|
ND - Ngày8-1, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận T.Ư tổ
chức kỳ họp thứ tư để tổng kết nhiệm vụ công tác năm 2007, bàn
chương trình công tác năm 2008; thảo luận một số đề xuất bước
đầu về triển khai nghiên cứu "Bổ sung, phát triển Cương lĩnh
1991 của Ðảng".
Ông Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ
tịch Quốc hội, dự và phát biểu ý kiến. Ông Tô Huy Rứa, Bí thư
T.Ư Ðảng, Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư, Chủ tịch Hội đồng Lý luận
T.Ư, phát biểu ý kiến khai mạc kỳ họp nhấn mạnh những vấn đề cần
quan tâm thảo luận đóng góp ý kiến vào bản dự thảo Báo cáo
Tổng kết công tác năm 2007 và chương trình công tác năm 2008
của Hội đồng Lý luận T.Ư và một số đề xuất về triển khai nghiên
cứu "Bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của Ðảng".
Ông Phùng Hữu Phú, Ủy viên T.Ư Ðảng, Phó Trưởng
ban Thường trực Ban Tuyên giáo T.Ư, Phó Chủ tịch Thường trực Hội
đồng Lý luận T.Ư trình bày Dự thảo Báo cáo kết quả công tác năm
2007 và chương trình công tác năm 2008.
Theo Báo cáo, năm qua, Hội đồng Lý luận T.Ư đã nỗ
lực phấn đấu hoàn thành tốt khối lượng công việc rất lớn. Dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Hội đồng, Ban Thư ký khoa
học, các cộng tác viên khoa học thường xuyên và Văn phòng Hội
đồng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Các kỳ họp của
Hội đồng được tổ chức nghiêm túc, khoa học với tinh thần dân
chủ, cởi mở, đồng thời bảo đảm tính thống nhất khá cao về các
vấn đề được nghiên cứu, thảo luận.
Hội đồng đã cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ tư
vấn cho việc xây dựng các đề án trình Hội nghị T.Ư 5, và T.Ư 6
sắp tới; thực hiện tốt kế hoạch nghiên cứu, học tập của Bộ Chính
trị, Ban Bí thư; phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và
thực hiện Chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị
giai đoạn 2006 - 2010; xây dựng và chuẩn bị kế hoạch thực hiện
đề tài độc lập cấp nhà nước về những vấn đề quan trọng, về phát
triển đất nước ta trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Ðồng
thời, Hội đồng Lý luận T.Ư thực hiện tốt công tác hợp tác quốc
tế về nghiên cứu lý luận.
Tại kỳ họp, ông Tô Huy Rứa trình bày Báo cáo về
việc nghiên cứu "Bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của Ðảng"
để Hội đồng Lý luận T.Ư thảo luận và đề xuất một số ý kiến. Bản
báo cáo đề cập đến các vấn đề về sự cần thiết và yêu cầu bổ
sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của Ðảng; những quan điểm cần
thống nhất; những vấn đề lý luận cần nghiên cứu, tổng kết; về
việc tổ chức nghiên cứu bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của
Ðảng.
Phát biểu ý kiến tại kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao những kết quả công tác của Hội
đồng Lý luận T.Ư trong năm qua trong điều kiện vừa sắp xếp, kiện
toàn đội ngũ và quy chế hoạt động, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ
được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao. Nhất là việc Hội đồng Lý
luận T.Ư hoàn thành tốt các đề án trình các Hội nghị Trung ương
5 và T.Ư 6 sắp tới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của
Ðảng đối với hệ thống chính trị; về công tác tư tưởng, lý luận
và báo chí trước yêu cầu mới, về xây dựng giai cấp công nhân
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước; về tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Hội đồng Lý luận T.Ư đã có
bước tiến mới về nội dung nghiên cứu khoa học, nhất là Chương
trình nghiên cứu khoa học do Thường trực Hội đồng Lý luận T.Ư
trực tiếp làm Ban Chủ nhiệm, gồm 32 đề tài khoa học. Chương
trình công tác năm 2008 do Hội đồng đề ra rất phong phú.
Ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, yêu cầu của tình
hình và nhiệm vụ đặt ra đối với Hội đồng Lý luận T.Ư là rất nặng
nề. Hội đồng cần tập trung nghiên cứu "Bổ sung, phát triển Cương
lĩnh 1991 của Ðảng". Và coi đó là nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu
trong nhiệm vụ công tác của Hội đồng Lý luận T.Ư trong năm 2008.
Coi trọng việc tham gia nghiên cứu tổng kết thực tiễn thực hiện
Cương lĩnh 1991 của Ðảng, từ đó đề xuất với Trung ương những
luận cứ khoa học để bổ sung, phát triển Cương lĩnh. Việc xây
dựng và chuẩn bị kế hoạch thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước
về chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
và vận dụng học thuyết đó trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21
cần bảo đảm tính bao quát rất rộng lớn, vừa bảo đảm chiều sâu
khoa học và tính khả thi của đề tài. Hội đồng Lý luận T.Ư tiếp
tục phát huy kết quả đạt được trong việc xây dựng các đề án
trình các Hội nghị T.Ư năm 2008. Trong triển khai nghiên cứu các
đề tài khoa học trọng điểm vốn là những vấn đề rất khó về lý
luận, Hội đồng Lý luận T.Ư hết sức coi trọng việc tổng kết thực
tiễn để phát hiện những vấn đề mới trên phương diện lý luận. Ðẩy
mạnh hợp tác quốc tế với các đảng cầm quyền, không cầm quyền về
nghiên cứu lý luận. Tích cực tham gia đấu tranh chống các quan
điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch và cơ hội
chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.
Ông Nguyễn Phú Trọng bày tỏ sự tin tưởng Hội đồng
Lý luận T.Ư sẽ xây dựng chương trình, kế hoạch công tác khoa
học; tập hợp đông đảo hơn nữa các nhà khoa học tham gia thực
hiện các chương trình, đề tài khoa học mà Hội đồng Lý luận T.Ư
đã đề ra để đạt kết quả công tác nghiên cứu lý luận cao hơn nữa.
Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng dành thời gian gợi mở phương hướng
triển khai nghiên cứu "Bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của
Ðảng".
Kỳ họp thứ tư của Hội đồng Lý luận T.Ư tiếp tục
làm việc và kết thúc vào hôm nay, 9-1.
PV
Cương
lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội
http://www.cpv.org.vn/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/?topic=191&subtopic=7
I-
Quá trình cách mạng
và những bài học kinh nghiệm
1.
Thực hiện Cương lĩnh năm 1930, trong suốt 45 năm,
Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh
đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian
khổ và giành được những thắng lợi vĩ đại: làm cuộc Cách mạng
Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,
đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; đánh thắng
cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng nửa
nước, miền Bắc chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa;
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi giải phóng miền Nam,
thống nhất Tổ quốc, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Sau thắng lợi lịch sử mùa Xuân 1975, nhân dân ta
tiếp tục nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách
mạng và đã đạt những thành tựu to lớn: thiết lập chính quyền
nhân dân ở cả miền Nam, thống nhất nước nhà; khôi phục kinh tế,
khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh; từng bước xây dựng
quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu
và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ
quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải
tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần;
có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì
quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có
nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền
lương. Công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết
điểm nghiêm trọng.
Tại
Đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình và đề ra đường lối đổi
mới. Đại hội VI là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Công cuộc đổi mới
qua hơn bốn năm đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng.
Tình hình kinh tế - xã hội có chuyển biến tích cực, tạo thế đi
lên và khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng. Tuy nhiên
khó khăn còn nhiều, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội.
2.
Từ thực tiễn cách mạng với những thành công và
khuyết điểm, sai lầm, có thể rút ra những bài học lớn:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập
dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và
chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ
chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau. Toàn Đảng, toàn dân tiếp
tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn
cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm
nay và các thế hệ mai sau.
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.
Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt
động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân
chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết
với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến
những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước.
