĩa: “Tao sống được tới ngày nay là nhờ tao biết sợ.” Có một người con làm đến cấp tướng mà còn sợ đến như thế, thử hỏi nhân dân làm sao mà sống cho ra người? (Hoàng Khởi Phong: “Cát bụi chân ai”: Cuộc phiêu lưu cuối cùng của “con dế mèn”). Ông Vương Trí Nhàn cũng thế thôi! Một người tinh thần như thế, yếu bóng vía như thế, nếu không muốn nói là hèn như thế, mà lại dám sửa văn một người con gái, tình nguyện đi Nam, xông pha ngày đêm ngoài chiến trường thì kể cũng lạ. Chỉ có những người Cộng Sản đeo chiếc mo nang vào mặt mới đủ can đảm làm được những việc như thế!
Như tôi trích dẫn ở trên, ĐTT rất cay đắng về số phận tiểu tư sản của mình trong chế độ Cộng Sản Bắc Việt đến nỗi cô ta coi đảng như một người mẹ ghẻ ích kỷ, phân biệt đối xử với thành phần xã hội như cô. Đó là một tâm tư, một thắc mắc dằn vặt cô không ít. Vậy mà trong lời giới thiệu của Vương Trí Nhàn, ông không có một chữ một câu nói tới nỗi đau khổ ấy của tác giả. Ông ta đã “tự kiểm duyệt”. Nói đúng hơn, ông ta biết sợ như Nguyễn Tuân nói, biết tránh né. Ông không có được cái can đảm để dám bàn tới một vấn đề mà ĐTT đã nói một cách thẳng thắn và can đảm. Do đó, tôi không tin ông Vương Trí Nhàn xứng đáng để làm người viết lời giới thiệu cho cho tập nhật ký nầy. Có lẽ ông Vương Trí Nhàn cũng biết như thế nhưng vì háo danh, vì muốn mượn bóng ĐTT để làm sáng lên cho mình, và để lập công làm một cái loa tuyên truyền cho đảng Cọng Sản nên ông đã làm một việc mà người biết tự trọng sẽ không làm. Như vậy thì tôi kính trọng ông Vương Trí Nhàn thế nào được?!
Bây giờ chính quyền Cộng Sản cho xuất bản cuốn nhật ký nầy, quảng cáo một cách rầm rộ, vận động báo chí và các đài phát thanh tham gia, kể cả những đài phát thanh ngoại quốc, cốt ý làm cho đồng bào Việt Nam hải ngoại, nhất là giới trẻ biết tới.
Để làm gì?
Mấy chục năm qua, họ đã lợi dụng mấy thế hệ trẻ Việt Nam để củng cố cho địa vị và quyền lợi của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như đảng viên. Riêng tết Mậu Thân họ đã “hy sinh” hơn nửa triệu thanh niên miền Bắc. Biết bao nhiêu người, nói như Xuân Vũ, “Xương Trắng Trường Sơn” để dân tộc Việt Nam “được” cái đói nghèo và sống trong nô lệ, không tự do, không dân chủ, không quyền làm người như ngày hôm nay. Và để tiếp tục củng cố và bảo vệ cho địa vị và quyền lợi đó, họ quảng bá, tuyên truyền rầm rộ khi cho xuất bản tập nhật ký của ĐTT để thanh niên Việt Nam ngày nay, trong nước cũng như hải ngoại, hãy noi gương ĐTT làm con thiêu thân bảo vệ cho quyền lợi của họ.
Đừng nghĩ rằng thanh niên Việt Nam ngày nay thiếu ý chí, bạc nhược và chỉ biết đua đòi ăn chơi, hưởng thụ. Hãy thắp lên một ngọn lửa chính nghĩa, thanh niên Việt Nam sẽ hăng hái và đầy nhiêt huyết thổi bùng ngọn lửa đó trở thành vĩ đại để đốt cháy bạo quyền Cộng Sản ngày nay.
Tôi tin chắc điều ấy sẽ đến và thanh niên Việt Nam sẽ làm rạng rỡ vai trò của mình như cha ông họ đa làm trong quá trình lịch sử Việt Nam.
Tháng 9. 2005
hoànglonghải (tuệchương)
(*) Các bài học căn bản cho người Miền Nam đi “Học tập cải tạo”.
Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn cũng nói tới suy nghĩ của ông rằng có lẽ nhiều tác giả tại Việt Nam đã tự kiểm duyệt mình, hay nói một cách khác là "sợ bóng sợ gió", và nhiều khi dùng lý do này để lý giải về việc đã không có được những tác phẩm có giá trị
ững người giữ lại cuớn nḥt ký, đặc bịt là hai anh em nhà Whitehurst đã được chào đón nờng nhịt trong mợt trường quay ở Vịt Nam.
Ln truỳn hình Vịt Nam họ đã k̉ lại cu chuỵn cách đy 35 năm và cũng nói v̀ ́n tượng v̀ cuớn sách.