Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Hồi Ký Đoàn Duy Thành
Làm Người Là Khó - Làm người XHCN khó hơn
Chương 6
Thời kỳ đổi mới ở Hải Phòng
Sau 29 năm, từ tháng 6-1950, tôi sang làm Bí thư quận
uỷ Ngô Quyền.
Hai mươi chín năm, hơn một phần tư thế kỷ đối với một đời người là dài. Trải
biết bao thăng trầm, tôi luôn rèn luyện đạo đức, đặc biệt là học tập, làm
thế nào để khi mình làm cán bộ lãnh đạo, cấp dưới không phải phàn nàn: “làm
đầy tớ thằng khôn, hơn làm thầy thằng dại”. Làm đầy tớ thằng dại, thì còn
khổ biết bao nhiêu!
Tháng 8-1979 tôi được bầu làm Chủ tịch UBND Thành phố. Lúc này tôi đã học
xong đại học quản lý kinh tế, học xong bằng C tiếng Anh, và học thêm 2 năm
chương trình đại học Anh văn. Về lý luận chính trị, kinh tế tôi đã học tập
nghiên cứu và đọc kỹ các tác phẩm kinh điển của các bậc hiền triết thời
phong kiến, thời tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các học thuyết về Chủ nghĩa
cộng sản, Chủ nghĩa xã hội và cả học thuyết của các nhà triết học trước
Mark... cộng thêm những vốn liếng có được qua 35 năm tham gia cách mạng. Tôi
đinh ninh trong dạ khi có điều kiện sẽ thực hiện những kiến thức đã học và
kinh nghiệm đã trải qua.
Hoàn cảnh kinh tế, chính trị nước ta nói chung và Hải Phòng nói riêng lúc đó
gặp nhiều khó khăn. Về chính trị, cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung và
Tây Nam Nam Bộ đang lên đỉnh điểm. Kinh tế bước vào thời kỳ khủng hoảng,
viện trợ từ bên ngoài cắt giảm nhiều, trật tự xã hội trong thành phố hết sức
rối ren. Trong thời bình mà riêng phường Vạn Mỹ (Cầu Tre) có 53 lối đi trong
phường, phải rào bớt 36 lối còn lại 17 lối để dễ kiểm tra người qua lại. Ban
đêm ở thành phố cũng như ngoại thành phải dùng 3 công cụ, lúc đó gọi là: cái
gậy an ninh, cái đèn an ninh, cái kẻng an ninh. Người đi đêm là người ngay
thẳng phải mang 1 trong 3 công cụ trên để phòng thân, gặp công an, bảo vệ đi
tuần tra sẽ cho đi ngay, chẳng khác gì thời loạn lạc.
Cảng Hải Phòng phải quân sự hóa, tất cả bộ đội vào làm bốc vác. Đại tá Võ An
Đông, Tư lệnh F350, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Hải Phòng được cử làm Giám đốc
cảng. Còn thành phố, một số cán bộ cao cấp ở Trung ương cũng đề nghị xem xét
có nên quân sự hóa thành phố không (gọi là quân quản như thời kỳ mới vào
tiếp quản), hoặc phải giới nghiêm từ 10 giờ tối đến 5 giờ sáng.
Trong lúc đó mọi việc tôi bàn với đồng chí Bí thư Bùi Quang Tạo, nguyên Bộ
trưởng Bộ Xây dựng, Phó ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, mới được cử
về làm Bí thư Thành uỷ. Đồng chí mới về, nên cần nắm tình hình thành phố,
mọi việc điều khiển đồng chí Tạo phân cho tôi cứ làm bình thường.
Cảng Hải Phòng khi chưa có vấn đề “Nạn kiều” (Trung Quốc kêu gọi người Việt
gốc Hoa về nước), công nhân bốc xếp ở cảng chủ yếu là người Việt gốc Hoa,
rất quen với bốc vác hàng có trọng lượng 100 kg/kiện. Thế mà lúc đó cứ 3
tháng, có khi 1, 2 tháng, đồng chí Đỗ Mười, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng
(Phó Thủ tướng) lại phải xuống cảng để giải tỏa cảng. Hàng bốc ra để rải rác
khắp đường phố, nhất là khu bãi cổng cảng và vườn hoa Bon-nan. Lãng phí và
ăn cắp rất ghê gớm. Chuyển hàng ra khỏi cảng còn để ở ngoài trời, trong cảng
hàng hóa đã đến tiếp. Không bốc dỡ kịp, tàu nước ngoài có khi đậu tại cảng
chờ giải phóng hàng hàng tháng. Họ kêu ca, ta phải nộp phạt cho một ngày tàu
chậm bốc xếp khoảng 13 kg vàng/ngày tùy theo tàu to nhỏ, hết sức lãng phí.
Trong những lần giải tỏa cảng, Chính phủ cử các bộ trưởng, thứ trưởng, cán
bộ thuộc các bộ liên quan xuống theo. Một số tỉnh thành có liên quan đến vận
tải hàng hóa như Hà Nội, Quảng Ninh cũng đến Hải Phòng họp hàng tuần...
Thành phố bận rộn, lại phục vụ các cuộc họp giải tỏa. Họp giải tỏa nhiều quá
cũng nhàm, ít tác dụng. Anh Mười rất vất vả về công tác giải tỏa hàng mấy
năm liền...
Lúc đó ở Hải Phòng, mỗi đợt giải tỏa xong, đoàn xe Anh Mười rời Hải Phòng về
Hà Nội, công nhân Cảng và nhân dân thành phố đùa tếu nói: “Ông Mười đã đi xa,
mọi việc ở Cảng trở lại bình thường...”. Hàng hóa lại ùn tắc, bốc hàng lên
không có chỗ để, tàu cứ điều vào, đỗ hết cầu tàu. Tàu vào sau phải đậu ở dọc
sông Bạch Đằng, Cửa Nam Triệu ra đến phao số 0. Đêm đến đèn các tàu bật lên
sáng như một thành phố trên biển.
Đến khi công nhân bốc xếp là người Việt gốc Hoa rút về Trung Quốc hết, còn
lại toàn công nhân Việt Nam sức yếu, chưa quen việc, xảy ra đổ vỡ mất mát
rất nhiều... Bởi vậy trên mới có sáng kiến quân sự hóa Cảng cho bộ đội vào
bốc thay công nhân. Nhưng tình hình không được cải thiện. Sau gần 2 tháng
quân sự hóa, thì xảy ra vụ cháy kho 5, thiệt hại rất lớn, vì đây là kho vải.
Ai cũng biết vải lúc bao cấp nó quan trọng đối với mọi người như thế nào.
Chính quyền thành phố phải chịu trách nhiệm hoàn toàn chuyện giải quyết hậu
quả. Đã khó khăn lại thêm khó khăn. Vậy mà Trung ương cho Hải Phòng các loại
vải bị cháy dở, hoặc đã bị vòi cứu hoả phun nước hoặc hóa chất vào, thì cả
nước có câu ca dao:
Cả nước đau lòng
Hải Phòng phấn khởi (?)
Đấy là bề nổi. Mọi nơi nghĩ như vậy, còn chúng tôi thì cực khổ suốt hàng mấy
tháng trời, xử lý bao nhiêu công việc do cháy kho 5 sinh ra. Đồng chí Cao
Văn, Phó Chủ tịch Uỷ ban phải bận vào công việc này 6 tháng liền mới giải
quyết xong hậu quả.
Nhưng cả nước không bị thiệt, vì kho của ta có mua bảo hiểm. Khi cơ quan bảo
hiểm nước ngoài đến xác định thiệt hại để đền bù, số tiền đền bù vượt hơn
thiệt hại chút ít.
Sau khi đã giải quyết xong hậu quả cháy kho 5, Ban Thường vụ Thành uỷ họp,
kiến nghị với Trung ương thôi quân sự hóa Cảng và giao việc tổ chức bốc xếp
cho địa phương phụ trách. Chính phủ đồng ý ngay. Khi có quyết định, anh Bùi
Quang Tạo bàn với tôi tổ chức lại việc bốc xếp Cảng. Hàng ngày sáng nào cũng
giao ban tại Văn phòng Thành uỷ, đồng chí Tạo và tôi cùng dự, anh Tạo rất
say sưa với công việc này. Chúng tôi bàn nhau, đặt chỉ tiêu bảo đảm bốc một
vạn tấn hàng/ngày. Chỉ sau hơn một tháng chúng tôi đạt mục tiêu đề ra, và
những tháng sau từng bước tăng lên. Công nhân có thu nhập, trộm cắp giảm hẳn,
tàu không phải chờ đợi, ta không bị nộp phạt. Mọi người hào hứng phấn khởi,
và cũng kết thúc ách tắc trong khâu bốc dỡ.
Xong việc giải tỏa Cảng anh Tạo và Thành uỷ, UBND thành phố, Cảng đều vui
mừng, sự quản lý Cảng đã sang trang, kết thúc giai đoạn lịch sử “giải tỏa”.
Trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý kinh tế, kế hoạch tập trung,
tôi có rất nhiều suy nghĩ về cách quản lý của ta. Làm thế nào để xây dựng
được cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, cho dân giàu lên, không thiếu thốn
như hiện nay? Làm thế nào cho “dân giàu, nước mạnh”, nghe khẩu hiệu này khi
tôi mới nói ra, đã có người phản đối. Thực lòng ai cũng muốn khá giả, nhưng
nói chữ “giàu” hình như ai cũng coi là mất lập trường, rất kiêng kỵ. Có đồng
chí cán bộ cao cấp còn uốn nắn lại thành: “Nước giàu, dân mạnh”. Tôi buồn
cười, nhưng không dám cười, chỉ lắng nghe.
Có lần xuống xã, một đồng chí bí thư xã mời tôi về nhà chơi. Vừa vào đến sân
đồng chí ấy nói: “Tôi rất tự hào báo cáo với đồng chí Bí thư Thành uỷ: Trên
30 năm tham gia cách mạng, đến nay tôi cũng chỉ có một gian nhà tranh, vách
đất, và cái giường 3 xà...”. Tôi hiểu ý đồng chí muốn nói mình liêm khiết.
Tôi buột miệng: “Tôi tưởng đồng chí khoe với tôi là cả xã đồng chí đều có
nhà xây, có tiện nghi... và đồng chí cũng như vậy thì mới đáng lự hào. Chứ
hòa bình bao nhiêu năm rồi mà vẫn nghèo như thế này là chúng ta dốt, ai còn
theo chúng ta, nói gì đến xây dựng Chủ nghĩa xã hội...”.
Tôi chậm được ra nước ngoài. Tháng 9-1974 lần đầu tôi thăm Quảng Châu và Hải
Nam Trung Quốc. Tháng 8-1978 sang Nhật bản, tháng 10-1980 sang Liên Xô. Ba
cuộc đi ra nước ngoài giúp tôi có sự so sánh và cách nhìn vấn đề khá lý thú.
Tôi sang Trung Quốc thời kỳ đang cách mạng văn hóa rất mạnh ở Trung ương.
Nhưng ở Quảng Đông, đồng chí Triệu Tử Dương, Bí thư Tỉnh uỷ thì làm khác,
chỉ tập trung làm kinh tế, còn cách mạng văn hóa làm qua loa... Tôi xem nông
dân Trung Quốc đào giếng trên các đồi ở Hải Nam để dự trữ nước tưới cho lúa.
Lúa Hải Nam rất tốt do không làm theo các Công xã Trung ương. Đoàn chúng tôi
được tiếp đón rất trọng thị...
Rồi tôi thăm Thành phố Ykohama của Nhật do Thị trưởng Thành phố Asô-ka-ta
mời. Sau một tuần tham quan nghiên cứu tôi thấy phong cách làm ăn của Nhật
thiết thực, lời nói đi đôi với việc làm. Những nơi tôi được tiếp mục sở thị
đều đẹp hoặc bằng trên ti-vi giới thiệu. Tinh thần khắc phục sau động đất
của Thành phố Ykohama thật xúc động, đáng cảm phục. Tất cả đều hằn sâu trong
ký ức tôi.
Năm 1980 tôi đi hội thảo khai thác vùng Si-bi-ri Liên Xô, ở Kha-ba-rốp, thủ
phủ Si-bi-ri, do đồng chí Trần Phương, Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế
hoạch làm trưởng đoàn. Đoàn viên có đồng chí Phan Văn Khải, lúc đó là Phó
Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Văn Hiệp, Phó Chủ tịch
UBND thành phố Hà Nội và tôi là Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng, cùng một
số Thứ trưởng và chuyên viên cấp vụ của một số ngành Trung ương. Máy bay đưa
thẳng đoàn từ Hà Nội đến Kha-ba-rốp, hết gần 7 giờ. Qua eo biển Nhật Bản,
được 2 máy bay khu trục của Nhật Bản lên “nghênh tiếp”, hai bên cánh đeo 2
quả tên lửa sơn vàng chói.
Lần đầu tiên được sang Liên Xô, tôi nghiên cứu khá tỉ mỉ. Đặc biệt ở
Kha-ba-rốp, tôi xuống các hộ nông dân tập thể, có gia đình chỉ còn các cụ
già ở nhà, con cái đi lao động ở nông trường. Tôi hỏi thăm cuộc sống của các
cụ hàng ngày, được biết các cụ chỉ ăn bánh mì với bơ, khoai tây. Riêng nho
rất nhiều. Nhà ở xếp gỗ thành tường, mái lợp da thú như những cái lều, cái
hầm... Chúng tôi trao đổi riêng với nhau: Nhân dân Liên Xô thế này mà giúp
đỡ Việt Nam mỗi năm hàng tỷ rúp vàng, tương đương một tỷ đô la Mỹ, điều đó
thật đáng suy nghĩ. Còn hội thảo chẳng đi đến kết quả rõ rệt. Các đồng chí
Bộ Ngoại thương Liên Xô phát biểu rất bảo thủ, không những thế còn tỏ thái
độ uốn nắn Việt Nam... Sau cuộc hội thảo, tôi có rất nhiều băn khoăn về kinh
tế Liên Xô lúc đó...
Với tất cả những gì hiểu biết về chủ nghĩa xã hội, về kinh tế, tôi suy nghĩ
xây dựng một chiến lược phát triển kinh tế và xã hội cho thành phố Hải Phòng
mà tôi đã ấp ủ từ lâu. Nhưng tôi tự nhủ phải thận trọng, nhất là đối với Bí
thư Bùi Quang Tạo, một uỷ viên Trung ương từ khóa II, hơn tôi 1 6 tuổi. Anh
cũng bị tù trước 1945. Trong một thời gian rất ngắn làm việc, anh em tỏ ra
“ý hợp tâm đồng” rất dễ làm việc. Công việc tôi đề xuất anh Tạo ủng hộ rất
nhanh. Còn ý kiến anh nêu ra tôi chấp hành nghiêm chỉnh, nếu có cái gì cần
bàn thêm anh cũng nghe theo ý tôi.
Vấn đề đầu tiêu là an ninh trật tự, ổn định đời sống nhân dân. Còn các vấn
đề kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục. tôi đã hình thành trong các bản dự
thảo, tùy theo tình hình, thời cơ sẽ đưa ra Ban Thường vụ hoặc Thành uỷ bàn.
Những vấn đề này trong các buổi giao ban hàng tuần giữa Bí thư và Chủ tịch
Thành phố vào chiều thứ 7, sau khi kết thúc những việc chính, tôi đưa vào
câu chuyện ngoài, nói với Bí thư để từng bước tạo sự nhất trí giữa 2 cán bộ
chủ chốt của Thành phố, về con đường đi lên CNXH.
Trong 30 tháng làm bí thư Thành uỷ Hải Phòng, cứ đến chiều thứ 7 giao ban
xong, anh Tạo về Hà Nội, vì gia đình anh ở Hà Nội cả, chỉ có một người phục
vụ ăn uống là ở Hà Nội xuống, còn lái xe cũng do Hải Phòng cử. Dù giao ban
xong sớm 5, 10 phút; tôi ra về để anh về Hà Nội, nhưng anh bảo tôi: “Chưa
hết giờ..., ở lại bàn thêm”. Chúng tôi ở lại nói chuyện quốc sự mà hai anh
em cùng quan tâm...
Việc đầu tiên tôi làm là xóa bỏ các rào dậu của một số phường, để các ngõ
ngách thông thóang cho dân đi lại bình thường, tăng cường lực lượng kiểm tra
của bộ đội, công an, tự vệ về ban đêm, tổ chức phục kích một số bọn trộm cắp
có tổ chức với lực lượng chiến sĩ ở các đồn công an Máy Chai, dọc sông Cấm.
