![]() |
|
Đâu chỉ là lạm phát Tuần qua tất cả các phương tiện truyền thông lớn của Việt nam đều nóng với các tiêu đề in đậm liên quan tới lạm phát kiểu như "Kiềm chế lạm phát" "Không được tăng giá",…Một bài viết của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- công bố vào ngày 30/03 cũng đề cập đến 07 biện pháp "quyết liệt" nhằm xử lý tình trạng lạm phát đang tăng cao (03 tháng năm 2008 có chỉ số 16,37% so với cùng kỳ năm 2007) trong đó có cả dự liệu giảm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế (1). Trong khi cuộc sống hàng ngày của người dân đã cảm thấy chật vật khi giá của những mặt hàng thiết yếu như rau, thịt, xăng, dầu, điện, nước,…đã tăng từ 10, 20 đến 30% vào nửa cuối năm 2007. Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước từ lâu đã cảnh báo phải chú ý đến chất lượng tăng trưởng thay vì chạy theo những con số tăng trưởng. Tình trạng lạm phát nguy hại đối với đời sống dân thường cũng được các chuyên gia báo động (ít nhất) ngay từ đầu năm 2008. Bản nghiên cứu của trường đại học Harvard trao tận tay ông Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 15/01/2008 (2) và cuộc phỏng vấn của tuần báo Financial Times của Anh quốc nhân dịp ông Nguyễn Tấn Dũng thăm Anh quốc vào ngày 02/03/2008 (3) đều đã nhấn mạnh và cảnh báo vấn đề lạm phát hiện tại và còn đề xuất nhiều biện pháp cho một nền kinh tế lành mạnh. Tuy nhiên vào thời điểm đó ông Nguyễn Tấn Dũng cho rằng Việt Nam vẫn " phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8-9%". Theo kinh tế học, lạm phát là tình trạng tăng giá nói chung của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một đơn vị thời gian. Tình trạng lạm phát được lượng hóa (đo lường) bằng tỷ lệ phần trăm (chỉ số lạm phát) của sự thay đổi cho một loại chỉ số giá cả được lựa chọn theo một tiêu chí nhất định ( ví dụ như CPI – Consumer Price Index, chỉ số giá cả hàng tiêu dùng). Chỉ số lạm phát ( inflation rate) là một trong các chỉ số kinh tế để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển (tổng giá trị sản phẩm làm ra tăng thêm), chỉ số lạm phát (giá cả) luôn có chiều hướng tăng lên (lớn hơn 0%). Một cách hình ảnh là nếu như lương của một người luôn tăng với tốc độ cao hơn (hoặc cao hơn nhiều) so với tốc độ tăng giá của một tô hủ tiếu thì không có vấn đề gì phải lo ngại. Do vậy, chỉ số lạm phát tăng chỉ gây nguy hại cho nền kinh tế nói chung hay gây thiệt hại cho người dân khi nó vượt qua một ngưỡng nào đó (gọi là chỉ số lạm phát mục tiêu cân đối-Symetrical Inflation Target), ngưỡng đó tùy thuộc vào qui mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ví dụ đối với Hoa Kỳ, chỉ số lạm phát trên 3% đã bị coi là cao và Trung Quốc tương tự là khoảng 6,5%. Nhưng cơ chế gốc của lạm phát là biểu hiện của tình trạng mất cân đối Cung (hàng hóa) – Cầu (tiền mặt). Ví dụ với nền kinh tế thời bao cấp của Việt Nam trước khi mở cửa (năm 1986), có lúc lạm phát lên tới trên 400% /năm là do nhà nước in nhiều tiền để mua sắm trong khi nền kinh tế còn không tạo đủ sản phẩm hàng hóa cho nhu cầu tối thiểu của người dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế khi đó chỉ hơn 1% (khu vực nhà nước luôn bị âm). Như vậy, khi chỉ số lạm phát cao hơn tốc độ tăng trưởng ở bất kể mức độ tăng trưởng nào (ví dụ năm 2007 ở Việt Nam là 12,6% so với tăng trưởng là 8,5%) cũng đồng nghĩa với việc nền kinh tế đó đã chi tiêu nhiều hơn so với thu nhập có được tại thời điểm đó hoặc đã chi tiêu lãng phí từ thời điểm trước. Đối chiếu với nền kinh tế Việt Nam, vấn đề này nổi lên rất rõ từ nhiều năm qua: trong khoảng 2003-2007 tốc độ phát hành thêm tiền mặt từ Nhà nước là 25%/năm trong khi tốc độ tăng thêm của sản phẩm chỉ khoảng 8%; bội chi ngân sách luôn ở khoảng 5% của GDP; chỉ số ICOR của Việt Nam nói chung là 4,4, tức là lãng phí thất thoát rất lớn trong quá trình tạo ra sản phẩm. Sự lãng phí, thất thoát của nền kinh tế là tất yếu khi các ước lượng thất thoát trong các công trình công cộng lên tới trên 20%, các chi phí để hối lộ trong các hoạt động kinh tế của dân doanh đã trở thành một chi phí bắt buộc, hiệu suất của khu vực kinh tế do nhà nước