Đọc Báo Trong Nước
  Đọc Báo Ngoài Nước

  Trang Chủ
  Thư Ban Biên Tập
  Liên Lạc
  Bài Trong Tháng
  Các tác giả
  Dân Oan
  Hiến Pháp VN
  Văn Học
  Tôn Giáo
  Các Vụ Án
  Điện Thư CLBDC
  Tài Liệu
  English Documents
  Tìm Tin Trong Nước
  Tìm Tin Ngoài Nước
  Nối Mạng


Chuyện Trời Ơi
Năm Cà Lơ phụ trách

 

 

Chim phượng hoàng hay con giun đất

 

Tạp chí Xưa & Nay của Cục khoa học lịch sử Việt nam số 286 tháng 06/2007 vừa công bố một phần trong di cảo ( nguyên bằng Pháp văn) của cố Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, đoạn trích nói về trao đổi, đề xuất của tác giả với Hồ Chí Minh- đương kim chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hòa. Theo Xưa & Nay, cuộc trao đổi đó diễn ra vào thời điểm mùa xuân 1952 tại Việt bắc. Mặc dù không có bản gốc Pháp văn để đối chiếu, sau đây Đối Thoại xin trích lại một phần trong đoạn trích của Xưa & Nay như một sự đồng cảm với linh hồn của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và chia sẻ sự day dứt, chắc vẫn còn theo Luật sư nơi chín suối, không chỉ bởi những hệ lụy cay nghiệt đến với ông sau đó mà bởi những đề xuất " chân thành và thiện ý" cho quyền lợi của quần chúng nhân dân vẫn chưa được xem xét, áp dụng ở Tổ quốc của ông.

" Trong lĩnh vực công cộng, cơ chế Nhà nước phải tôn trọng những nguyên tắc khác để bảo đảm việc thực thi tốt chức năng của Nhà nước. Nguyên tắc thứ nhất là tôn trọng luật pháp. Một sự lẫn lộn tai hại đang diễn ra giữa quyền lực và quyền. Tất cả các cơ quan từ cấp phường xã đến cấp trung ương đều tưởng mình có quyền làm tất cả, nhất là xâm phạm quyền tự do công dân, và có quyền sử dụng những khoản tiền khổng lồ của công quỹ. Tôi không nói những vi phạm pháp luật khác mà tính chất phạm pháp rất rõ nét, ở đó những sự phản kháng là vô tội không được chú ý nghe như trong các trường hợp ranh giới giữa quyền và quyền lực không rõ ràng. Vì vậy nguyên tắc chung cần phải công bố là tất cả mọi người, kể cả những người có một chút quyền lực, đều phải tuân theo pháp luật, đó là ý nguyện của nhân dân và là công cụ giữ gìn trật tự công cộng.

Nguyên tắc đó bao giờ cũng phải kèm theo hậu quả tất yếu của nó là: Tất cả mọi vi phạm pháp luật phải dẫn tới trách nhiệm không chỉ chính trị ( khai trừ khỏi Đảng), hành chính ( cắt chức, hạ chức, cho về hưu), mà còn cả hình sự ( tịch thu, tiền phạt, án tù). Phải quyết định trách nhiệm bao giờ cũng là cá nhân, vì trách nhiệm tập thể là vô nghĩa. Mọi quyết định đều mang một chữ ký, người ký tên chính là người sẽ phải đưa ra xét xử.

Để kết tội những người chịu trách nhiệm và áp dụng luật hình sự đối với họ, nhất thiết cơ chế quan tòa phải được toàn quyền tự do và độc lập đối với cấp trên trong hệ thống quan tòa và trong Đảng.