Ba công cụ “an ninh” thời chiến được xóa bỏ. Tôi trực tiếp vào trại giam xem
xét 12 tên tù tử hình còn giam giữ nhiều năm ở trại giam mà không thực hiện
án. Có tên đã trốn tù, mất bao công sức truy tìm mới bắt lại được. Qua đọc
hồ sơ tội ác của bọn chúng, và trực tiếp gặp một số tên để cân nhắc, tôi bàn
với anh Tạo đề nghị Chủ tịch nước (lúc đó là anh Trường Chinh) và Ban Bí thư
giảm tội cho 6 tên xuống chung thân, còn 6 tên gian ác nhất cho thi hành án.
Chủ tịch nước và Ban Bí thư đồng ý, giảm án cho 6 tên, còn 6 tên tàn ác nhất
đã giết 2 người trở lên để cướp của... cho xử ngay trong một tháng.
Thành phố tổ chức thi hành án tên đầu tiên để rút kinh nghiệm. Anh em Sở
Công an và cơ quan thi hành án đem phạm nhân đến Tràng Cát, xa thành phố
khoảng 6 km, bắn vào lúc 5 giờ sáng, chỉ có vài chục người đến xem, tác dụng
giáo dục rất ít... Tôi nhắc các đồng chí, những tên xử tiếp, phải đem đến
Nhà hát nhân dân xử cho toàn thành phố xem. Gọi 600 tên tiền án, tiền sự
ngồi chung quanh nơi hành án, còn nhân dân đứng vòng ngoài. Xử vào lúc 7 giờ
sáng, thông báo cho nhân dân biết trước đến xem. Nhân dân kéo đến xem tới
hàng vạn người, đứng cả đường ngoài sông, ngăn cách với Nhà hát nhân dân.
Sau vụ xử có những tên “tiền án, tiền sự” đái cả ra quần, có tên sợ quá chết
ngất đi. Quần chúng đi xem, hả hê, thấy pháp luật Nhà nước nghiêm minh. Khi
công bố tội trạng tên tử tội, có người nói: “Tên này phải bắn đến 3 lần mới
đúng” hoặc “phải xử bằng hình thức cho dân tùng xẻo chúng hoặc phải lăng trì
theo kiểu cổ điển của phong kiến mới hả dạ”. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng
không nên xử ở Nhà hát nhân dân, nên chọn một chỗ khác. Có người còn làm ca
dao đả kích cho thêm sức mạnh thuyết phục:
“Biến nơi văn hóa thành nơi pháp trường...”
Nhưng tôi nói với Thành uỷ và cán bộ chủ chốt là trong tình hình đặc biệt,
phải có biện pháp tốt để giáo dục rộng rãi nhân dân. Chế độ ta nhân đạo, bắn
một người để cứu hàng vạn người. Người xưa có câu “Sát nhất nhân, thiên vạn
nhân cụ”. Việc ngăn ngừa tội phạm phải được giáo dục, răn đe, ngắn ngừa từ
gốc... Theo tôi lúc này, nếu Nhà hát lớn thành phố dựng được bức tường tránh
đạn lạc, còn 3 tên tội phạm sẽ xử tiếp ở Nhà hát lớn mới có tác động tốt hơn
cho cả thành phố và các tỉnh lân cận.
Nhưng thế cũng là đủ, còn 3 tên nữa cho xử tiếp ở Nhà hát nhân dân, giải
thích cho người làm ca dao, thấy hết ý nghĩa việc làm của thành phố “quang
minh, chính, đại” để họ đồng tình. Thành uỷ và UBND Thành phố hy vọng rằng
từ nay về sau không còn phải xử đại hình ở nơi văn hóa này nữa. Quả là từ đó
đến khi tôi rời khỏi Hải Phòng không còn án tử hình.
Tình hình trật tự trị an dần dần tốt lên, trộm cắp giảm hẳn. Nhưng vệ sinh
đô thị chưa tốt, cuộc sống của dân, nhất là nông thôn, “tháng ba ngày tám”
thành phố phải phân chia cán bộ xuống xã để chống đói cho nông dân... Lúa
chín nông dân không chịu thu hoạch, thành phố phải huy động cán bộ công nhân
viên chức đi gặt giúp. Lương thực cung cấp cho cán bộ công nhân viên chức
Nhà nước và khu phi nông nghiệp rất khó khăn. Do đó, một mặt phải đi mua
lương thực ở miền Nam, mặt khác tìm cách khuyến khích nông dân tăng vụ,
trồng màu, rau khoai chống giáp vụ... biết bao công việc đặt ra cấp bách.
Tôi quyết định trước hết phải xuống với nông dân, đi vào thực chất xem tại
sao trên đồng ruộng vựa thóc, một năm hai vụ chiêm mùa, xen một vụ mầu mà cứ
đói triền miên. Những năm trước, tôi xuống theo dõi nông nghiệp cũng rất
sâu, chứ không phải “cưỡi ngựa xem hoa”. Tôi nghĩ do quản lý, nếu có cày bừa
máy vào làm, có giống mới... chắc năng suất có thể lên cao. Nhưng cày bừa
máy, khoa học kỹ thuật, giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu...tất cả hợp lực
hỗ trợ mà năng suất vẫn tụt. Có nơi ngày công 300gam/ngày. Quê tôi đồng đất
Hải Dương “ruộng tốt, cau sai”, không chua mặn, cũng vậy.
Tháng 9-1977, cụ thân sinh ra tôi mất. Tôi đưa cụ ra cánh đồng loại nhất
đẳng điền, lúa sắp chín mà trông như cỏ may. Khi tôi còn nhỏ, loại ruộng
này, nhà tôi cày cấy bình thường cũng được 100 kg/sào. Nay chưa chắc được
40kg/sào. Tôi hỏi các bậc lão nông tri điền họ cũng nói như vậy.
Tôi nghĩ tất cả do khâu quản lý, khi nào có điều kiện tôi sẽ đề xuất thay
đổi cách quản lý mới xem sao. Tôi đi kiểm tra tất cả các huyện ngoại thành,
từ những hợp tác xã làm ăn giỏi như Phục Lễ huyện Thủy Nguyên, Cổ Am huyện
Vĩnh Bảo. Có cán bộ được nhân dân tín nhiệm như đồng chí Công, Bí thư Đảng
uỷ xã Phục Lễ, có năng lực, có uy tín. Đánh một hồi trống họp Đảng bộ là
100% đảng viên đến họp. Họp hợp tác xã cũng vậy, xã viên đến đủ 100% trừ
người ốm đau nặng. Thế mà năng suất cũng thất thường, ngày công cũng không
khá, chỉ được trên 1 kg/ngày. Xem ra xã viên làm nhanh cho xong công việc
hợp tác xã, còn công sức tập trung vào ruộng 5% và đi bắt tôm cá ngoài sông,
biển, hoặc đi buôn bán lặt vặt. Kinh tế hợp tác xã chỉ cung cấp khoảng 20%
cho cuộc sống của gia đình họ, bởi vậy họ phải bươn chải bên ngoài là chính.
Một hôm tôi xuống xã Hòa Nghĩa thuộc huyện An Thuỵ, xã lớn gần 600 ha, giáp
với con đường 14 ra Đồ Sơn (nay là đường 353). Tôi vào thăm một số gia đình,
thấy nhà nào cũng đói. Tôi đến một gia đình có 3 cháu đang đói, nằm ở trên
giường. Tôi hỏi: “Bố mẹ cháu đi đâu?”. Các cháu trả lời: “Bố mẹ chúng cháu
ra bãi biển bắt tôm, cá về bán đong gạo”... Đồng chí Bí thư, Chủ tịch, Chủ
nhiệm hợp tác xã, cùng đi với tôi cho biết: “Xã có đất canh tác 500 ha,
nhưng năm nào cũng không cày cấy hết, bỏ hoang cho cỏ năn mọc trên dưới 100
ha. Nông dân không cấy vì thu nhập thấp, lúa chín cũng không chịu đi thu
hoạch, bỏ ruộng ra bãi biển kiếm sống. Tôi hỏi: “Các cháu bị đói là tại
ai?”. Đồng chí thì trả lời do nhà thiếu lao động, bố mẹ không chịu lao động
cày cấy. Đồng chí Bí thư tự nhận là tại xã quản lý kém v.v.. Tôi nói: “Là
tại tôi, tại Chủ tịch thành phố...” Các đồng chí nhìn tôi tỏ vẻ sợ! “Tôi nói
thật đấy. Tôi sẽ cho lái xe về ngay nhà lấy mấy cân gạo cho các cháu, nấu
cho các cháu ăn kẻo bị đói lả”. Các đồng chí vội ngăn lại, bảo xã có gạo.
Rồi đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã vội về xuất kho lấy gạo nấu cơm cho các
cháu. Mấy hôm tiện đường, tôi rẽ vào xã Hòa Nghĩa thì được biết thóc quỹ hợp
tác xã còn, các đồng chí xuất cho những gia đình khó khăn vay. Thành phố hỗ
trợ một ít, qua vụ đói. Các xã khác ngoại thành cũng làm tương tự, nhất là
huyện Tiên Lãng và huyện An Lão, huyện thuần nông rất nghèo, gặp rất nhiều
khó khăn trong đời sống.
Từ những vấn đề thực tế của nông dân, với cương vị Chủ tịch UBND thành phố,
tôi đề xuất thay đổi cách quản lý nông nghiệp. Tôi đem vấn đề bức xúc này
bàn với anh Bùi Quang Tạo, anh tỏ ý đồng tình. Hai anh em trao đổi ngày này
qua ngày khác, những buổi chiều thứ bảy hàng tuần, ngoài những việc phải
giải quyết ngay, chúng tôi tập trung suy nghĩ và trao đổi vấn đề “khoán hộ”.
Anh Tạo nói: “Khó nhất là anh Trường Chinh. Vụ khoán chui của anh Kim Ngọc
tỉnh Vĩnh Phúc, lúc đó tôi ở Ban Tổ chức Trung ương thấy găng lắm!” Tôi đề
nghị anh ở Hà Nội thăm dò xem liệu Vĩnh Phúc làm cách đây 15 năm rồi, nay có
thể khác không. Tôi nói vui: “Vạn vật biến chuyển, con người tư duy cũng
phải biến chuyển. Nhất là lúc này lương thực không đủ ăn, ruộng nông dân bỏ
hoang, ta phải vay đô-la nhập lương thực, nhập phân bón bao nhiêu dân vẫn
đói, cán bộ công nhân viên phi nông nghiệp chỉ ăn mì. Rõ ràng có ruộng cấy
ra thóc, mà không có gạo ăn”.Anh Tạo suy nghĩ, tỏ ra rất buồn. Tôi tin tưởng
anh Tạo đã đồng tình với tôi. Anh nói chúng ta sẽ liệu và anh bảo tôi: “Anh
thân với anh Ba, anh thăm dò ý anh Ba xem. Còn tôi sẽ thăm dò những anh em
thân quen anh Trường Chinh”. Chúng tôi đi đến thống nhất tạm thời cho khoán
màu ở ngoại thành, lấy xã Hưng Đạo làm thí điểm... rồi từng bước ta mở rộng
sau. Còn những nơi khoán chui ruộng như Tiên Lãng, ta lờ đi, nhắc báo Hải
Phòng không phê bình Tiên Lãng quá đà trệch hướng, Huyện cho khoán màu, xã
lợi dụng khoán cả lúa. Đồng chí Lựu Bí thư Huyện uỷ thấy báo Hải Phòng phê
bình, lo quá, đồng chí thanh minh với tôi. Tôi bảo cứ yên lâm, đừng cấm nông
dân. Chúng ta sẽ xin với trên cho làm thử khoán lúa tới người lao động và
nhóm lao động...
Trong lúc lương thực thiếu, trên cung cấp không đủ, tôi và đồng chí Trịnh
Thái Hưng, Phó Chủ tịch cùng một số cán bộ của Văn phòng UBND thành phố vào
miền Nam chạy gạo, bằng cách đổi hàng công nghiệp. Chúng tôi đến tỉnh Cửu
Long kết nghĩa, được tiếp đón trọng thị, nhưng khi bàn đến mua thóc đổi hàng
công nghiệp thì rất khó khăn. Trong lúc đồng chí Sáu Ức, Chủ tịch UBND tỉnh
đang bàn giao để đi làm chuyên gia bên Campuchia, giao cho đồng chí Tuấn,
Phó Chủ tịch bàn với chúng tôi. Tôi và đồng chí Hưng bàn đi bàn lại với tỉnh
kết nghĩa, có cả đồng chí Văn Hiến tỉnh uỷ viên nguyên là Thành uỷ Hải Phòng
làm Giám đốc sở nông nghiệp Cửu long, nhưng đồng chí Phó Chủ tịch chặt chẽ
quá. Tôi nghĩ chắc tỉnh cũng có khó khăn về lương thực, nên tôi đề nghị thôi
không mua lương thực của tỉnh Cửu long nữa. Về sau các đồng chí nghĩ sao
không rõ, đồng chí Tuấn lại bán cho Hải Phòng 1.000 tấn thóc. Tôi nói với
đồng chí Văn Hiến rằng, chúng tôi thông cảm, anh không nên áy náy về vấn đề
này.
Hôm sau Đoàn chúng tôi sang Hậu giang, gặp đồng chí Chủ tịch Bảy Mạnh, đồng
chí Đặng Toàn, Phó Chủ tịch, nguyên Chủ tịch thành phố Hải Phòng vào tăng
cường cho Hậu giang. Chúng tôi chỉ bàn 2 tiếng đồng hồ, đồng chí Chủ tịch
bán cho 2.000 tấn gạo bằng cách đổi hàng rất thuận lợi cho Hải Phòng.
Kết quả mua được 2.000 tấn gạo và 1.000 tấn thóc. Chúng tôi ra về bằng đường
bộ. Trong dịp đi công tác này, tôi gặp một số tỉnh để vừa học lập, vừa thăm
dò việc “khoán” nông nghiệp. Có đồng chí rất bỡ ngỡ vì việc quá mới, có đồng
chí trả lời: “Chúng tôi phải tổ chức hợp tác xã xem sao đã. Chưa biết hợp
tác xã ra sao, nói gì đến khoán”. Tỏ thái độ không đồng tình là Bến Tre và
Thuận Hải, còn đa số trả lời chung chung: “Các anh cứ làm trước, nếu tốt
chúng tôi sẽ làm”. Tôi chỉ dám trao đổi khéo léo, sơ sơ thôi, chứ không dám
nói thẳng ra, vì vấn đề này vẫn là vấn đề “quốc cấm”.
Trên đường về, chúng tôi làm việc với Khánh Hòa, đêm ngủ tại Cam Ranh. Bộ Tư
lệnh Hải quân mời đến xem tàu ngầm Liên Xô. Sáng hôm sau trên đường về qua
thành phố Nha Trang một sự cố đau lòng xảy ra: đồng chí Nguyên Văn Sinh,
chuyên viên Văn phòng Uỷ ban bị nhồi máu cơ tim chết ngay trên xe trong lúc
đang đi cùng với đồng chí Trịnh Thái Hưng. Chúng tôi đưa ngay đồng chí Sinh
đến Bệnh viện Nha Trang, nhờ bệnh viện khám lại tử thi để xác định nguyên
nhân. Đồng chí Sinh bị đau tim đã lâu. Khi đi vào miền Nam đồng chí Sinh đi
bằng máy bay, đồng chí có cháu là bộ đội Hải quân nên kết hợp đi thăm cháu.
Trước khi ra Bắc bằng đường bộ, tôi đã bảo đồng chí Sinh xem lại sức khoẻ
rồi hãy đi. Đồng chí Sinh nói với tôi: “Anh yên tâm, sức khoẻ tôi khá rồi”.
Tôi đến gặp đồng chí Hồ Ngọc Nhường, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh đề nghị
giúp đỡ. Đồng chí Nhường giúp hết sức tận tình, chỉ thị cho bệnh viện làm
mọi thủ tục, đóng cho một quan tài trong bằng kẽm, ngoài bằng gỗ, giải phẫu
và làm vệ sinh tử thi đồng chí Sinh rất chu đáo. Chúng tôi nghỉ lại một đêm
ở thành phố Nha Trang, một đêm biết bao buồn bã, không ai ngủ, chỉ mong sao
chóng sáng để đưa đồng chí Sinh về Hải Phòng. Sáng sớm hôm sau, đồng chí Hồ
Ngọc Nhường và Văn phòng UBND tỉnh Phú Khánh tiễn chúng tôi với sự cảm thông
sâu sắc về chuyến công tác gặp nhiều trắc trở. Đoàn chúng tôi ra về với một
xe tang bí mật (xe khách do Khánh Hòa chở giúp) trên chở quan tài đức Sinh
và một vài cán bộ ngồi phía trước. Còn xe tôi lúc đi trước, lúc lùi lại sau
để bảo đảm thời gian và tốc độ đi vừa phải. Nó là cái xe Volga mầu mận tím
trước của Giáo sư Tôn Thất Tùng (Giáo sư mua xe mới, chiếc xe cũ cho Hải
Phòng). Đoàn xe đến Lăng Cô thì xe của tôi bị chết máy, đồng chí Chức lái xe
chữa mãi không được. Tôi bàn với anh Hưng gọi điện cho anh Trần Hoàn, Uỷ
viên Thường vụ Bình Trị Thiên, đề nghị cho xe đến đón, và kéo xe của tôi về
Huế. Đồng chí Trần Hoàn lập tức mượn xe của đồng chí Vũ Thắng, Chủ tịch UBND
tỉnh đến đón tôi, và cho một xe U¬oát kéo chiếc xe hỏng về Huế. Thật là:
“Phúc bật trùng lai,
Hoạ vô đơn chí!
