Đối Thoại                                            Website: Doi-Thoai.com                            Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Hồi Ký Đoàn Duy Thành


Làm Người Là Khó - Làm người XHCN khó hơn

Chương 5


Ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng



Ngày 27-10-1953 tôi từ Côn Đảo về Sài Gòn cùng với ông Bùi Văn Phái hơn 60 tuổi, bằng tàu của Hồng Thập tự Quốc tế.

Do chuyến đi chữa bệnh ở nhà thương Chợ Quán tháng 2-1953, tôi đã liên hệ được với cơ sở ta ở Sài Gòn, tôi nhắn tin bà Nguyễn Thị Năm là cơ sở cách mạng đã từng nuôi đồng chí Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ năm 1946- 1947, đến Căng Phú Lâm đón tôi và ông Bùi Văn Phái về. Ông già Phái người quê ở Hành Thiện, Nam Định, ông ở lại nhà bà Năm ít ngày thì được ông Nguyễn Thế Truyền người cùng quê, làm chủ bút báo Thần Chung ở Sài Gòn đón về nhà. Ông Phái giới thiệu tôi với ông Truyền. Ông Truyền cho con trai mời tôi đến tòa báo để phỏng vấn, tôi từ chối. Sau đó ông Truyền có viết một bài trên báo Thần Chung, giới thiệu ông Bùi Văn Phái là đại tá quân đội của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nhắc tên tôi là Duy cùng về chuyến với ông Phái - đăng ở trang nhất báo Thần Chung với cái “tít” rất to “Quân tử cố cùng” ca ngợi sự dũng cảm của những người tù chính trị Côn Đảo. Tờ báo này bà Năm có gửi ra cho tôi, tôi đã chuyển đến đồng chí Hoàng Mậu- Bí thư Thành uỷ và các đồng chí uỷ viên Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng lúc đó xem. Sau khi tôi báo cáo xong với Đặc khu uỷ Sài Gòn- Chợ Lớn (thay mặt cho Trung ương cục Miền Nam), được đặc khu uỷ Sài Gòn bố trí cho về Bắc bằng máy bay dân dụng.

Khoảng 20-11-1953 tôi ra đến Khu căn cứ của Thành uỷ Hải Phòng ở huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, được Văn phòng Thành uỷ thu xếp cho ở tại nhà chú Siêu thôn Đồn Xá, Quỳnh Côi. Còn Văn phòng Thành uỷ ở thôn An Phú cách chỗ tôi ở khoảng 1 km. Đón tôi tại trạm giao thông của Thành uỷ tại Quỳnh Côi có đồng chí Vũ Kính, Chánh Văn phòng Thành uỷ, nguyên là uỷ viên Thường vụ quận Ngô Quyền; đồng chí Bảo tức Nhạn, cán bộ Ty giao thông Hải Phòng. Gặp lại các đồng chí cũ rất vui. Hai đồng chí Kính và Bảo hiện nay còn sống ở Hải Phòng.

Hôm sau các đồng chí Hoàng Mậu và Tô Duy, Vũ Kính đến thăm tôi tại nhà chú Siêu, hỏi thăm qua loa tình hình sức khoẻ, chuyến đi từ Côn Đảo về Sài Gòn và từ Sài Gòn ra Bắc. Đồng chí Hoàng Mậu nói: “Tớ đã biết cậu được tha ra Sài Gòn lâu rồi, Trung ương cục Miền Nam đã báo cho biết...”. Chính vì thế tôi cũng bớt được nhiều hình thức phiền toái khi cuộc cải cách ruộng đất đang thời kỳ quyết liệt Một vài anh em được tha, hoặc vượt ngục ra trước tôi đều phải ở rất xa Thành uỷ. Chỉ có mình tôi được ở gần cơ quan Thành uỷ. Sau khoảng một tuần nghỉ ngơi cho lại sức, tôi bước vào giai đoạn thẩm tra việc bị bắt, bị tù... Thành uỷ lập riêng một tổ thẩm tra do đồng chí Hoàng Mậu, Khu uỷ viên Khu uỷ Tả Ngạn, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng làm tổ trưởng (cựu tù chính trị Côn Đảo thời kỳ 1930-1936); đồng chí Lê Thành Dương, Phó ban Tổ chức Thành uỷ và đồng chí Đào Luyện, Trưởng phòng chính trị Ty Công an làm uỷ viên. Trong hơn hai tháng thẩm tra, tôi chỉ ở nhà chú Siêu thôn Đồn Xá, trừ 3 ngày phải di chuyển sang Hải Dương vì có tin địch tấn công vào Thái Bình phải tạm lánh sang huyện Ninh Giang, Hải Dương. Khi về qua sông Luộc, đò quá đông. Trong đoàn chúng tôi có 2 đồng chí là Nguyễn Văn Quyết và Vân (Vân Phễu) không biết bơi. Thuyền sắp đắm, kêu gọi người biết bơi nhảy xuống. Tôi yên trí là mình bơi giỏi, quên là mình đang ốm, nên đã nhảy xuống bơi trước. Bơi gần vào bờ bị dòng xóay cuốn, không thể bơi vào được. Nhờ đồng chí Đoàn (Đoàn đen) bơi vào trước, may lại thấy cây chuối ở ngay bên bờ sông, đồng chí Đoàn vất cây chuối xuống cho, tôi mới bơi vào được. Khi sắp chìm, tôi nghĩ không chết ở Côn Đảo nay về Hải Dương- Thái Bình lại chết đuối ư? Những kỷ niệm như thế này chúng tôi nhớ rất lâu. Sau này đồng chí Đoàn, đồng chí Quyết, đồng chí Vân... thường đến tôi chơi, nhắc lại chuyện này. “Nếu không có chúng tôi nhảy xuống bơi cứu thuyền khỏi đắm thì một số đồng chí và nhân dân đi chuyến đò đó sẽ chết”. Kết quả không ai việc gì, trừ tôi xuýt chết đuối. Khi lên bờ, mọi người cởi áo ra cho tôi mặc chống rét, vì lúc đó là mùa đông giá buốt.

Chiều tối hôm đó về đến Quỳnh Côi, các đồng Hoàng Mậu, Tô Duy, Lê Thành Dương, Văn Bút, Trần Đông (mới từ Bí thư Huyện uỷ Thủy Nguyên về làm Trưởng ty Công an Hải Phòng) v.v... đến thăm và chúc mừng tôi thóat chết đuối.

Trong thời gian ấy nhiều người ngoài cuộc tưởng như tôi bị giam lỏng ở nhà chú Siêu đợi thẩm tra, nên ít bè bạn đến chơi. Có một số đồng chí, bạn thân, đến nói nhỏ cho biết về tình hình cải cách ruộng đất chỉnh đốn tổ chức, đấu đá cường hào, địa chủ khắp nơi, nhất là tin Thái Nguyên đã bắn Nguyễn Thị Năm, liền khuyên tôi không nên đi đâu, không liên hệ với nhiều người. Các đồng chí còn kể cho nghe về vụ án H122 ở Hải Phòng và Hồng Quảng, bắt oan hơn 100 người, Trưởng phòng chính trị Ty Công an Hồng Quảng là An (hay đi ngựa) bị truy ép quá đã tự tử... Rất nhiều chuyện đấu tố trong giảm tô, Cải cách ruộng đất, có nơi như ở thôn Lan, Kim - Can, Thanh Hà mới đấu tố về giảm tô đã đánh chết ngay trong đêm đó 3 người là địa chủ, cường hào (?). Không khí ngay ở Đồn Xá nơi tôi ở, thấy cũng căng thẳng. Nhà hàng xóm chú Siêu, người bà con có con bò cày, thỉnh thỏang rỗi rãi ngồi viết báo cáo mãi cũng muốn đi lao động đôi chút, tôi bảo gia chủ để tôi cày giúp. Được 2 buổi thì có cán bộ xã bảo: “Gia đình địa chủ đấy, đồng chí đừng làm như vậy, mất lập trường...”.

Còn tôi thì từ khi ra tù như chim “xổ lồng” vô cùng phấn khởi, vô cùng hào hứng, chỉ mong sao xong sớm việc thẩm tra để đi công tác. Việc phải trả lời gần 100 câu hỏi của Tổ thẩm tra tôi chẳng thấy có gì khó chịu cả, viết hết hàng mấy tập giấy cũng không biết mệt, chỉ mong sao được tiếp tục công tác. Ra khỏi tù tội, hưởng không khí tự do là sung sướng lắm rồi! Tình cảm bè bạn, đồng chí, những đồng chí cũ như Hoàng Mậu, Tô Duy, Lê Thành Dương, Đào Luyện, Vũ Kính v.v... tôi cảm thấy họ vẫn niềm nở như lúc tôi chưa bị bắt. Trừ một vài người khi cùng cấp với mình thì vồn vã “bù khú”, nay thấy mình họ bắt tay hơi hờ hững, cũng không đến thăm mình. Có những anh trước là cấp dưới mình, nay tỏ ra lạnh nhạt, đúng là “Nhất tự cách trùng” tôi học lúc thiếu thời, nay mới được chứng minh bằng nghĩa thật của nó!

Tôi phải viết rất nhiều báo cáo, riêng báo cáo về nhà tù Côn Đảo. Tôi viết xong ngày 9-12-1953 đã hàng mấy chục trang, nay còn lưu trữ ở Cục Lưu trữ Trung ương Đảng. Đến gần Tết âm lịch 1953-1954, việc thẩm tra việc tôi bị bắt và bị tù đã xong. Một hôm đồng chí Vận, bảo vệ của đồng chí Hoàng Mậu, bảo tôi đến gặp Thành uỷ. Trời mùa đông giá rét, sao lúc đó rét thế! Tôi theo đồng chí Vận sang An Phú nơi Thành uỷ ở, vừa đi vừa suy nghĩ không rõ Thành uỷ gặp có việc gì. Vì trong hơn hai tháng tôi ở nhà chú Siêu thôn Đồn Xá, thỉnh thỏang sau bữa cơm chiều hai đồng chí Hoàng Mậu và Tô Duy dắt nhau đi dạo chơi lại rẽ vào nhà tôi chơi, hỏi thăm vài câu... rồi hai đồng chí về, vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ, không thấy nhắc gì đến việc thẩm tra tôi cả. Nay có người đến tìm sang gặp Thành uỷ chắc có việc quan trọng.

Sang đến thôn An Phú thấy đồng chí Hoàng Mậu và đồng chí Tô Duy ngồi trên ổ rơm trò chuyện, tôi bước vào chào hai đồng chí. Đồng chí Hoàng Mậu cười và nói: “Trông cậu thấy khá rồi đấy, bỏ chống gậy rồi à?”. Còn đồng chí Tô Duy bắt tay tôi, mời ngồi xuống ổ rơm. Lúc đó trời rét quá, đi vội, nên cũng xúc động, tôi thở hơi mạnh. Đồng chí Tô Duy hỏi: “Cảm động à?” Tôi trả lời: “Tôi cũng hơi cảm động!”. Hai đồng chí mời tôi ăn kẹo, uống nước chè tươi. Từ hôm ra tù đến hôm nay mới được Thành uỷ mời ăn kẹo “nu-ga”, đó là bữa tiệc ngọt đầu tiên. Tôi nghĩ cũng là hạnh phúc! Đồng chí Hoàng Mậu hỏi thêm một vài việc lặt vặt. Đồng chí Tô Duy nói ngay: “Anh ấy báo cáo như thế là đủ rồi”, sau đó chuyển sang nói chuyện gia đình, chuyện trong tù. Đồng chí Tô Duy hỏi tôi có gặp anh Tô Kim là anh ruột anh Tô Duy bị tù ở Căng Hanh Thông Tây không, v.v... Các anh còn khen tôi mưu trí, dũng cảm. Việc chuyển 10 chỉ vàng, chắc đồng chí Hoàng Mậu thấy thú vị. Đồng chí lấy tay phát vào lưng tôi, nói: “Nếu nó căng lên thì đau chết!.” rồi cười ha hả rất sảng khóai. Sau đó anh Tô Duy nói: “Việc thẩm tra việc bị bắt, bị tù của anh đã xong. Sắp Tết rồi, anh về Thanh Hà để ăn Tết với gia đình, vì xa nhà đã lâu”. Tôi thực sự vui mừng, vì nghĩ tới anh hình chiến trường địch ta “cài răng lược” ở đất Hải Dương, khu tự do Thanh Hà, là nơi huyện Kim Thành đóng quân, sơ tán ở đó, nay tôi lại được về Thanh Hà ăn Tết, có nghĩa sẽ được gặp vợ, anh em bạn hữu. Lâu nay nghĩ là khó có ngày gặp lại, mới xa nhau mấy năm mà kẻ mất người còn, người hy sinh đã lên con số chục! Lòng tôi bồi hồi khó tả. Tôi cảm ơn Thành uỷ, cảm ơn hai đồng chí đã thông cảm đến tình cảm riêng của tôi, nhưng tôi lại lo hành trình từ Thái Bình về đến Thanh Hà, qua bao nhiêu bốt địch, qua huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ, qua sông Luộc, sông Hương, sông Gia, đò Mép... qua bốt Yên, bết Thượng-cốc... phải mất 3 ngày mới về được khu tự do nhỏ bé là thôn Mạc Thủ, Thanh Hà, cũng không dễ dàng gì. Trước khi về tôi gửi 2 tấm ảnh của đồng chí Vũ Hạnh, nguyên Thành đội trưởng Hải Phòng cùng bị tù với tôi ở Côn đảo nhờ tôi chuyển giúp cho gia đình. Để tránh việc kiểm soát của địch, ảnh hưởng đến tôi, anh Hạnh viết thư bằng tiếng Pháp sau tấm ảnh, gửi về cho cụ thân sinh ra anh và vợ.

Anh Hạnh ghi: “Mon pa pa ét ma Belle journée...”. Tôi nghĩ mãi không hiểu tại sao Hạnh lại ghi thế. Về đến Hải Phòng mới biết vợ anh tên là Nhật. Hóa ra tay Hạnh chơi chữ với “Tây”? “Belle journée” có nghĩa: “Ngày đẹp”, tức là Hạnh - Nhật.

Trong thời gian ở Quỳnh Côi, Thái Bình, tôi báo cáo với Thành uỷ về đề nghị của Đảo uỷ xin Thành uỷ và TƯ gửi tiếp tế cho anh em Côn Đảo. Cuộc sống ở Côn Đảo rất khó khăn, thuốc không có, địch chỉ cho tiếp tế sữa đường và các thức ăn khô. Đồng chí Hoàng Mậu, nguyên là tù chính trị Côn Đảo nên rất thông cảm với anh em. Nhưng ngân sách thành phố không có, phải báo cáo lên khu uỷ và TƯ mới có tiền để tiếp tế cho anh em tù ngoài Côn Đảo được.

Tôi về đến thôn Mạc Thủ, xã Liên Mặc, huyện Thanh Hà, gặp đồng chí Trần Phương (Phương xích) Thành uỷ viên, phụ trách giới công thương Hải Phòng. Lúc này đã giải tán cấp quận, nên đồng chí Phương không còn là Bí thư quận uỷ Ngô Quyền nữa. Đồng chí Phương trả lại tôi tài liệu tư trang mà khi vào nội thành hoạt động tôi đã gửi lại đồng chí Vũ Kính, uỷ viên thường vụ quận uỷ Ngô Quyền, đồng chí Kính chuyển cho đồng chí Phương trả lại tôi. Tôi nghỉ tại Mạc Thủ và nhắn tin cho vợ tôi ra ăn tết với tôi, tại nhà một người cháu gọi tôi là chú họ, lấy chồng tại thôn Mạc Thủ. Chao ôi, bao nhiêu nhớ thương, lo âu, xa cách đã trút vào những giọt nước mắt mừng tủi của vợ tôi. Mới thấm thía rằng sự hy sinh thầm lặng của những lứa đôi cùng hoạt động cách mạng thật không sao kể xiết. Và dù sao chúng tôi cũng có được giấy phút hạnh phúc này. Còn biết bao đồng chí tôi ngoài Côn Đảo, trong các nhà tù, khát khao phấp phỏng chưa biết sống chết ra sao, bao giờ mới gặp lại vợ? Nghĩ thế mà cầm tay vợ cứ rưng rưng nước mắt...

Cơ quan đồng chí Trần Phương cũng ở gần đó, trong mấy ngày Tết những anh em quen biết lại có dịp gặp nhau hàn huyên chuyện cũ khi còn công tác ở quận, ở khu căn cứ Đèo Voi...