Nguyên tắc lớn thứ hai là nguyên tắc tách biệt Đảng và Nhà nước. Nói là Đảng lãnh đạo Nhà nước, điều đó không ai có ý kiến gì khác. Nhưng hai hoạt động phải tách riêng nhau, và sự tách rời đó phải thực hiện triệt để suốt dọc đường ranh giới. Trong điều kiện đó không nhất thiết và cũng không nên cử vào những vị trí trách nhiệm và chỉ huy những đảng viên mà đáng buồn là không phải bao giờ cũng có đủ trình độ văn hóa và năng lực. Tiêu chí cần ứng dụng trong việc tuyển chọn cán bộ không phải kể đến khả năng trí tuệ và nghề nghiệp của ứng cử viên. Guồng máy Nhà nước không những chạy tốt hơn mà còn tránh được những sự bất hòa giữa Đảng viên và người ngoài Đảng, giữa Đảng và nhân dân. Cho đến nay Đảng bao trùm lên và nuốt chửng Nhà nước và không ít người nghĩ rằng Đảng lãnh đạo và cai trị vì lợi ích của Đảng hơn là vì lợi ích của nhân dân. Rất khó kiêm nhiệm cả hai chức năng lãnh đạo và Chính phủ, cách nhìn rối mù, phân định sai các vấn đề và bất tiện lớn, bây giờ chưa xảy ra, nhưng có thể sẽ xảy ra, là Đảng phải chịu trách nhiệm về những lỗi lầm của Nhà nước, mà nhẽ ra Đảng phải như vợ của Cesar đứng trên mọi nghi ngờ, được hoàn toàn tin cậy và có một uy tín bất khả chê trách.

Cuối cùng, một nguyên tắc chót tôi mạn phép được lưu ý Chủ tịch, đó là nguyên tắc phải có ý thức rất rõ về Đảng, về những khả năng của Đảng. Đảng độc quyền nắm chính quyền. Có lẽ đó là một sự cần thiết trong thời chiến, nhưng tôi mong rằng Đảng với sự khôn ngoan của mình, suy nghĩ về những trở ngại của việc nắm quyền chuyên chế và về những nguy cơ sẽ gặp phải khi không được một nền tri thức rộng rãi hỗ trợ. Sự độc quyền tuyệt đối về quyền lực tự nó một mình không thể thực thi được nếu không có sự góp sức của cả một đội quân trợ lý và người thừa hành, mà giá trị tài năng thường đáng xem xét, dễ mắc sai lầm đủ kiểu, thường khi không chủ tâm, nhưng rất hiếm vô tư. Đội quân đó lại kèm thêm một đội quân khác quan trọng hơn gấp hai lần, bao gồm những kẻ tay sai, xu nịnh hèn hạ thèm khát bổng lộc, tiền bạc, danh vọng, chỗ làm lương cao làm ít.

Bị giam hãm trong những thành người như vậy, làm sao chế độ độc quyền quyền lực có thể thực thi và đề ra được những quyết định sáng suốt, thích hợp, có hiệu quả? Và còn trong trạng thái bị mê hoặc vì tự mãn, say sưa về sức mạnh, thiếu chinh phục được tri thức rộng rãi, không có được một sự tiếp cận thích hợp, khách quan về thực tế, chế độ chuyên quyền tha hồ chủ quan, tự do duy ý chí và làm luật lệ lung tung, trái khoa học, trái lẽ phải, tác động tai hại đến uy tín của chính quyền và hạnh phúc của   quần chúng rất bất bình với biết bao hành động thiếu đạo đức và ngu dốt. Giải pháp duy nhất của sự khôn ngoan là mở rộng tai nghe, mở rộng cửa cho người thứ ba, cho tiếng nói từ ngoài vào hoặc từ nhân dân đưa lên.

Thưa Chủ tịch, tôi xin lỗi đã lạm dụng sự kiên nhẫn của Người. Nhưng tôi đã được Chủ tịch cho phép. Vì tôi thiết nghĩ sẽ không còn bao giờ tôi có dịp được nói chuyện với Chủ tịch về những vấn đề mà tôi cũng như Chủ tịch đều quan tâm vì nó liên quan đến hạnh phúc và số phận tương lai của nhân dân và vì thời gian nói chuyện với Chủ tịch không bị hạn chế, tôi tranh thủ được có vinh dự này để trình bày với Người một số ý kiến xuất phát từ đầu óc một người trí thức yêu nước và chăm chú theo dõi quá trình những biến đổi đang diễn ra trong đất nước ta. Như Chủ tịch đã nhận thấy những suy nghĩ của tôi không phải bắt nguồn từ một học thuyết có giá trị và nổi tiếng như thế nào. Tôi không bị giam mình trong một đảng phái chính trị nào, không bị gò bó trong một giáo lý cứng nhắc nào, tôi có thể giữ được tính độc lập suy nghĩ của mình và để tâm nghiên cứu tình hình hiện nay, để rút ra những chỗ không hay cần kịp thời sửa chữa trước khi nó có thể gây tác hại xấu và dẫn tới hành động phá hoại. Với tất cả tấm lòng chân thành và thiện ý, tôi đã đề nghị một số biện pháp điều trị về chính trị và xã hội. Những biện pháp đó không mang dấu ấn lý thuyết chính thống hiện nay và có thể làm cho không ít những người đang nắm quyền lực bị sốc và bực dọc. Mặc kệ, thưa Chủ tịch, dù là phượng hoàng bay lượn trên trời cao, hay con giun bò trên mặt đất, tất cả đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử".