Về đến Huế, đồng chí Vũ Thắng đã đón tôi tới khách sạn và mời cơm toàn đoàn.
Chúng tôi giữ bí mật về chiếc xe khách chở hàng “đặc biệt” đi theo. Vì cả
đêm chiếc xe đó phải đỗ ở sân khách sạn Sông Hương, ngại nói ra anh em khách
sạn lại sợ, sinh “rách việc”, cứ lặng yên không ai nói gì cả.
Hôm sau chúng tôi cảm ơn, chào tạm biệt đồng chí Vũ Thắng, đồng chí Trần
Hoàn, về Hải Phòng. Nhưng các đồng chí ở Huế cũng biết là chiếc xe khách
trong chở quan tài, thấy chúng tôi không nói gì, các đồng chí “tế nhị” cũng
không hỏi. (Sau này đồng chí Vũ Thắng và đồng chí Trần Hoàn có nói lại với
tôi). Viết đến đây, tôi muốn một lần nữa cảm ơn ba anh: Hồ Ngọc Nhường, Vũ
Thắng, Trần Hoàn. Nhưng ba anh đã qua đời! Rất buồn và nhớ các anh, những
“chiến hữu” không bao giờ quên nhau. Nhất là anh Trần Hoàn, một con người
năng động, sôi nổi, tình cảm... luôn coi Hải Phòng là quê hương thứ hai của
mình.
Đến 15 giờ cùng ngày, đoàn xe chúng tôi về đến Hải Phòng. Gia đình đồng chí
Sinh và Văn phòng Uỷ ban, Văn phòng Thành uỷ, các cơ quan, bạn bè thân thuộc
đã đón đồng chí Sinh ở bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Vừa buồn vừa tủi, vừa
mừng lẫn lộn. Những ngày qua chị Sinh và các cháu lo lắng không biết bác
Thành, bác Hưng... có mang được bố các cháu về không? Hay phải mai táng tại
Nha Trang? Hôm sau, đám tang đồng chí Sinh được cử hành long trọng. Thi thể
đồng chí do Khánh Hòa làm vệ sinh và ướp lạnh tốt, nên hình dáng vẫn như
người nằm ngủ. Cả gia đình đều gặp tôi cảm ơn. Tôi bảo đây là trách nhiệm,
là tình cảm của đồng chí với nhau, chỉ khi không còn điều kiện mới phải bó
tay.
Một thời gian đi công tác dài ngày ở các tỉnh phía Nam, tôi có thêm những
suy nghĩ mới về đất nước. Trước đây so với 3 nước như: Nhật Bản, Trung Quốc,
Liên Xô thì Việt Nam vẫn có ưu thế hơn. Thế mà sau hơn 5 năm thống nhất đất
nước, dân vẫn cứ nghèo, thành phố Hồ Chí Minh mấy năm đầu thấy khá hơn các
tỉnh phía Bắc nay xuống cấp quá nhanh, xe máy hết dần, chỉ còn xe cũ với
loại Honda 50 là phổ biến, xe đạp xuất hiện nhiều. Từ ăn mặc, đến nhậu nhẹt
giảm hẳn. Quần áo nâu sồng, dép lốp xuất hiện.
Các tỉnh miền Trung còn khó khăn hơn. Đến Phan Rang, nóng ơi là nóng! Đồng
chí Thư ký thấy tôi mồ hôi nhễ nhại, mệt mỏi, tìm mãi trong cặp ra đưa cho
tôi một gói sâm chè cao ly và một cốc nước, nói khẽ: “Anh vào góc kia uống”.
Đồng chí hướng dẫn tôi xé bao chè sâm, dốc vào miệng, uống cho đỡ mệt. Đúng
là lần đầu tiên tôi uống chè sâm, uống xong thấy dễ chịu thật. Tôi suy nghĩ
làm sao để dân giàu lên, mình được uống chè sâm với dân thì sướng biết bao!
Phải làm và làm cho được.
Về đến Hà Nội, buổi trưa nắng hè oi ả, lại thấy rặt xe đạp là xe đạp, với
dép cao su. Nhiều người còn mặc quần áo vá. Tôi nghĩ bao giờ thì lên đến chủ
nghĩa xã hội? “Phải quyết tâm làm cho nó đến...”
Là người Hải Phòng không ai không hiểu Hải Phòng là thành phố Cảng, thành
phố công nghiệp, và đường lối chung phải ưu tiên phát triển công nghiệp.
Nhưng giữa lúc ngành công nghiệp đang đứng trước những thách thức lớn, công
nghệ lạc hậu, vốn không có, nguyên liệu nhập về không đủ, phải chia nhau
từng tấn sắt thép, mà Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cũng quên Hải Phòng là thành
phố công nghiệp, nên những năm cuối thập kỷ 70, phân chia nguyên liệu sắt
thép chỉ ngang Quảng Ninh và Thái Bình. Vậy Hải Phòng phải tìm hướng đi nào
cho phù hợp và có hiệu quả nhất, không giáo điều, máy móc? Chúng tôi tạm
thời vẫn duy trì những ngành công nghiệp khó khăn và phát triển những ngành
công nghiệp có điều kiện, chờ thời. Khởi đầu bằng nông nghiệp lúc đó là
thuận nhất, vì ngân sách trống rỗng, lương thực Nhà nước cấp có hạn. Đầu tư
vào nông nghiệp là nhanh nhất. Sau 1 vụ khoảng 3, 4 tháng là có ăn. Thực tế
phương hướng này rất đúng và đã giải quyết được nhiều khó khăn cho thành
phố. Ấy thế mà lại có người cho Hải Phòng đi chệch hướng. Đến khi Hải Phòng
được Trung ương đồng tình, ủng hộ và khuyến khích, thì họ lại tức tối, chống
phá. Thế mới biết vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng đã là khó, nhưng vượt
qua rào cản của những người thiển cận, bảo thủ còn phức tạp hơn nhiều.
Hiện lương thực cung cấp cho cán bộ công nhân viên thiếu quá, hết 10 ngày
đầu tháng đã không có gạo bán. Trong khi tầu gạo đã đến Cảng. May gặp anh
Đinh Đức Thiện, Bộ trưởng Giao thông vận tải kiêm Bộ trưởng Dầu khí (lúc đó
là Bộ, sau này là Tổng cục Dầu khí), Thành uỷ và UBND đề nghị anh Thiện tạm
xuất cho ít gạo để bán cho cán bộ, công nhân. Anh Thiện đồng ý xuất ngay cho
Hải Phòng 2.000 tấn. Một tháng sau anh Thiện xuống Văn phòng Uỷ ban, vừa
bước vào phòng làm việc của tôi, anh vừa nói: “Có thằng Bộ trưởng nào như
tao không? Kiêm hai Bộ trưởng mà không cho lấy hai vợ. Có thằng Bộ trưởng
nào như tao phải đến Chủ tịch thành phố hàng ngày? Chủ tịch bảo xuất gạo,
phải xuất gạo ngay. Lập trường giai cấp ở chỗ đó đấy! Thế mà họp Chính phủ
họ bảo tao xuất vô nguyên tắc, chưa nhập kho lương thực chưa có phiếu xuất
kho đã xuất cứ xồn xồn như các bà hàng cá. Phê bình tao, tao bảo nếu để công
nhân đói, họ lên kéo sụp “cổng nhà đỏ” này thì các anh không yên đâu. Để tôi
làm Thủ tướng 15 phút, tôi sẽ giải quyết xong các vấn đề rắc rối, trì trệ
của các anh. Tao nói xong, không họp nữa ra về, xuống thẳng Hải Phòng vào
nói cho cậu biết...” Tôi chỉ còn biết cảm ơn anh đã gánh chịu những lời phê
bình cho nhân dân Hải Phòng, chứ không dám bình luận gì thêm...
Anh Đinh Đức Thiện, con người thông minh, tính tình thẳng thắn, bộc trực.
Khi làm Bộ trưởng Giao thông vận tải, môi khi xuống Hải Phòng, anh đến thăm
tôi, kể rất nhiều chuyện trong nhà tù, trong kháng chiến chống Pháp, nhất là
trong chiến tranh chống Mỹ. Khi anh phụ trách hậu cần, chuẩn bị chiến dịch
Hồ Chí Minh, những sáng kiến táo bạo của anh trong việc tích trữ đạn pháo
các loại, nhất là đạn pháo 130 ly. Anh nói: “Mình chuẩn bị đánh chúng sao
cho ba đời chúng còn khiếp pháo của tao. Anh hay đọc thơ cho tôi nghe. Thơ
anh viết hay, có nhiều góc cạnh châm biếm rất vui, kể cả thơ châm biếm ông
anh Lê Đức Thọ làm tổ chức...
Tôi rất quí anh và anh cũng mến tôi. Khi sinh thời, đã nghỉ hưu, anh cũng
hay đến tôi chơi và bảo tôi lại nhà chơi. Nay thi thỏang tôi cũng đến thắp
hương cho anh, tưởng nhớ một con người hết lòng cho đất nước.
Tôi bàn tiếp với anh Tạo để ra nghị quyết về “khoán sản” trong nông nghiệp.
Anh Tạo đưa ra Thành uỷ bàn nhiều kỳ họp. Vẫn còn 4 Thành uỷ viên không đồng
ý. Anh Tạo trao đổi với tôi tiếp tục tranh thủ sự đồng tình của anh Trường
Chinh. Tôi đã hỏi ý kiến anh Lê Duẩn, Tổng Bí thư, sau 3 giờ báo cáo. Anh Ba
nghe rất kỹ và đồng tình ngay (tôi sẽ nói kỹ trong chương anh Ba với Hải
Phòng). Anh Phạm Văn Đồng coi như đã đồng ý rồi. Anh rất vui, chỉ hỏi anh
Ba, anh Trường Chinh ý kiến thế nào? (Tôi sẽ nói kỹ trong chương các đồng
chí Bộ Chính trị lúc đó với Hải Phòng).
Để từng bước xoay chuyển tình hình, tôi bàn với anh Tạo cho chia huyện An
Thuỵ ra, huyện Kiến Thuỵ nhập với thị xã Đồ Sơn vừa có thị xã vừa có huyện,
gọi là huyện Đồ Sơn. Huyện An Lão cũ nhập với thị xã Kiến An, gọi là huyện
Kiến An. Trước mắt giải quyết mâu thuẫn triền miên của huyện An Thuỵ. Bước
sau sẽ tách hai thị xã Kiến An và Đồ Sơn đưa lên thành Quận. Còn hai huyện
Kiến Thuỵ, An Lão trở lại huyện cũ theo truyền thống. Thành uỷ và Uỷ ban
thành phố mời đồng chí Vũ Trọng Kiên, Trưởng ban Tổ chức Chính phủ xuống Hải
Phòng làm việc một ngày, đồng chí Vũ Trọng Kiên đồng ý trình Chính phủ phê
duyệt.
Tháng 3-1980 hai huyện mới được thành lập. Đồng chí Vũ Ngọc Làn, Bí thư
Huyện uỷ Kiến An, sẽ nhận chỉ đạo điểm nghị quyết khoán. Đồng chí Nguyễn
Đình Nhiên, Bí thư Thị xã Đồ Sơn về làm Bí thư Huyện uỷ Đồ Sơn.
Tôi đã báo cáo anh Trường Chinh 2, 3 lần, anh tỏ vẻ không phản đối. Một lần
anh Trường Chinh đi xem bắn tập tên lửa thật ở Hải Phòng, tôi đưa anh đi xem
tại Đồ Sơn. Trưa ăn cơm chỉ có hai người, tôi lại đem vấn đề khoán ra xin ý
kiến anh. Tôi cảm giác anh không vui, nhưng anh không nói vào khoán. Anh kể
chuyện huyện Xuân Trường, quê anh với thái độ gay gắt, phê bình huyện này
buông lỏng quản lý, để hợp tác xã khoán lung tung, không có kỷ cương gì...
Tôi biết là anh phê bình tôi. Tôi chuyển sang báo cáo công việc khác, về làm
kinh tế, về Cảng...
Anh Tạo kể lại hôm họp Quốc hội, (anh Tạo và tôi đều là đại biểu Quốc hội
khóa VII) giờ nghỉ giải lao, anh Trường Chinh gọi anh Tạo ra ngoài phê phán
rất gay gắt: “Anh định phá hết hợp tác xã nông nghiệp ở Hải Phòng và cả nước
à?.”. Anh Tạo bảo tôi gay lắm! Nhưng tôi một mặt mời anh Trường Chinh về
thăm Hải Phòng, lấy thực tế thuyết phục, mặt khác bảo đồng chí Nguyễn Đình
Nhiên ra nghị quyết của Huyện uỷ về khoán, dựa vào nghị quyết dự thảo của
Thành uỷ mà viết.
Anh Nhiên do dự, nhưng sau hai, ba ngày anh lên Hải Phòng gặp tôi, mời tôi
về Huyện bàn việc ra nghị quyết. Tôi báo cáo anh Tạo việc này, anh Tạo tỏ ý
không đồng tình và bảo: “Cậu Nhiên không ổn đâu. Hồi tôi làm Tổ chức Trung
ương, tôi biết cậu này”. Tôi trình bày lại với anh Tạo. Việc khoán đã chín
muồi lắm rồi, cứ cho một huyện ra nghị quyết trước, để lấy ý kiến từ cơ sở,
thêm áp lực với trên. Anh Tạo nể tôi, bảo “Thôi tùy anh”. Tôi nói với anh
Tạo nếu trên có hỏi, anh cứ bảo chủ tịch thành phố cho làm. Anh tỏ vẻ không
vui, nói “Nếu có trách nhiệm là trách nhiệm chung”. Hôm sau anh Nhiên lên
thành phố hỏi tôi: “Anh Tạo có đồng ý không?”. Tôi nói anh Tạo đồng ý rồi,
nhưng có vấn đề đấy, cần làm thận trọng, đừng để xảy ra phức tạp.
Huyện Đồ sơn ra nghị quyết được 32 ngày thì Ban Thường vụ ra nghị quyết 24
nổi tiếng về “khoán” trong nông nghiệp, làm cơ sở cho chỉ thị 100 của ban Bí
thư tháng 1¬1981 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp cho nhóm lao động và
lao động xã viên và làm cơ sở cho nghị quyết khoán 10 tháng 4¬1988 của Bộ
Chính trị khóa VI về “khoán 10”.
Cuộc đấu tranh cho một cái mới ra đời thật quá vất vả, khó khăn. Trong thời
kỳ chuẩn bị ra nghị quyết, các huyện ngoại thành, nhất là huyện Tiên lãng,
xã Đoàn Xá Đồ sơn, xã Hưng Đạo, huyện An Lão nghe thành phố bàn khoán, tình
hình sản xuất bức xúc, hợp tác xã cứ tạm cho khoán từng phần, mỗi xã để dành
một số ruộng khoán để rút kinh nghiệm.
Các đoàn kiểm tra của Trung ương về Hải Phòng ngày càng đông, đoàn đồng
tình, đoàn lưỡng lự, đoàn phản đối, đủ các loại. Quần chúng thì phán khởi.
Tỉnh Hải Hưng, một tỉnh nông nghiệp lớn bên cạnh Hải Phòng. Đồng chí Bí thư
Tỉnh uỷ tuyên bố “Nếu có dây thép gai tôi sẽ rào luồng gió độc của Hải Phòng
thổi sang”. Nhưng các huyện của Hải hưng. các đồng chí Bí thư, chủ tịch lén
lút xuống Hải Phòng học kinh nghiệm khoán.
Các anh trong Bộ Chính trị như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh Nguyễn Duy
Trinh, anh Trần Quốc Hoàn... đều xuống nghiên cứu khoán. Anh Giáp, anh Trinh
tỏ ý đồng tình ngay. Anh Trần Quốc Hoàn hỏi rất sâu và tỏ vẻ lưỡng lự, nói:
“Thiếu lương thực thì phải làm thôi”. Các anh uỷ viên Ban Bí thư và uỷ viên
Trung ương như anh Hoàng Tùng. anh Vũ Oanh, anh Trương Kiện thì ủng hộ rất
nhiệt tình. Anh Vũ Oanh còn tuyên bố: “Đây là chìa khóa vàng” làm một số
người chống khoán phản đối quyết liệt. Đến mức đồng chí Vũ Duy Hiệu, đảng
viên năm 1930, nguyên chủ tịch Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh Hải dương
1945, nguyên phó tổng giám đốc ngân hàng Việt Nam, anh ruột anh Vũ Oanh phải
đến hỏi tôi “Khoán ra sao, mà chú Vũ Oanh lại mạnh mồm nói như vậy?”. Tôi
báo cáo với anh Vũ Duy Hiệu “Anh Oanh nói đúng đấy! Anh yên tâm”. Sau này ta
đã xuất được trên 3 triệu tấn gạo, tôi lại chơi, nói vui với anh Vũ Duy
Hiệu: “Nay đã là kho vàng rồi, không chỉ có chìa khóa vàng...” Anh Hiệu rất
vui. nay anh đã 95 tuổi.