Ăn tết xong, trước khi trở lại Thái Bình để chuẩn bị đi chỉnh huấn, tôi bàn với nhà tôi cố gắng gom góp ít tiền gửi tiếp tế cho anh em Côn Đảo. Vợ tôi đã bán lứa lợn nái, ít thóc, mua 3 bộ đồ cắt tóc gửi cho 3 banh. Lúc đó Côn Đảo chỉ có 3 banh; banh 1 và banh 2 nhốt tù án chính trị, banh 3 nhốt tù binh (chủ yếu là ở miền Bắc chuyển vào). Vì lúc này ở Côn Đảo không có phương tiện cắt tóc, anh em phải xin hoặc mua lưỡi dao cũ của những người Việt trông nom tù, có những người tốt họ gom các lưỡi dao cạo cho chúng tôi. Chúng tôi bẻ đôi lưỡi dao, rồi dùng đũa tre chẻ làm đôi, kẹp nửa lưỡi dao cạo (Gillete) vào giữa, vừa làm dao vừa làm kéo, phát lóc từ trên xuống, rồi cạo. Có những anh em thợ cạo giỏi như anh Thân, anh Nhường dùng dao phát tóc cũng đều như cắt bằng tông-đơ hay bằng kéo. Vợ tôi đã làm việc này rất chu đáo. Số dao kéo ấy khi được trao trả, anh Thân đã mang về được một bộ.

Khi nhà tôi gửi đồ tiếp tế ra Côn Đảo, được phép của Thành uỷ tôi đã viết một lá thư bằng mực hóa học cho Đảo uỷ Côn Đảo, nói tóm tắt tình hình chiến sự cả nước và chỉ thị của TƯ và Thành uỷ cho Côn Đảo. Lá thư vợ tôi viết gửi anh Vũ Hạnh với danh nghĩa là vợ tôi báo tin tôi đã đi Pháp chữa bệnh, theo ám hiệu tôi đã bàn với Đảo uỷ, trước khi ra tù, nhằm đánh lạc hướng địch. Khi nhận được thư, các đồng chí trong đó dùng “Tanh-tuya di-ốt” bôi lên phía sau lá thư là hiện chữ. Đọc nhanh và ghi chép. Khi giấy khô chữ trong thư cũng biến hết. Lá thư này đã đến tay các đồng chí Đảo uỷ. Sau này khi còn sinh thời, vợ tôi hàng năm đến họp mặt, các đồng chí Côn Đảo đều nhắc lại sự kiện trên. Nhiều đồng chí đề nghị kết nạp vợ tôi là thành viên tù chính trị Côn đảo vì đã hết lòng với anh em.

Đi chỉnh huấn

Sau những ngày nghỉ phép ăn Tết với vợ tôi ở Mạc Thủ, Thanh Hà, tôi trở lại Quỳnh Côi, Thái Bình để chuẩn bị đi chỉnh huấn.

Khoảng trung tuần tháng 2-1954 chúng tôi tập trung đến lớp chỉnh huấn do khu uỷ Tả ngạn tổ chức. Lớp chỉnh huấn do đồng chí Đỗ Mười, Bí thư khu uỷ, trưởng ban tuyên huấn khu uỷ Tả ngạn, trực tiếp chỉ đạo. Còn những người chỉ đạo thường xuyên là đồng chí Trần Phương, Phó ban Tuyên huấn; đồng chí Thế Phấn; đồng chí Dũng, uỷ viên Ban Tuyên huấn và một số cán bộ của Ban phụ trách lớp.

Hồi trước tôi biết đồng chí Trần Phương khi còn ở Hưng Yên, khi đồng chí sang Hải Phòng làm Phó Bí thư Thành uỷ thì tôi đã bị bắt. Gặp nhau ở lớp chỉnh huấn, tôi cảm thấy đồng chí như đã thân quen lâu rồi, trao đổi chuyện ở tù, hoạt động ở nội thành v.v...

Lớp trưởng kiêm Bí thư chi bộ là chị Nguyễn Thị Định, uỷ viên Thường vụ, Phó Chủ tịch tỉnh Thái Bình. Tôi được cử làm tổ trưởng một tổ. Tuy chưa được giới thiệu sinh hoạt đảng, nhưng các cuộc họp chi bộ tôi được mời họp như một đảng viên chính thức.

Đến tháng 4-1954 Thành uỷ Hải Phòng giới thiệu tôi với chi bộ, tôi được tiếp tục sinh hoạt Đảng. Có lẽ tôi là một đảng viên duy nhất ra tù được tiếp tục sinh hoạt sớm như vậy. Một phần vì nhà tù Côn Đảo được Trung ương trực tiếp chỉ đạo, còn các nhà tù khác do Thành uỷ, Tỉnh uỷ, Khu uỷ trực tiếp chỉ đạo thì phải sau chỉnh huấn thẩm tra, xác minh, mới được phục hồi, được tính tuổi đảng liên tục, hoặc cắt tuổi đảng một số năm, hoặc bị khai trừ... tùy theo lỗi nặng nhẹ khi bị bắt, bị tù, khai báo...

Trong buổi khai mạc lớp, lần đầu tiên tôi biết đồng chí Đỗ Mười. Trước tôi chỉ nghe nói tới anh Mười, Khu uỷ viên phụ trách phụ vận Liên khu III, khi chưa thành lập khu Tả Ngạn. Tôi nghĩ anh Mười chắc là người hiền dịu, nho nhã. Khi thấy anh đến nói chuyện, tôi cảm thấy anh là võ tướng, ăn nói bộc trực, dễ gần... Đôi lúc thông tục anh vỗ vào ngực nói: “ở Tả Ngạn, tôi làm Bí thư Khu uỷ, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Khu, Tư lệnh kiêm Chính uỷ, Trưởng ban Tổ chức, Trưởng ban Tuyên huấn...”. Tôi nghĩ chắc anh giỏi lắm. Hay Tả Ngạn không có người tài buộc anh phải kiêm tới 6 chức? Anh đến lớp giải đáp những vấn đề thảo luận và hôm bế mạc anh đến dặn dò anh em. Tôi thấy anh hăng say, xông xáo, ăn nói khúc chiết, đôi khi người ta cảm thấy được cả sự tự hào, tự phụ bên trong người anh nữa. Trong quá trình học tập, kiểm điểm, nghe báo cáo phụ khóa về giảm tô và Cải cách ruộng đất, xem phim “Bạch Mao nữ” và “chiến sĩ gang thép” của Trung Quốc, đọc “Thép đã tôi” của Liên Xô, xong từng bài liên hệ kiểm điểm. Chỉ gợi ý nói khuyết điểm thôi, không nói ưu điểm. Từng bài liên hệ kiểm điểm xong phải báo cáo Trung tâm thông qua. Trước và sau đó phải đưa ra Tổ thông qua. Trong tổ tôi có 3 đồng chí là người Hải Phòng: tôi, đồng chí Nghĩa (tức Linh), đồng chí Phạm Văn Diệt là Trưởng phòng giao thông quận, cũng mới ở tù ra. Còn các đồng chí ở các tỉnh khác trong Khu, trong số đó có đồng chí Mai, nguyên là Thông phán Tòa sứ Hưng Yên thời Pháp thuộc, đã chỉnh huấn lớp trước, nhưng kiểm điểm tiếp thu không tốt, phải đi chỉnh huấn lại. Tổ giao cho tôi đi sát giúp đỡ anh Mai. Tôi đã giúp anh Mai đi vào thực chất của vấn đề kiểm điểm, phân tích rõ ràng ranh giới giữa kẻ thù và ta. Anh nói với tôi: “Nghe anh phân tích tôi thấy thông. Nhưng mấy con mẹ (chỉ mấy chị trong tổ) chỉ đáng làm “vú em” cho nhà tôi chẳng hiểu cái gì cả, mà lại lên “nước mặt, nói không ai nghe được”. Tôi phải phân tích cho anh biết vì sao lại như thế? Vì chị em nghèo, không được học hành như anh, họ thấy đâu nói đấy, lời lẽ giản đơn, thô kệch, nhưng thiết thực. Ta chấp nhận cái đúng, cái cốt của câu nói, không nên chấp nê về kiểu cách lời nói rồi sinh ra phản ứng, bỏ mất cái hay... Cuối lớp anh viết thu hoạch tốt và được thông qua.

Tôi ở Côn Đảo cũng đã tổ chức chỉnh huấn cho anh em, kiểm điểm rất sâu sắc những sai lầm khuyết điểm khi bị bắt, khai báo, đầu hàng về tư tưởng, thóai chí, cầu an hưởng lạc nhưng cũng nêu gương những mặt ưu điểm, thành tích. Còn ở lớp chỉnh huấn này chỉ nêu khuyết điểm, tôi thấy làm cho mình “hèn” đi, tự mình bôi nhọ mình những điều không có. Nếu không thế, báo cáo không được thông qua. Riêng tôi, tôi kiên trì có thế nào, nói thế, không nói thành tích, nhưng cũng không bịa ra khuyết điểm để báo cáo, để sớm được thông qua. Kết quả báo cáo của tôi vẫn được thông qua sớm, từ tổ, chi bộ lên đến Ban chỉ đạo lớp cũng được thông qua nhanh.

Một hôm tôi gặp đồng chí Trần Phương, tôi tâm sự với đồng chí ấy về phương pháp học tập, kiểm điểm, cần khơi dậy ý chí chiến đấu, tinh thần dũng cảm của mọi người. Nếu chỉ nói khuyết điểm sẽ làm giảm khí thế mọi người, chỉ thấy hèn nhát mà không thấy kiên cường... Rồi tôi nhắc đến vụ bắn Nguyễn Thị Năm, địa chủ Thái Nguyên. Sự việc này khi ra đến Sài Gòn, tình cờ tôi gặp một cơ sở của Khu 6, thuộc quận Ngô Quyền, anh Nam người huyện An Dương, bị địch lùng bắt phải chạy vào Sài Gòn, ở xóm Chiếu, bên nhà bà Năm, biết tôi mới ở Côn Đảo về, là người Hải Phòng nên anh Nam kể mọi chuyện miền Bắc, từ vụ bắn Nguyễn Thị Năm, giảm tô, Cải cách ruộng đất nghe rất lạ tai và khủng khiếp, cả vụ “H cent vingt deux” (H122) anh Nam cũng kể rất rành rọt cho tôi nghe. Tôi chỉ nghe, không bình luận gì, vì mới ở tù ra, dù sao cũng phải giữ bí mật với anh Nam về mọi hoạt động của tôi ở Sài Gòn, để làm tròn nhiệm vụ của Đảo uỷ giao cho. Nhưng được một ít thông tin cũng tốt. Tôi chỉ nhắc anh Nam cẩn thận, kẻo địch xuyên tạc về giảm tô và Cải cách ruộng đất của ta. Khi học về chính sách Cải cách ruộng đất, tôi liên hệ giữa chính sách và việc thực hiện vụ bắn Nguyễn Thị Năm có 3 điều sai chính sách và một điều không hợp đạo lý truyền thống của người Việt Nam. Ba điều sai chính sách là:

- Địa chủ kháng chiến được chiếu cố,
- Địa chủ kiêm công thương được chiếu cố.
- Địa chủ hiến ruộng được chiếu cố.

Nguyễn Thị Năm có được 3 điều mà luật Cải cách ruộng đất khóa thứ I Quốc hội thông qua, có chiếu cố. Điều không hợp đạo lý, Nguyễn Thị Năm là phụ nữ, bắn một địa chủ là nữ, không phải cường hào gian ác sẽ trái đạo lý thông thường của người Việt Nam. Tôi trao đổi với đồng chí Trần Phương việc này, đồng chí bảo tôi: “Cậu tập trung vào học tập chỉnh huấn, kiểm điểm cho tốt để báo cáo được thông qua. Còn việc đó nói gì cũng không được đâu, có khi còn nguy hiểm nữa... chúng ta sẽ bàn sau...”. Với thái độ thân mật, nghiêm túc, thông cảm của đồng chí Trần Phương, tôi nghĩ chắc vấn đề này nghiêm trọng lắm!

Sau này khi sửa sai Cải cách ruộng đất xong, tôi được nghe nhiều cán bộ cao cấp nói lại: “Khi chuẩn bị bắn Nguyễn Thị Năm, Bác Hồ đã can thiệp và nói đại ý: “chẳng lẽ Cải cách ruộng đất không tìm được một tên địa chủ, cường hào gian ác là nam giới mà mở đầu đã phải bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?”. Nhưng cán bộ thừa hành báo cáo là đã hỏi cố vấn Trung Quốc và được trả lời là: “Hổ đực hay hổ cái, đều ăn thịt người cả!”. Thế là đem hành hình Nguyễn Thị Năm!

Qua hơn 3 tháng học tập chỉnh huấn, sắp đến ngày bế mạc. Hội nghị Genève khai mạc cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ - chấn động địa cầu. Lớp chỉnh huấn chúng tôi được tập trung đi tuyên truyền cho hội nghị Genève. Tôi được cử làm đội trưởng một đội đi xa và sâu vào lòng địch là Thành phố Hải Phòng. Đội gồm có tôi và anh Phạm Văn Điện người Hải Phòng, 2 cán bộ là người Tiên Lãng, Kiến An (lúc đó Hải Phòng - Kiến An chưa hợp nhất), 2 cán bộ nữa là người Thái Bình. Sức khoẻ của tôi lúc này có khá hơn, nhưng vết thương ở ngực bên trái nước vàng vẫn chảy ra, hàng ngày vẫn phải thay băng. Có đồng chí gợi ý tôi xin ở lại lớp, hoặc vào nơi tạm chiếm Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, đi lại thuận tiện hơn, có gì phải cấp cứu cũng nhanh hơn.

Nhưng tôi vẫn đi Hải Phòng, vào sâu sát ngoại thành Hải Phòng- Kiến An, ở thôn Xích-thổ. Sau bị địch càn quét, tôi chuyển cả đội sang thôn Bạch Mai huyện An Dương, có đêm phải bơi qua sông Cái Tắt sang xã Hùng Vương, đoạn đường số 5 sát Hải Phòng. Sang đến nơi bị động, cơ sở trốn hết, cả đoàn lại bơi về, sang thôn Văn Tra - Văn Cú, An Dương. Mỗi lần bơi qua sông lên bờ, đầu tiên là tôi phải băng ngay lại vết thương. Lúc nào trong ba lô của tôi cũng có gói bông băng và lọ thuốc đỏ. Hôm bị địch vây ở thôn Xích Thổ phải chui xuống hầm nước, đỉa bu cắn cả vào chung quanh vết thương. Khi địch rút lui, còn mấy con đỉa bám gần vết thương. Nay nghĩ lại vẫn sởn gai ốc. May không bị vi trùng uốn ván, thật là phúc. Kết thúc đợt đi tuyên truyền, về dự tổng kết lớp chỉnh huấn, tôi được khen thưởng cao nhất, được khen học tập tốt, báo cáo kiểm điểm nghiêm túc, đi vào sâu đất địch. Tôi nhận giấy khen của Ban Tuyên huấn Khu do đồng chí Phó ban Trần Phương ký, được 2 ảnh nhỏ (4x6) của Bác Hồ. Nay tôi vẫn còn giữ làm kỷ niệm.

Về công tác tại Văn phòng Thành uỷ

Tôi được phân công tiếp tục về Hải Phòng công tác, nằm trong Ban Thư ký vụ, phụ trách công tác tổng hợp. Văn phòng lúc này đóng ở huyện Vĩnh Bảo. tình hình chính trị, hội nghị Genève diễn ra thuận lợi, công việc văn phòng càng phải khẩn trương, phải nắm 66 tình hình địch ở nội thành, sự di chuyển của chúng. Ngoài việc phụ trách tổng hợp, tôi còn phải theo rõi phụ trách một số đường giây mới, do các đồng chí ở tù ra mà tôi nắm được, gây dựng được nhiều cơ sở trong các cơ quan đầu não của địch ở Hải Phòng. Tài liệu ở nội thành chuyển ra rất nhiều. Tôi phải làm việc suốt ngày đêm, tranh thủ ngủ vài tiếng đồng hồ, ngay trong bữa ăn cũng làm việc, cũng đọc báo cáo. Đồng chí Hoàng Mậu, Bí thư Thành uỷ là đồng chí hoạt động từ năm 1930, công nhân kỹ thuật cơ khí bậc cao, người Việt gốc Hoa. Đồng chí Hoàng Mậu là đồng chí gương mẫu toàn diện, học lực có hạn, nhưng khi tôi viết báo cáo với đồng chí, đồng chí duyệt rất cẩn thận. Đặc biệt có những từ ngữ đã tâm đắc thì báo cáo thiếu là không được. Đồng chí có thư ký riêng là đồng chí Hải, sau sang làm phó giám đốc đài phát thanh Hải Phòng, nhưng mọi việc viết báo cáo tôi đều phải viết và báo cáo trực tiếp với đồng chí Hoàng Mậu. Các thư ký khác có viết một báo cáo nào đó, đồng chí Hoàng Mậu cũng bảo đưa qua tôi sửa chữa và trực tiếp báo cáo với đồng chí ấy, mặc dù đã có chánh văn phòng lúc đó là đồng chí Minh Sơn. Nếu đã qua đồng chí Minh Sơn, đồng chí Hoàng Mậu cũng bảo đưa qua tôi, nên công việc đã bận lại càng bận thêm. Tôi sợ mình bao biện công việc của đồng chí khác, anh em đồng nghiệp sẽ không vui, nhưng đồng chí Hoàng Mậu không nghe, anh em cũng rất thông cảm với tôi và giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Mọi việc ở Văn phòng Thành uỷ đang ổn định, tháng 10-1954 tiếp quản Hà Nội. Mấy ngày sau văn phòng Thành uỷ chuyển về thôn Vũ Xá - xã Ái Quốc, huyện Nam Sách nằm trên đường số 5, tiện cho việc chỉ đạo của Thành uỷ, các cơ quan Hải Phòng đóng dọc theo đường số 5 đến ga Phạm Xá, ga trung chuyển giữa khu tự do mới được giải phóng và khu “chu vi 300 ngày” nơi quân Pháp tập kết chuyển vào miền Nam dưới vĩ tuyến 17.

