Đối Thoại                                         Website: Doi-Thoai.com                             Email: toasoandoithoai@yahoo.com


So sánh các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 (hiện hành)
2005.09.17

Trần Thanh Hiệp - Nguyễn An

Thời gian gần đây dư luận ở trong nước từ nhiều phía, thân cũng như không thân chính quyền, đã bàn luận rất nhiều về bản Hiến pháp 1946 ra đời cách đây trên nửa thế kỷ và đã hết hiệu lực từ cuối thâp niên 1950. Nhân dịp năm nay kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9, Giáo sư Phạm Duy Nghĩa Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được báo Tuổi Trẻ online phỏng vấn, đã tuyên bố rằng bản hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam. 

Luật sư Trần Thanh Hiệp.

Để bàn sâu thêm về ý kiến này, Nguyễn An của Đài Á Châu Tự Do đã trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về Hiến pháp nói chung và Hiến pháp 1946 nói riêng. Luật sư Hiệp là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về chủ thuyêt Hiến trị cũng như về các Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp trị. Khi nói về những khác biệt giữa các bản hiến pháp đã qua của Việt Nam, câu hỏi đặt ra cho luật sư Hiệp là:

“Cũng trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Tuổi trẻ on line, tiến sĩ Nghĩa cho là hiến pháp hiện hành (sửa đổi năm 1992) có nhiều điểm quay về với hiến pháp 1946, khi ngừơi dân đựơc công nhận và bảo vệ một số quyền cơ bản mà ở các bản hiến pháp 1959 và 1980 đã không quy định rõ ràng hoặc không đầy đủ. Luật sư có chia xẻ nhận định này không? Xin giải thích”

 

Một hiện tượng thay đổi

Trần Thanh Hiệp: Trên đại thể, tôi có thể chia xẻ sự nhận định với giáo sư Phạm Duy Nghĩa về sự sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là một hiện tượng thay đổi với bước lùi so với hiến pháp năm 1980 là Hiến pháp thiết lập nền độc tài toàn trị trên cả nước. Nhưng về điểm tìm một ngôn ngữ thích đáng để làm rõ nét sự thay đổi này thì tôi sợ rằng còn phải cân nhắc rất nhiều.

Chẳng hạn chữ “quay về” theo tôi là khiên cưỡng. Hiến pháp năm 1992 tuy ở một số điểm có gợi nhớ Hiến pháp năm 1946 nhưng nó không quay về với nội dung hoàn toàn cộng hoà của Hiến pháp đầu tiên này. Bước lùi cùa Hiến pháp năm 1992 đã dừng lại ở giữa đường. Nói theo danh từ chuyên môn thì Hiến pháp năm 1992 đã xuống thang từ chuyên chính vô sản toàn trị của Hiến pháp năm 1980 để chỉ còn là “chuyên hoành” đảng trị độc đảng.

Tôi xin mở một ngoặc đơn để giải thích về chữ “chuyên hoành”, một thuật ngữ chính trị học, ít hay chưa được dùng trong ngôn ngữ chính trị Việt Nam. Không như các chữ toàn trị hay độc tài. Theo nhận định của một vài nhà nghiên cứu chính trị học quốc tế thì chế độ chính trị ở Việt Nam nay không còn mang đủ tính chất của một chế dộ toàn trị nữa và họ xếp chế độ nay vào loại các chế độ độc đoán, chuyên quyền, một thứ độc tài đứng ở giữa đa nguyên và toàn trị.

Vì thuật ngữ chính trị học Việt Nam chưa có danh từ ổn định để dịch chữ tiếng Anh authoritarianism nên tôi đã mượn chữ hán việt chuyên hoành để dùng tạm trong khi chờ đợi tìm được chữ thích hợp. Nếu dùng quen thì chữ chuyên hoành cũng có thể trở thành thông dụng.

Tôi xin đóng ngoặc. Chỉ cần một điều 4 của Hiến pháp năm 1992, kết hợp với cụm từ ở đoạn cuối Lời nói đầu “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” cũng thừa đủ để chứng minh rằng chế độ độc tài đảng trị bất bình đẳng, phân biệt đối xử của Hiến pháp năm 1992 không thể là chế độ cộng hoà tự do, bình đẳng của Hiến pháp năm 1946.