Ba mươi tết năm 1980, anh Đỗ Mười xuống thăm và chúc tết nhân dân Hải Phòng.
Tôi mời anh đi xem sản xuất nông nghiệp. Ngồi trên chiếc xe Commăngca anh
thấy ngày 30 tết, nông dân cấy rợp đồng, anh cười vui vẻ nói: “Chỉ có khoán
mới có chuyện làm ăn chăm chỉ của nông dân như thế này...”
Trở lại khoảng tháng 9-1980, nghị quyết 24 về khoán trong nông nghiệp đã
được hơn 3 tháng. Thành uỷ tổ chức sơ kết. Một số tỉnh và ngành Trung ương
cùng đến dự. Một số tỉnh không được mời cũng đến. Các báo càng đến đông.
Những nhà báo như Lê Điền, Thái Duy, Hữu Thọ ủng hộ khoán ngay từ đầu, rất
sốt sắng viết bài, tuyên truyền cho khoán. Những nhà báo còn do dự hoặc chưa
đồng tình cũng đến đông để nghe ngóng tình hình.
Lúc đó anh Trường Chinh đã đồng ý cho khoán trong lần thứ năm tôi xin ý kiến
anh. Ý kiến anh góp tôi đã ghi kỹ và đọc lại cho anh nghe (tôi sẽ nói trong
chương anh Trường Chinh với Hải Phòng). Khi họp hội nghị, tôi hỏi ý kiến anh
Tạo, đề nghị cho tôi phổ biến ý kiến anh Trường Chinh, anh Tạo tỏ ra ngại
ngần, nói: “ấy chê -ết! ấy chê -ết! Để xem đã”. Mặc dù tôi đã đọc ý kiến anh
Trường Chinh đồng ý cho khoán để anh Tạo nghe, nhưng có lẽ anh chưa tin, và
sợ không đúng ý anh Trường Chinh. Tôi đành không phổ biến, nhưng cũng tiếc!
Đến khoảng tháng 11-1980. Ban nông nghiệp Trung ương họp các trưởng ban nông
nghiệp toàn quốc, có mời anh Tạo và tôi lên dự. Anh Tạo bảo tôi đại diện,
anh không đi. Tôi cùng đồng chí Trưởng ban Nông nghiệp đi họp. Đồng chí
trưởng ban nông nghiệp Hải Phòng lúc đó chưa đồng ý khoán. Khi đến cuộc họp,
đồng chí Võ Thúc Đồng là trưởng ban bảo tôi: “Hôm nay Hải Phòng cử “gà nòi”
đi họp đây”. Mấy đồng chí phó ban chống khoán, cũng đùa vài câu và cười hơi
“mỉa mai”. Tôi vui vẻ bắt tay các anh và các đồng chí trong hội nghị.
Vào cuộc họp, sau lời tuyên bố lý do cuộc họp, là nghe việc khoán nông
nghiệp của Hải Phòng, anh Võ Thúc Đồng mời tôi phát biểu trước. Tôi lên phân
tích lý do làm khoán, cơ sở lý luận, kết quả và tồn tại, khoảng 45 phút. Sau
đó các tỉnh phát biểu. Tất cả đều phản đối khoán, phê phán các mặt tiêu cực
của nó, lên án gay gắt. Có những lời nói thiếu văn hóa nữa. Duy chỉ có đồng
chí Huy, Viện phó Viện nông nghiệp thì ủng hộ một vài ý nhưng rụt rè. Hôm đó
tôi thấy cần phải đem ý kiến anh Trường Chinh ra phổ biến, tôi đọc nguyên
văn lời anh Trường Chinh mà tôi đã ghi vào sổ... Tôi vừa đọc thong thả, vừa
theo dõi thái độ hội nghị. Thấy nhiều bộ mặt ngơ ngác, có bộ mặt nghi ngờ,
có người thì thầm với nhau, nhằm nói to cho tôi nghe thấy, như: “Kỳ này tay
Thành sẽ chết với ông Trường Chinh... dám bịa, ghê thật!”. Tôi vẫn tỏ ra như
không nghe thấy, và cứ nói một cách phấn khởi về ý anh Trường chinh...
Khi kết thúc hội nghị, anh Võ Thúc Đông tiễn tôi, vỗ vai tôi nói: “Tôi ủng
hộ ý kiến anh, nhưng trong lúc này điều kiện tôi không nói công khai
được...”. Còn các đồng chí Vụ trưởng ủng hộ khoán như: Lê Công Thiện, đồng
chí Phước thì tỏ ra phấn khởi và bảo tôi: “Cứ yên tâm, chúng tôi sẽ ủng hộ
triệt để Bài phát biểu của anh hôm nay thuyết phục lắm!”.
Đến nay, đồng chí Võ Thúc Đồng đã 90 tuổi với 75 tuổi Đảng, thỉnh thỏang gặp
đồng chí, tôi nói vui: “Chiến sĩ Côn Đảo mà nhát, không dám công khai ủng hộ
khoán ngay từ đầu”. Anh cười và đấm tôi: “Cậu hay nhớ dai...”.
Làm thế nào để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội và dần dần
nâng cao đời sống nhân dân?
Đây là câu hỏi cực khó trong đầu thập kỷ 80 đối với toàn quốc. Đặc biệt là
Hải Phòng, nơi còn khó hơn nhiều vì thành phố vừa công nghiệp vừa có Cảng.
Nông nghiệp tuy đã bước đầu làm khoán, nhưng vẫn rất nghèo, do đồng ruộng
chua mặn!
Bài toán trong đầu tôi tuy một phần đã có phác thảo, nhưng bước đi cụ thể ra
sao? Cái nào làm trước, cái nào làm sau? Biết bao con toán. Trong lúc ngân
sách thành phố không còn gì, gạo chạy từng ngày, nguyên liệu dùng trong công
nghiệp Trung ương cho rất ít, thất nghiệp, ăn mày ăn xin các nơi kéo về, lũ
lượt đi ngoài phố. Giờ trưa ăn cơm, người ăn xin gõ cửa vào cả nhà ông Chủ
tịch!
Tôi đề nghị anh Tạo, Thường vụ Thành uỷ và Thường trực Uỷ ban chọn lựa một
số công trình thủy lợi loại vừa, hỗ trợ cho nông dân làm khoán, vừa giải
quyết việc làm, vừa tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, cung cấp nước cho
nông nghiệp, tổ chức lấn biển với qui mô lớn để tăng diện tích cho nông
nghiệp và lấy đất xây dựng công nghiệp. Tôi luôn quan niệm rằng: xây dựng
CNXH tất nhiên phải có những công trình lớn như nhà máy Thủy điện Hòa Bình,
cầu Thăng Long., nhưng đối với người dân không phải ai cũng biết. Cái mà họ
cần là nơi đang sống phải ngày một tốt hơn. Từ cái ngõ vào nhà sao cho không
lầy lội mỗi khi trời mưa, cái nhà đang ở không dột nát, cái hố xí mỗi khi đi
vệ sinh không phải một nón che đầu, một nón che phía trước... Vì vậy, phải
xây dựng, chỉnh trang và làm sạch đẹp thành phố, phá bỏ những hố xí không có
mái che ở các khu lao động như Thượng Hạ Lý, An Dương, Máy Chai, Trại
Chuối... Tôi cũng cho phá dỡ những tàn tích chiến tranh còn lại như bộ khung
nhà máy lọc nước của xí nghiệp xi măng, bên cầu Thượng Lý, trông rất khó
coi, các lô cốt thời Pháp còn ngăn cản đường giao thông ở đường số 5 như
tháp canh Dụ Nghĩa lấn 1/4 lòng đường; tháp canh Đồn Riêng, đường 14 ra Đồ
Sơn v.v... Những khu nhà tranh tre nứa lá, lợp tôn lụp xụp ở các phố lao
động, tôi bảo cán bộ vận động nhân dân sửa chữa cho ngăn nắp, từng bước bỏ
hố xí thùng, xây hố xí tự hoại, nhà nước cấp kinh phí một nửa. Ngoài ra,
những công trình văn hóa sẽ cùng lúc được khởi công như xây dựng nhà văn hóa
Việt Tiệp, cung văn hóa thiếu nhi, sửa chữa phục chế Nhà hát lớn thành phố,
trang bị nhạc cụ và dàn âm thanh hiện đại cho Đoàn ca múa, tạo mọi điều kiện
cho Đoàn kịch nói dựng vở “Nhân chứng và lịch sử” nói về Bác Hồ, tổ chức hội
thảo về danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm, thay nhạc hiệu của Đài phát
thanh và truyền hình Hải Phòng bằng bài “Thành phố Hoa Phượng đỏ” thơ của
Hải Như, nhạc của Lương Vĩnh... Ở ngoại thành phát động phong trào “ngói
hóa” nông thôn, xây dựng cụm văn hóa xã, thị trấn huyện khang trang, phấn
đấu xây dựng Hải Phòng từ các công trình ở xã lên đến huyện và nối vào thành
phố.
Tất cả những dự định trên, tôi đều viết thành đề án đưa ra thành uỷ và Hội
đồng nhân dân bàn, ra nghị quyết. Triển khai ý tương đó, cùng với việc luôn
luôn báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương tôi đã tham khảo các đồng chí
lãnh đạo ở một số tỉnh, thành phố, như các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn
Kiệt, Phan Văn Khải, thành phố Hồ Chí Minh; mời các học giả, nhân sĩ trí
thức, các văn nghệ sĩ đóng góp ý kiến như: học giả Nguyễn Khắc Viện, Vũ
Khiêu, Trần Bạch Đằng, kiến trúc sự Khôi Nguyên La Mã, Ngô Viết Thụ, người
thiết kế dinh Thống Nhất Sài Gòn, các giáo sư Vũ Tuyên Hoàng, Võ Tòng Xuân,
các văn nghệ sĩ như nhà văn Nguyên Hồng, Học Phi, nhạc sĩ Văn Cao...
Để thử nghiệm khả năng chỉ đạo của mình, tôi cho làm một công trình nhỏ đầu
tiên, đó là con đường phường Vạn Mỹ, đoạn từ cầu Tre đến Đoạn xá. Đường cũ
rải nhựa mỏng đã bong hết, chỉ còn cát đá, sỏi, đất lại là lối xuống cảng,
xe cộ đi lại nhiều, dân cư đông đúc, rất bụi. Quần chúng kêu ca, oán trách
chính quyền thành phố đã lâu, không ai giải quyết đoạn đường dài 800m này.
Tôi hỏi sở nhà đất và đô thị, sở giao thông và sở tài chính họ đều nói không
có tiền. Trong khi đó công nhân làm đường thất nghiệp, máy móc bỏ không. Tôi
nghĩ chỉ còn cách đi vay. Tôi biết xí nghiệp vận tải đường sông III trực
thuộc bộ Giao thông vận tải, đơn vị làm ăn khá, đồng chí Nghiệp giám đốc xí
nghiệp có quan hệ tốt với thành phố. Tôi đến gặp đồng chí Nghiệp xin vay một
triệu đồng, 6 tháng sẽ trả. Đồng chí Nghiệp đồng ý ngay và nói: “Nếu chậm
một năm Chủ tịch trả cũng được”. Tôi cảm ơn. Hôm sau, tôi cho triển khai
ngay, với nguyên tắc phải làm tốt, rải nhựa bảo đảm đường thành phố cấp cao,
khẩn trương thi công trong 40 ngày, kết thúc con đường đầy bụi bặm cho nhân
dân. Báo chí, đài, không cần nói, chỉ khi hoàn thành xong đúng kỳ sẽ nói.
Các đơn vị ra quân phối hợp làm chặt chẽ. Thiết kế, sơ đồ tiến độ thi công
làm rành mạch rõ ràng. Hàng ngày hết giờ làm việc tôi đến kiểm tra xem anh
em làm có đúng như lời nói không? Và mệnh lệnh của chủ tịch, anh em có chấp
hành nghiêm chỉnh chỉnh không?
Không kể những ngày chuẩn bị, tính từ ngày thi công, đúng 39,5 ngày con
đường nhựa phẳng lì, đen bóng hoàn thành. Tôi cũng thấy phấn khởi. Anh em đề
nghị tổ chức khánh thành, tôi bảo thôi vì chỉ có khúc đường ngắn, làm rút
kinh nghiệm. Nếu cần thì cho đài, báo thông tin cho nhân dân biết. Đợi khi
nào có công trình lớn sẽ tổ chức khánh thành. Mọi người vui vẻ đồng tình.
Tôi lại nghĩ: “Tiền đâu? Ở đầu mà ra cả”. Từ đó ai hỏi tôi xin vốn, xin
tiền, tôi bảo các đồng chí hỏi cái đầu của các đồng chí. Đến nay trở thành
thành ngữ: “Tiền đâu? Ở đầu mà ra”. Hải Phòng có cảng là thế mạnh, Hải Phòng
phải tận dụng thế mạnh này chứ.
Nhân dịp Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm Hải Phòng, tôi dựa vào ý kiến chỉ đạo
của đồng chí Tổng Bí thư thường nói: “Mỗi tỉnh thành phải tự lo, phải coi
mình như một nước nhỏ, phải tìm cách làm sáng tạo...” Tôi đề nghị anh Lê
Duẩn cho Hải Phòng mua một con tàu biển, chở hàng đi bán ở những thị trường
gần. Anh Lê Duẩn đồng ý ngay và còn khuyến khích nữa. Tôi lại đề nghị anh
nói với anh Lê Khắc, Bộ trưởng Ngoại thương giúp.
Sau một tuần được ý kiến của anh Ba (tên gọi thân mật của Tổng Bí thư Lê
Duẩn), chúng tôi mời anh Lê Khắc xuống làm việc ở Hải Phòng. Anh Khắc đồng ý
cho Hải Phòng mua tàu theo ý anh Ba. Thế là ngành vận tải biển do Trung ương
độc quyền, nay Hải Phòng, đơn vị đầu tiên có tàu biển xuất dương.
Ngay sau đó, tôi nhờ chị Trương Thị Nhân -giám đốc Công ty Vận tải và thuê
tàu (Vietfract) của Bộ Ngoại thương mua giúp một tàu biển cũ của Nhật Bản.
Đồng thời tôi khẩn trương xây dựng cảng Cửa Cấm, Cảng riêng của Hải Phòng,
để khi mua được tàu về là có Cảng đậu ngay, không phải thuê cầu Cảng của
Trung ương, khỏi bị động và tránh cước phí rất đắt. Không những thế khi đã
có Cảng, nếu tàu nhà không đậu hết, cho thuê cũng tăng được ít nhiều ngân
sách địa phương. Vì Cảng Trung ương lúc nào cũng chật ních tàu, tàu phải chờ
đợi lần lượt vào Cảng rất nhiều. Khi mua được tàu về, chị Nhân bảo tôi: “Anh
nghĩ xa thật. Có cảng cho tàu đậu ngay, còn có cảng để kinh doanh nữa”. Tuy
cầu cảng Cửa Cấm mới có một cầu tàu dài 105m, nhưng tàu mới, đỗ cảng mới
cũng thấy vui! Tàu cũ mua về cho sơn lại, với cái tên “Sông Cấm”, ngành Hàng
hải Việt Nam có thêm một “bạn mới”, “người địa phương Hải Phòng”.
Chúng tôi chuẩn bị chuyến hàng đem bán cho Hồng kông. Hàng hóa đủ loại:
tương, cà, mắm, muối... Vì là lính mới, dân “local”, bỡ ngỡ mọi thứ. Từ
thuyền trưởng đến thủy thủ đều nhờ Công ty Vietfracht giúp đỡ. Chuyến hàng
đầu tiên chạy từ Hải Phòng đến Hồng kông, mua bán xong, trở về hết một tuần.