Đồng chí Đỗ Mười, Bí thư khu uỷ, vừa được đề bạt làm uỷ viên TƯ dự khuyết khóa II, cùng với 4 đồng chí khác là Xuân Thủy, Trần Hữu Dực, Bùi Quang Tạo, Nguyễn Thị Thập. Đồng chí Đỗ Mười được cử làm trưởng ban chỉ đạo tiếp quản khu “chu vi 300 ngày”, trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng

Trong một buổi về thôn Vũ Xá làm việc với thành uỷ Hải Phòng, làm việc xong, mọi người còn có mặt cả, đồng chí Đỗ Mười bảo đồng chí Hoàng Mậu: “Cho đồng chí Thành về giúp việc tôi tiếp quản Hải Phòng...” Tôi vừa ngỡ ngàng vừa sững sờ, không hiểu ai đã giới thiệu tôi với đồng chí Đỗ Mười, mà đồng chí biết tôi một cách đột ngột như vậy. Đồng chí Hoàng Mậu hơi lúng túng nói: “Có một cậu nó đang làm quen với công việc, anh lấy đi chưa có người thay!” Anh Mười đứng phắt dậy tuyên bố: “Cứ cho cậu Thành lên giúp việc tôi, nếu Hải Phòng có gì xảy ra tôi chịu trách nhiệm...”.Anh Mậu lặng im. Tôi đứng dậy thưa với anh Mười: “Tôi mới ở tù ra, mới đi chỉnh huấn về, mới được xác minh, còn nhiều anh em biết tôi nhưng chưa về, sợ rằng sau này có vấn đề chính trị sẽ phiền cho anh.” Anh Mười nói to: “Cậu muốn lấy lý do để không đi giúp việc mình. Cậu phải biết tôi là Bí thư khu uỷ chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính khu, Tư lệnh kiêm chính uỷ khu, trưởng ban tổ chức, trưởng ban tuyên huấn, ai thế nào mình biết hết, địch ta ai lừa dối được mình”. Anh Mậu 67 nhìn tôi có vẻ e dè, sợ anh Mười, khẽ gật đầu. Tôi nói: “Nếu anh đã nói như vậy tôi xin đi giúp việc anh”. Anh Mười và đoàn tùy tùng ra về. Anh Mười dặn lại tôi: “Mai lên Hải Dương gặp tôi...” Lúc đó khu đóng ở thành phố Hải Dương mới giải phóng.

Về Thủ đô mới giải phóng công tác

Hôm sau tôi nhận quyết định của đồng chí Hoàng Mậu lúc đó kiêm cả chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Phòng ký. Tôi về công tác ở Ban chỉ đạo tiếp quản khu “300 ngày”, kiêm đại diện Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Phòng tiếp dân ở Hải Phòng ra Hà Nội gặp chính quyền mới. Thành uỷ cử cho tôi một cán bộ giúp việc là đồng chí Trần Việt (Việt mặt đỏ).

Hôm sau tôi lên Hải Dương gặp đồng chí Đỗ Mười nhận việc. Đồng chí giao cho tôi thu xếp trụ sở cho Ban chỉ đạo về Hà Nội, anh Mười cũng bàn giao công việc của khu tả ngạn cho đồng chí khác thay thế.

Tôi cùng đồng chí Việt thuê nhà làm trụ sở của Đại diện Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Phòng ở số 32 Bà Trưng Hà Nội làm trụ sở tạm thời. Mấy hôm sau anh Mười lên Hà Nội gặp tôi và đưa tôi đến gặp đồng chí Trần Danh Tuyên, Bí thư Thành uỷ Hà Nội để xin nhà làm trụ sở Ban chỉ đạo khu “300 ngày”. Đồng chí Tuyên cho nhà “Khai trí Tiến Đức” gần Bờ Hồ. Tôi ký các thủ tục nhận nhà, thu xếp dọn dẹp vệ sinh để đón anh Mười và Văn phòng về ở. Công việc rất bận rộn. Lúc đầu chỉ có tôi, đồng chí Việt và cô cấp dưỡng đến dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng ăn. Nhà to cửa rộng, không có người ở, lá rụng đầy sân, chỉ riêng việc dọn lá bàng ở sân đã mất mấy ngày. Anh Mười cử cả tiểu đội bảo vệ đến giúp làm vệ sinh, chúng tôi mới đỡ vất vả. Ngân sách chưa có, không có tiền thuê lao động đã phải huy động anh em làm ngoài giờ.

Bộ máy lúc đầu giúp việc anh Mười chỉ có đồng chí Phạm Gia Tuân, đồng chí Vũ Trọng Nam làm Thư ký và một tiểu đội bảo vệ, một lái xe Jeep cho anh Mười. Tôi làm cả hai việc vừa giúp anh lo chuẩn bị tiếp quản Hải Phòng, vừa làm đại diện cho Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Phòng, phụ trách hành chính cơ quan, thu xếp dọn dẹp, bất cứ việc gì cũng đến tay. Chỉ trong 15 ngày là ổn định mọi việc.

Các tỉnh thuộc khu 300 ngày đều cung cấp cán bộ như Kiến An có đồng chí Hồng Cẩn cán bộ trung đoàn và một đồng chí nữa, Hồng Quảng có đồng chí Chuyền, khu Tả Ngạn cử đồng chí Vũ Viết Nhuận... Tổng số đã lên hơn 10 người. Mọi công việc chuẩn bị cho tiếp quản rất khẩn trương. Nào báo cáo của quân sự do đồng chí Nguyễn Như Thiết, Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn chuẩn bị các hướng hành quân vào Khu “300 ngày”; báo cáo chính trị về kế hoạch tiếp quản lên Bác Hồ và Bộ Chính trị duyệt; mở 2 lớp đào tạo cán bộ vào tiếp quản, mỗi lớp khoảng 500 người ở hội trường Tổng Công đoàn do Trung ương tổ chức và chỉ đạo (nhưng Ban chỉ đạo phải đến báo cáo tình hình và kế hoạch tiếp quản). Chuẩn bị cho 500 cán bộ hành chính vào trước. Công việc bề bộn, cộng với tác phong khẩn trương của anh Mười, làm cho chúng tôi, nếu không chuẩn bị có khi suốt ngày không kịp ăn. Nhiều lúc vừa ăn vừa bàn công việc. Tôi đang ngồi làm việc, anh Mười vào vẫy tay đi, thế là chạy ra xe đi ngay. Có khi vừa đi vừa thắt quần.

Hôm sang ngân hàng gặp anh Lê Viết Lượng, Tổng giám đốc ngân hàng Việt Nam xin 20.000 đồng Đông Dương để chi cho cán bộ vào nội thành chuẩn bị trước (lúc đó kinh tế khó khăn, mới tiếp quản Thủ đô tiền Đông Dương khan hiếm), tôi ngồi nghe đồng chí Lê Viết Lượng phân tích khó khăn, sốt cả ruột. Anh Mười nói đi nói lại sự cần thiết phải có số tiền đó. Mãi anh Lê Viết Lượng mới đồng ý, nhưng thái độ tỏ ra không vui. Anh Mười giao cho tôi nhận tiền. Anh Lượng nhắc tôi: “Bảo anh Mười tiêu tiết kiệm nhé!”. Tôi hơi khó chịu trả lời: “Chúng tôi sẽ tiết kiệm từng xu, anh biết tính anh Mười rồi đấy, anh đừng lo...”. Anh Lượng vẫn còn nói thêm: “Vẫn cần phải nhắc như vậy cũng không thừa”. Sau này tôi mới biết anh Lê Viết Lượng được ghép vào 4 vị “Tứ kiệt” của Việt Nam.

Tôi cầm về một bó tiền Đông Dương, không tủ, không két, cứ phải bỏ vào cái túi vải, đi đâu cũng mang theo mình. Chỉ mong sao chi hết sớm cho đỡ vất vả. Vừa phải làm thủ quỹ, vừa làm kế toán, công việc này tôi chưa quen, nhưng vẫn phải mở sổ sách. Chứng từ thì viết tay, chỉ sợ mất tiền, anh em vào nội thành không có tiền ăn, còn mình lấy tiền đâu đền? Công việc đã bận, lại kè kè gói tiền bên mình, sinh mất ăn, mất ngủ. Bên cạnh đó vết thương cũng chưa lành vẫn phải băng bó. Thế mà anh em khen tôi trẻ ra. Mới biết thức ăn tinh thần quan trọng đến mức nào? Hàng ngày đã làm việc liên miên, đến tối lại phải nghe phản ảnh của anh Nguyễn Tài, Trưởng Phái đoàn Việt Nam thực hiện Hiệp định chuyển giao khu “300 ngày”. Anh Tài sáng đến Quỳnh Khê, Kim Thành để họp với Phái đoàn Pháp, tối về phản ảnh với anh Mười kết quả đàm phán. Đủ mọi sự việc diễn ra hàng ngày, nào địch tháo dỡ máy móc chuyển vào Nam, dân di cư dồn về Hải Phòng, yêu cầu nọ, yêu cầu kia của địch, đêm nào cũng bàn thâu đêm, suốt sáng để có phương án cho hôm sau anh Tài đi “đấu” tiếp với phái đoàn Pháp. Tôi thấy anh Vũ Trọng Nam thức khuya nhiều quá, chân tay mọc lông lá...rất ái ngại! Lắm lúc ban ngày ngồi làm việc, mấy bàn thư ký đều ngồi ngủ gật, trông rất buồn cười...

Phương án tiến quân do anh Nguyễn Như Thiết trình bày đến lần thứ 11 mới được thông qua. Anh Thiết mỗi hôm ra về đều than phiền với tôi:

- Tôi biết tính anh Mười cẩn thận, nên kế hoạch làm rất tỉ mỉ, các tình huống đều nêu ra hết, nhưng vẫn không được thông qua! Trong chiến đấu tôi cũng không thấy khổ bằng bây giờ!

Tôi động viên anh Thiết:

- Bọn tôi ở đây phải phân công nhau ngồi nghe với anh Mười, tuy vậy nhiều lúc anh Mười gọi tất cả cùng phải nghe. Nghe đi nghe lại, đầu gật mà mắt vẫn phải mở, sợ thủ trưởng phê bình.

Không những thế 3, 4 giờ sáng anh Mười còn đến phòng ngủ của tôi đánh thức dậy và bảo:

- Thành, Thành, nếu nó ỳ ra không chịu rút thì làm thế nào?

Tôi phân tích:

- Địch đã đến nước này, phải rút về Khu 300 ngày. Chúng không dám ỳ ra đâu, anh yên tâm!

Anh Mười lại đặt các câu hỏi khác, phân tích tình hình, đồng bào di cư, địch dỡ máy móc phải làm sao giữ lại, vận động quần 69 chúng đấu tranh ra sao, và bảo tôi viết chỉ thị cho Hải Phòng về rất nhiều vấn đề mà Mười đã nêu ra. Có lần tôi mệt quá, vừa đặt lưng xuống giường là ngủ thiếp đi, anh Mười đến phát vào lưng tôi: “Dậy, dậy, sao mà ngủ nhanh thế!” Anh lại nêu vấn đề: “Địch ỳ ra không rút thì giải quyết thế nào?”. Tôi vừa mệt, mắt cay xè, thấy thủ trưởng lo lắng, tâm huyết quá mà các lý lẽ đã phân tích với anh Mười những buổi trước hết rồi, tôi bình tĩnh, nhưng nói giọng hơi gay gắt:

- Nó ỳ ra thì đánh bỏ mẹ nó đi...

Anh Mười ngồi yên, suy nghĩ không nói gì rồi từ từ đứng dậy đi vào phòng ngủ, mặc dù chị Thanh, phu nhân của anh đã đến từ tối.

Bản thân là con người say sưa công việc cách mạng, không từ nan việc gì bao giờ, nhưng từ hôm về Hà Nội làm việc thực sự với anh Mười tôi tự thấy mình “lây” ngọn lửa nhiệt tình của anh. Sau này tôi vẫn thường nhắc lại điều đó với anh Mười.

Ba trăm ngày chẳng mấy chốc đã sắp hết, ngày tiếp quản Hải Phòng đến gần. Cơ quan chúng tôi lại chuyển về thị xã Hải Dương với bao nhiêu công việc. Cán bộ các nơi ùn ùn tập trung đến. Mặc dù Ban tổ chức Thành uỷ đã có sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Mậu, nay là Phó Bí thư, nhưng anh Mười vẫn nhắc tôi phải xem lại. Tôi cảm thấy quá sức và lo rằng có khi làm cho các đồng chí tổ chức không thông cảm đánh giá mình bao biện, nhất là các đồng chí mới ở tỉnh, thành phố và các đồng chí cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Nhưng mọi sự việc đều xếp sắp ổn thỏa.

Nhớ lại những ngày ở Khai Trí Tiến Đức bên bờ Hồ Hoàn Kiếm, mọi người làm việc mệt mỏi, những khi nghỉ ngơi chốc lát, đứng trông ra cửa sổ về phía Hàng Khay thấy học trò nữ Trường Trưng Vương quần áo dài thướt tha qua bờ Hồ, nhiều đồng chí ngắm nhìn không chớp mắt. Anh Mười biết, bảo: “Các cậu hủ hóa mắt hết rồi... Hỏng hết, viên đạn bọc đường nó làm hỏng hết cán bộ...”. Chỉ có tôi, anh Nam, anh Tuân, là anh Mười không bắt được chúng tôi nhìn, ngắm bao giờ nên anh không nói gì. Thỉnh thỏang đi họp Trung ương về, anh bỏ kẹo vào túi rồi vứt cho chúng tôi mỗi người vài cái.

Có nhiều lần họp chi bộ, anh cứ dùng chữ “viên đạn bọc đường” để nhắc nhở anh em. Tôi thấy anh nhắc nhiều lần quá, nên đứng dậy đề nghị anh Mười không nên nhắc nhở điều ấy nữa, vì chúng ta cũng có thể là viên đạn bọc đường, bọc lại chúng, chứ không chỉ bị chúng bọc. Anh Mười không nói gì, nhưng từ đó anh thôi dùng câu: “đạn bọc đường”.

Khi phục vụ cho đồng chí Nguyễn Tài và các đồng chí Ban liên hiệp đình chiến TƯ ở Trung Giã, tôi có làm một việc, chủ ý gây cho địch lúng túng, mất thì giờ, ta có cớ để đấu với chúng. Đó là việc lập danh sách tù binh Việt Nam. Tôi cứ để tên tôi là Duy vào danh sách tù chưa được thả, phái đoàn ta phụ trách về tù cứ đòi, địch phải mất công tìm hết nơi này nơi khác về tên Duy tù binh. Phái đoàn ta nói: “Không thấy tù nhân tên Duy được trao trả về”. Cuối cùng tìm không thấy, địch đem những văn bản, quyết định tha tôi cho phái đoàn ta để xác minh giúp, còn chúng sẽ xác minh xem tên Duy có ở lại khu chúng kiểm soát không? Ý định tôi lúc đó ra sao tôi có nói với cán bộ phụ trách tù binh: chỉ là “đánh lừa” để chúng mất thời giờ truy tìm...v.v. Tôi không bao giờ nghĩ 70 tới chuyện ấy sau này gây phiền phức. Đó là trong đơn vu khống lý lịch tôi, kẻ xấu đã viết: “Chính Duy là tay sai địch nên địch đã truy tìm bằng nhiều văn bản, gửi các địa phương của chúng, tìm Duy để sử dụng...”. Những hồ sơ của địch sau khi đã có kết luận, tôi đã xin các đồng chí sao lục cho mộc bản. Câu cách ngôn: “gậy ông lại lập lưng ông” cũng là bài học cho những ai chỉ đơn giản nghĩ điều thuận mà không thấy điều nghịch như tôi.