nắm giữ chỉ bằng phân nửa so với khu vực dân doanh (vốn đã thấp, ICOR 4,4). Như vậy nếu chính sách ngăn cấm nhân dân sản xuất, kinh doanh đã dẫn đến khan hiếm hàng hóa (cung) là nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát phi mã vào thời kỳ trước mở cửa (năm 1986), thì tình trạng lạm phát nguy hại hiện nay có nguyên nhân cơ bản là do chính sách của chính quyền chi tiêu hoang phí (tham nhũng, lãng phí) và cản trở sản xuất. Tình trạng lạm phát, khủng hoảng kinh tế vào thời trước mở cửa của Việt Nam (cũng như các nước XHCN cùng thời) là hệ quả logic của một triết thuyết sai lầm là triệt tiêu thành phần tư nhân trong sản xuất, kinh doanh (theo lý thuyết chủ nghĩa Marx-Lenin). Tình trạng lạm phát cao hiện nay lại là hệ quả của một chính quyền yếu kém và hư hỏng dù đã chấp nhận qui luật đúng đắn về kinh tế (thừa nhận sự đa nguyên và tự do làm ăn kinh tế). Với kinh nghiệm của thế giới và sự tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia hiện nay, để đánh giá chính xác và kịp thời sức khỏe một nền kinh tế không còn là điều khó khăn và các phương thuốc chữa trị hay bổ dưỡng cho nó không còn là chuyện bí hiểm nữa. Chỉ cần lắng nghe và tiếp thu những ý kiến của các chuyên gia kinh tế như đã dẫn ở trên hay đơn giản là vào các công cụ tìm kiếm thông tin như Google cũng có thể có những hiểu biết để có quyết định sớm hơn rất nhiều đối với vấn đề lạm phát của Việt Nam. Nhưng đối với một bộ máy lãnh đạo mà con người ở vị trí cao nhất (như thủ tướng) không thể cách chức hay bổ nhiệm nhân viên (bộ trưởng) của mình theo ý muốn, hay các dự án kinh tế lại do bộ phận không chuyên về kinh tế (đảng bộ) quyết định thì nền kinh tế đó bị những hỏng hóc, gãy nát cũng là điều tất yếu, chưa kể đến những ý đồ trục lợi của giới quyền lực. Qua các thông tin trên báo chí Việt Nam, dường như cả bộ máy chính trị của đảng cộng sản Việt Nam đang rất lo lắng cho việc chống lạm phát. Điều này cũng là dễ hiểu đối với một chính quyền chỉ muốn có những con số đẹp về kinh tế để mỵ dân. Bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam cũng vừa thảo luận và công bố kết luận về vấn đề này vào ngày 04 tháng 04 (4). Tuy nhiên, lạm phát chỉ là một biểu hiện của nền kinh tế. Các nền kinh tế đã phát triển cũng luôn có những chu kỳ thoái triển thậm chí khủng hoảng với lạm phát tăng cao. Các liệu pháp chữa trị dường như đã có sẵn, chỉ cần một quyết tâm thực thi đúng và đủ. Nhưng, nền kinh tế cũng như tương lai của một quốc gia về lâu dài không chỉ nằm ở vấn đề chỉ số lạm phát hay GDP bình quân đầu người. Bởi nếu chỉ như thế, với thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Việt Nam vào khoảng 800 USD/năm đã không có hiện tượng hơn 100.000 học sinh bỏ học, đã không có hàng vạn cô gái trẻ phải đi tha phương cầu thực, đã không có các viên chức nhà nước có gia sản hàng trăm triệu USD, môi trường sống đã không bị nhiễm bẩn,… Nền kinh tế cũng như tương lai của quốc gia càng không thể hy vọng được vào một chính quyền khi lãnh thổ của Tổ Quốc bị xâm lấn cũng không dám lên tiếng. Do đó, những người Việt Nam tâm huyết với đất nước, nặng lòng với dân tộc, có thể, trước mắt cần tập trung cùng chính quyền hiện nay tháo gỡ những khó khăn về lạm phát của nền kinh tế để nhanh chóng bớt gánh nặng giá cả đang đè lên người dân. Nhưng về lâu dài, tất cả phải cùng nhau đặng xây dựng cho được một hệ thống chính trị tương thích với hệ thống kinh tế có cạnh tranh. Đó chính là hệ thống chính trị đa nguyên có sự cạnh tranh, thi tài để đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo đất nước. Khi đó, khả năng luôn bị giám sát và thách đố bởi phe đối lập sẽ buộc giới đang nắm quyền phải có những quyết định có lợi và kịp thời nhất cho đất nước. Lúc đó, vấn đề lạm phát, nếu xảy ra, sẽ không còn là chuyện ồn ào đối phó như đang diễn ra nữa.
(1) http://www4.thanhnien.com.vn/Xahoi/2008/3/30/232525.tno (2) http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=2609 (3) http://www.ft.com/cms/s/0/e50c9092-e82e-11dc-913a-0000779fd2ac.html (4) http://www.cpv.org.vn/tiengviet/tieudiem/details.asp?topic=84&subtopic=190&D=BT540840680
Đối Thoại
|
|