Cả một tuần không đêm nào tôi ngủ được. Tôi lo đủ mọi thứ. Hồng kông lúc đó
là thị trường tư bản duy nhất ta có đại diện thương mại. Tôi rất sợ bị sự cố
xảy ra: sợ đắm tàu, sợ bị bắt, bị lừa. Vì toàn cán bộ mới ra buôn bán với
nước tư bản, hàng ngày các đồng chí trên tàu “Sông Cấm” đều báo cáo công
việc của mình cho Chủ tịch. Chủ tịch Uỷ ban thành phố như một anh Giám đốc
công ty, lo từng ly từng tý. Từ giấy thông hành (Passport), đến cuộc sống
thủy thủ, đến hàng hóa đem bán v.v... Tôi nhớ không kỹ lắm, tổng số hàng bán
giá khoảng trên một triệu US đô la, do công ty dịch vụ du lịch là đồng chí
Vân Nam chuẩn bị. Hàng mua về, bán lãi được gấp đôi. Thật là thành công rất
đáng phấn khởi.
Tôi chỉ đạo anh em rất chặt chẽ. Ai buôn lậu, lợi dụng tham nhũng, kỷ luật
nghiêm minh. Việc kinh doanh rất có hiệu quả, nhất là những chuyến đi Nhật
sau này, chở hàng của ta đi bán, mua hàng cũ về bán lại cho dân, thành ra xe
máy rất rẻ (lúc đó chỉ việc ra bãi rác chọn, trả cho công an Nhật mỗi chiếc
5 -10 $US là được giấy phép xuất). Xe máy của Nhật đem về định giá phải
chăng ở thị trường Việt Nam đắt như “tôm tươi”. Đi vài chuyến đã có tiền
thực hiện chương trình lấn biển, làm thủy lợi, mua hàng hóa cung cấp cho cán
bộ công nhân viên, nhất là mặt hàng vải vóc. Nhà nước phát phiếu nhưng không
có vải bán, thành phố có vải nhập về bán thu tem phiếu, bị lỗ một ít, nhưng
nhân dân phấn khởi. Năm 1981-1982 làm ăn khá lên, nhân dịp 2-9 và Tết âm
lịch, thành phố biếu cán bộ công nhân viên, các lực lượng võ trang, học sinh
trung học, đại học mỗi người 5m. Vì lúc này Nhà nước không còn vải để bán
theo tem phiếu nữa, coi như xóa bỏ tem phiếu.
Năm 1981 tôi cho mua thêm con tàu thứ 2 mang tên “Hoa Phượng”, trọng tải
2.900 tấn, có một khoang chở hàng đông lạnh, với giá gần 200.000 đô la. Khi
đoàn đi mua tàu ở Nhật Bản điện về xin ý kiến quyết định, tôi phải điện đi,
điện lại và gọi điện trực tiếp. Vì giá một con tàu có một khoang chở hàng
đông lạnh 1.000 m3, mới có 6 tuổi giá chỉ như vậy là quá rẻ. Tôi sợ bị lừa,
bảo các đồng chí fax cả lý lịch tàu về xem. Tôi vẫn lo bị lừa, nhờ các đồng
chí Tổng cục Hàng hải xác minh giá cả và kỹ thuật giúp. Các đồng chí đều nói
đúng, tôi mới đồng ý mua. Đúng là rẻ thật. Giá cước 1 m3 hàng lạnh là 600
$US, ta đang thiếu loại tàu này. Khi tàu về có hàng chở từ Nhật, nên chỉ sau
chưa đầy một năm đã thu xong vốn. Xem ra ngành hàng hải địa phương có vẻ làm
ăn tốt. Từ đó Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng cũng mua tàu
kinh doanh. Còn Bình Trị Thiên thì liên doanh với Hải Phòng mua con tàu thứ
3, tên là tàu “Huế-Hải Phòng”, 2.600 tấn còn rất mới và đẹp. Hôm tàu về cảng
Cửa Cấm, anh Vũ Thăng Bí thư Tỉnh uỷ từ Huế ra đón tàu. Chúng tôi rất hài
lòng về con tàu đẹp, giá cả phải chăng.
Đến lúc này, bộ máy của công ty vận tải biển Hải Phòng nhỏ bé (Haiphong
ship), đã đi vào nề nếp với 3 con tàu kinh doanh có hiệu quả. Tôi cho là
bước dầu đạt được yêu cầu.
Tôi chuyển sang khôi phục sản xuất công nghiệp địa phương, từ lâu do thiếu
nguyên liệu bị trì trệ. Trước hết là hợp tác với nhà máy xi măng, mua than
cốc cho nhà máy, chỉ yêu cầu trả lại thành phố xi măng bao, để thành phố xây
dựng công trình. Sau nữa tôi tìm cách thúc đẩy cho phát triển mạnh nghề giày
dép xuất khẩu, ngành may mặc, ngành giấy, hóa chất Sông Cấm, nhập thiết bị
xây dựng nhà máy chế biến ô xy, phát triển ngành tiểu công nghiệp và thủ
công nghiệp truyền thống, tạo công việc làm cho nhân dân.
Tiếp theo tôi mở công trình lấn biển lớn, kết hợp với xây dựng đường xuyên
đảo đi trên đất Hải Phòng, không phải qua đất tỉnh Quảng Ninh, một công
trình mà tôi ấp ủ từ lâu. Theo dự kiến, tuyến đường đi thẳng từ ngã 5 qua
đường Đà Nẵng, xuyên qua doanh trại quân đội (nhà tù Đoạn Xá) qua Hạ Đoạn,
Sâm Bồ, đắp đập ngăn sông Cấm, nối với đảo Đình Vũ, qua phà Đình Vũ, sang xã
Hoàng Châu huyện Cát Hải cũ để xuyên qua huyện này ra bến phà Gót sang Cát
Bà, ra đến Bến Bèo thị trấn Cát bà, tất cả dài 53 km.
Đoạn đường từ cảng Đoạn Xá ra Đình Vũ được thi công trước, với hai lực
lượng: lực lượng hàng vạn lao động làm đường đất và lực lượng các loại tàu
thuyền chở 25 vạn khối đá từ Thủy Nguyên, Cát Bà về làm đập Đình Vũ.
Công trường mở ra thu hút được rất nhiều lao động nông thôn, kể cả nông dân
Thái Bình, Hà Nam Ninh cũng ra làm với công mỗi ngày là 1 đồng và 1 kg gạo.
Lao động các nơi xếp hàng xin việc, làm cho thành phố sôi động hẳn lên.
Trong dịp đi kiểm tra cắm tuyến con đường “xuyên đảo”, tôi ghé thăm xí
nghiệp muối Phù Long. Các anh chị em cán bộ công nhân viên kể lại bao nhiêu
chuyện về cuộc sống trên hòn đảo xa đất liền, chuyện đồng chí Kích giám đốc
xí nghiệp bị sét đánh, anh chị em vô cùng thương tiếc. Trước khi ra về, tôi
hỏi anh chị em có đề xuất gì với thành phố không. Các chị em nữ nhao nhao đề
nghị: “Cho chúng cháu về công tác ở thành phố để lấy chồng. Chúng cháu ở đây
ế chồng hết”. Tôi trả lời chị em: “Cứ yên tâm. Hôm nay có một mình tôi không
thể giải quyết được”. Chị em cười ồ lên! Tôi cũng hơi ngượng, vì câu nói sơ
hở! Tôi vội nói tiếp: “Tôi sẽ tìm mọi cách để giải quyết nguyện vọng chính
đáng của chị em...”.
Trên đường về, tôi ghé vào trung đoàn 174 bàn với đồng chí Thông trung đoàn
trưởng, đồng chí Khóat chính uỷ, đưa trung đoàn đóng từ Mốc trắng Hiền Hào,
chuyển dần về đóng gần xí nghiệp muối Phù Long để tạo điều kiện cho chiến sĩ
làm quen với tự vệ nữ xí nghiệp.
Năm 2003 nhân dịp ra kỷ niệm ngày thành lập trung đoàn 174 ở thị trấn Cát
Bà, tôi gặp lại đồng chí Thông, đồng chí Khóat và hàng trăm chiến sĩ của
trung đoàn đã lập gia đình với nữ công nhân muối xí nghiệp Phù Long. Khi nói
chuyện với hội nghị, tôi nhắc lại chuyện này, mọi người đều vui lắm. Nay xí
nghiệp muối Phù Long đã giải tán, nhưng công nhân xí nghiệp ở lại Cát Bà làm
ăn rất đông, góp phần tăng lao động cho Cát Bà để xây dựng khu trung tâm du
lịch của thành phố và quốc gia.
Đối với nông nghiệp, sau khi cải tiến một bước quản lý “khoán sản phẩm đến
nhóm lao động và lao động xã viên” (cách nói và viết lúc đó phải như vậy.
Cấm không được dùng cụm từ “khoán hộ”, nhưng thực chất là khoán cho gia
đình), việc đầu tiên về kỹ thuật là phải giải quyết nước ngọt, vì các huyện
nông nghiệp Hải Phòng, đất đều bị nhiễm mặn. Để ngọt hóa đất canh tác, tôi
quyết định cho xây các cụm thủy nông, bơm nước ngọt từ các sông đầu nguồn,
như trạm bơm Trung Trang (có 24 máy bơm, mỗi máy 4.000 m3/giờ. Thường gọi là
“Cống Trung Lương”). Cống Thượng đồng, cống Rỗ, cống Dương Áo, cống An Sơn
đều có trạm bơm. Một số cống lớn có từ 4 đến 12 cửa như: cống Cổ Tiểu 2,
cống Cái Tắt. Ba cống ở đê lấn biển trên đường 14 là những cống chuyên dùng
tiêu mặn và ngăn nước mặn. không có Trạm bơm.
Các cống từng bước xây dựng, đã thực sự “ngọt hóa” đồng ruộng Hải Phòng. Sau
này cụm từ “ngọt hóa đồng ruộng” đã được nhiều người dùng, thành quen thuộc.
Sau khi cơ bản hoàn thành con đường xuyên đảo đi từ ngã 5 ra đến Đình Vũ, và
quai đê lấn biển khu Tràng Cát, đắp chặn cửa sông Cấm nối sang sông Lạch
Trạy, giáp với Thủy Giang, diện tích đất được mở rộng là 2800 ha.
Để tiếp tục công cuộc lấn biển, tôi đề nghị Thành uỷ và UBND thành phố quyết
định lấn biến nữa. Đồ Sơn, từ Cầu Rào đến xí nghiệp muối Đồ Sơn, nối với đê
“Cầm Cập” mở rộng thêm 2050 ha.
Tuyến đê này rất quan trọng, vì nó mở cho khu du lịch Đồ sơn một diện tích
rộng lớn, nối liền với nội hành, tạo ra khu kinh tế tổng hợp: du lịch, chăn
nuôi, trồng trọt,... phục vụ cho nội thành và xuất khẩu.
Nhưng trên thực tế về mặt địa lý, việc này rất khó khăn. Kinh nghiệm lấn
biển qua các năm, tháng khi đất bồi lên độ +2 trở lên so với “cost 0” Hòn
Dấu là an toàn. Nhưng dự án lấn biển lần này phải đắp một con đê mới dài 15
km, có đoạn sâu 0,8 vào quãng giữa đê, đúng gió hướng Đông.
Tuy được thông qua, nhưng nhiều đồng chí còn lo lắng và do dự. Đến ngày khởi
công, có những đồng chí lãnh đạo vắng mặt, vì sợ vỡ đê, không thành công sẽ
liên đới chịu trách nhiệm! Quả nhiên, gặp rất nhiều khó khăn, phải thay 3
lần chỉ huy công trường. Đầu tiên là đồng chí Công Đông, Phó giám đốc Sở
Nông nghiệp, sau đến đồng chí Trần Đảm, Giám đốc Sở Thủy lợi, một đồng chí
xông xáo, nhiệt tình, lăn lộn với công trường, biết kỹ thuật, nhưng sau trận
bão năm 1981, đê đã hàn khẩu xong bị vỡ 14 chỗ. Có chỗ vỡ rộng hàng trăm
mét, sâu 14¬15m. Đồng chí Trần Đảm đến gặp tôi, xin rút lui Trưởng ban chỉ
đạo công trình. Tôi hỏi han rất kỹ, thì đồng chí Trần Đảm nói vẫn quyết tâm
làm tiếp, nhưng phải tìm đơn vị khác thi công.
Tôi tiếp tục cùng các đồng chí Phó Chủ tịch Nguyễn Dần, Cao văn, Trịnh Thái
Hưng, Nguyên Mạnh, Trần Hạnh v.v... đi khảo sát thực địa mấy ngày liền. Từ
khi khởi công tôi thường xuyên có mặt tại hiện trường. Cứ sau giờ làm việc
buổi chiều tôi đến ngay công trình, trừ những ngày đi họp ở Hà Nội.
Tôi mời các đồng chí chỉ huy quân sự gồm đồng chí Võ An Đông, Tư lệnh trưởng
F350, đồng chí Nguyễn Chất, Phó Tư lệnh, đồng chí Trường Xuân, Chính uỷ...
đi khảo sát tiếp. Tôi quyết định giao cho đồng chí Võ An Đông làm chỉ huy
trưởng công trường. Những kinh nghiệm trong quá trình đắp con đê dài 15km và
những khuyết điểm tồn tại cũng được tổng kết. Địa hình, thủy triều, cũng
được xác định cho rõ. Tất cả phương án kỹ thuật chi tiết được thông qua,
lịch thi công từng tuần, từng tháng cũng được thông qua. Đặc biệt tháng “hạ
long”, chỗ vỡ sâu nhất phải được thực hiện trong tháng 3-1982.(Tháng có 3
con nước, và thủy triều lên, có biên độ thấp nhất trong năm).
-Mọi lực lượng công nghiệp của thành phố, lao động, được huy động tối đa
cùng với lực lượng vũ trang quyết tâm hoàn thành con đê trong năm 1982. Lực
lượng vũ trang điều tất cả khả năng cơ giới của mình để phục vụ tốt nhất.
Hàng ngày có 2 trung đoàn thay phiên nhau đắp những đoạn đê xung yếu.
-Thành phố huy động 10 tàu hút bùn thường xuyên phun cát, tạo chân đế bằng
cát cho những đoạn đê xung yếu.
-Chuẩn bị 10 sà lan giải bản, chở đến khu “Hạ Long”, mỗi sà lan chất đầy đá,
kéo thành một đoạn đê sắt, đánh đắm, làm thành một thân đê vững chắc.
-Ban chỉ huy cho đan rọ tre, rọ sắt, rồi dùng phà và thuyền chở đất củ, đất
sét, xa công trường hàng chục km, đem về cho vào rọ thả chìm để phục vụ “Hạ
Long”.
Để chuẩn bị cho “Hạ Long” đúng tháng 3-1982, mọi việc phải làm trong khoảng
6 tháng, từ tháng 10-1981, hết sức khẩn trương vất vả. Các lực lượng ra
quân, phối hợp rất đúng tiến độ. Hai đồng chí Phó Chủ tịch Nguyễn Dần, Cao
Văn, lúc nào cũng có mặt ở hiện trường cùng với các đồng chí khác và Ban chỉ
huy công trình, bảo đảm chính xác các công đoạn thi công. Để giảm áp lực
nước cho khu “Hạ Long”, ta đã phải khoanh các vùng chứa nước trong 2050 ha
đất mới lấn biển mở rộng ra nhiều ô nhỏ, có đê nhỏ và thấp để giữ nước khi
xuống, không đổ dồn vào điểm “Hạ Long”, tạo cho cửa “hạ long” có dòng chảy
vừa phải, không chảy xiết, khoét sâu, gây khó khăn cho công việc.
Điểm chính giữa nơi “Hạ Long” là chỗ bị vỡ đê dịp bão tháng 9-1981, sâu tới
14-15m, phải dùng các loại bạch đàn dài trên 10 mét làm cọc. Việc đóng cọc
này cũng nhờ ta biết được quá khứ, khi ngài Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên
bằng cách đóng cọc gỗ lim trên tuyến sông Bạch Đằng, sông Giá (mà ngày nay
đã tìm thấy hàng bãi cọc). Ngài đã nhờ quy luật thủy triều tạo nên chiến
thắng quyết định cho dân tộc.
Từ thực tế cuộc sống ấy, anh em bộ đội dùng phà chở gỗ bạch đàn, đợi khi
nước thủy triều cân bằng thả cọc xuống. Mỗi cọc có một đòn gánh buộc ngang
thân cây, tùy theo mức nước nông hay sâu mà để đòn gánh cao hay thấp. Hai
chiến sĩ đặt cây cọc từ phà xuống nước, đúng điểm đã định, rồi mỗi người đu
vào một đầu đòn gánh, nén cọc xuống cho vững chắc. Còn cọc xuống được sâu
nhờ nước chảy vào khi triều dâng, chảy ra biển khi thủy triều xuống, lắc đi,
lắc lại làm cho cây cọc xuống đến thềm đất cứng. Cứ như thế hàng ngàn cây
cọc đóng xuống điểm “Hạ Long”.
Đúng đến 3 ngày thủy triều thấp nhất, Ban chỉ huy bố trí lực lượng đánh đắm
sà lan sắt.