Về tiếp quản Hải Phòng

Ngày 13-5-1955, Văn phòng Ban chỉ đạo và văn phòng Thành uỷ nhập làm một, về trước một ngày, đóng tại Sở dầu - Hạ lý. Ngủ một đêm tại đây, sáng hôm sau tất cả theo đại quân vào tiếp quản Hải Phòng.

Anh Mười hỏi tôi vào thành sẽ ở đâu, tôi nói đã chuẩn bị với bộ phận vào trước, chuẩn bị cho anh và văn phòng ở số 9 phố De La République, nay là số 1 Hoàng Diệu, là trụ sở của Đốc Lý Hải Phòng. Còn Thành uỷ về ở số 11 Négrier, phòng Nhì của bộ tư lệnh Pháp miền Duyên Hải, nay là phố Lý Tử Trọng, sau chuyển cho Bộ tư lệnh Quân khu, rồi chuyển tiếp cho Bộ Tư lệnh Hải Quân. Còn Thành uỷ chuyển về số 5 Đinh Tiên Hoàng ngày nay, là một cơ sở hậu cần của quân đội Pháp đóng tại Hải Phòng.

Tôi về làm thư ký văn phòng Thành uỷ và được bầu là Bí thư chi bộ, do đồng chí Nguyễn Mạnh Giao làm Chánh văn phòng, đồng chí Trần Phương (Phương xích) Thành uỷ viên phụ trách văn phòng. Tôi được phân công theo rõi khối nội chính.

Lúc đó tiếp quản công việc bề bộn, giải quyết chưa xuể thì ngày 26-9-1955 Hải Phòng bị một cơn bão lớn, gió đông vào lúc thủy triều dâng, tràn hết các con đê oèo oặt do thực dân Pháp để lại. Nước ngập tràn thành phố. Do nước cường tràn vào nhanh, những xã ven đê như Tràng Cát có tới 327 người chết, hầu hết là người già và trẻ em. Anh hùng Phạm Minh Đức đã xả thân cứu giúp đồng bào, bị nước cuốn trôi. Khi nước rút phải vận động cán bộ toàn thành phố đi cạo mặn giúp dân. Những xã ven sân bay Cát Bi, chúng tôi đi giải quyết hậu quả, phải vào sát hàng rào dây thép gai kéo các em bé ra, cháu nào cũng chúc đầu vào dây thép gai, chết rất thê thảm. Lúc nước cường, anh Mười, anh Hoàng Mậu và tôi đi xe Jeep của anh Mười xuống nhà thờ Nam Pháp. Đến đó thì nước đang dội vào thành phố, có nguy cơ xe chết máy không về được. Tôi bảo chú lái xe chở anh Mười về trước, còn anh Hoàng Mậu và tôi cùng đồng chí Vân bảo vệ anh Mậu sẽ về sau. Nước tràn vào mỗi lúc một lớn, chúng tôi không thể nào xuống được xã Sâm Bồ, Hạ Đoạn. Ba anh em phải khóac tay nhau đi hàng ba về nội thành. Về đến đầu cầu Rào nước đã lên ngang thắt lưng. Ba anh em đi về đến nội thành, thì nội thành biến thành bể nước, không còn chỗ nào hở cả. Về đến văn phòng đã trưa, mọi người chờ đợi. Chúng tôi phải một mẻ ướt sũng. Nhưng khi nước thủy triều rút, bão cũng gần tan nên nước rút nhanh. Lúa bị chết hết vì nước mặn. Đê không đủ cống để thóat nước. Thật là trời thử thách lòng kiên định của nhân dân Hải Phòng.

Theo các cụ cao niên kể lại: “Đây là trận Hồng thủy lớn nhất sau 150 năm mới lại xảy ra” (Khi quai đê lấn biển đường 14 Đồ Sơn, tôi đã lấy mực nước lớn nhất năm 1955 làm Tiêu chuẩn cho đê biển Hải Phòng. Đê cao 71 hơn mốc nước năm 1955 là 2 mét, chân đê rộng 60 mét, có kè đá hoặc xi măng cốt thép bên ngoài bảo đảm 150 năm sau nếu lịch sử thủy triều lập lại thì nhân dân ven biển sẽ tránh được tại hoạ).

Mọi công việc tiếp quản ngày một ổn định. Nhưng Cải cách ruộng đất đợt 5 lại đến. Thành phố có đỡ hơn. Ngoại thành làm mạnh. Tôi phụ trách nội chính nên phải theo rõi tình hình Cải cách ruộng đất. Hồ sơ cán bộ do các đoàn Cải cách ruộng đất gửi về Thành uỷ, xin bắt đồng chí này, đồng chí khác... ngày càng nhiều. Còn riêng tôi, nghĩ gia đình chỉ là trung nông nên tôi cũng chẳng để ý đến gia đình là thành phần gì. Một hôm tôi cùng một vài đồng chí trồng một cây bàng ở sân văn phòng Thành uỷ (cây bàng nay vẫn còn), đồng chí Hoàng Mậu nhìn tôi cười cười và nói: “Cậu trồng cây đó làm gì?”. Linh tính báo cho tôi biết có điều gì chẳng lành, tôi đoán chắc mình cũng có hồ sơ của đoàn Cải cách ruộng đất gửi về nhưng văn thư giữ kín không chuyển cho tôi. Tôi vẫn bình tĩnh. Mấy đồng chí thư ký khác như anh Hưng, anh Quảng, anh Minh Sơn cũng có danh sách là gia đình địa chủ. Trông đi trông lại văn phòng đều là con cái địa chủ cả. Nhưng ban thường vụ chẳng thấy nói gì. Tôi vẫn làm việc bình thường. Khoảng tháng sau, người chị dâu nhà tôi “giả vờ” đi chợ xuống Hải Phòng vào thăm tôi, nhà tôi nhắn tin xuống: “Nhà bị qui là địa chủ thường. Em tuy con nhà cố nông, nhưng vì liên quan, không được sinh hoạt đảng. Anh bị họ tố là Bí thư chi bộ Quốc dân đảng, nhưng họ tố bí mật với nhau, không nói công khai, đội Cải cách ruộng đất không thấy nói gì, anh yên tâm công tác. Em phản đối kịch liệt họ tố sai. Đội họ bảo em cứng đầu cứng cổ, chẳng sợ gì cả. Em nghĩ họ làm bậy, tố bậy, nên em coi họ rất thường!”. Khi sửa sai gia đình tôi được hạ xuống trung nông, còn nhà tôi đến khi sửa sai mới được khôi phục đảng tịch. Nhà tôi được cả xã, cả khu vực khen ngợi là dám chống lại những việc làm sai trái của Cải cách ruộng đất, nói thẳng nói thật, không như một số đảng viên khác cùng về làm dâu ở làng tôi như chị C. (còn sống), đấu bố chồng và gọi tên bố chồng chửi... nhà tôi rất khinh. Sau này tuy là chị em trong họ, nhưng khi chị C. đến chơi, nhà tôi vẫn lảng tránh, tỏ ra khinh bỉ. Tôi cũng nhắc nhà tôi nhiều lần “Đảng đã sửa sai, biết bao nhiêu kẻ cơ hội, đâu có riêng gì chị C...”.

Trong lúc phong trào Cải cách ruộng đất đang lên, du kích và cốt cán Cải cách ruộng đất vác súng vào thành phố lùng bắt địa chủ và con cái địa chủ là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước. Họ đã bắt được một vài người. Tôi báo cáo anh Mười cứ để thế này thì không nên. Thành phố mới tiếp quản, lòng dân còn nhiều điều suy nghĩ về chế độ mới, đề nghị anh nhắc các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đất không để cốt cán vác súng vào nội thành tìm địa chủ... Anh Mười nổi nóng tuyên bố: “Bắt trói tất cả đứa nào vác súng vào bắt cán bộ nghi là địa chủ. Muốn làm loạn à? “. Công an ra tay, tóm được mấy nhóm giải về Đoàn uỷ xử lý. Từ đó không có cốt cán nào dám vào nội thành nữa. Nhưng họ tung tin: “Tay Bí thư Thành uỷ Hải Phòng phản động, chống lại Cải cách ruộng đất, nhưng nó to lắm, Đoàn uỷ cũng không làm gì được...”. Đến khi phát hiện sửa sai, đi họp Trung ương về, anh Mười phấn khởi gọi tôi bảo: “Mình đúng, mình đúng? Làm sai hết rồi! Sửa sai mới mệt cơ!”.

Trong Cải cách ruộng đất ở Hải Phòng còn một chuyện: Đón đồng chí Mi-cai-ăng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Đồng chí Mi-cai-ăng lúc đó là nhân vật thứ 3 của những nhà lãnh đạo Liên Xô. Ta mới được giải phóng một nửa nước, được đón tiếp một cán bộ cao cấp của Liên Xô lúc đó là một điều rất vinh dự. Trong chuyến thăm này, chương trình của Đoàn có đến thăm Thành phố Hải Phòng, vào ngày 12-3-1956. Hải Phòng thành lập ban đón tiếp do anh Mười trực tiếp chỉ đạo. Tôi được giao trách nhiệm đi báo cáo, liên lạc với Ban đón tiếp Trung ương. Từ ngày bắt đầu chuẩn bị hơn một tháng trời, tôi được giao chiếc Moscovic Liên Xô kiểu cũ với đồng chí lái xe là anh ruột đồng chí Nguyễn Mạnh Giao, Chánh Văn phòng Thành uỷ, sáng đi chiều về, lên Hà Nội nghe chỉ thị, lúc thì gặp anh Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, khi thì gặp anh Vũ Tuân, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, có hôm phải gặp cả hai người để báo cáo tình hình chuẩn bị đón tiếp đồng chí Mi-cai-ăng ở Hải Phòng. Rồi nghe truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Trung ương.

Vì là lần đầu tiên đón khách quan trọng, nên anh Mười bảo tôi phải hỏi kỹ cách thức đọc diễn văn chào mừng ra sao, bắt tay, đi đứng ra sao? Anh Ung Văn Khiêm đều hướng dẫn cho tôi, để tôi về báo cáo anh Mười. Anh Ung Văn Khiêm còn cho dịch quyển Tự điển Ngoại giao từ tiếng Nga sang tiếng Việt của đồng chí Vi-sanh-ky, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô, để tôi đọc và báo cáo tóm tắt với anh Mười.

Mọi việc chuẩn bị rất khẩn trương. Hàng ngày tôi đi Hà Nội, qua quê tôi, nhìn cây gạo đầu làng cao nhất vùng, đang mùa nở hoa đỏ ối, thấy nhớ vợ, nhớ nhà da diết. Vì từ khi bắt đầu Cải cách ruộng đất, cán bộ không được phép về thăm nhà. Tôi cho xe đi chậm chậm, mỗi khi qua quê. Tôi nhìn mọi người sao thấy họ đều lo âu, trầm tư. Cũng có người nhìn thấy tôi, khẽ nghiêng đầu chào thầm lặng. Tôi biết là tình hình đấu tranh rất căng thẳng. Chiều từ Hà Nội về, khoảng 16 giờ mà đã vắng tanh, không ai qua lại đường 5, chỉ còn những chiếc xe tô lác đác chạy ngược xuôi Hà Nội - Hải Phòng.

Ít ngày sau đó tôi được tin xã tôi đã bắn ông Đào Quang Xương mối lái trâu thuần, có hơn một mẫu ruộng. Cả nhà cụ Tổng Toạ, gia đình toàn đi kháng chiến, con gái lớn là cô Đàm làm chủ tịch, con gái thứ hai là cô Địch làm xã đội trường, chiến đấu rất dũng cảm, vì nhà có 3 mẫu ruộng cũng bị đấu tố sỉ vả... Không chịu đựng được sự oan ức, sáng sớm ngày mồng một Tết năm đó, cả nhà đã giả vờ đi tát nước sớm, đến bờ sông Tường, 4 người đều nhảy xuống sông tự tử. Riêng cô Bùi Thị Địch, khi chết hai chân còn để trên bờ. Mọi người đoán là cô Địch bố trí cho bố, mẹ và chị nhảy xuống sông tự tử trước, còn cô Địch nhảy xuống sau. Nhưng do quá uất ức nên chân còn trên bờ, đầu đâm xuống nước chết ngay! Đối với tôi, tôi còn phải gọi cô Đàm, cô Địch bằng dì, hai cô với mẹ tôi là con cô con cậu ruột. Trước khi Cải cách ruộng đất có lần tôi về nhà, hai dì đến nhà tôi chơi có hỏi: “Tình hình Cải cách ruộng đất sắp đến, chắc gay go lắm? Cậu Quảng (tức Phạm Chí Dũng nay là Đại tá về hưu, là em cùng bố khác mẹ với các dì), cậu Quảng đã viết thư về đoạn tuyệt với gia đình”. Hai dì bảo tôi cho vài lời khuyên. Tôi nói: “Gia đình ta chỉ có 3 mẫu ruộng, cụ chỉ có chức Phó tổng mua, gia đình hiền lành tử tế, đều tham gia kháng chiến rất tích cực, hai dì chiến đấu ở xã ai mà chẳng biết. Theo ý cháu, đối chiếu với chính sách gia đình chỉ là phú nông là cùng thôi. Hai dì cứ yên tâm, tin tường vào chính sách Cải cách ruộng đất và Bác Hồ...” Hai dì vẫn tỏ ra rất buồn, nhất là chuyện cậu em ruột viết thư đoạn tuyệt gia đình. Hai dì ngồi suy nghĩ hồi lâu rồi đứng dậy ra về: “Anh nói tôi cũng thấy tin, nhưng ông bà (ý nói cụ ông, cụ bà Tổng Đàm) thì vẫn lo lắm anh ạ”. Tôi động viên hai dì mấy câu và gửi lời thăm hai cụ. Rất thương là hai dì đều chưa có gia đình. Khi Cải cách ruộng đất, không phải ai xa lạ mà chính là bà vợ hai với cô con dâu vợ cậu Quảng là cốt cán Cải cách ruộng đất, đấu tố hai cụ quyết liệt nhất...

Sáng ngày 12-3-1956 toàn dân Hải Phòng, quần áo chỉnh tề tay cầm cờ hoa đứng dọc đường từ Sở dầu về đến Hải Phòng, đón đồng chí Mi-cai-ăng và Đoàn từ Hà Nội xuống.

Tôi cũng rất phấn khởi vì sắp làm tròn nhiệm vụ được giao. Nếu hôm nay không có chuyện gì xảy ra là toàn thắng. Mọi người hào hứng, phấn khởi chờ đợi. Anh Mười, anh Mậu và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Hải Phòng quần áo chỉnh tề chuẩn bị đón đoàn. Tôi đi kiểm tra lại một lần nữa ở chung quanh trụ sở Uỷ ban Quân quản thành phố. Không khí Cải cách ruộng đất ở ngoại thành căng thẳng, nhưng trong thành phố rất vui.

Khoảng 10 giờ bỗng có điện từ Hà Nội về báo tin Đoàn không xuống nữa làm mọi người rất thất vọng. Anh Mười chuẩn bị micro phát biểu một vài ý kiến cảm ơn đồng bào. Giữa lúc anh Mười sắp nói, thì anh Trần Quốc Hoàn; Bộ trưởng Bộ Công an và anh Lê Quốc từ Hà Nội xuống. Anh Hoàn nhanh nhảu nói: “Đoàn sắp đến nơi rồi”. Anh Mười vỗ vai anh Hoàn nói: “Đoàn không xuống rồi”. Anh Hoàn cãi lại: “Tôi vừa ở chỗ Đoàn, đang chuẩn bị đi. Xe tôi đi trước để kiểm tra”. Anh Mười nắm hai vai anh Hoàn bảo: “Thôi, thôi xong rồi... Để tôi nói với đồng bào vài lời cảm ơn...”.

Thế mới biết đón một đoàn Quốc tế đầu tiên sang thăm Việt Nam, nó quan trọng đến chừng nào. Tổ chức bảo vệ thật là kỳ công. Thế mà bạn không chiếu cố. Sau tôi được biết là cán bộ tùy tùng bảo vệ đề nghị đồng chí Mi-cai-ăng không đi, vì Hải Phòng mới giải phóng, tình hình Cải cách ruộng đất đang căng thẳng, không an toàn, do đó Đoàn quyết định không đi thăm Hải Phòng nữa.