Ba
là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết:
đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn
kết quốc tế. Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lớn
của cách mạng nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn
kết,
Thành công, thành công, đại
thành công!".
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, sức
mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Ngày nay, trước cuộc đấu
tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội, trước sự phát triển vũ bão của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại và quá trình quốc tế hoá
mạnh mẽ nền kinh tế thế giới, càng cần phải kết hợp chặt chẽ yếu
tố dân tộc với yếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố
hiện đại để đưa đất nước tiến lên.
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố
hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục
vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo
và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng
lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực
tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải
xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải
phòng và chống được những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối,
bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.
II- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
3.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong
hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu
sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác
nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá
trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển
lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời
cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức
gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế.
Trong quá trình hình thành và phát triển, Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt những thành tựu to lớn
về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách
mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân,
góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhưng, do duy trì quá lâu những
khuyết tật của mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong
cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã
lâm vào khủng hoảng trầm trọng. ở một số nước, đảng cộng sản và
công nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay
đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó
đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xóa bỏ các nước xã hội
chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
đang diễn ra gay gắt.
Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát
triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và
công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản
xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy
vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất
công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính
chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn
giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa
các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các
trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các
nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng
tăng lên. Chính sự vận động của tất cả những mâu thuẫn đó và
cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số
phận của chủ nghĩa tư bản.
Các
nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành
cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn và lạc
hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức, chống sự
can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập
và chủ quyền dân tộc.
Nhân dân các nước đang đứng trước những vấn đề
toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người. Đó là
giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường
sống, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những
bệnh tật hiểm nghèo. Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự
hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các dân tộc.
Đặc
điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu
tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước
vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ
nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử
thế giới đang trải qua những bước quanh co; song,
loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử.
4.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ
một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất
rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả
để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều.
Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã
hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.
Nhưng chúng ta cũng có những thuận lợi: chính
quyền thuộc về nhân dân, nước nhà đi vào giai đoạn hoà bình xây
dựng. Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh
liệt. Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động và
sáng tạo. Chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật chất ban
đầu. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu
thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát
triển.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình đất
nước và thế giới như trên, chúng ta phải tiếp tục nâng cao ý
chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ
của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm
tòi bước đi, hình thức và biện pháp thích hợp xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng
là một xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản
xuất chủ yếu.
- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc.
-
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất
cả các nước trên thế giới.
Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con
đường xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến
căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến thắng
những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là
các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần
nắm vững những phương hướng cơ bản sau đây:
Một là,
xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do
đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân
dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động
xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Hai là,
phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn
diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng
suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Ba là,
phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng
bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa
dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế
quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Bốn
là,
tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và
văn hoá làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức
Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.
Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất
cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân
loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân
chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể
lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến
bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá
trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Năm là,
thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng
cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng
phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách
đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước;
trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn
kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu
tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
trên thế giới.
Sáu là,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu
nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh
giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.
Bảy là,
xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm
tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta.
Mục tiêu tổng quát
phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ
bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc
thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho
nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá
trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng
đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới
trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng
sau.
III- Những định hướng lớn về chính sách kinh tế,
xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại
5. Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không
ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi
tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên
nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân
được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do
luật pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới
nhiều hình thức. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển
mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập. Các
hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ
chức kinh tế đa dạng. Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết,
hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh.
Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản
nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp
- dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng.
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu lên cơ cấu
kinh tế hiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành,
nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ. Phát triển nông -
lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông
thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình
kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế
dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng. Xây dựng nền công
nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực
tiếp phục vụ nông nghiệp. Thực hiện chuyên môn hoá và liên kết
kinh tế giữa các vùng, các địa phương. Xây dựng các trung tâm
kinh tế của từng vùng, để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với
nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng
hoá.
Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan
liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ
khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu
dùng, vật tư, dịch vụ, tiền vốn; sức lao động...; thực hiện giao
lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thị trường thế giới. Xác
định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản
xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo
đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị
kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
của mình. Đổi mới và nâng cao hiệu lực hướng dẫn, kiểm soát và
điều tiết của Nhà nước.
Khoa học và công nghệ
giữ vai trò then chốt trong sự
phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo
đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Các chiến
lược khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu công nghiệp hoá theo
hướng hiện đại, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Sử
dụng có hiệu quả và tăng nhanh tiềm lực khoa học và công nghệ
của đất nước. Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triển giáo dục và văn
hoá, nâng cao dân trí.
Giáo dục và đào tạo
gắn liền với sự nghiệp phát triển
kinh tế, phát triển khoa học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới
và con người mới. Nhà nước có chính sách toàn diện thực hiện
giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh
tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài.
Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải
được xem là quốc sách hàng đầu.
6. Chính sách xã hội
đúng đắn vì hạnh phúc con người
là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Phương hướng lớn của chính sách xã hội
là: phát huy nhân tố
con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi
và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa
đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa
cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội.
Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao
đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn,
ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất.
Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho mọi người lao động có
việc làm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động. Khuyến khích
tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động. Có chính
sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân
cư, các ngành và các vùng. Cải cách căn bản chế độ tiền lương
trong khu vực nhà nước theo nguyên tắc phân phối theo lao động.
Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao
động và học
tập của người mẹ và của thanh thiếu niên. Chăm sóc giáo dục và
bảo vệ trẻ em. Phải thật sự coi việc giảm tốc độ tăng dân số là
một quốc sách. Thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo
hiểm và trợ cấp xã hội. Có chính sách thích đáng đối với các gia
đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, cán bộ lão thành, những
người về hưu. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn
tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi. Phát triển các công trình
công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể
dục, thể thao... Khuyến khích và tạo điều kiện để tập thể và
nhân dân đầu tư xây dựng nhà ở. Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ
môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và
mai sau.
Xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra một đời sống
tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân
đạo, dân chủ, tiến bộ. Phát huy vai trò văn học, nghệ thuật
trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam. Khẳng định và
biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái
thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi
thời, thấp kém. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng
tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại
chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ
ích.
Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội,
các đoàn thể, nhà trường, gia đình, từng tập thể lao động và tập
thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng hình thành con người
mới. Đó là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm
công dân; có tri thức, sức khoẻ và lao động giỏi; sống có văn
hoá và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân
chính. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu
nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp
sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải
chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao
ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Đơn vị sản
xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường xây
dựng phong cách lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất
và hiệu quả cao, nơi thể hiện tình bạn, tình đồng chí, đồng đội,
hình thành nhân cách con người mới và nền văn hoá mới.
Chính sách xã hội tác động trực tiếp đến việc
hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai
cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính
đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu
mạnh. Phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng để
xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng
là một lực lượng cơ bản trong việc xây dựng nông thôn mới, góp
phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá. Đào tạo, bồi dưỡng
và phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực
trí tuệ và nhân tài cho đất nước. Đặc biệt coi trọng việc xây
dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có
tài, những nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học, kỹ thuật có
trình độ cao. Quan tâm thích đáng lợi ích và phát huy khả năng
của các tầng lớp dân cư khác vì sự nghiệp "ích nước lợi nhà".
Động viên sự cống hiến của đồng bào Việt Nam ở nước ngoài góp
phần tích cực xây dựng quê hương xứ sở.
Thực hiện bình đẳng nam nữ về mọi mặt.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc
phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết
với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn
trọng
lợi ích, truyền
thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín
ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc
hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã
hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất
là các dân tộc thiểu số.
Tín
ngưỡng, tôn giáo
là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán
chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Chống
mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi
dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của
nhân dân.
7. Nhiệm vụ của quốc phòng - an ninh
là bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã
hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành
động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta.
Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là
nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước.
Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân
dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp
chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới, với
những lực lượng nòng cốt tinh nhuệ.