Sau đó mỗi kíp một tiểu đoàn làm 4 tiếng liền, chuyển các rọ đất, đá lấp vào
điểm “Hạ Long”. Trong 3 ngày liền tiến công liên tục, nâng cao điểm “Hạ
Long” lên +4, đạt yêu cầu đề ra. Hết thời hạn thủy triền thấp nhất, toàn
tuyến đê 15 km đều đạt cao trình +4m trở lên, kết thúc thời kỳ khó khăn nhất
của tuyến đê lịch sử này.
Khi mới khởi công, các cụ già xã Hòa Nghĩa, Anh Dũng gần đó nói: “Nếu ông
Thành đắp được con đề này, chúng tôi sẽ đi bằng đầu. Chúng tôi ở đây hàng
trăm năm, nếu lấn được chúng tôi đã lấn rồi, không phải đợi đến các ông. Nơi
này nguy hiểm lắm, đang đêm gió đông thổi vào thân đê, thủy triều lên là đê
vỡ. Đời này qua đời khác, không làm được...”.
Khi đê hàn khẩu xong, các cụ kéo nhau lũ lượt đi xem. Các cụ gặp tôi đều
cười vui vẻ, nói: “Chỉ có các ông cộng sản mới làm được...”. Tôi nói với các
cụ: “Nhờ hồng phúc của Bác Hồ, chúng tôi mới làm được...”.
Hàng tháng trời, các cụ, bà con nông dân ở các huyện ngoại thành rủ nhau đến
xem như xem cuộc triển lãm. Lúc đó còn hàng nghìn lao động đang bồi trúc cho
đê lên cao hơn. Quả là con đê đã làm chấn động nhân dân Hải Phòng với chiều
cao 6,5m so với “cost” Hòn Dáu, chân đê rộng 60m, mặt đê rộng 5m, độ xoải
bên ngoài 1/3 độ, trong đê 1/2, ngoài lát đá hoặc bê tông lưới thép. Đoạn đê
biển này hàng năm vẫn được gia cố, đã trở thành đường giao thông đi tham
quan biển Đồ Sơn, nó tồn tại như một minh chứng cho sự quyết lâm, lòng dũng
cảm của lãnh đạo và nhân dân Hải Phòng.
Đã hơn 20 năm kể từ ngày khánh thành “không kèn, không trống”, nhưng tôi
không thể quên những năm đầu, đêm mưa bão, tôi thắc thỏm đến mất ngủ. Khi
bão lớn nhất, tôi ra đê để kiểm tra độ bền vững của đê ra sao?
Nhớ lại lúc đó, khi quyết toán kinh phí chưa đến 1 đồng/m2, (nay 1 m2 lên
hàng triệu đồng). Những đồng chí ngại không dám ra dự lễ khởi công, sợ liên
quan trách nhiệm, nay cũng rất hoan nghênh. Có đồng chí nói với tôi: “Phải
hiểu biết khoa học, kỹ thuật, có quyết tâm và lòng tin mới làm được...”. Tôi
không dám nhắc lại chuyện cũ, và coi như tôi không nhớ. Có nhớ tôi cũng
không bao giờ nhắc lại sự “thận trọng” đó, làm mếch lòng đồng chí mình. Khi
tôi và đồng chí Nguyễn Dần, Chủ tịch UBND thành phố đưa đồng chí Đỗ Mười đi
thăm đoạn đê “xung yếu” này, đồng chí Đỗ Mười bảo tôi và đồng chí Dần: “Đê
này mà vỡ thì Bí thư với Chủ tịch đi tong!”. Tôi và đồng chí Dần cùng cười.
Sau khi hoàn thành xong hai dự án lấn biển lớn, và rất nhiều khó khăn, mở
rộng hơn 5.000 ha, bằng diện tích một huyện, chúng tôi mở thêm công trường
lấn biển khu Gia Minh, Thủy Nguyên gồm 1300 ha. Thành phố chỉ đạo cho các
huyện Vĩnh Bảo, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng... tổ chức lấn biển từng vùng nhỏ
300-500 ha, có sự viện trợ của thành phố. Các huyện ra quân làm rất tốt, mở
rộng thêm diện tích canh tác, đẩy nước mặn ra xa những thửa ruộng phía trong
đã thuần hóa, đưa năng suất lúa lên rất nhanh.
Để từng bước nâng dần đời sống của nhân dân, theo qui luật cơ bản của chủ
nghĩa xã hội: “Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, làm cho chủ
nghĩa xã hội từng bước được thực hiện”. Tôi chỉ đạo các đơn vị sản xuất kinh
doanh phải hết sức tiết kiệm, nhất là công ty xuất nhập khẩu, Haiphong Ship,
Cảng... là nơi tạo ra giá trị gia tăng. Có chỉ thị của Thành uỷ cấm các cấp
không được biếu xén cấp trên, hoặc khao thưởng “ăn nhậu” phung phí... để có
tiền góp với thành phố lo cho cán bộ công nhân viên chức, lực lượng võ
trang, các học sinh trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đóng
trên địa bàn thành phố gồm hơn 25 vạn suất (250.000 người), trong dịp quốc
khánh 2-9, Tết âm lịch có túi quà, và mỗi năm 5 mét vải thông dụng như ka
ki, pô-pơ-lin, vải đen may quần cho phụ nữ v.v... Đồng thời phải tìm kiếm
công việc làm cho người thất nghiệp. Kiên quyết, nhưng làm từng bước, xóa 6
tệ nạn xã hội như: mãi dâm, cờ bạc, ăn mày, trẻ em lang thang, văn hóa truỵ
lạc, mê tín dị đoan, ma chay giỗ Tết ăn uống linh đình tốn phí.
Về giao thông vận tải, cầu Rào đã qua 3 đời Chủ tịch là: Đồng chí Lê Đức
Thịnh, đồng chí Đỗ Chính, đồng chí Đặng Toàn, đến tôi là Chủ tịch thứ 4 mà
cầu Rào vẫn chưa hoàn thành. Nhân dân kêu ca: “làm quá chậm, như kéo Rào”.
Tôi cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Uỷ ban và đồng chí Lê Bảo,
nguyên Phó Chủ tịch, cố vấn xây dựng cho UBND, ngày đêm tìm mọi cách xử lý
các sự cố kéo dài đó. Cầu đã khởi công cuối năm 1973 sau khi ký hiệp định
Paris về Việt Nam, mà đến 1979 mới xong các mô và trụ. Lắp được mỗi bên một
nửa dầm đúc hẫng dự ứng lực, thép dự ứng lực mua từ chiến lợi phẩm ở sân bay
Tân Sân Nhất đã bị han rỉ. Kỹ thuật làm cầu kiểu mới này của Pháp, ta chưa
quen nên cầu khánh thành 1980 thì đến cuối năm 1987 bị đổ. Do dự đoán được
tình hình nên khi cầu sụp đổ không bị thiệt hại gì thêm, ngoài cầu đổ. Cây
cầu đầu tiên làm theo kỹ thuật “dự ứng lực” ở Việt Nam sau 7 năm bị đổ, làm
cho nhiều người không tin tưởng. Nhưng sau các cầu: Niệm Nghĩa, An Dương,
Phù Long đến vẫn vững. Đến nay, cả nước có hàng chục cầu đúc dầm hẫng, dự
ứng lực, có cầu dài hơn 2km vẫn tồn tại vững vàng.
Thực là vạn sự khởi đầu nan. Cầu Rào do đội cầu địa phương thực hiện, Bộ
Giao thông vận tải chỉ đạo kỹ thuật. Thời gian làm cầu quá kéo dài, vệ sinh
công nghiệp không đảm bảo. Cầu Rào đổ, cũng gây ra sự đàm tiếu trong một
thời gian. Tôi chỉ là người hoàn thành cầu trong giai đoạn cuối với thời
gian 6 tháng. Khi cầu đổ tôi đã về công tác ở Trung ương, nhưng sự đàm tiếu
đổ dồn vào tôi. Âu cũng là qui luật xã hội “túm người có tóc, chứ ai túm
người trọc đầu”. Tôi chỉ cười không giải thích, chỉ nói ngắn gọn: “Nếu ai
muốn nghiên cứu kỹ, hãy xem nhật ký công trình”. Mãi đến khi Bộ Giao thông
vận tải kết luận sự cố này, thì dư luận mới không đổ dồn vào tôi. Nhưng nay
vẫn còn 3 cầu: Niệm, An Dương, Phù Long, nên thơ Tố Hữu vẫn giữ được tính
chính xác của nó, kể cả cầu Rào đã được làm lại thành 4 cầu (4 cống 3 cầu, 5
cửa ô...).
Từ những việc làm thực tế ấy, tôi hình thành một mô hình xây dựng CNXH, dựa
trên đường lối của Trung ương vận dụng vào Hải Phòng, đề ra bước đi thích
hợp cho thành phố. Từng bước bổ sung, hoàn chỉnh về lý luận, kết hợp điều
kiện cụ thể cho một thành phố đi lên CNXH. Ý tưởng thì rất lớn, nhưng thực
hiện lại vô cùng khó khăn. Nhất là về lý luận, Nghị quyết của các kỳ đại
hội, của các khóa Trung ương cũng chưa đặt rõ tiêu chuẩn cho từng giai đoạn
tiến lên CNXH phải làm những việc gì, bước đi theo kế hoạch từng năm, dài
hạn 5 năm ra sao. Cái có định lượng thì thiếu định lính, cái có định tính
lại không có định lượng. Đọc tài liệu các nước bạn cũng thế. Vậy ta lấy cơ
sở gì xây dựng cho Hải Phòng một nền tảng, một lý luận thuyết phục để mọi
người ra sức tập trung trí tuệ, sinh lực, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH?
Tôi suy nghĩ trăn trở, vừa lắng nghe những tư duy, ý tưởng của các đồng chí
lãnh đạo chủ chốt của Trung ương, dần dần từng bước hình thành mô hình xây
dựng CNXH ở Hải Phòng. Mô hình đó, tư tưởng bao trùm là phải vì con người.
Sau nữa thuyết phục mọi người tin là làm được. Cái được trước hết là đem lại
lợi ích cho chính mình. Khi tham gia công sức để tạo ra của cải vật chất,
văn hóa tinh thần, kết quả trở lại với họ, họ có thể nhìn thấy, sờ thấy, đếm
được. Cách đây 5.000 năm Kinh Thi đã nói: “Văn chất bân bân, nhiên hậu quân
tử” (Văn hóa, vật chất dồi dào, sau đó mới có người tử tế). Nhưng sau 5.000
năm các vua chúa Trung Quốc vẫn để người dân nghèo đói, nói nhưng không làm,
muốn làm lại do cơ chế không có, không làm được. Đến đời Xuân Thu, Khổng Tử
đã viết Kinh Xuân Thu để quản lý Nhà nước, với nội dung lấy nhân nghĩa làm
đầu, “Quốc dic dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên” (Nhà nước lấy dân làm gốc,
người dân lấy ăn làm trước). Nói hay như vậy nhưng cũng không làm được là
bao. Khổng Tử còn nói: “Nhân dục vô nhai” (lòng tham không có đáy). Vua chúa
lúc ấy chỉ biết lợi dụng triết lý đó để phục vụ lợi ích của họ, không tận
dụng động lực này để phục vụ cho từng người, tức là phục vụ cho cả cộng
đồng. Thời kỳ cận đại, các khẩu hiệu của giới cầm quyền đưa ra trong cuộc
cách mạng dân chủ tư sản dân quyền như: “Tự do, bình đẳng, bác ái”; “Dân tộc
độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” rất hay, rất nổi tiếng. Nhưng
rốt cục vẫn là một thiểu số dân được hưởng những tư tưởng triết học tiến bộ
đó.
Trở lại các triết lý xa xưa của các vị Thánh “Tâm linh” như Đức chúa Jésu,
đức Phật Thích Ca, đức Thánh Mohamatt v.v..., tư tưởng học thuyết đẹp đẽ của
các ngài nhằm dạy cho loài người thương yêu nhau, đùm bọc giúp đỡ nhau khi
hoạn nạn. Rồi do lòng sùng kính, nhân loại cúng bái, tế lễ, cầu nguyện các
đấng “Chí tôn” phù hộ... dần dần trở thành những tôn giáo, đạo giáo khác
nhau đi vào cuộc sống của dân lành. Kết quả là tùy theo phong tục tập quán
của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, những tín đồ kế thừa giáo lý mở rộng
tư tưởng chính thống ra nhiều chi phái khác nhau.
Nhưng một điều đáng tiếc là tất cả những lý tưởng ban đầu của các đấng “Chí
tôn” vẫn không được thực hiện dù ở bất cứ nước nào.
Từ khi chủ nghĩa Marx ra đời, giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc
biệt là dân tộc bị mất quyền độc lập, làm nô lệ cho ngoại bang như Việt Nam,
trông chờ tin tường vào chủ nghĩa Marx rất lớn. Bác Hồ của chúng ta, người
đặt niềm tin vào chủ nghĩa Marx hơn ai hết, đã đem tư tưởng, triết học của
Marx vào Việt Nam, với những lời nói ngắn gọn, xúc tích, rất dễ hiểu, rất
chân thành, đi vào lòng người như: “Nước có độc lập mà người dân vẫn còn
nghèo đói, thì độc lập đó cũng không có ý nghĩa gì!”. Lời nói đó đã chỉ ra
cho chúng ta phải hành động, không nói suông, lừa dối quần chúng để nắm
chính quyền, dùng quyền hành cho mình sống “Vinh thân, phì gia”.
Tôi rất tâm đắc với tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Mỗi tỉnh phải
coi mình như một nước, phải chủ động sáng tạo, không ỷ lại trông chờ cấp
trên...” “Tỉnh uỷ, Thành uỷ là gì? Là lo cho dân ăn gì, mặc gì, mỗi năm được
ăn bao nhiêu quả trứng, bao nhiêu kg thịt? Chứ Tỉnh uỷ, Thành uỷ cũng chung
chung như Trung ương thì dân tin vào Đảng sao được...?” Vận dụng số vốn lý
luận về học thuyết Marx-lénine, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, có tham
khảo kinh dịch của Trung Quốc, các triết gia trước Marx như Hê-ghen,
Phơ-ec-bách, Di-đơ-rô, Ê- pi-quya v.v... Tôi nhận ra rằng Hải Phòng cần phấn
đấu xây dựng từng bước lên CNXH với sự lãnh đạo, giúp đỡ của Trung ương,
chắc chắn sẽ thành công. Để có thực tế phục vụ đúc kết lý luận, tôi tiếp tục
suy nghĩ, nhiều đêm, ngày hình thành ra mô hình CNXH ở Hải Phòng, quê hương
thứ hai biết bao yêu dấu của tôi.
Làm Bí thư Thành uỷ
Đúc kết trong thời gian hơn 30 tháng làm Chủ tịch UBND Hải Phòng, tôi đã
cùng đồng chí Bùi Quang Tạo và tập thể Thành uỷ, UBND Thành phố, cùng cán bộ
công nhân viên, lực lượng vũ trang, nhân dân Hải Phòng làm được một số công
việc mang tính mở đầu cho Hải Phòng từng bước đi lên CNXH. Việc lớn nhất là
xây dựng được một đội ngũ cán bộ tin cậy lẫn nhau và xây dựng được lòng tin
của nhân dân đối với lãnh đạo Thành phố.
Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã hình thành một tổ chức thực hiện hiệu
quả mọi chính sách, chủ trương đề ra gồm UBND và các cán bộ chủ chốt của sở,
ngành. Các Phó Chủ tịch lúc ấy là đồng chí Nguyễn Dần (sau làm Chủ tịch thay
tôi), đồng chí Võ Thị Hoàng Mai, đồng chí Cao Văn, đồng chí Trịnh Thái Hưng,
đồng chí Nguyễn Mạnh, sau đó là các đồng chí Nguyễn Đình Nhiên, Trương Quang
Được, Trần Hạnh, Đào An, Nguyễn Thị Bảy. Bên Thường trực Đảng có đồng chí Lê
Thành Dương, Lê Danh Xương. Cấp sở có những cán bộ bị kíp lãnh đạo trước
đánh giá là trung bình, thì qua những công việc làm cụ thể, nay đã hoàn
thành nhiệm vụ, được nhân dân khen ngợi như các đồng chí Dương Khắc Thụ, uỷ
viên Thường vụ, Giám đốc Sở Công an, đồng chí Nguyễn Anh Đề, Giám đốc Nhà
đất và công trình đô thị, đồng chí Trần Đảm, Giám đốc Sở Thủy lợi, đồng chí
Lê Vân, Giám đốc Sở xây dựng, đồng chí Phạm Văn Diệt, Giám đốc Sở Giao thông
vận tải, đồng chí Hồ Chu, Giám đốc Sở văn hóa v.v... các Giám đốc những công
ty chuyên trách như đồng chí Vân Nam, Giám đốc Công ty Du lịch dịch vụ, đồng
chí Cần, Giám đốc Công ty vệ sinh đô thị v.v... đã góp phần quan trọng vào
việc hoàn thành công việc của thành phố lúc ấy.