Anh Mười bảo tôi xuống nhà máy Tơ giải tán buổi nói chuyện của Ban tuyên huấn. Tuy với danh nghĩa bề ngoài như vậy, nhưng thực chất tập trung gần 1000 cán bộ quân đội, dân chính có vấn đề nghi vấn tới nghe nói chuyện. Khi đón đoàn xong sẽ giải tán. Lúc đó tôi mới biết cuộc họp “đặc biệt kỳ lạ” này vì an ninh cho phái đoàn. Khi đến nhà máy tôi lại gặp đồng chí Hồng Vũ, Vũ Hạnh là bạn tù Côn Đảo, một số cán bộ của Quân khu Tả ngạn.v.v. Tôi nghĩ may mà mình về trước được mấy tháng, nếu ra tù sau với hồ sơ ghi “T.T” (trao trả), chắc mình cũng nằm trong diện các đồng chí này đây. Nghĩ thế vừa buồn vừa mừng.

Đến cuối năm 1956, đầu năm 1957, thời kỳ sửa sai Cải cách ruộng đất, Trung ương điều anh Mười lên làm Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp, anh Hoàng Hữu Nhân, bí thư Khu uỷ Hồng Quảng về thay làm Bí thư thành uỷ Hải Phòng. Trước khi về Trung ương công tác, anh Mười nói với tôi: “Tôi lên Trung ương công tác, cậu ở lại, nếu được bố trí làm phó chủ tịch Uỷ ban thành phố thì tốt, chí ít cũng làm Giám đốc một sở”.

Sang công tác thương nghiệp

Anh Mười đi khoảng hai tháng, tôi nhận được quyết định sang làm phó chủ nhiệm công ty Bách hóa, do đồng chí Nguyên Danh Huyền làm chủ nhiệm. Tôi cầm quyết định đi ngay, không nói một lời.

Sang Sở thương nghiệp gặp đồng chí Dương Văn Mùi, Phó Giám đốc, đồng chí Dương Văn Mùi cầm quyết định xem, có vẻ không vui (đồng chí Mùi hiện đang ở Hải Phòng), đồng chí nói: “Thành uỷ cứ quyết định, không bàn gì với Sở. Trước đã điều anh Nguyễn Hòai, Thư ký văn phòng Uỷ ban về làm chủ nhiệm công ty Bông vải sợi, anh em trong ngành thắc mắc...” Tôi cũng không nói gì. Đồng chí Mùi giới thiệu tôi về công ty Bách hóa gặp đồng chí Huyền. Đồng chí Huyền cũng tỏ vẻ không vui, phân công tôi phụ trách nghiệp vụ kinh doanh, ra ngồi riêng ở 31 Hoàng Văn Thụ. Còn đồng chí Huyền chủ nhiệm, đồng chí Nguyễn Hữu Huân phó chủ nhiệm ngồi ở số 5 Trần Quang Khải. Đồng chí Huân tiếp tôi vui vẻ. Nếu nói về trình độ nghiệp vụ thì tôi chưa quen công tác thương nghiệp, nhưng nói về chính trị thì tôi đã kinh qua Bí thư Quận uỷ, vào Đảng từ 1946, được thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì; còn đồng chí Huyền mới vào Đảng năm 1950 được thưởng Huy chương Kháng chiến chống Pháp, lương kém tôi 2 bậc.

Nhưng đồng chí Huyền là con người cũng dễ gần. Sau vài cuộc họp, nhất là sau đại hội chi bộ, tôi được giới thiệu tham gia chi uỷ. Tôi không bầu cho mình, điều đó nhiều đồng chí trông thấy, nhưng tôi vẫn được phiếu cao nhất.

Tôi làm việc được khoảng nửa năm, công việc đã quen dần. Tôi sống hòa mình, ngày ngày cùng đi lao động, tối đi học bổ túc văn hóa với anh em. Tôi vào học lớp 5 cùng với anh Huyền, anh Huân, anh Hòai, anh Tốn, anh Hân (Sở Thương nghiệp) và nhiều đồng chí trong ngành. Mọi người chưa biết trình độ nhau ra sao. Qua hai tuần học tập, thầy giáo bổ túc dạy toán giảng về “thừa số nguyên tố”. Sau bài giảng, giáo viên hỏi có đồng chí nào xung phong lên phân tích “thừa số nguyên tố?”. Giáo viên nhắc mãi, chẳng ai lên, tôi buộc phải giơ tay lên phân tích 3 con số thầy cho trước. Tôi phân tích cả ba số cũng khá nhanh. Thầy bảo tôi chắc đã học trước rồi. Tôi cười. Từ hôm đó mọi người “kháo” nhau tôi học giỏi lắm. Khi đến giờ toán, giáo viên gọi lên bảng là mọi người chỉ tôi. Lúc đó tôi nhớ lại việc cụ Phan Bội Châu kiên quyết đi thi, sau khi hết tang mẹ, lấy văn bằng Thủ khoa Thi hương, cốt để thuyết phục được các nho sĩ làm cách mạng theo mình.

Đi Hà Nội học nghề buôn bán

Tôi được Sở Thương nghiệp Hải Phòng cử đi học lớp “cao trung thương nghiệp” ở Hà Nội. Có 6 đồng chí đi học lớp này. Chúng tôi tập trung về số 66 Hoàng Hoa Thám. Trưòng làm bằng tre nứa lá, tường nhà và các phòng ngăn cách nhau cũng bằng nứa, khung tre; trống tuyền, trống toàng. Đêm 75 đông, đắp cái chăn chiên rét thấu xương, nhưng mọi người rất chăm học. Chúng tôi vừa củng cố nhà trường mới xây, chủ nhật đi kéo xe bò xây dựng “đường Thanh niên” (đường Cổ Ngư cũ). Tôi được cử làm Bí thư Chi bộ kiêm Chi trưởng Chi G (trường có 6 chi gồm hơn 300 học sinh). Trong 7 tháng chúng tôi học tập nghiệp vụ, đồng thời học xong chương trình lớp 6 bổ túc văn hóa. Trường có mời một số giáo viên Liên Xô và trường Nguyễn Ái Quốc sang giảng. Mỗi môn học đều kiểm tra rất kỹ. Các đồng chí giáo vụ cũng rất chăm lo hướng dẫn cho học viên. Tôi vừa học cho mình, vừa lãnh đạo anh em trong chi, trong tổ học tập nghiêm túc, nên mỗi đợt kiểm tra mọi học viên trong chi, trong tổ đều đạt điểm cao. Thi hết khóa tôi được là học sinh xuất sắc toàn diện, đỗ thủ khoa, được đồng chí Hoàng Quốc Thịnh thứ trưởng, trao giấy khen của Bộ Thương mại cho tôi và 2 đồng chí thứ nhì, thứ ba. Tôi trở lại Hải Phòng với số vốn kiến thức sơ đẳng thương mại, nhưng dù sao cũng là người có học. Vì tất cả các đồng chí làm công tác thương nghiệp khác chưa ai đi học nghề buôn bán cả. Đây là lớp đầu của Bộ Thương nghiệp, và trường 66 Hoàng Hoa Thám cũng là tiền thân của hai trường Đại học Thương nghiệp và Ngoại thương sau này. Cho nên tôi không còn là “lính mới” nữa.

Trong khi tôi đi học vắng, công ty bách hóa đã tách làm hai: công ty bách hóa bán buôn, công ty bách hóa bán lẻ. Tôi vẫn là Phó chủ nhiệm công ty bách hóa bán buôn, anh Nguyễn Hòai làm chủ nhiệm công ty. Sau hai tháng anh Hòai sang làm chủ nhiệm công ty ăn uống, phục vụ. Còn công ty bách hóa bán buôn chuyển thành công ty Bông vải sợi may mặc, do tôi làm chủ nhiệm, đồng chí Nguyễn Văn Tích và đồng chí Trương Giám làm phó chủ nhiệm.

Những mặt hàng kinh doanh bách hóa chuyển sang công ty bách hóa đảm nhiệm, những mặt hàng bông, vải, sợi của công ty bách hóa chuyển lại cho công ty tôi kinh doanh. Việc sát nhập các công ty lúc đó còn do Bộ Thương nghiệp quyết định, UBND thành phố tham gia, nhưng thường là nghe ý kiến của Bộ cả, cho nên lúc đó có câu ca dao (vận Kiều): Trong tay sẵn có đồng tiền
Tách ra rồi lại nhập liền như chơi...

Tôi xây dựng công ty Bông vải sợi may mặc trở thành đơn vị tiên tiến với khẩu hiệu đề ra: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. Bộ đã lấy làm khẩu hiệu chung cho toàn quốc.

Phong trào xây dựng Tổ lao động xã hội chủ nghĩa, cửa hàng may mặc Hồng Bàng kéo dài được 20 năm. Toàn là chị em nữ mậu dịch viên, với những tên tuổi nổi tiếng lúc đó như: Mai Thị Đảm, Trần Thị Phương... đã một thời được nhân dân và mậu dịch viên cả nước biết đến.

Tôi cũng là chiến sĩ thi đua nhiều năm liền. Khi còn ở Văn phòng Thành uỷ cũng là chiến sĩ thi đua, sang thương nghiệp cũng là chiến sĩ thi đua, nên năm 1960 được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng II cho công ty và cá nhân tôi được tặng Huân chương Lao động hạng III. Năm 1959 tôi được vinh dự Bác Hổ tặng bằng khen, là một trong những cán bộ được thương huân chương lao động sớm nhất của Thành phố Hải Phòng.

Năm 1959-1960 Công ty Bông vải sợi may mặc được Bộ Thương nghiệp và UBND Thành phố lấy làm đơn vị thí điểm cải tiến quản lý. Chúng tôi đã xây dựng một nếp làm việc mới cho toàn công ty. Kiểm kê, kiểm soát hàng hóa bán hàng, cập nhật hàng ngày, kho tàng ngăn nắp, các phiếu kho công khai để theo ô hàng, ai muốn kiểm tra có thể biết ngay. Do cung cách làm ăn khoa học như thế, chúng tôi đã đào tạo nên những chiến sĩ thi đua thủ kho toàn quốc Nguyễn Văn Nổi (khi về tiếp quản miền Nam, làm Giám đốc Công ty thương mại tỉnh An Giang), chiến sĩ bảo vệ Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Phát (người Việt gốc Hoa) v.v... đều rất tận tâm với công việc.

Năm 1959 do cải tiến quản lý hàng hóa nhập kho, đo đếm cẩn thận, nên cuối năm số dư tồn kho 800.000 tiền mới (800 triệu tiền cũ), Bộ cho là kinh doanh phục vụ tốt, nhưng tài sản thừa lớn như vậy là quản lý để hỗn loạn tài sản. Tôi trình bày thế nào Bộ và Thành phố cũng không nghe. Tôi đã nói: “Nếu chúng tôi tham ô hết số hàng hóa này, chắc sẽ được khen thưởng. Nhưng vì chúng tôi quá thật thà mới có số dư này. Lý do vì vải popeline sanford nhập từ Nhật Bản, mỗi tấm nhập chỉ tính 30m/tấm, nhưng khi đo thực tế là 33m đến 35m/tấm. Khi bán hàng, mậu dịch viên đo đúng, còn thừa lại nhập kho. Các hàng hóa khác nhập ngoại cũng tương tự như vậy, nên nó thừa ra. Tôi mời cán bộ kế toán tài vụ, kho vận của Bộ về xác minh, các đồng chí không nghe, bảo đợi năm sau kiểm kê sẽ kết luận. Năm 1959 đáng lẽ công ty và tôi đều được Huân chương nhưng bị dừng lại, riêng tôi được bằng khen của Bác Hồ.

Sang năm 1960 trước khi kiểm kê tôi mời Bộ, UBND và Sở Thương nghiệp đến chứng kiến, tôi trực tiếp chỉ đạo, kiểm kê hết 40 ngày. Kết thúc kiểm kê, hội đồng đánh giá là chính xác, và sự thừa ra đúng là do quản lý tốt, không để thất thóat, không để mậu dịch viên tham nhũng. Cho nên trong công ty tôi lúc đó, mặc dù chính sách lương bổng, khen thưởng giải quyết thích đáng, nhưng vẫn có tiếng kêu làm thương nghiệp chỉ có “tiền đền, không có tiền đồ”. Nhưng chỉ hơn 10 năm sau, tôi trở lại làm Giám đốc Sở Thương nghiệp, thì chẳng còn tiếng kêu đó nữa, mọi người đua chen xin vào thương nghiệp với bất cứ giá nào! Tôi nghĩ: quả là có nhiều vấn đề trong quản lý thương nghiệp rồi!

Khi làm Chủ nhiệm công ty tôi rất quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất cho công ty, mở rộng màng lưới bán lẻ, may đo, như cửa hàng 44 Hoàng Văn Thụ, Gi-long, Phúc Vĩnh Xương v.v. làm cho màng lưới ngày càng rộng, chiếm lĩnh thị trường bán buôn, thị trường bán lẻ, sắp xếp tư thương có nề nếp. Tôi còn trực tiếp đi khai thác các nguồn hàng, trao đổi với các nơi, nhất là thị xã Móng Cái- Hải Ninh lúc đó. Kế hoạch phân phối hàng hóa của các tổng công ty rất có hạn nên phải tìm nguồn hàng. Tôi cùng với cán bộ nghiệp vụ, nhất là với đồng chí San (hơn tuổi tôi, nhưng là cán bộ nghiệp vụ biết việc, chịu khó), lần nào đi Móng Cái mua hàng, đồng chí San cũng đi với tôi. Lúc đó giao thông khó khăn, chỉ có đường thủy. Tàu Hải Đông đóng bằng gỗ, do Trung Quốc đóng giúp, trọng tải khoảng 15 tấn, chạy từ Hải Phòng - Móng Cái phải mất khoảng hơn 12 giờ. Chúng tôi cứ tối đi, sáng đến Núi Ngọc, nếu nước to thì tàu chạy đến sông Can Long, không phải đi bộ hơn 10 km từ Núi Ngọc đến Móng Cái. Môi chuyến đi mua hàng là rất vất vả hàng tuần. Ra đến Móng Cái phải nhờ các đồng chí tỉnh Hải Ninh trao đổi với bên Trung Quốc giúp, hoặc các đồng chí mua vải của Trung Quốc về Việt Nam rồi bán cho Hải Phòng bằng chuyển khoản hoặc đổi hàng. Mỗi lần cũng mua được hàng trăm nghìn mét, chủ yếu là vải hoa và ka ki Trung Quốc. Mặc dù lúc đó ở Trung Quốc rất nghèo, sang thị trấn Đông Hưng (nay là Thành phố Đông Hưng) chỉ có lèo tèo vài rổ ốc, cá tôm tép lặt vặt. Có một cửa hàng ăn duy nhất, không có khách.

Các đồng chí Trung Quốc cho biết: nhân dân chỉ được phân phối 0,4 mét vải/người để vá quần áo. Thế mà bạn vẫn tiết kiệm vải bán cho ta! Có lần hai anh em đi tàu Hải Đông, đến cửa Vạn Hoa, sóng to gió lớn, tàu không thể nào vượt được sóng để sang vịnh Hạ Long, lái tàu quay ngược, quay xuôi mãi xuýt đắm mới qua được cửa Vạn Hoa, thật là hú vía.

Khi có hàng về, tôi phân phối cho các cửa hàng may đo, may thêu quần áo trẻ em. Bán miễn tem phiếu, hoặc miễn một nửa, cũng làm cho người mua lúc đó phấn khởi lắm rồi. Nhưng bán được ít ngày, Sở thương nghiệp có lệnh phải thu đủ tem phiếu, nếu không thu các tỉnh kéo về mua làm gì có quần áo trẻ em mà bán? Tôi nghĩ cũng đúng, vì nhiều nơi có tem phiếu cũng không mua được vải, được quần áo... Chế độ tem phiếu của mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, đã để lại trong tôi bao ấn tượng, ví như ngày mời Thứ trưởng Thường trực Bộ Nội thương Trần Văn Hiển về chứng kiến kho tem phiếu, được coi giá trị bằng tiền, đã mốc meo, hôi thối... mà chẳng ai quản lý, kiểm kê, kiểm soát. Ngoài thị trường thì “con phe” đầy rẫy, xếp hàng mua bán đủ mọi thứ tem phiếu... Nhờ vậy vụ đốt tem phiếu được coi như một cuộc cách mạng ghê gớm trong ngành thương nghiệp.