Như vậy không thể nói là quay về với Hiến pháp năm 1946 được. Còn ngụ ý rằng một số quyền cơ bản của người dân đã được công nhận và bảo đảm giống như ở Hiến pháp năm 1946 thì không đúng. Vì trong 11 điều, từ điều 6 đến điều 16 của Hiến pháp năm 1946, không hề có những hạn chế kiểu “do Hiến pháp và luật quy định” hay “theo quy định của Pháp luật” đầy rẫy trong Chương V của Hiến pháp năm 1992 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Nói rằng Hiến pháp thời “Đổi mới” này về vấn đề nhân quyền, dân quyền, đã khác so với các Hiến pháp năm 1959 và 1980 thì đúng nhưng nói nó đã quay về với Hiến pháp năm 1946 thì không đúng.

 

Tự ý ban hành các văn bản

Nguyễn An: Theo tiến sĩ Nghĩa, thì điểm tối kỵ là các cơ quan hành chánh tự ý ban hành các văn bản dưới luật để hạn chế quyền hạn của dân trong khi hiến pháp và pháp luật không cấm. Tình hình ấy theo ông có xẩy ra ở Việt Nam không? Nếu có, xin ông cho một vài thí dụ.?

Trần Thanh Hiệp: Chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ ở khâu Nhà nước thì không phân quyền, ở khâu con người thì phi nhân quyền, phi dân quyền, xét theo tiêu chí của luật quốc tế về nhân quyền.

Cho nên tệ nạn mà giáo sư Nghĩa đã nêu lên theo đó các cơ quan hành chánh tự ý ban hành các văn bản dưới luật để hạn chế quyền của dân là những hiện tượng phổ biến chứ không phải chỉ là những biệt lệ. Các chuyên gia luật pháp quốc tế khi nghiên cứu việc cải tổ pháp luật cho Việt Nam đã đặc biệt chú ý đến một số lượng rất quan trọng các văn bản pháp lý chồng chéo lên nhau.

Nguyễn An: Luật sư có thể đưa ra những thí dụ cụ thể điển hình?

Trần Thanh Hiệp: Nếu muốn kể ra một vài thí dụ điển hình thì có thể tìm thấy ở địa hạt tôn giáo. Thí dụ như các Nghị định số 297/HĐBT ra ngày 11/11/1977 áp đặt cho miền Nam chính sách tôn giáo tại miền Bắc, Nghị định số 69/HĐBT ra ngày 21/03/1991 để thay thế cho Nghị định 297/HĐBT nhưng nội dung không đổi khác gì, Nghị định 26/1999/CP ngày 19/04/1999 vẫn để kiểm soát gắt gao các hoạt động tôn giáo.

Những văn bản dưới luật kể trên đều vi phạm điều 70 của Hiến pháp năm 1992 là điều công nhận minh thị quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng. Trên một quy mô rộng lớn hơn, còn có một Nghị định rất nổi tiếng vì tính cách vi luật hiển nhiên trầm trọng của nó, là Nghị định số 31/CP ngày 14-04-1997 của Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho phép các cơ quan hành chính được bắt giữ và bỏ tù người dân không cần phải tôn trọng các thủ tục pháp định về bắt giữ và xét xử do Hiến pháp dự liệu.

Gần đây, trước những lời chỉ trích gắt gao của dư luận quốc tế về nhân quyền, Hà Nội, thông qua Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với Quyết nghị ngày 29-01-2002, đã khôn khéo giới hạn quyền của Hành pháp ban hành văn bản quy phạm pháp luật bằng cách chỉ dành việc hành sử quyền này cho Thủ tướng Chính phủ mà thôi.

Nhưng như vậy là đưa lên hàng một nguyên tắc: Quốc gia trao cho Hành pháp quyền lập pháp không phân định phạm vi rõ rệt, chẳng khác gì ký cho Hành pháp một khống chỉ để Hành pháp không bị rào cản trong việc hạn chế quyền của dân.

 

Hai tiêu chí chính

 

Nguyễn An: Khi trả lời câu hỏi cuối của báo Tuổi trẻ On line, tiến sĩ Nghĩa đưa ra hai tiêu chí chính nếu cần phải sửa đổi hiến pháp hay luật: thứ nhất là thật sự vì nhu cầu của nhân dân, và thứ hai là thực hiện theo đúng ý nguyện của dân. Ông có chia xẻ hai tiêu chí ấy không, và nếu công nhận, thì theo ông hiến pháp hiện hành của Việt Nam có cần thay đổi hay không?