Sự ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội
là nền tảng của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã
hội đi đôi với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh. Kết hợp
chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh
với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Từng
bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho các lực
lượng vũ trang, trong đó có công an nhân dân được trang bị kỹ
thuật ngày càng hiện đại.
Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân với số
quân thường trực thích hợp theo hướng cách mạng, chính quy, từng
bước hiện đại, tinh nhuệ, với lực lượng dự bị động viên, dân
quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao. Phát triển đường lối
và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh mới.
Xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự là
một lực lượng vũ trang chính quy từng bước hiện đại, tinh nhuệ.
Ngăn chặn, trừng trị kịp thời mọi hành động phá hoại của bọn
phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh quốc
gia, giữ gìn tốt trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi, tính mạng và tài sản của nhân dân.
Kết hợp lực lượng chuyên trách, nửa chuyên trách, các cơ quan
bảo vệ pháp luật với phong trào quần chúng. Kết hợp biện pháp
phòng ngừa, giáo dục là cơ bản với trấn áp, trừng trị các loại
tội phạm.
Chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ
chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ cho
các lực lượng vũ trang, cho đội ngũ sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên
nghiệp. Bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ và chiến
sĩ phù hợp với tính chất hoạt động của quân đội nhân dân và công
an nhân dân.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội
và công an nhân dân.
8. Mục tiêu của chính sách đối ngoại
là tạo điều kiện quốc
tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ
nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân
dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các
nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ
sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.
Không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác truyền thống với các nước xã hội chủ nghĩa, các
nước anh em trên bán đảo Đông Dương.
Đảng
Cộng sản Việt Nam trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và
công nhân, các phong trào cách mạng trong cuộc đấu tranh vì
những mục tiêu chung của thời đại. Đảng Cộng sản Việt Nam sẵn
sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng và các lực lượng
đấu tranh chống các thế lực hiếu chiến, xâm lược, áp bức bóc lột
các nước chậm tiến, vì hoà bình thế giới và tiến bộ xã hội. Tham
gia tích cực các tổ chức quốc tế và Phong trào Không liên kết vì
mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển.
Phát triển quan hệ với các nước Đông Nam á, tích
cực góp phần xây dựng khu vực này thành khu vực hoà bình và hợp
tác.
Phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, giúp đỡ lẫn
nhau với các nước đang phát triển.
Mở rộng sự hợp tác cùng có lợi với các nước phát
triển.
IV- Hệ thống chính trị
và vai trò lãnh đạo của đảng
9.
Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta
trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về
nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực
hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do
nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ
đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp
luật và được pháp luật bảo đảm.
Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các
quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và
trách nhiệm.
10.
Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực
của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ
quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý
mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức
nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật
pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước.
Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ
với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu
sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn
ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách
nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Tổ chức và hoạt động
của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo
đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương.
Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba
quyền đó.
11. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân
dân có vai trò
rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực
hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tưởng và đạo đức
cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ
giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
là liên minh chính trị của các
đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng
lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên
vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo phương
thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên theo chương trình hành động chung.
Các đoàn thể nhân dân
tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và
mục đích đã xác định, vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp nhau
chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao
trình độ mọi mặt cho đoàn viên, hội viên; vừa tham gia quản lý
nhà nước, quản lý xã hội.
Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động
tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của
Mặt trận và các đoàn thể. Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện cho Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam
là đội tiên phong của giai cấp
công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc
tổ chức cơ bản.
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược,
các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công
tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và
bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những
đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong
các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm
thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là
một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân
dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường
xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ
trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn
kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật
trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu
tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động
chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao.
Đảng quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách
mạng của Đảng và của nhân dân.
*
* *
Cương lĩnh này là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi
của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay
và trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này,
nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh.
Đảng kêu gọi tất cả những người cộng sản, toàn
thể đồng bào ở trong nước và ở nước ngoài mang hết tinh thần và
nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh.
Lưu tại Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng. |