Sang công tác thương nghiệp được hơn 4 năm, tôi phụ trách cả 3 công ty: Bông vải sợi may mặc, bách hóa, bách hóa bán buôn. Công việc đã để lại trong tôi rất nhiều suy nghĩ về tổ chức này, tính chất phục vụ nhân dân của nó, với đầy đủ ý nghĩa của một Nhà nước CNXH. Tôi hết sức làm việc, xây dựng cơ sở vật chất tính toán, đồng thời đi học tiếp văn hóa, nghiệp vụ... để nâng cao kiến thức với mong muốn phục vụ tốt hơn và tìm được cách thay đổi phương thức làm ăn. Tạm biệt nghề buôn bán, sang nghề sản xuất công nghiệp.

Tôi đang say sưa công tác thương nghiệp thì 1962 tôi nhận được quyết định sang làm Phó Giám đốc Sở Công nghiệp, chuyên lo phụ trách khối Tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Giám đốc lúc đó là đốc Hồng Cẩn.

Mối quan hệ giữa Liên hiệp xã thủ công nghiệp với Sở công nghiệp vốn không được tốt đẹp lắm.

Anh em bên Liên hiệp xã thủ công nghiệp cho là Sở chèn ép, phụ thuộc Sở quá nhiều. Tôi là Phó Giám đốc Sở kiêm Phó Chủ nhiệm Liên hiệp xã thủ công nghiệp, còn chủ nhiệm là đốc Nguyễn Thị Minh Nhã, Bí thư Hội phụ nữ Hải Phòng, Uỷ viên Thường vụ Thành uỷ. Tôi phải làm việc với 2 thủ trưởng, Văn phòng sở riêng, Văn phòng Liên hiệp xã riêng, tôi vẫn ngồi làm việc tại số 3 Cù Chính Lan, trụ sở của Sở Công nghiệp. Còn Hồng Bàng trụ sở Liên hiệp xã thủ công nghiệp có Đồng chí Thịnh làm 78 Phó Chủ nhiệm Liên hiệp xã làm ở bên đó. Tôi phải có kế hoạch tốt để làm việc vì Đồng chí Hồng Cẩn muốn nhập hẳn Liên hiệp xã vào Sở công nghiệp, còn Liên hiệp xã thì chị Nhã và anh chị em không muốn. Tôi cố gắng thu xếp làm việc cho có hiệu quả. Sau hơn một năm công việc dần dần ổn định. Công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp Hải Phòng đều phát triển mạnh mẽ. Có lá cờ đầu Hợp tác xã Hồng Quang nổi tiếng lúc đó. Do vậy Thường vụ Thành uỷ thấy cần thành lập Sở Tiểu công nghiệp + Thủ công nghiệp riêng để chỉ đạo cho sát, xứng với tầm của một thành phố công nghiệp lớn ở miền Bắc.

Thành lập hai sở: Sở Công nghiệp, Sở Tiểu công nghiệp - và thủ công nghiệp. Năm 1964 Thành phố tách Sở Công nghiệp ra làm 2 sở: Sở Công nghiệp và Sở Tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp. Thực chất là Sở xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và sở Hợp tác xã sản xuất công nghiệp và thủ công. Lúc đó có những hợp tác xã như Hồng Quang, Sông Lô, Kim Sơn v.v... còn lớn hơn một số xí nghiệp quốc doanh.

Đồng chí Nguyễn Hữu Cẩn (Hồng Cẩn) làm Giám đốc Sở công nghiệp, tôi làm Giám đốc sở tiểu, thủ công nghiệp, kiêm Chủ nhiệm Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp.

Lúc đó Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh của thành phố có khoảng trên dưới 30 đơn vị (không kể quốc doanh Trung ương đóng tại Hải Phòng). Còn hợp tác xã Thủ công nghiệp thì có hàng trăm đơn vị, chưa kể tổ sản xuất và cá thể. Hai sở liên kết với nhau chặt chẽ. Tôi thường nói vui với đồng chí Hồng Cẩn là: “Hai sở thi đua nhau xem sở nào hơn...” Tuy nói vui, nhưng tôi thực sự cố làm cho ngành phát triển nhanh chóng. Tôi cùng các đồng chí trong sở và Liên hiệp xã tổ chức sắp xếp qui hoạch lại các hợp tác xã. Tất cả các hợp tác xã cơ khí nội thành tổ chức thành hơn 30 hợp tác xã có qui mô lớn từ 100 xã viên trở lên, tập trung vào một khu vực ở An Dương (Khu đường Thiên lôi, kéo đến Lán bè ngày nay). Các hợp tác xã sản xuất hàng bách hóa tiêu dùng, tập trung về khu miếu Hai xã...v.v. Trong khi đó, xí nghiệp quốc doanh địa phương vẫn còn ở rải rác trong các đường phố. Các hợp tác xã của tôi thì ở tập trung, những ngôi nhà mới lợp tôn, khung sắt vững chãi, mọc lên ở 2 khu trên, làm cho ngành thủ công nghiệp lúc đó mọi người đều nhìn thấy là đang vươn lên so với xí nghiệp quốc doanh địa phương.

Ngành thủ công nghiệp Hải Phòng được lấy làm thí điểm cải tiến quản lý. Liên hiệp xã thủ công nghiệp Trung ương coi thủ công nghiệp Hải Phòng như “con cưng” của mình. Các vấn đề nghiên cứu chính sách đối với công nghiệp, Ban công nghiệp Trung ương lúc đó đều xuống Hải Phòng nghiên cứu, hoặc có các hội nghị về chính sách đối với sản xuất công nghiệp, Hải Phòng thường được Trung ương giao chuẩn bị báo cáo thực tế và đề xuất chính sách.

Sự nghiệp phát triển tiểu công nghiệp - thủ công nghiệp Hải Phòng rất nhanh, đa ngành nghề. Nhiều mặt hàng mới được tổ chức sản xuất như: cúc bấm của hợp tác xã Quần Lực, khóa Thăng Long, giầy vải Hợp Lực, nồi nhôm Toàn Thắng và Quần Lực, đúc đồng chân vịt máy tàu của 19-5, vành xe đạp Hồng Quang và các phụ tùng xe đạp của Quyết Tiến, Quyết Thắng... được người tiêu dùng ưa thích, kể cả việc chế biến hạt nhân ngọc trai bán cho đảo Cô Tô để nuôi ngọc trai xuất khẩu v.v... Tôi đã chỉ đạo xây dựng 79 một mô hình “xí nghiệp hợp tác xã”, lấy một số thợ kỹ thuật đúc đồng của ngành quân giới, như bố con cụ Chiếu ở 40 ngõ Cấm, bố con ông Mỹ Long... về xây dựng một xí nghiệp hợp tác xã đúc đồng. Lúc đó cả phía bắc chưa đúc được chân vịt (Hê-lít) cho canô và tàu biển, phải nhập ngoại. Đồng chí Nguyên, cán bộ miền Nam tập kết, phụ trách việc nghiên cứu đúc thử chân vịt. Đêm đúc thử 5 chân vịt, đường kính dài 25 cm, tôi cùng anh chị em thợ đúc đồng thức suốt đêm để xem kết quả. Đúc xong, khi dỡ khuôn mẫu ra hỏng 4 cái, còn một cái tuy đủ hình thù nhưng rỗ nhiều, phải dùng que hàn đồng để hàn cho hết rỗ... Mọi người tỏ ra bi quan. Vì đúc không có máy đo độ lỏng của đồng, phải thử bằng “que cời”, độ xoắn của cổ chân vịt dùng dây rơm để đo... Tôi động viên anh em yên tâm, sau hai ngày nghỉ ngơi, rút kinh nghiệm, lại đúc tiếp. Lần này đúc 5 cái, chỉ hỏng 2, còn 3 cái rỗ cũng ít hơn. Như vậy coi là thắng lợi. Tôi cho đúc tiếp hàng loạt, vì lúc đó phương tiện giao thông đường thủy đang phát triển, nhất là loại chạy trên sông ven biển. Nhà nước thiếu ngoại tệ nhập chân vịt của Liên Xô, Ba Lan... nên mặt hàng chân vịt bán khá chạy. xí nghiệp hợp tác xã đúc đồng ngày càng nổi tiếng, không những đúc chân vịt loại nhỏ, mà nâng lên đúc loại 50 cm, rồi đến một mét. Đến nay đã đúc được chân vịt 2,2 mét cho tàu một vạn tấn... Trong quá trình trưởng thành của xí nghiệp đúc đồng 19-5, năm nay là hơn 40 tuổi, nhưng năm nào công nhân và lãnh đạo xí nghiệp cũng nhớ đến người sáng lập ra nó. Nay xí nghiệp đã trưởng thành, đúc tượng đồng đứng nữ tướng Lê Chân tại vườn hoa công viên thành phố cao lom, tượng ngồi Nguyễn Bỉnh Khiêm, là những tác phẩm đáng kể của xí nghiệp đúc đồng Hải Phòng. Một vài năm, tôi lại đến thăm xí nghiệp.

Có câu chuyện mang tính “duy tâm”, anh chị em công nhân kể cho tôi nghe: Có hai đồng chí Giám đốc đều chết trẻ, vì bệnh ung thư cả. Anh em cho rằng những năm trước ta không nhập nguyên liệu đồng để sản xuất, anh chị em mua đủ mọi loại đồng, như tượng phật, chuông chùa, đồ cúng tế bằng đồng... đem về đúc thành chân vịt... nên trời Phật phạt các Giám đốc. Từ ngày nhập đồng lanh-gô về đúc thì giám đốc mạnh khoẻ. Tôi bảo “Có khi các đồng chí làm vệ sinh không kỹ khi đúc”. Các đồng chí nói: “Công nhân trực tiếp đúc lại không việc gì!” Tôi nói: “Vấn đề tâm linh còn phải bàn tiếp, dài lắm, khoa học chưa chứng minh được, ta không nên phủ nhận mà cũng không nên công nhận. Đợi khoa học kết luận cho thận trọng...”.

Trong quá trình xây dựng ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp Hải Phòng, mỗi khi nghĩ đến, tôi lại càng căm thù đế quốc Mỹ, không khác gì căm thù thực dân Pháp, kẻ bắt mình tra tấn gần chết... Đó là, Giôn-xơn thả bom, đánh phá kinh tế miền Bắc. Chúng thả bom B52 và các loại bom vào khu vực An Dương, san bằng thành bình địa khu vực các hợp tác xã cơ khí thủ công nghiệp. Đồng chí Hiệu chủ nhiệm hợp tác xã cơ khí Kim Sơn hy sinh. Mặc dù các máy móc của hợp tác xã đã chuyển đi sơ tán ra vùng ngoại thành và huyện Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương, chỉ còn vỏ nhà máy mà thôi, nhưng đối với kinh tế hợp tác xã, thì đó cũng là tổn thất rất lớn. Tôi cứ nghĩ nếu không xảy ra chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, chắc chắn ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp Hải Phòng phải tiến nhanh vượt bậc 80 so với xí nghiệp công nghiệp quốc doanh địa phương. Các xã viên trong ngành cũng nói như vậy. Sau khi chiến tranh kết thúc, ngành hợp tác xã thủ công nghiệp Hải Phòng vẫn phát huy được truyền thống của mình, vẫn giữ vững được sự phát triển với tốc độ cao.

Tham gia Thành uỷ Hải Phòng

Tháng 2-1968, giữa lúc chiến tranh phá hoại bằng máy bay địch ác liệt, một kỳ đại hội rất đặc biệt họp trong hang núi Voi. Trời mưa suốt. Nhưng đại hội rất sôi nổi, nhất là những phiên họp bầu cử, làm việc đến 2 giờ sáng mới xong. Vì việc kiểm phiếu thủ công, lại tranh thủ họp để kết thúc hội nghị sớm, các đại biểu dự đại hội rất vất vả. Trong một bữa cơm chiều, đồng chí Quốc Hiệu, Giám đốc Sở thương nghiệp mời tôi đi ăn thịt bò thui do thị đội thị xã Kiến An mời, đúng là hơn 20 năm tôi mới lại được ăn bữa thịt bò thui rất ngon. Trời mưa tầm tã. Có lẽ anh em cũng không giữ được vệ sinh, hay là do tôi ăn nhiều, mới bị “Tào tháo” đuổi. Lo quá, phải uống nhanh mấy viên thuốc. May mà ổn định, nên vẫn tiếp tục về họp đại hội suôn sẻ. Thật bất ngờ, tôi được đại hội bầu vào ban chấp hành Thành phố.

Tạm biệt sở thủ công nghiệp và liên hiệp hợp tác xã, sang làm Trưởng ban Tài mậu Thành uỷ.

Sau đại hội, tôi được phân công làm trưởng ban Tài mậu, đồng chí Nguyễn Đỉnh Khôi cùng là thành uỷ viên, thay tôi làm Giám đốc Sở thủ công nghiệp. Lần này tôi trở lại công tác thương nghiệp, ngân hàng, giá cả, tài chính, nhưng chủ yếu là tổng kết, nghiên cứu, đề xuất chính sách với thành uỷ và Trung ương.

Sau khi tổng kết 10 năm công tác tài mậu ở Hải Phòng, có nhiều vấn đề thành công và tồn tại.

Tôi đặc biệt thấy nổi bật vấn đề lãng phí trí tuệ chất xám là lãng phí lớn nhất. Ban Tài mậu Trung ương lúc đó đồng chí Nguyễn Thanh Bình là trưởng ban, đồng chí Tô Duy là phó ban. Tháng 7-1968 đồng chí Tô Duy xuống làm việc với ban Tài mậu Hải Phòng, đồng chí nói: “Ban tài mậu sắp mở lớp bồi dưỡng cho các đồng chí phụ trách tài mậu tỉnh, thành phố, huyện thị. Mới sang làm tài mậu, nên anh Thành cần đi học vì chưa làm tài mậu bao giờ.” Tôi đồng ý đi học gần 2 tháng ở Hưng Yên. Lúc đó sơ tán, không học ở Hà Nội. Đến lớp học chỉ có mình tôi là cấp tỉnh thành, còn đều là cán bộ huyện cả. Hình như thành phố Hà Nội không có ai đi học. Khi xem chương trình tôi thấy thấp hơn khóa học cao trung thương mại của Bộ thương nghiệp. Nhưng tôi vẫn học nghiêm túc. Chương trình đã học rồi nên có thì giờ đọc sách, nghiên cứu, khảo sát, tối đốt đèn dầu đánh “tổ tôm” với Ban giáo vụ. Đồng chí Tô Duy cũng giảng mấy bài, đem giáo án ra đọc rồi phân tích. Trong các bài giảng khác, tôi chỉ tiếp thu được một ý của đồng chí Đoàn Trọng Truyến về “Phân công lao động mới trong CNXH”. Khi kết thúc lớp học, viết thu hoạch, tôi viết kỹ và sâu về các vấn đề ban giáo vụ nêu ra, tôi viết và phân tích cả những vấn đề nhà trường không đề cập tới. Viết xong chuyển lên ban giáo vụ. Mấy hôm sau đồng chí Tô Duy gặp tôi cười và nói: “Chắc anh đã học những vấn đề này rồi phải không?”

Tôi cười, không nói gì. Sang đầu năm 1969 tôi đi học lớp chính trị cao cấp khóa V, trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Các khóa trước học có 18 tháng, khóa V học hai năm. Khóa học lại vào thời gian Mỹ tập kích vào Sơn tây nhằm giải phóng “giặc lái Mỹ”, nhưng thất bại do ta mới di chuyển tù binh đi nơi khác. Trường lại bắt đầu đào giao thông hào chiến đấu, đêm phải cử học sinh trực đêm canh gác trên mái trường. Tôi trong Ban chi uỷ và Tổ trưởng học tập, tôi tự lập kế hoạch học lập lý luận, học văn hóa ngoại ngữ, tranh thủ đọc sách, 3 tháng mới về thăm nhà một lần. Khi còn ở địa phương công việc rất bận rộn, không có nhiều thì giờ nghiên cứu học tập. Nhất là thư viện trường Nguyễn Ái Quốc lúc đó sách nước ngoài rất nhiều, kể cả sách kinh tế của chủ nghĩa Tư bản như của: Recardo, Dam Smith, Keynes v.v... tôi ham đọc sách quên cả mọi việc, chủ nhật nào cũng ở lại trường mượn sách đọc, đọc đến vàng mắt, khi ra ngoài trời chỉ thấy màu vàng hàng mấy giờ liền. Ngoài học tập, nhà trường còn cho mỗi tổ 10 m2 đất để tăng gia cải thiện. Tổ tôi có hai đồng chí Đặng Việt và Nguyễn Văn Hân rất chăm chỉ lao động. Tuy có 10 m2 đất mà chúng tôi trồng hơn mười thứ rau, mùa nào thứ ấy, đủ rau ăn cho tổ, còn bán cho bếp nhà trường. Khi bế mạc, chúng tôi có đủ tiền để liên hoan mời cán bộ nhà trường đến dự, tiêu chuẩn mỗi người một con vịt. Còn thừa 75 đồng, chúng tôi gửi biếu tạp chí “Học tập” nay là tạp chí “Cộng sản”.