Trần Thanh Hiệp: Hai tiêu chí “vì nhu cầu của nhân dân” và “theo đúng ý nguyện của dân” mà giáo sư Nghĩa đã đề xuất để sửa đổi Hiến pháp hay luật là hai hướng đổi mới để đổi mới thực sự. Muốn đi theo hai hướng này thì nhà cầm quyền cộng sản không thể coi trọng nhu cầu của Đảng hơn nhu cầu của nhân dân.

Về ý nguyện của dân, chẳng những chính quyền phải theo cho đúng, mà còn phải ghi nhớ rằng trong đó có những quyền của người dân mà chính quyền có nghĩa vụ phải triệt để tôn trọng. Hiến pháp hiện hành của Việt Nam chỉ trọng thị nhu cầu của Đảng vì nó được soạn ra để thể chế hoá đường lối cai trị của Đảng.

Mặt khác, Hiến pháp này đã ngăn cản hết mức không cho dân có cơ hội bày tỏ ý nguyện thì làm sao có thể biết được ý nguyện của dân. Một Hiến pháp đi ngược chiều dân chủ như vậy không những không thể không thay đổi, mà còn phải thay đổi càng sớm càng tốt.

Nguyễn An: Xin cảm ơn Luật sư Hiệp.

Trong ba buổi phát thanh vừa qua, quý thính giả đã nghe cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ với luật sư Trần Thanh Hiệp Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về Hiến pháp nói chung và Hiến pháp 1946 nói riêng. Cũng xin thưa rằng quan điểm của luật sư Trần Thanh Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của ban Việt ngữ đài Á châu tự do, và chúng tôi mong sẽ nhận đựơc thêm ý kiến đóng góp về vấn đề này.

 

Những bài trước

 

- Phân tích giá trị của bản hiến pháp 1946 của Việt nam

- Việt Nam có cần thay đổi hiến pháp?



Phân tích giá trị của bản hiến pháp 1946 của Việt nam

2005.09.17

Trần Thanh Hiệp - Nguyễn An

Thời gian gần đây dư luận ở trong nước từ nhiều phía, thân cũng như không thân chính quyền, đã bàn luận rất nhiều về bản Hiến pháp 1946 ra đời cách đây trên nửa thế kỷ và đã hết hiệu lực từ cuối thập niên 1950. Nhân dịp năm nay kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9, Giáo sư Phạm Duy Nghĩa Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được báo Tuổi Trẻ online phỏng vấn, đã tuyên bố rằng bản hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam.

Để bàn sâu thêm về ý kiến này, Nguyễn An của Đài Á Châu Tự Do đã trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về Hiến pháp nói chung và Hiến pháp 1946 nói riêng. Luật sư Hiệp là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về chủ thuyêt Hiến trị cũng như về các Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp trị.

Về quan điểm của giáo sư Nghĩa, luật sư Hiệp cho rằng có thể bổ túc biểu văn của ông Nghĩa ít ra về hai điểm. Một là giá trị pháp lý của Hiến pháp năm 1946, và hai là cần phân biệt cho rõ, nói luật hay nói chính trị. Trứơc hết, ông Hiệp phân tích về giá trị pháp lý của bản hiến pháp năm 1946.

Trần Thanh Hiệp: Khi nói bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên giá trị là nói còn giá trị về mặt chính trị. Nhưng về mặt pháp lý thì không thể nói nó còn nguyên giá trị được. Tại vì bản Hiến pháp năm 1946 chưa bao giờ có giá trị pháp lý cả. Muốn có giá trị pháp lý thì nó phải hội đủ những điều kiện pháp định cả về hình thức lẫn nội dung.

Không nên nghĩ sai lầm rằng chỉ có nội dung của Hiến pháp mới quan trọng, còn hình thức thì đại khái thế nào xong thôi. Trên bình diện pháp lý, nếu một Hiến pháp có hà tì về hình thưc thì đương nhiên nó bị coi là vô hiệu, tức cũng như chưa hề bao giờ có bản Hiến pháp đó cả.

Hà tì của Hiến pháp 1946

 

 

Nguyễn An: Xin ông nói rõ về điều ông gọi là hà tì của hiến pháp năm 1946. Hà tì là gì, và hà tì của Hiến pháp 1946 là gì?