Đối với ngoại thành, khu vực nông nghiệp phải kể đến các đồng chí Vũ Ngọc
Lan, Bí thư Huyện uỷ Kiến An (thị xã Kiến An + huyện An Lão), đồng chí Đào
Hướng, Bí thư Huyện uỷ Thủy nguyên, đồng chí Lựu, Bí thư huyện Tiên Lãng,
đồng chí Nguyễn Kỳ, Nguyễn Việt, Bí thư Huyện uỷ An Hải, đồng chí Rường, Bí
thư Huyện uỷ Vĩnh Bảo, đồng chí Trần Khóat, Bí thư Huyện uỷ Cát Hải, cùng
các đồng chí Chủ tịch UBND huyện đã góp phần to lớn vào phong trào khoán sản
phẩm trong nông nghiệp theo chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Nghị quyết 24 của
Ban Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng. các quận nội thành có các đồng chí Bí thư
Quận uỷ, Chủ tịch UBND như quận Lê Chân có đồng chí Nguyễn Thị Xuân Mỹ, và
quận Hồng Bàng có đồng chí Nguyễn Văn Cảnh, đồng chí Hiến, quận Ngô Quyền,
đồng chí Vịnh, Bí thư quận uỷ đều là nòng cốt của các mũi tiến công. Riêng
lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng chủ đạo lấn biển khai hoang có Đại
tá Võ An Đông, Đại tá Nguyễn Chất, Thiếu tướng Trường Xuân, Đại tá Nguyễn
Đình Thản, Đại tá Vũ Văn...
Ngoài ra còn phải kể đến một đội ngũ cán bộ “thầm lặng”, nhưng sự đóng góp
của anh chị em rất quan trọng cho sự phát triển của thành phố. Đó là các tổ
chức quần chúng, các Ban của Đảng và Văn phòng Thành uỷ. Họ làm tham mưu cho
cấp uỷ, viết bao nhiêu công văn, chỉ thị, nghị quyết để chuyền đạt những tư
tưởng chỉ đạo của Thành uỷ xuống cơ sở Đảng và quần chúng. Các đồng chí đã
làm việc ngày đêm, nhưng ít ai biết đến như các đồng chí Trần Mạnh, Chánh
Văn phòng Thành uỷ, đồng chí Quản Đức Khiêm, Thư ký của Chủ tịch và Bí thư
Thành uỷ, đồng chí Nguyễn Lộ, đồng chí Nguyễn Văn Đồng, Phó Văn phòng Thành
uỷ. Đồng chí Phạm Văn Phách, Chánh Văn phòng và Bùi Mạnh Tưởng, Phó Văn
phòng Uỷ Các đoàn thể quần chúng như chị Trần Thị Thanh Thọ, Uỷ viên Thường
vụ, Bí thư Hội phụ nữ, đồng chí Trần Sáng, Bí thư Thành đoàn, chị Thịnh, Uỷ
viên Thường vụ, Trưởng ban Kiểm tra, và nhiều các đồng chí lãnh đạo khác
thuộc khối dân vận và công tác Đảng, cũng đã góp phần rất lớn vào công việc
xây dựng phát triển cơ sở Đảng và phong trào quần chúng, hướng vào mục tiêu
xây dựng thành phố. Ngoài ra sự kết hợp chặt chẽ với Quân khu 3 cũng góp
phần thắng lợi không nhỏ. Mặt trận này có Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng
tướng Nguyễn Trọng Xuyên và các đồng chí tướng, tá khác. Bộ Tư lệnh Hải quân
có Thiếu tướng Đoàn Bá Khánh, Tư lệnh Hải quân, các đồng chí Tướng Trà,
Tướng Phát... Sư đoàn phòng không 363 và các quân binh chủng của Bộ Quốc
phòng đóng tại địa phương, tất cả đều hăng hái, triệt để hợp tác ủng hộ Hải
Phòng vô điều kiện, hưởng ứng phong trào thi đua “làm giàu, đánh thắng” của
Quân khu 3 một cách nồng nhiệt.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (2-1982)
Tôi được Đại hội bầu làm Uỷ viên Trung ương dự khuyết khóa V (lúc ấy còn có
uỷ viên dự khuyết, uỷ viên chính thức - nay chỉ bầu uỷ viên). Tôi được phân
công làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng. Anh Bùi Quang Tạo về Trung ương làm Chủ
nhiệm Thanh tra Chính phủ.
Sang năm 1983, tôi và đồng chí Nguyễn Tấn Trịnh được chọn trong số uỷ viên
dự khuyết vào uỷ viên chính thức (do các đồng chí uỷ viên chính thức bầu)
Với thực tế của hai năm, bốn tháng làm Chủ tịch, từ những ý tưởng đã tổ chức
thực hiện thành những công trình, những sản phẩm to nhỏ ở khắp thành phố,
điều đó đã giúp tôi hình thành cơ chế xây dựng một mô hình XHCN ở địa
phương, Thành phố Hải Phòng. Gần 32 năm được điều động đến Hải Phòng, khởi
đầu là Bí thư Quận uỷ Ngô Quyền, nay làm Bí thư Thành uỷ, tôi lo lắng đêm
ngày, đem hết sức lực, trí tuệ, suy nghĩ làm cho được ý tưởng mình đã theo
đuổi từ khi được kết nạp vào Đảng, với bao hy vọng sẽ thành công. Mặc dù sức
khoẻ tôi không phải là tốt lắm, năm 1982-1983 bệnh tôi kéo dài, chữa mãi
không khỏi, công việc lại quá nhiều, nhất là sau khi tổ chức thành công Đại
hội Đảng thành phố lần thứ 8 nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 5 để thống nhất tư tưởng và hành động toàn Đảng bộ và nhân dân
thành phố. Sau đó, tôi bị sưng màng phổi, viêm họng hạt, chuyển sang “hen
xuyễn”. Nhờ các bác sĩ Đông, Tây y, và tự rèn luyện nâng thể lực lên, nên
tôi đã qua khỏi. Cũng từ đó sức khoẻ được nâng lên, đủ sức chống chọi với
bao gian nguy thử thách về mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chính trị, để tồn
tại đến ngày hôm nay...
Để triển khai Nghị quyết Đại hội 8 của thành phố, tôi chỉ đạo Uỷ ban Nhân
dân thành phố và các ngành thực hiện thật tốt các công trình làm dở dang.
Tôi cũng xây dựng quy chế làm việc giữa Đảng và Chính quyền, không chồng
chéo giẫm chân lên nhau. Khi đã có nghị quyết của Đảng, chính quyền cụ thể
hóa và triển khai thực hiện. Đảng không “lấn sân” của chính quyền. Khi có
khó khăn chính quyền không thể khắc phục được, Đảng sẽ giúp đỡ. Công việc
của Đảng là trực tiếp nghiên cứu xây dựng các Nghị quyết trên bình diện mô
hình XHCN, đi từng bước có chọn lọc, Nghị quyết nào ra trước, Nghị quyết nào
ra sau cho phù hợp. Trước khi ra Nghị quyết, tập thể Thành uỷ đi thực tế
khảo sát tình hình, tổ chức thí điểm làm được khoảng 30% có kết quả rồi mới
họp Thành uỷ ra Nghị quyết. cách làm đó coi như qui trình ra các Nghị quyết
của Đảng, nó tránh tình trạng duy ý chí và giáo điều của đồng chí lãnh đạo
chủ chốt. Chưa khảo nghiệm, mới nghe báo cáo, mới nảy sinh ý nghĩ hay hay
trong đầu đã vội vàng ra Nghị quyết, như vậy Nghị quyết sẽ không sát với
thực tế, quần chúng không chấp nhận, làm mất uy tín của Đảng, mất công sức
của cán bộ cấp dưới.
Trong 4 năm 3 tháng làm Bí thư Thành phố, tôi đã chủ trì đề ra 46 Nghị quyết
về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, văn hóa, đời
sống, dịch vụ du lịch... Tính bình quân hơn một tháng ra một Nghị quyết,
nhưng không Nghị quyết nào trùng với Nghị quyết nào, được nhân dân, Đảng
viên hoan nghênh thực hiện rất nhiệt tình, chưa có ai kêu là Thành uỷ ra quá
nhiều Nghị quyết! Tất cả Nghị quyết đó, cái nọ bổ sung cho cái kia hình
thành một mô hình XHCN về lý luận và thực tế. Có những Nghị quyết như: Ngói
hóa nông thôn; Xóa bỏ hố xí thùng, xây dựng hố xí tự hoại, giải phóng cho
chị em làm vệ sinh thường phải vất vả suốt đêm, kể cả ngày 30 Tết; Nghị
quyết bê tông hóa ngõ xóm trong nội thành, không để tình trạng đi lại lầy
lội trong các xóm ngõ; Nghị quyết xóa bỏ “6 tệ nạn xã hội” trong một năm,
không còn ăn mày, ăn xin và trẻ em lang thang trong thành phố; Nghị quyết
tiếp tục cải tiến quản lý nông nghiệp; Nghị quyết về giao thông; Nghị quyết
về Công nghiệp và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; Nghị quyết
về Văn hóa quần chúng; Nghị quyết về Thương nghiệp và thu mua lương thực;
Nghị quyết về Xây dựng cơ bản, về lấn biển khai hoang mở rộng thành phố
hướng ra biển; Nghị quyết về Xây dựng Đảng, các Tổ chức quần chúng v.v...
Tất cả các Nghị quyết được thực hiện đến nơi, đến chốn từ 70% trở lên. Tất
cả những kết quả thực hiện các Nghị quyết được người dân nhìn thấy, sờ thấy,
đếm được...
Có những việc làm của Thành uỷ, UBND Thành phố, đến nay tôi đã rời khỏi
Thành phố về Hà Nội công tác gần 20 năm nhưng mỗi khi về Hải Phòng gặp nhân
dân, cán bộ, là anh em nhắc đến như gói quà Tết hàng năm của Thành phố vào
những dịp 2-9 Quốc khánh, Tết âm lịch... Những kỷ niệm không bao giờ quên!
Rồi công trình lấn biển, hố xí tự hoại, đường lát bê tông hoặc tấm đan... đi
đến đâu nhân dân cũng nhắc tới...
Hôm 30-5-2004 vừa rồi tôi ra Đình Vũ xem đường xuyên Đảo. Đến phà Đình Vũ,
anh em phụ trách bến phà, cũng như nhân dân xúm lại quanh tôi hỏi thăm sức
khoẻ. Đồng chí Vang phụ trách ở đó nói: “Bác để lại “lộc” cho chúng con được
hưởng, ai cũng nhớ công ơn của bác...”. Tôi rất cảm động, nói: “Đảo Đình Vũ
với đường xuyên Đảo đã góp phần làm cho hàng vạn người giàu có đấy! Các đồng
chí quản lý tốt sẽ giàu to. Đồng chí rất trẻ, tôi gặp đồng chí lần đầu,
trông chiếc thẻ đeo trên ngực mới biết tên tuổi. Vậy mà, đúng như sách cổ đã
dạy: “Vi ân bất cầu báo, thụ ân bất năng vong...” (làm ơn không cần mong
được báo đáp lại, chịu ơn không nên quên). Cảm ơn đồng chí đã thể hiện tinh
thần đó”. Tối hôm ấy tôi về làm việc ở Thành phố, đồng chí Then, nguyên Bí
thư Huyện uỷ An Lão, nay là Uỷ viên Thường vụ Trưởng ban Tuyên giáo Thành uỷ
Hải Phòng (Đồng chí Then người thôn Đại, xã An Thọ, huyện An Lão) anh em tâm
sự, đồng chí nhắc lại bao kỷ niệm hồi làm khoán trong nông nghiệp, lúc chưa
khoán dân đói như thế nào, một số người phải đi tha phương cầu thực, sau làm
khoán phấn khởi như thế nào, và nay cả huyện An Lão đều khá giả. Thật là bao
nỗi buồn vui sâu sắc thời kỳ quá khứ...
Những năm 1983-1984 nông nghiệp Hải Phòng phát triển rất nhanh. Lương thực
coi như đã tự túc được cho cả phi nông nghiệp. Hàng năm không phải lên Trung
ương xin gạo, xin mỳ. Ngoài mua thóc nghĩa vụ (giá 0,2 đ//kg thóc) Hải Phòng
được đồng chí Tố Hữu, đồng chí Trần Phương đồng ý cho mua thóc của nông dân
sau khi làm xong nghĩa vụ với Nhà nước với giá 1,70đ/kg. Tuy giá ngoài cao
so với giá nghĩa vụ nhiều, nhưng với giá nhập bằng đô la Mỹ chỉ bằng gần
1/2, Nhà nước lại không phải lỗ vốn bán lương thực cho Hải Phòng, còn Hải
Phòng có thêm lương thực trả cho lao động ở các nơi về thành phố tham gia
lao động lấn biển với giá 1kg và l đồng/ ngày công lao động. Mọi người phấn
khởi lắm.
Thời gian đó Hải Phòng được coi như mô hình phát triển kinh tế năng động của
cả nước. Khách đến tham quan ngày một đông. Báo chí ca ngợi, có ngày báo
Nhân Dân đăng 4 bài về Hải Phòng. Bí thư Thành uỷ Hải Phòng cũng được cấp
trên các ngành quan tâm. Nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo chủ chốt như Tổng Bí
thư Lê Duẩn, Chủ tịch nước Trường Chinh... cũng rất quan tâm, đã có những dự
kiến này dự kiến khác về tương lai của Bí thư Thành uỷ (những dư luận đó
cũng làm cho một số người lo lắng và dần dần trở nên đố kỵ, ghen tỵ. Sự ác ý
ấy hình thành dần dần từ nhỏ đến lớn, đến ngày 2-8-2003 mới bộc lộ hết để
khách quan nhìn nhận có cơ sở khoa học kết luận chính xác, có căn cứ, không
suy diễn... Việc này khá dài, 20 năm sau, mới hiểu thấu được sự tình...).
Trong khi phong trào đang lên, biết bao nhiêu đoàn các địa phương, các ngành
đến Hải Phòng học tập, rút kinh nghiệm, tổng kết, thì giữa năm 1983, đồng
chí Đỗ Mười nhân danh Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cử 3 Đoàn sắp xếp công
nghiệp về 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh.
Đoàn về Hải Phòng do đồng chí Tô Duy làm trưởng đoàn. Về Hải Phòng trong lúc
tình hình chính trị, tư tưởng và các mặt hoạt động rất tốt đẹp... Đồng chí
Tô Duy xuống không làm việc với Thành uỷ mà chỉ làm việc với UBND thành phố.
Đồng chí còn nói với đồng chí Bắc, cán bộ Văn phòng Uỷ ban và một số đắc
trong Đoàn là: “Tôi không gặp anh Thành, anh Thành có đến gặp tôi thì
gặp...”. Đồng chí Tô Duy cử đồng chí Phí Đức Phong, cán bộ của Đoàn đến gặp
tôi nói: “Kỳ này Đoàn xuống sắp xếp công nghiệp để giúp cho Hải Phòng phát
triển cả công, nông nghiệp...”.
Mới mấy tháng trước đây, đồng chí Tô Duy xuống Hải Phòng gặp tôi rất thân
mật. Nhất là đầu năm 1982, khi tôi làm Bí thư Thành uỷ, đồng chí Tô Duy cùng
với vợ là chị Lê Thu, các cháu đến thăm Hải Phòng, chúc mừng tôi. Trong bữa
cơm thân mật, chị Lê Thu còn nói: “Mình với Duy có nhiều kỷ niệm với cậu
Thành lắm! Sau đám cưới chúng mình, chúng mình còn đến thăm cậu ở Hồ Lao
(nơi căn cứ địa của Thành uỷ Hải Phòng thời kháng chiến ở huyện Sơn Động,
Bắc Giang)”. Vợ chồng đồng chí Tô Duy tổ chức cưới ngày 8-7-1951, đám cưới
tập thể, ngoài đồng chí Tô Duy và chị Lê Thu, còn có đồng chí Lê Xuân Thịnh
với chị Kiệm; đồng chí Nghĩa (tức Linh) với chị Phụng Dương. Hiện nay 5
người còn sống, chỉ có anh Thịnh hy sinh tại Thái Bình năm 1952. Không những
thế, từ ngày tôi về công tác ở Hải Phòng (tháng 6-1950), quan hệ giữa tôi và
đồng chí Tô Duy vẫn tốt đẹp. Trước khi đi công tác Hà Nội (khoảng năm
1960-1961) đồng chí Tô Duy còn đến thăm tôi ở cơ quan chào “tạm biệt”. Trong
các năm sau, mỗi năm một vài lần lên Hà Nội công tác, tôi thường vào thăm
đồng chí Tô Duy. Năm 1980 khi tôi học lớp quản lý kinh tế do giáo sư Liên Xô
giảng, khóa I tại trường Hành chính Trung ương, lúc đó tôi là Chủ tịch UBND
thành phố Hải Phòng, đồng chí Tô Duy còn mời tôi về Xuân Cầu chơi, còn trực
tiếp trẩy bưởi mời tôi ăn. Khi đi trên chiếc cầu tre vào Xuân Cầu, tôi còn
dắt đồng chí, vì đồng chí nói với tôi đang bị 6 bệnh nên chân đi bị run. Khi
tôi ra về đồng chí đề nghị tôi giúp cho 60 tấn xi măng để làm cây cầu này,
và sửa chữa nhà lưu niệm của đồng chí Tô Hiệu, là chú ruột đồng chí Tô Duy.