Nói về tăng gia, tôi phải nhắc đến đồng chí Đặng Việt, con ông Đặng Hướng, Tổng đốc Nghệ An. Cải cách ruộng đất qui gia đình đồng chí Việt là đại địa chủ, cường hào gian ác. Đồng chí Đặng Việt lúc ấy là Trung đoàn trưởng trung đoàn Cao Bắc Lạng, nổi tiếng một thời đánh Pháp trên đường số 4, đoạn Cao Bằng - Lạng Sơn được gọi “Vua đường 4”. Vì thành phần, đồng chí Đặng Việt phải chuyển ngành sang Tổng cục Thủy sản. Trong học tập đồng chí rất chăm chỉ, cùng học tiếng Anh với tôi, nhưng đồng chí rất giỏi tiếng Pháp nên cũng giúp tôi được nhiều. Ưu điểm nổi bật nhất là thành tích tăng gia trồng rau. Cứ tối đến, anh tranh thủ xách cái thùng lấy phân, sang khu chung cư của Ban Lịch sử Đảng phía bên kia đường, đối diện với trường Nguyễn Ái Quốc, lấy phân bắc về bón rau. Đồng chí chịu khó cả lao động lẫn học tập. Tôi với đồng chí Đặng Việt ngày nào cũng nấu canh rau đủ loại. Chúng tôi lấy cơm tập thể của trường, đem về phòng nấu thêm thức ăn. Nhất là năm thứ hai, các lớp khác bế mạc, nên học viên được ở nới rộng 2 người/phòng, thay vì 4 người/phòng. Có phòng chỉ có một người, nên cuộc sống tinh thần, vật chất của trường được cải thiện rõ rệt. (Nay đồng chí Đặng Việt đã hơn 80 tuổi, người rất khoẻ và đánh tenis rất giỏi, thỉnh thóang vẫn lại chơi với tôi và cho sách mới viết của đồng chí).

Hai năm học tập nghiên cứu ở Học viện, thực sự tôi có thì giờ nghiên cứu lý luận có hệ thống, về lý luận Marx-Lénine. Tư tưởng Hồ Chí Minh triết học trước Marx và các học thuyết kinh tế của các nhà kinh tế tư bản chủ nghĩa, tạo cái vốn lý luận để sau khi ra trường xử lý các vấn đề yên tâm hơn, không sợ sai như trước. Khi học, tôi rất chú ý so sánh cái cũ, cái mới, những cái Marx kế thừa, những cái Marx sáng tạo, để thấy rõ thiên tài của Marx là ở chỗ nào. Cả Lénine cũng vậy. Tôi phân tích và ghi chép những cái mới của các vị và suy ngẫm vận dụng vào thực tế Việt Nam, nên ít giáo điều hơn. Khi viết thu hoạch hoặc kiểm tra, các giáo viên thường thích những lập luận mới của tôi.

Khóa V coi như khóa có nhiều cải tiến trong học tập, thảo luận, đọc nhiều hơn giảng, thoải mái hơn, viết thu hoạch kiểm tra cũng thóang hơn trước, không cho điểm, viết đạt yêu cầu trung bình là xong. Sau hai năm học tập, thực sự tôi thấy mình trưởng thành, hiểu biết lý luận có hệ thống, so sánh được cái hay cái dở của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Vì tôi công tác hành động cụ thể nhiều ở địa phương, làm thiết thực, nên đối chiếu với lý luận nhìn vấn đề đúng sai rất rõ. Không còn “tù mờ” như trước. Ngoài học tập lý luận tôi học xong chương trình văn hóa lớp 7 và lớp 8. Anh, Pháp văn cũng được nâng lên. Hán tự tôi cũng đọc xong cuốn “Gia” (nhà) của nhà văn Mao Thuẫn (ta dịch sang tiếng Việt sau này là “Gia đình”), do đồng chí Lâm Bá Cương cùng tổ cho mượn. Khi còn nhỏ tôi học chữ nho, văn viết theo văn phạm cổ điển Trung Quốc, gọi là “Văn ngôn”, còn văn nói gọi là “Văn bạch thoại” hoặc gọi văn phạm “phổ thông”, nên nhiều đoạn hành văn tôi không hiểu, phải hỏi đồng chí Cương. Lúc nhỏ tôi đã đọc hết các chuyện “Tam quốc”, “Đông chu Liệt quốc”, “Tây Hán chí”, “Phong Thần” “Thủy hử” 108 anh hùng Lương Xuân Bạc, văn họ viết theo ngữ pháp văn ngôn, tuy thế lúc đầu cũng phải có người hướng dẫn... nhưng dễ đọc. Tôi không nói tiếng Trung Quốc được nhiều, nhưng đọc thì tốt, nên sau này tôi vẫn mua Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh để đọc.

Kết thúc lớp học dài hạn chính trị cao cấp, tôi về Hải Phòng, lúc này đang chuẩn bị Đại hội Đảng bộ lần thứ III (Đại hội Đảng tỉnh, thành phố 2 năm hoặc 2 năm rưỡi họp một lần, không phải 5 năm một lần như bây giờ)

Đại hội lần này diễn ra không suôn sẻ lắm!

Đại hội dự kiến bầu 35 uỷ viên Ban Chấp hành, Đại hội chỉ bầu được 22 đồng chí. Nhiều đồng chí Thành uỷ viên cũ không trúng cử (trong số hơn 10 đồng chí trong Thành uỷ cũ không trúng cử, có 4 đồng chí uỷ viên thường vụ, một Phó Bí thư Thường trực). Tôi vẫn được bầu vào Thành uỷ và được phân làm Trưởng ban công nghiệp kiêm Trưởng ban Khoa học kỹ thuật. Số Thành uỷ viên bầu được ít nên các đồng chí thành uỷ phải kiêm nhiệm nhiều công việc, rất bận rộn.

Khi chiến tranh phá hoại miền Bắc mở rộng, tôi được phân công sơ tán triệt để các xí nghiệp và nhân dân thành phố ra ngoại thành, trừ xí nghiệp xi măng không thể chuyển ra ngoại thành được, ta phải bám trụ để sản xuất tiếp.

Đồng thời xây dựng một xí nghiệp xi măng sản xuất theo kiểu nửa thủ công, nửa cơ giới ở Minh Đức (sau này thường gọi là xi măng Minh Đức). Công việc chuẩn bị sơ tán lần này rất khẩn trương và triệt để. Tôi phải huy động hầu hết cán bộ Ban công nghiệp và Ban Khoa học kỹ thuật làm công tác sơ tán, phối hợp với các đồng chí Phó Chủ tịch khối bên Uỷ ban nhân dân Thành phố như đồng chí Hồng Cẩn, đồng chí Kim Tái. Công việc sơ tán nhân dân và xí nghiệp cơ bản xong.

Đêm 16-4-1972 Mỹ đem máy bay vào đánh phá Hải Phòng. Ta biết trước địch sẽ dùng B52 ném bom khoảng 10 tiếng. Ta huy động mọi lực lượng để vận động nhân dân sơ tán. Nhưng nhiều người còn do dự, vì những năm trước địch chỉ đánh bom bằng máy bay thường, đánh rồi lại nghỉ, nên nhân dân coi thường... không chịu đi sơ tán triệt để, nhất là lần này đi sơ tán gặp rất nhiều khó khăn về đời sống. Khu công nhân xi măng thì phải bám trụ để sản xuất.

Tối hôm đó khu phố đã huy động tổng lực cán bộ đi vận động nhân dân sơ tán trước 10 giờ đêm, nhưng vẫn còn người ở lại.

Đúng 12 giờ đêm 16-4-1972 Mỹ cho hàng loạt máy bay B52 thả bom rải thảm khu thượng Hạ Lý, An Dương. Chúng tập trung vào khu Thượng Lý, có nhà máy xi măng và kho Thượng Lý, Sở Dầu... Nhà máy xi măng coi như thiệt hại lớn nhất, chỉ còn 3 ống khói (nhưng chỉ sau 3 ngày, khói trắng xi măng lại nhả khói lên bầu trời cao). Nhà cửa của nhân dân bị san bằng, bom Mỹ đã giết hại dân thường, hầu hết bà già trẻ em chui trong hầm kèo tre, không kiên cố. Riêng khu Thượng Hạ Lý có 960 người bị chết, còn khu An Dương sơ tán triệt để hơn, mật độ bom rải mỏng hơn, nên thiệt hại về người không lớn.

Trận ném bom ác liệt này làm cho đoạn đường số 5 từ cầu xi măng đến ga Thượng Lý hỏng nặng. Đường bị phá, đất lật lên ngập đường, có những đống đất cao hàng mét. Khi đến để giải quyết hậu quả, xe tôi phải bỏ lại sau, đi bộ. Lúc đó còn chưa sáng rõ, tôi thấy một đồng chí bộ đội lò mò đi về hướng tôi. Đến gần mới biết là tướng Đặng Kinh, Tư lệnh quân khu III vừa ở trong nhà máy xi măng đổ nát ra. Chúng tôi gặp nhau, trao đổi một vài việc cần làm ngay, rồi chia tay nhau, để đi vào công việc của mỗi người.

Thời gian từ tháng 4-1972 đến ngày ký Hiệp định Paris tháng 1-1973 là những tháng ngày chống chiến tranh phá hoại ác liệt nhất của Hải Phòng. Sau trận ném bom B52 rải thảm đầu tiên, địch thả thủy lôi phong tỏa Cảng. Đêm ngày chúng cho các loại máy bay vào ném bom, bắn phá. Chúng đánh không theo một qui luật nào, nên việc sơ tán nhân dân nội thành lúc này hết sức khẩn trương và triệt để. Có những đêm tôi kiểm kê nhân dân ở nội thành, chỉ còn 7.000 người, đều là những người có trách nhiệm phải ở lại.

Cơ quan tôi không ở số 7 Đinh Tiên Hoàng mà phải sơ tán xuống số 44 Lạch Tray, là trụ sở của Ban Khoa học kỹ thuật, xa Cảng và nhà máy xi măng hơn. Lúc này các con tôi đều đi sơ tán, nhà tôi là Bí thư Đảng uỷ kiêm Phó Giám đốc Công ty Kho vận nội thương, hàng ngày vẫn phải nhận hàng, bảo quản kho hàng hóa ở rải rác khắp nội thành. Chúng tôi cùng ở 44 Lạch Tray, phải đào hai hố tránh bom cách nhau khoảng 50m ở ngay trong cơ quan, đề phòng rủi ro, còn có người trông nom 4 con nhỏ. Có lần chúng tôi chuẩn bị bữa cơm chiều, mua được con vịt chưa cắt tiết, để ở giữa sân, thì máy bay đến thả bom ngay nhà bên, mảnh bom văng cắt đứt đầu con vịt. Cũng may chúng tôi đã xuống hầm, mọi người không việc gì! Khi “máy bay địch đã bay xa, mọi việc trở lại bình thường” tiếng loa của Đài phát thanh thành phố vừa phát, chúng tôi chui ra khỏi hố cá nhân, thì thấy con vịt mất đầu, lăn ra chết ở giữa sân Ban Khoa học kỹ thuật. Sự sống chết lúc này, cảm thấy nó nhẹ nhàng quá! Chẳng ai quan tâm đến con vịt, mà mọi nhà xoay quanh vào bữa cơm chiều cho nhanh, đề phòng máy bay địch trở lại đánh ban đêm...

Giặc Mỹ muốn biến Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Hải Phòng là cửa ngõ của miền Bắc ra biển, Hạm đội 7 của Mỹ luôn luôn túc trực ở đây. Các loại máy bay đi đánh phá miền Bắc, khi về qua Hải Phòng, còn quả bom, viên đạn nào chúng đều trút xuống, “góp phần đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá” vừa nhẹ máy bay, đỡ nguy hiểm khi hạ cảnh xuống “Hàng không mẫu hạm” đỗ ngay trên vịnh

Những ngày này cho đến kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, ký hiệp định Paris, không đêm nào tôi vắng mặt ở Hải Phòng. Có những đêm tôi đi kiểm tra việc sơ tán của nhân dân ở các khu phố, ra đến Bến Bính thì còi báo động vang lên, đèn thành phố tắt hết. Có đồng chí cùng ngồi trên xe với tôi, bảo tôi chạy vào số 3 Cù Chính Lan, trụ sở của Sở Công nghiệp, xưa là nhà Bank của Pháp, xây dựng kiên cố, chui xuống tầng hầm là yên tâm. Tôi bảo đồng chí lái xe, tắt đèn chạy về số 44 Lạch Tray. Tôi nói đùa với các đồng chí: “cứ về đất Thánh...”.

Đến 44 Lạch Tray chúng tôi vừa chui xuống hầm thì bom nổ khắp nơi trong thành phố. Sau khi máy bay địch đã bay xa, tôi được thông tin địch ném bom đúng vào số 3 Cù Chính Lan, sụp hẳn một gian nhà 2 tầng, mọi người “hú vía”. Từ đó anh em bảo tôi là tạng người “sống dai”, đã chết hụt khi bị tra tấn, vút nhà xác Côn Đảo cũng không chết... Trong chiến tranh, trước cái sống cái chết quá dễ dàng, “tâm linh” mờ ảo, chẳng có cơ sở khoa học gì, đôi khi chỉ dựa vào những suy đoán vớ vẩn cũng làm cho người ta yên tâm hơn... Đồng chí Tấn thường nói với mọi người: “Cứ đi với ông Thành là yên tâm, không chết đâu mà lo...”. Lòng tin không có căn cứ khoa học ấy đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh, gọn.

Như khi đồng chí Bí thư Thành uỷ Trần Kiên giao nhiệm vụ cho tôi làm Trưởng đoàn ra Cát Bà kiểm tra đôn đốc phân tán kho tàng ở thị trấn Cát Bà, di dân vào trong núi, đề phòng địch tập kích bất ngờ bằng không quân... Những người ra đi cùng tôi không hề ngại ngần. Lúc này cảng Hải Phòng bị giặc Mỹ phong tỏa bằng các loại thủy lôi, loại hẹn giờ, loại do chấn động sẽ nổ. Chúng làm cho tàu của thế giới không dám vào Cảng. Hôm trước ta khai thông được luồng nào, hôm sau chúng lại rải thủy lôi tiếp. Ta dùng mọi kỹ thuật để phá thủy lôi, nên cũng hạn chế được ít nhiều tác hại của chúng.

Các cửa sông ra vào cảng như cửa Nam Triệu, Lạch Huyện, chúng rải thủy lôi rất dày. Ta phải đặt nhiều chòi canh ven các cửa sông, nhất là từ Phao số 0 trở vào. Các chòi canh phải đếm từng quả thủy lôi địch rải xuống, đánh dấu toạ độ vị trí có thủy lôi để thông báo cho các tàu qua lại. Do đó không một tàu nào bị nạn thủy lôi cả. Một vài tàu đánh cá nhỏ chủ quan, cho là chấn động của máy nhẹ, thủy lôi không nổ, nên có một vài trường hợp đụng phải thủy lôi nổ, nhưng thiệt hại không lớn. Đoàn tôi gồm 14 cán bộ, do tôi làm Trưởng đoàn, đồng chí Vũ Minh Chính, Phó Ban Tuyên huấn, đồng chí Nguyễn Đình Nhiên, Phó Ban Tổ chức làm Phó trưởng đoàn. Đoàn ra Cát Bà phải đi làm 2 chặng đường: đoạn 1 bằng thuyền buồm, và chèo rất nhẹ nhàng, vượt qua sông Bạch Đằng sang đảo Cát Hải, rồi đi bộ qua đảo Cát Hải. Đến xã Lương Năng, tàu hải quân hóa trang đưa chúng tôi qua bến Gót, đi ra thị trấn Cát Bà, hết 2 tiếng đồng hồ, theo ven núi ít có thủy lôi. Nguy hiểm nhất là qua bến Gót. Thủy lôi giặc thả rất dày, tàu vượt qua bãi thủy lôi, mọi người im phăng phắc. Đồng chí nào cũng được hải quân cho mượn một phao buộc ngang ngực. Các đồng chí hướng dẫn ngồi lên mui tàu, nếu thủy lôi nổ nó tung người lên, các đồng chí sẽ vớt. Trong lúc mọi người lo lắng, đồng chí Tấn là cán bộ Ban Công nghiệp thường đi công tác với tôi, người Bình Định, lại nói vui: “Đi với ông Thành thủy lôi nó không nổ đâu!.” Mọi người phá lên cười, quên cả sự nguy hiểm.