Trần Thanh Hiệp: Hà tì là một thuật ngữ luật học không thông dụng ở ngoài đời dưới dạng từ kép hán việt. Nhưng hai từ đơn chữ hán “hà” và “tì” đã được việt hoá thì rất thông dụng thí dụ “khoai hà”, là khoai bị sâu ăn, hay “ngựa hà”, là ngựa mà chân bị sâu ăn. Còn “tì” là vết xấu như có tì vết.

Trở lại nghĩa gốc của tữ kép chữ hán “hà tì” thì “hà” là ngọc có vết, nứt, sứt mẻ, không được toàn bích và “tì”, là những chỗ sai lầm, là vết xấu. Trong thuật ngữ luật học, hà tì dùng theo nghĩa bóng, và nói hà tì là nói một vật, một hành vi pháp lý nào đó, có khuyết điểm, khuyết tật, thiếu sót, thiếu điều kiện, nên không có giá tri, hay không được coi là hợp lệ v.v…

Bạn nghĩ gì về nhận định này? Xin email về Vietnamese@www.rfa.org

Hiến pháp năm 1946 có một số hà tì về hình thức, ở đây tôi chỉ nói về một hà tì thôi, đó là hà tì nó chưa được ban hành (promulguer, to promulgate), thuật ngữ cộng sản trước đây gọi là “ban bố”, nay gọi là “công bố”.

Hiến pháp năm 1946, nơi điều 49, đoạn (đ) định rằng quyền ban hành các đạo luật thuộc về Chủ tịch nước Việt NamDCCH, còn điều 31 thì buộc rằng các luật đã được quốc hội (Nghị viện) thông qua phải được Chủ tịch nước ban hành (ban bố) chậm nhất là 10 ngày sau khi được thông tri.

Trong thời hạn này, Chủ tịch có quyền yêu cầu quốc hội thảo luận lại. Nếu quốc hội sau khi thảo luận lại vẫn không sửa đổi thì Chủ tịch bắt buộc phải ban hành. Như vậy, ban hành không phải chỉ là cho đăng chính thức luật lên công báo mà là một thủ tục để xác nhận rằng luật đã được biểu quyết một cách hợp lệ và kể từ lúc nó được ban hành, luật bắt đầu có hiệu lực, mọi người kể cả công quyền phải tuân theo và áp dụng.

Nếu luật không được ban hành thì không ai bắt buộc phải tuân thủ. Hiến pháp 1946 là một đạo luật không được ban hành, không ở trong thời hạn 10 ngày, cũng không ngoài thời hạn này vì có lý do bất khả kháng. Vậy về mặt pháp lý, bản Hiến pháp năm 1946 phải coi như không có. Nói nó còn giữ nguyên giá trị là đưa ra một lý luận về mặt chính trị, chứ không phải để khẳng định rằng một bản văn pháp lý không được ban hành vẫn có giá trị pháp lý.

Là luật hay chính trị?

 

Nguyễn An: Xin bàn tiếp về về điểm Hiến pháp là luật hay là chính trị?

Trần Thanh Hiệp: Thật ra trong Hiến pháp có cả chính trị lẫn luật nhưng khi chính trị đã được luật hoá để trở thành Hiến pháp thì luật quay trở lại chi phối chính trị và từ đó nói Hiến pháp là phải nói luật. Giữa chính trị và luật ở trong Hiến pháp có quan hệ biện chứng.

Chính trị và luật ảnh hưởng qua lại để điều lý lẫn nhau trong khuôn khổ một cơ chế có tên gọi là Hiến trị (constitutionnalisme, constitutionalism) chứ không phải là “pháp quyền”. “Pháp quyền” là một thuật ngữ luật học mà nhà nứơc cộng sản Việt Nam mới đặt ra để gọi tên một chế độ trong đó luật chỉ là công cụ cầm quyền của đảng và Hiến pháp là một kỹ thuật pháp lý để thể chế hoá đuờng lối của Đảng.

Theo tôi, bây giờ nếu muốn đánh giá một cách khách quan Hiến pháp 1946 thì tất phải rút ra hai kết luận sau đây. Thứ nhất, về mặt luật. Nếu đặt nó vào thời điểm cuối năm 1946, lúc nó được thông qua mà xét thì Hiến pháp năm 1946 không có giá trị pháp lý vì đã không được ban hành.