Tôi giải quyết ngay cho xã về Hải Phòng lấy xi măng sau một tuần. Lúc đó xi
măng mua khó khăn lắm! Hải Phòng dùng ngoại tệ mua than “cốc”, gia công cho
nhà máy xi măng để đổi thành phẩm mới có. Đồng chí Tô Duy rất phấn khởi.
Cả một quá trình thân thiện với nhau, đột nhiên có cuộc sắp xếp công nghiệp,
đồng chí Tô Duy làm Tổ trưởng với thái độ “bất thường” đối với tôi... Tất
nhiên tôi phải đánh dấu hỏi (?).
Nhưng thái độ của tôi vẫn bình thường. Muốn nói gì thì nói, đồng chí Tô Duy
đã có thời kỳ là cấp trên của tôi, tôi gặp đồng chí Chủ tịch Nguyễn Dần dặn
làm việc, hợp tác chặt chẽ với đồng chí Tô Duy.
Qua giao ban hàng tuần với đồng chí Nguyễn Dần, tôi biết được là các đồng
chí đi sắp xếp công nghiệp thì ít, nhưng xuống nông thôn, tìm hiểu điều tra
tình hình thì nhiều, với thái độ cố tình moi móc khuyết điểm... Qua báo cáo
của các đồng chí Bí thư, Chủ tịch các huyện mà đoàn đồng chí Tô Duy đến làm
việc, thì thấy ý định của đoàn không phải trọng tâm sắp xếp công nghiệp, họ
tìm hiểu tình hình nông nghiệp là chính.
Cuối năm 1983 đầu năm 1984 thì đoàn rút về Hà Nội, sau cuộc làm việc với Ban
Thường vụ Thành uỷ. Trong cuộc họp vui vẻ, thân mật, đồng chí Tô Duy nhắc
lại ý đồng chí Phí Đức Phong là: “giúp Hải Phòng phát triển công nghiệp như
nông nghiệp...” rất thiện chí!
Sau ít ngày, đồng chí Đỗ Mười mời tôi và đồng chí Nguyễn Dần lên số 8 Chu
Văn An làm việc.
Trưa hôm đó đồng chí Đỗ Mười mời cơm chúng tôi rất chu đáo. Buổi sáng làm
việc, khi đọc báo cáo của Tổ sắp xếp công nghiệp, tôi thấy rõ ý đồ của Tổ,
trong đó có câu: “Hải Phòng chú trọng phát triển nông nghiệp là trệch hướng,
sai đường lối của Đảng”. Khi phát biểu với đồng chí Đỗ Mười, tôi phân tích
Hải Phòng là thành phố công nghiệp, Thành uỷ rất coi trọng phát triển công
nghiệp, đồng thời rất coi trọng phát triển nông nghiệp để giải quyết lương
thực cho công nhân là rất đúng với thực tế. Khoán sản phẩm, một mô hình đã
được chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng cho thực hiện trong toàn
quốc, sao lại bảo Hải Phòng đi trệch hướng? Thái độ của tôi nói rất găng,
nhưng đồng chí Tô Duy hơi mỉm cười, khiến tôi phải đánh dấu hỏi (?) lần thứ
hai. Sau đó tôi xin phép anh Mười ra về, vì chiều có cuộc họp. Anh Mười bảo
tôi ăn cơm rồi sẽ về và nói: “Bí thư về thì làm việc với ai?”. Tôi báo cáo
anh Mười có Phó Bí thư - Chủ tịch và Văn phòng ở lại ghi chép, ý anh thế nào
tôi sẽ thực hiện nghiêm chỉnh...
Nhưng rút cục tôi chỉ biết về báo cáo của Tổ sắp xếp công nghiệp còn ý anh
Mười thế nào tôi không được biết.
Ngày 14-4-1984 Bộ Chính trị và Ban Bí thư triệu tập tôi lên Hà Nội làm việc
hai ngày. Tổng Bí thư Lê Duẩn chủ trì, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng, Lê Đức Thọ... cùng dự, tổng số khoảng hơn 60 người đủ các ngành của
Trung ương. Anh Mười không đến dự, nhưng cử người của Văn phòng đến theo rõi
tình hình hội nghị. Về phía Hải Phòng còn có đồng chí Trịnh Thái Hưng, Phó
Chủ tịch cùng tham dự với tôi. Qua nghe báo cáo tình hình, tôi trình bày
khoảng 2 giờ, các đồng chí phát biểu đánh giá rất cao việc thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5, nhất là Hải Phòng đã vận dụng sáng
tạo, phát triển công, nông nghiệp có bước tiến mới, góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế cả nước, mặc dù trước đó đã có báo cáo của Tổ sắp xếp công
nghiệp do đồng chí Tô Duy gửi đến, vẫn giữ nguyên như cũ, vẫn ghi: “Hải
Phòng thành phố công nghiệp mà chú trọng phát triển nông nghiệp là trệch
hướng...” Hội nghị không ai nói đến vấn đề này cả.
Khi các đồng chí nhắc nhiều và đánh giá cao việc phát triển nông nghiệp Hải
Phòng, nhân có ý kiến hỏi, tôi báo cáo bổ sung, có nói một ý như sau: “Thế
mà đồng chí phụ trách Tổ sắp xếp công nghiệp Hải Phòng lại phê bình Thành uỷ
phát triển nông nghiệp là trệch hướng...”. Anh Lê Duẩn nói chen vào: “Nói
tầm bậy...”.
Sau khi tan hội nghị, tôi nghĩ mọi chuyện vậy là bình thường, và như vậy
Trung ương đã bác bỏ báo cáo của Tổ sắp xếp công nghiệp ở Hải Phòng.
Tối hôm đó, tôi và đồng chí Trịnh Thái Hưng đến thăm anh Mười, thâm tâm tôi
nghĩ chỉ có thân tình thôi. Ai ngờ hai chúng tôi đến nhà, anh Mười tỏ vẻ
không bằng lòng, không bắt tay chúng tôi. Anh đứng dậy đi đi, lại lại nói
gay gắt: “Cậu Thành phê bình mình, nói đồng chí phụ trách công nghiệp phê
bình Hải Phòng trệch hướng, cứ nói đi nói lại mãi”.
Tôi và đồng chí Hưng nhìn nhau. Anh Hưng hỏi tôi: “Chúng mình có nói gì anh
Mười đâu nhỉ?”. Tôi rất phân vân suy nghĩ, không rõ anh Mười nghe ai phản
ảnh mà phẫn nộ đến như thế. Tôi để anh Mười nói cho hết cơn nóng rồi mới
nói: “Tôi báo cáo anh Mười, có anh Hưng làm chứng, tôi chỉ một lần nói:
“Đồng chí phụ trách Tổ sắp xếp công nghiệp Hải Phòng của Trung ương phê bình
Hải Phòng làm nông nghiệp là trệch hướng, không nêu tên ai...”. Hai chúng
tôi kể lại cuộc họp ngày hôm nay cho anh Mười nghe, mãi anh mới vui vẻ nói
chuyện với chúng tôi... Khoảng 40 phút, chúng tôi xin phép ra về (Lúc này
tôi vẫn nghĩ anh Mười nghe nhầm).
Hôm sau đến họp, mọi người lại chia buồn với chúng tôi về cơn lốc tối vừa
qua, lật úp một thuyền ở bến Bính, phía bên Thủy Nguyên làm chết hơn 20
người... Tôi rất buồn.
Tại sao anh Mười lại nổi nóng với mình? Tôi tìm hiểu thêm ở Văn phòng Trung
ương mới biết chính anh Mười là người phản đối Hải Phòng, lấy nông nghiệp
làm trọng là trệch hướng, coi nhẹ công nghiệp... Tôi bắt đầu có “ấn tượng”
về cách làm của Tổ sắp xếp công nghiệp do anh Tô Duy làm Tổ trưởng. Phải
chăng cách làm ấy có mục đích của nó? Trên đường trở về Hải Phòng, tôi nhắc
anh Trịnh Thái Hưng: “Anh Mười đối với Hải Phòng không như trước nữa đâu!
Anh em mình làm ăn cần thận trọng” (đồng chí Trịnh Thái Hưng đã mất năm
1996). Đồng chí Hưng cũng bổ sung cho tôi thêm một số tình hình của Tổ sắp
xếp công nghiệp khi làm việc ở Hải Phòng, có nhiều hành vi xoi mói, tìm
khuyết điểm, giống như đồng chí Nguyễn Dần, Chủ tịch thành phố đã phản ảnh
với tôi.
Sau sự việc đưa Hải Phòng ra đấu về khoán sản phẩm nông nghiệp là sai đường
lối phát triển của một thành phố công nghiệp không thành công, nhóm người
của anh Tô Duy còn tung ra dự kiến sẽ “hạ bệ” tôi hoặc điều về Trung ương để
đe doạ tôi. Tôi vẫn làm việc và làm việc tích cực hơn. Đối với anh Mười tôi
vẫn một mực quí trọng là Thủ trưởng cũ, không nghi ngờ, dù dư luận nói đến
tai tôi những điều nhận xét về tôi của anh Mười không có thiện chí. Anh Mười
thỉnh thỏang còn gọi đồng chí Nguyễn Dần, Chủ tịch UBND lên báo cáo tình
hình Hải Phòng. Anh răn đe anh Dần không được nghe Đoàn Duy Thành và nói:
“Bỏ tem phiếu là có tội”. Anh Dần về kể lại với tôi, tôi bảo: “Phát tem
phiếu mà không có hàng bán cho dân mới là có tội, lừa dối dân, tạo cho mậu
dịch viên và cán bộ tham nhũng”. Đến nay anh Dần thường kể lại chuyện này.
Ngày 19-6-2004 anh Dần còn kể chuyện này cho đông người nghe ở nhà khách số
2 Bến Bính Hải Phòng.
Qua việc này và nhiều việc khác về thái độ của anh Mười đối với tôi, nhất là
sau khi có những nhận xét đánh giá cao về tôi của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Chủ
tịch nước Trường Chinh và các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị khác, tôi cảm
thấy có điều gì đó chẳng lành.
Tôi bàn với nhà tôi sẽ tập trung làm việc thật tốt cho Thành phố, đến
13-5-1985 kỷ niệm 30 năm giải phóng, tôi xin nghỉ. Tôi đã có đơn đề nghị từ
lâu, rằng sẽ làm cho đủ 40 năm tham gia cách mạng là xin về hưu. Nhà tôi hỏi
tại sao? Tôi nói:
-Nhân dục vô nhai” (lòng tham vô đáy), mình cũng như người khác, phải biết
dừng ở điểm nào nên dừng. Mình lại là nhà nho, thấm nhuần đạo lý của Khổng
Tử, của Tư tưởng Bác Hồ, mình làm chỉ vì mục đích vì dân vì nước, không vụ
lợi. Làm Chủ tịch rồi Bí thư Thành uỷ một thành phố đi đầu trong xuất nhập
khẩu đến hôm nay nhà mình có một đồng đô-la nào đâu? Anh chỉ cầm 200 USD năm
1978 làm Trưởng đoàn đi thăm Nhật Bản. Được cấp 200 đô la để chi cho cả
đoàn, khi về không tiêu một xu lại trả lại tài chính đủ 200 USD. Không những
thế, Nhật Bản còn cho mỗi người 300 USD do không phải lấy vé máy bay lượt
về, do phía Nhật đài thọ, cũng đem về nộp cho Uỷ ban đủ 2.100 USD. Mình sống
đến hôm nay và làm được một số việc cho dân, cho nước. Đó là hạnh phúc lắm
rồi! Mình càng làm tốt bao nhiêu thì sẽ càng phát sinh đố kỵ kèn cựa bấy
nhiêu! Đó cũng là lẽ thường tình dễ hiểu. Người “quân tử” biết tiến biết
thóai, không nên dấn sâu vào con đường “danh vọng”. Nguyễn Trải đã về nghỉ,
lại nể vua ra giúp đời, nên bị chết oan. Ở đời khó lắm! Nếu theo cách mạng
như vậy là “tiêu cực”.
Trong lúc dân cần ta phục vụ, đem lại lợi ích cho dân, ta lại nghỉ, phải
chăng ta thóai thác công việc cá nhân chủ nghĩa... Nói thế nào cũng được. Ta
phải làm chủ mình để quyết định. Anh nghĩ ý “lên Hà Nội” chưa xuất hiện
trong giai đoạn này thì hơn, không phải ai xa lạ khác “đánh” mình đâu, sẽ là
những người thân đánh mình trước, em theo rõi mà xem. Cho nên ta không nên
xin bất kỳ một thứ gì mang tính “lợi và danh” với anh Mười, sau này sẽ khó
xử. Có xin thì xin công việc làm cho dân, cho nước... Với người khác cũng
vậy thôi, không phải chỉ với anh Mười!
Sau cuộc họp của Bộ Chính trị, ý định đưa vấn đề “Hải Phòng đi trệch hướng”
không thành công, chắc chắn sẽ có những việc làm mới khác, kể cả vu khống
chính trị, tôi lại nói với nhà tôi như vậy Nhưng thực sự chúng tôi không
quan tâm, chỉ mong làm sao cho dân ta giàu lên, không phải làm nô lệ ngoại
bang.
Ngẫm lại lịch sử trong hơn 1.000 năm giữ nước, kể từ Đinh, Lê, Lý, Trần,
Lê... đến nhà Nguyễn, nước ta đã trải qua 8 lần bị xâm chiếm của phương Bắc.
Họ bị thất bại 7 lần, chỉ có một lần họ chiếm được nước ta 20 năm, do nội bộ
mất đoàn kết (thời kỳ cuối nhà Trần). Vì nước xâm chiếm nước ta phương thức
sản xuất không hơn ta là bao nhiêu. Nhưng từ năm 1862 Pháp bắt đầu đô hộ
nước ta, một nước tư bản phát triển, phương thức sản xuất nổi trội hơn nước
ta nhiều lần, nên dân ta phải chịu khuất phục chúng, làm nô lệ suốt 83 năm
ròng rã. Chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết tận dụng thời cơ, với sự lãnh
đạo thông minh tài tình, với ý chí kiên định, mới đưa dân tộc ta thóat ách
nô lệ: Nhưng khi đó ta vẫn là một nước rất nghèo, phương thức sản xuất rất
lạc hậu. Đã vậy Pháp lại đến, tái xâm lược Việt Nam thêm 9 năm, sau đó Pháp
nhường cho Mỹ xâm chiếm một nửa nước ta 20 năm, tổng cộng lại là 113 năm dân
lộc bị nô lệ. Miền Bắc tuy được giải phóng sớm 20 năm, nhưng đóng góp cùng
miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, tổn thất về người và của biết bao nhiêu mà
kể. Một nước nghèo, lạc hậu, không có vũ khí tối tân để bảo vệ đất nước, đó
là nỗi đau của cả dân tộc, của từng người Việt Nam, không một người yêu nước
nào không “cám cảnh” điều ấy.
Thành phố Hải Phòng đang trong khí thế thi đua đẩy mạnh sản xuất công, nông
nghiệp, dịch vụ, “Ngói hóa nông thôn, ngọt hóa đồng ruộng”, xây dựng thành
phố “khang trang sạch đẹp, lịch sự văn minh”, xây dựng đường xá, cổng, ngõ,
xóa bỏ hố xí thùng, xây hố xí tự hoại, thực hiện chủ trương nhà nước và nhân
dân cùng làm (Nhà nước cấp 1/2 số tiền xây hố xí tự hoại cho dân), xây dựng
nhà cửa khang trang nối nội thành đến các thị trấn, huyện, đường nội thành
sang Kiến An qua Cầu Niệm mới khánh thành, hai bên phố xá được qui hoạch xây
dựng trước, những ngôi nhà 2 tầng trở lên, hoặc mái bằng nếu làm 1 tầng
v.v...
Trong khi đó bất ngờ ở Hà Nội có chỉ thị “Z30” rất mật, tịch thu nhà từ 2
tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị “Z30” không được phổ
biến cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ có chỉ thị bằng
“miệng”. Hải Phòng cũng được 1, 2 đồng chí Bộ Chính trị nhắc nhở rằng Hà Nội
làm trước, Hải Phòng theo Hà Nội m