Ai ở lâu Hải Phòng thời trước, mới thấy hết khó khăn của đường ra đảo Cát Bà, Cát Hải như thế nào. Mỗi tuần chỉ có 3 chuyến ca nô chở khách, còn lại là đi nhờ thuyền đánh cá, đi “đâm độ” từ bến Bính, hoặc cửa Cấm ra Cát Hải, rồi lại thuê thuyền đánh cá ra Cát Bà, không có lối đi bộ... Mới thấm thía vì sao con đường xuyên đảo ngày nay được nhân dân đón nó như sự “đổi đời” của mình.

Đoàn tôi ra đảo công tác hơn ba tuần, mọi người rất hăng hái làm việc. Ở thị trấn rồi về các xã Trần Châu, Gia Luận, Xuân Đám, Việt Hải... toàn đi bộ leo núi. Giữa Đảo cá, mà ngày nào cũng chỉ có rau cải, rau muống luộc chấm nước mắm và ít cá khô. Mãi đến hôm Đoàn ra về, đồng chí Lê Nam, Bí thư Huyện uỷ mới bắt con gà mái của nhà nuôi, làm thịt chiêu đãi đoàn. Trong hơn 3 tuần làm việc ở thị trấn Cát Bà, việc đầu tiên là chuyển nhanh 300 tấn gạo dự trữ và chuyển hết dân vào hang sâu, giáp với vườn Quốc gia. Chúng tôi cùng huyện uỷ, UBND huyện Cát Hải, tổ chức các cuộc nói chuyện về âm mưu địch, việc chúng đánh bom thị trấn Cát Bà chỉ còn là ngày một, ngày hai. Nhân dân cần đi sơ tán triệt để. Sau một tuần toàn cơ quan Huyện uỷ, Uỷ ban, lui vào sâu trong xã, làm việc trong các hang núi an toàn. Sau đó chúng tôi đi xuống các xã thuộc đảo Cát Bà để tuyên truyền chiến thắng ở miền Nam và chiến thắng ở miền Bắc, chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Cát Bà xa thành phố theo đường “chim bay” khoảng 45 km, cách Đồ Sơn 30 km, đi phải hết 4 giờ bằng đường thủy, trong thời bình, còn trong chiến tranh đi lại rất vất vả không biết đâu mà tính. Việc đi bộ leo trên vách núi từ thị trấn Cát Bà, qua đèo Khế vào các xã Trân Châu, Xuân Đám nếu người yếu tim cũng có thể rơi xuống biển. Đoàn chúng tôi lặn lội về hết các xã, xã xa nhất là Việt Hải, vừa đi vừa có dân quân đi trước chặt cây, dọn lối cho đoàn đi, phải hết 4 giờ mới đến được xã. Nếu sang xóm Trà Báu phải mất thêm 1 giờ leo núi nữa. Mọi công việc được giao, chúng tôi đã hoàn thành trong hơn 3 tuần. Hôm ra về, chúng tôi đi bộ đến xã Hiền Hào rồi sẽ có thuyền của thành phố ra đón ở bến Hiền Hào.

Đoàn chúng tôi chào tạm biết đồng chí Lê Nam và các đồng chí Huyện uỷ, Uỷ ban huyện Cát Hải.

Đồng chí Lê Nam nói đã điện về Thành uỷ, khoảng 4-5 giờ sáng sẽ có thuyền đón Đoàn ở bến Hiền Hào. Tôi hỏi đồng chí Nam điện bằng điện thoại hay mật mã? Đồng chí Nam nói đánh điện thường (claire). Tôi nói ngay “Thế thì nguy hiểm quá, địch sẽ phục kích chúng ta”. Chúng tôi quyết định cách đi, không đến Hiền Hào nữa, mà ở xóm trong gần lâm trường Cát Bà, leo qua núi sang xí nghiệp muối Phù Long, nhờ thuyền buồm của xí nghiệp chở đoàn về bến Máy Chai, ô tô của Thành uỷ sẽ ra đón. Ngay đêm đó, chúng tôi báo cho xã Hiền Hào biết và đề 86 phòng địch oanh kích sáng sớm, chuẩn bị dân sơ tán, không đốt lửa sớm, không đi làm ra phía bến Hiền Hào. Các thuyền đánh cá phải sơ tán hết, không cho bất cứ thuyền nào tập trung ở bến Hiền Hào... Đúng như dự đoán, sáng sớm hôm sau chúng tôi chuẩn bị ra hầm thì máy bay Mỹ đã đến bến Hiền Hào. Chúng bay đi bay lại, rà sát mặt biển, nhưng mọi vật đều yên lặng, chúng tìm kiếm nhiều lần rồi “cút”. Sau khoảng 1 giờ, chúng tiếc rẻ, bay trở lại. Lúc đó chúng tôi đã ra đến chân núi, vượt núi sang Phù Long, xí nghiệp muối. Mọi người cũng “hú vỉa” vì một sơ suất nhỏ! Lúc đó trời đã sáng, chúng tôi nhìn rõ 2 máy bay Mỹ lượn vài vòng rồi sau mới bay đi.

Đường vượt qua núi rừng sang xí nghiệp muối lần này hoàn toàn mới, không giống như sang Việt Hải. Đi Việt Hải tuy phải phá cây cối, nhưng đã có lối mòn, thỉnh thỏang có người qua lại. Còn đường này phải sử dụng một tiểu đội dân quân của xã Hiền Hào và tự vệ lâm trường đi mở đường, mang theo cả dây leo, thậm chí còn phải làm cả thang tạm để bắc đi qua khe. Chúng tôi đem cơm nắm đi theo, ăn dọc đường, mãi đến 2 giờ chiều mới sang đến xí nghiệp muối, gặp đồng chí Kích, Giám đốc xí nghiệp, tổ chức cho bữa cơm toàn “cá và muối”. Không có cá to, chỉ có cá lụn vụn khô, nấu “canh chua” và rán. Chúng tôi bày cơm nắm còn lại, và cơm nóng xí nghiệp chiêu đãi đoàn, ăn rất ngon lành. Mọi người nghỉ ngay tại các hang núi Phù Long để chờ tôi đến. Giám đốc Kích trực tiếp lái thuyền buồm của xí nghiệp đưa đoàn về cảng Máy Chai Hải Phòng.

Đi thuyền cũng phải lướt qua bến Gót, bên bãi thủy lôi, nhưng bớt nguy hiểm hơn tàu chiến của thủy quân, vì không có động cơ, chạy bằng buồm và lái bằng gỗ. Lúc đó chưa có kênh Cái Tráp, phải qua sông “Ruột lợn”, sông Chanh của Quảng Ninh, qua cửa sông Bạch Đằng, qua kênh Vũ Yên mới về sông Cấm. Đường đi rất dài, chưa đi tắt kênh Cái Tráp mới đào 1982-1983 như ngày nay được.

Thuyền vừa lướt qua bãi thủy lôi, cửa sông Lạch Huyện (bến Gót) thì gặp sự cố rất nguy hiểm. Nước triều đang xuống mạnh, trời tối, chỉ có ánh trăng lờ mờ, nhìn không rõ, thuyền đâm thẳng vào hàng cọc cắm đăng cá trên sông, với hướng gió buồm đang căng. Đồng chí Kích hỏi đồng chí quan sát: “Có cái gì đen...đen phía trước...”. Đồng chí quan sát vội nói to: “Đâm vào đăng rồi”. Tôi ngồi bên đồng chí Kích, thấy đồng chí không nói gì, dùng hết sức vừa lái, vừa buông dây buồm cho thuyền quay ngoắt 180 độ. Con thuyền nghiêng ngả 2, 3 lần như sắp lật úp xuống nước. Nhưng với tay lái vững của đồng chí Kích, thuyền trở lại bình thường, hướng về thành phố. Đến Máy Chai cho Đoàn lên bờ đồng chí Kích lái tàu về ngay, vì nếu chậm đến sáng, máy bay địch đánh Hải Phòng sẽ không có chỗ ẩn nấp. Khi bắt tay tôi, đồng chí nói: “Lúc đó em không nói gì, nhưng rất lo. Nếu nước đang chảy xiết, thuyền chạy đâm vào cọc và đăng chỉ còn nước thuyền lật úp xuống nước. Lúc đó ai biết bơi bám vào cọc xăm, có người vớt ngay thì sống. Nhưng ban đêm, chưa biết có thóat được ai! Em rất bình tĩnh, cắn răng bẻ lái, chùng dây buồm cho thuyền quay 180 độ mà không để lật thuyền. Thế mới khó. Em là dân Thủy Nguyên, quen sông nước, bình tĩnh mới xử lý được tình huống hôm nay”. Tôi cảm ơn đồng chí Kích.

Về đến trụ sở Đảng, tôi mới nói lại với các đồng chí trong Đoàn, mọi người lại “hú vía” lần nữa.

Tôi gọi điện đến nơi sơ tán của đồng chí Bí thư Thành uỷ Trần Kiên xin đến báo cáo. Đồng chí Kiên bảo tôi: “Khuya rồi, về nhà nghỉ, sáng mai đến báo cáo sớm”.

Đoàn chúng tôi về Hải Phòng, sau 3 ngày thì máy bay Mỹ đánh phá thị trấn Cát Bà, cuộc đánh phá mang tính chất hủy diệt. Liền trong một tuần, suốt từ sáng đến chiều, chúng cho từng đoàn máy bay đánh phá liên tục, từ biển vào đánh Cát Bà, qua Long Châu, rồi Bạch Long Vĩ. Chúng tàn sát tất cả cái gì nổi trên mặt đất của thị trấn Cát Bà. Chỉ sau một tuần Cát Bà biến thành bình địa. Sau hòa bình trở lại, ta mới xây dựng cơ quan huyện vào phía trong, là cơ quan đầu não của huyện Cát Hải. Còn thị trấn, mặt bằng do bom Mỹ tạo nên trở thành mặt bằng xây dựng khu du lịch và Cảng hiện nay, chạy chung quanh vịnh Cát Bà, nơi còn có cái tên quen thuộc của nhân dân địa phương là “Tùng Dinh, Tùng Vụng”.

Thương tiếc thay, đồng chí Kích, một con người đẹp trai, tháo vát, có tài như thế lại gặp một thảm nạn hết sức vô lý, ở hiền mà không gặp lành. Hôm đó có cơn lốc và một đám mây tích điện lớn đã gây ra tiếng sét kinh hoàng. Sét đánh trúng xí nghiệp muối, là nguyên nhân cái chết rất thương tâm của Kích. Chao ôi, trong tích tắc Xí nghiệp muối Phù Long mất đi người Giám đốc trẻ đang sung sức mà anh chị em công nhân hết sức mến yêu. Đã bao năm qua anh lãnh đạo hơn 300 nhân viên, hầu hết phụ nữ chưa chồng, ở một nơi xa thành phố, xa thị trấn Cát Bà anh dành hết thời gian nhiệt huyết vào việc quản lý kinh doanh, quản lý tổ chức nhân sự để mọi người yên tâm sản xuất, chiến đấu giỏi, góp phần bắn rơi máy bay và bắt sống giặc lái trên biển. Riêng tôi càng tiếc một cán bộ dưới quyền năng động, có nhiều triển vọng như anh.

Từ chuyến đi dài ngày ra công tác ở Cát Bà - Cát Hải, qua thực tế cuộc sống của nhân dân, tôi biết ước mơ của mọi người trên đảo là có một con đường bộ nối với thành phố. Tôi hình thành một ý tưởng là khi có điều kiện sẽ xây dựng một con đường “xuyên đảo”. Ước mơ, ý tưởng ấy cứ dằn vặt trong tôi từ lần đi công tác dài ngày đầy gian nan và khó khăn này. Các đồng chí trong Đoàn hiện nay hầu hết còn đủ mặt, trừ đồng chí Nguyễn Đình Nhiên mới qua đời năm 2003.

Hôm sau tôi đến báo cáo với đồng chí Trần Kiên, Bí thư Thành uỷ, đồng chí khen Đoàn chúng tôi đã làm tốt nhiệm vụ, sáng tạo, nên đã trở về thành phố an toàn. Sau được mấy ngày, giặc Mỹ đánh phá hủy diệt Cát Bà, toàn bộ cán bộ công nhân viên của huyện Đảo và nhân dân thị trấn không có ai thương vong. Ngay tối hôm đó, sau khi được báo cáo của Huyện uỷ Cát Hải, đồng chí Trần Kiên gọi điện cho tôi, tỏ vẻ rất mừng và nói: “Đồng chí thấy không? Nếu tôi không cử Đoàn ra Cát Bà chuẩn bị sơ tán thì thiệt hại biết bao nhiêu”. Tôi động viên đồng chí Bí thư: “Anh rất sáng suốt...”.

Tôi về tiếp tục công việc cũ là phụ trách việc sơ tán và chuẩn bị kế hoạch xây dựng lại thành phố khi hòa bình trở lại. Nhưng việc chính trước mắt vẫn là chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Trong những tháng cuối năm, Hội nghị Paris đang đi vào thời kỳ cao trào. Địch càng đánh phá quyết liệt miền Bắc. Hàng ngày từng đàn máy bay vào đánh phá các khu kinh tế, quân sự Hải Phòng, đánh cả vào khu dân cư Cầu Đất, Thượng, Hạ Lý, An Dương, Máy Chai... dù sơ tán đã rất triệt để, số người trong thành phố vẫn còn trên dưới một vạn người có trách nhiệm và lực lượng võ trang, nên ngày nào ít nhiều cũng có người thương vong! Do đó, công việc phòng không nhân dân suốt 24/24 giờ rất căng thẳng. Có khi vừa cất tiếng còi báo yên, tiếng loa phát thanh vừa thông báo: “Máy bay địch đã đi xa, mọi hoạt động trở lại bình thường” thì tiếng còi báo động đã cất lên. Tiếng loa phát thanh lại gấp gáp: “Đồng báo chú ý! đồng bào chú ý! Máy bay địch đang ở phía đông, cách thành phố 30 km... mọi người về nơi trú ẩn an toàn!.” Ngày nào cũng lặp đi lặp lại như vậy. Những người còn ở lại thành phố vì trách nhiệm cũng quen dần, coi rất bình thường cái chuyện báo an, báo động. Nhưng cũng có việc rất mệt, nhức đầu, không phải chiến tranh phá hoại của Mỹ, mà do mất đoàn kết nội bộ. Tôi phụ trách khối công nghiệp, được phân công chỉ đạo hội nghị kiểm điểm nội bộ của Công ty Gỗ Hải Phòng do đồng chí Hiệp làm giám đốc. Nơi đây nội bộ mất đoàn kết kéo dài giữa các đồng chí trong Đảng uỷ và Ban Giám đốc. Cuộc họp kiểm điểm một tuần tại Xí nghiệp gỗ Hiệp Hưng, khu Hạ Lý. Hầm tránh máy bay ở đây khá tốt. Đang kiểm điểm phê bình, tự phê bình, lại có báo động. Cuộc họp đút quãng, tất cả xuống hầm... hết báo động lại họp tiếp. Tôi không phải người trong cuộc mà là người chủ trì cho các đồng chí kiểm điểm, thế mà người tôi lúc nào cũng như bị sốt, nhức đầu, trán hâm hâm nóng, mồ hôi âm ỉ chảy ra!. Sau khi kết thúc kiểm điểm, tôi tâm sự với một vài đồng chí: “chiến tranh phá hoại của Mỹ cũng không nguy hiểm phức tạp bằng “chiến tranh nội bộ”, thiệt hại đủ mọi thứ, nhất là mặt tinh thần, sức khoẻ”. Tôi bị mệt mất mấy tuần, nhưng mệt hơn cả là nghĩ lại những lời nói của các đồng chí đối với nhau, thật khó có lời văn “tả chân” nào nói hết được!

Cuộc phong tỏa Cảng Hải Phòng bằng thủy lôi của Mỹ cũng không đem lại kết quả theo mong muốn của chúng. Hàng ngày vẫn có tàu Liên Xô và các nước XHCN ra vào cảng. Việc phá thủy lôi, khai thông luồng lạch cho tàu vào cảng vẫn làm thường xuyên. Địch thả, ta lại phá bằng mọi phương tiện... Đến khi kết thúc chiến tranh, theo Hiệp định Paris, phía Mỹ phải có trách nhiệm phá hết thủy lôi mà họ thả xuống biển nhằm phong tỏa cảng Hải Phòng, và họ phải luyên bố trước thế giới là đã phá hết thủy lôi. Thực tế thì ta đã phá hết thủy lôi thả theo lòng lạch tàu ra vào. Khi chúng đem phương tiện của Mỹ đến phá, chỉ còn lại những quả thủy lôi thả chệch ra khu vực không có lòng lạch tàu ra vào mà thôi!

Trước diễn biến ở chiến trường miền Nam, trước khi Hiệp định