Mặc dù vậy, chính quyền cộng sản sau đó vẫn cứ tiếp tục quy chiếu vào bản văn phải đựơc coi là vô hiệu này để mượn danh nghĩa “Ban Thường vụ” làm ra sắc luật, sắc lệnh mà cai trị. Cho đến đầu thập niên 1950, tuy vẫn chưa bầu lại quốc hội nhưng đã làm ra đạo luật cải cách ruộng đất là môt đạo luật vi hiến từ tinh thần đến văn tự, mà sự áp dụng đã thô bạo dẫm đạp lên công lý như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã vạch ra.

Nếu chuyển dịch nó vào hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đương hành để áp dụng nó trong “nguyên trạng” thì nhất định không thể có chỗ đứng cực quyền “lãnh đạo” cho Đảng Cộng sản như bây giờ được.

Nguyễn An: Xin ông giải thích thêm về điểm này: tại sao nếu áp dụng nó trong “nguyên trạng” thì sẽ không thể có chỗ đứng cực quyền lãnh đạo cho đảng Cộng sản như bây giờ được?

Trần Thanh Hiệp: Nguyên trạng là một từ kép hán việt, hiểu một cách nôm na là “nguyên con”. Nếu mang toàn văn bản Hiến pháp năm 1946, không thêm bớt, sửa chữa một chữ hay một điều khoản nào mà thay vào Hiến pháp đương hành năm 1992 để áp dụng thì Đảng Cộng sản Việt Nam không có bất cứ một quyền nào trong tất cả mọi quyền hiện nó đang có để lãnh đạo - thật ra là cai trị - cả nước, cả xã hội như hiện nay.

Vì bản Hiến pháp năm 1946 trong lời nói đầu không hề nói tới cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” và trong nội dung cũng không có điều nào giống điều 4 của Hiến pháp năm 1992. Vậy không có cơ sở pháp lý để cho Đảng Cộng sản trực tiếp hay gián tiếp độc chiếm quyền hành.

Về mặt chính trị

 

 

Nguyễn An: Bây giờ xin luật sư nói tiếp về điểm thứ hai.

Trần Thanh Hiệp: Thứ hai, về mặt chính trị. Phải công nhận một ưu điểm cho Hiến pháp năm 1946 là nó đã phản ánh rất phong phú tinh thần cộng hòa. Còn về mặt dân chủ thì cũng chỉ… thường thường bậc trung, so với những phát kiến của hai cuộc cách mạng tư sản dân quyền cuối thế kỷ XVIII ở Mỹ và ở Pháp.

Nhưng so với ba bản Hiến pháp kế tiếp là các Hiến pháp năm 1959, năm 1980 và năm 1992 thì Hiến pháp năm 1946 có hai nét ưu việt, đó là không chủ trương đấu tranh giai cấp và tôn trọng quyền tư hữu của người dân. Ưu việt là giữa người Việt Nam với nhau thôi chứ người dân các nước khác, phương Tây cũng như phương Đông, đã đi xa hơn thế nhiều từ lâu rồi.

Nếu chúng ta không dễ dàng hài lòng về thân phận tụt hậu đáng tủi hổ của đất nước, trải qua 60 năm hy sinh gian khổ, thì nên thành thật nhìn nhận rằng Hiến pháp năm 1946 chỉ là một “bánh vẽ dân chủ” mà vẻ hấp dẫn chưa tàn phai, thay vì đánh giá cao nó như khuôn vàng thước ngọc cho tương lai.

Nói như thế không phải là quá, vì nếu môn học luật hiến pháp so sánh được giảng dạy ở Việt Nam và không bị tinh thần giáo điều chỉ đạo thì chắc cũng sẽ đi tới kết luận như thế.

Trong phần thứ hai của cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của đài Á châu tự do và Luật sư Trần Thanh Hiệp, ông Hiệp đã phân tích về giá trị pháp lý, giá trị luật học và giá trị chính trị của bản hiến pháp năm 1946.

Trong buổi phát thanh tới, Luật sư Hiệp sẽ so sánh các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992 của Việt Nam, đồng thời phân tích một số vấn đề liên quan đến Hiến pháp. Mong quý thính giả đón nghe.

Cũng xin thưa rằng quan điểm của luật sư Trần Thanh Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của ban Việt ngữ đài Á châu tự do, và chúng tôi mong sẽ nhận đựơc thêm ý kiến đóng góp về vấn đề này.