 

Đối Thoại

 

Nguyễn Mạnh Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Mạnh Tường (1909 13 tháng 6, 1997) là một luật sư và giáo sư Việt Nam.

Tiểu sử

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học tại trường Albert Sarrault Hà Nội và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa (Luận án L'individu dans la vieille cité annamite, Code des Lê, D.E., Droit, Montpellier, Imp. de la Presse Montpellier 1932) và Tiến sĩ Quốc gia văn chương (với luận án L'Annam dans la littérature française, D.E., Lettres, Montpellier 1932). Báo chí thời ấy đã coi người thanh niên Việt Nam trong một năm đỗ 2 bằng tiến sĩ là hiện tượng chưa từng có trong nền giáo dục đại học Pháp. Bạn tri âm của ông là Nguyễn Văn Huyên, người cũng làm luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Pháp.

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An). Bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp khiến ông bỏ dạy và mở văn phòng luật sư.

Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp ông làm luật sư và dạy học tại Thanh Hóa và khu ba nói chung. Đến khi hòa bình lập lại năm 1954, ông trở về Hà Nội, là giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).

Sau 1954 ông giữ các chức vụ Trưởng khoa Đại học Luật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Đoàn Luật sư, Phó Trưởng khoa Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hội Hữu nghị Việt-Pháp, Hội Hữu nghị Việt-Xô Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn Kết, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên nghiên cứu giáo dục. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự hội nghị đàm phán ở Đà Lạt, dự các hội nghị hoà bình thế giới ở Bắc Kinh Wien.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956 luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp.

Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi. Trong sổ tang tưởng niệm nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường, tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã ghi "....Vô cùng thương tiếc giáo sư - luật sư Nguyễn Mạnh Tường - Một trí thức yêu nước đã có cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam".

Tác phẩm

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường để lại 14 tác phẩm bằng tiếng Pháp và 4 tác phẩm tiếng Việt.

  • Văn Phạm Việt Nam (cùng Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim) (1941)
  • Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức)
  • Construction de l'Orient (1937)
  • Sourires et Larmes d'une Jeunesse (1937)
  • Pierres de France (1940)
  • Apprentissage de la Méditerranée (1940)
  • Le Voyage et le Sentiment (1940)
  • Một Cuộc Hành Trình (1955)
  • Un Excommunité-HàNội: 1954-1991: Procès d'un intellectuel (Kẻ bị khai trừ-HàNội 54-92:bản án một người trí thức) Quê Mẹ Paris xb 1992
  • Lý luận giáo dục châu Âu: Từ Érasme tới Rousseau thế kỷ XVI, XVII, XVIII - Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội - 1994) 530 trang
  • Aikhylos (Eschyle) và bi kịch cổ đại Hi Lạp - Nhà xuất bản Giáo dục (1996)
  • Virgile - nhà thơ vĩ đại của thời kỳ La mã cổ đại- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1996) 342 trang

Liên kết ngoài

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_M%E1%BA%A1nh_T%C6%B0%E1%BB%9Dng

 

 


 


Nguyễn Vũ Bình



Thư Viện Nguyễn T Giang

Thư Viện Hà Sĩ Phu


  Tự Do Ngôn Luận

  Tự Do Dân Chủ

  Tổ Quốc

  Tập san Dân Chủ


Nhật Ký
ĐÀN ÁP DÂN CHỦ


Slide Show
Vì Tự Do Dân Chủ


Thư Gởi Công An

Diễn Đàn Đối Lập Với Nhà Nước và Đảng Cộng Sản Việt Nam