Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲLê Chí Quang |
Ðảng đang hối hả khẩn trương xin ký nhanh hiệp thương với Mỹ? Những sự
thật bên trong tiến trình quan hệ Việt - Mỹ với những khuyết điểm, sai lầm của
ÐCSVN như thế nào? Ai âm mưu ngăn cản việc ký hiệp định thương mại và ai chịu
trách nhiệm về quyết định sai lầm này? Sự việc phản ánh sự lộng hành, độc đoán
làm thiệt thòi quyền lợi của nhân dân có được kiểm điểm nghiêm túc để rõ trách
nhiệm hầu định công tội phân minh không? Ðể hiểu rõ, Nối Kết gửi đến các bạn bài
viết dưới đây của một cán bộ trẻ tuổi Lê Chí Quang, cử nhân Luật, đang được
truyền tay phổ biến ở thủ đô trong những ngày qua.
Ðại hội Ðảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX vừa thành công tốt đẹp. Nhiệm vụ
đối ngoại trong thời gian tới đã được vạch ra là: "Thực hiện nhất quán đường lối
đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ quốc tế. Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc
tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Xây dựng môi trường hòa bình và
tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời góp
phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ".
Chúng ta đang sống trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt, một thế giới
của thông tin và công nghệ tin học, của hội nhập và toàn cầu hóa. Trong một thế
giới mở và cạnh tranh khốc liệt như vậy, chiến lược phát triển kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, của mỗi nước đều phụ thuộc rất nhiều vào những thành tố
bên trong cũng như bên ngoài. Thật vậy, ngày nay không một quốc gia phát triển
nào có thể tồn tại với một nền kinh tế chỉ có nội địa và một nền ngoại giao đóng
kín.
Chiến lược ngoại giao của mỗi quốc gia có quan hệ tổng thể đến các chiến
lược khác của đất nước, đó là mối quan hệ hữu cơ khắn khít, đan xen, hòa quyện
và phối hợp chặt chẽ với các chiến lược khác của đất nước. Xưa kia do quá nhấn
mạnh đến tính chất giai cấp của xã hội và vấn đề ý thức hệ, ta thường căn cứ vào
hình thái kinh tế xã hội để quyết định địch ta. Cùng chế độ chính trị là bạn bè,
khác đi, là kẻ thù. Do vậy, chúng ta đã từng phải trả giá hết sức đắt cho những
quan niệm ấu trĩ và cực đoan đó. Chúng ta từng có quá nhiều kẻ thù, phải đánh
nhau liên miên. Chỉ ít là phải canh chừng, phải đối phó, bị cô lập, bị kỳ thị
... May thay những người lãnh đạo Ðảng và Nhà Nước đã nhận ra và sửa chữa những
sai lầm đó. Giờ đây chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 100 nước và tổ
chức trên thế giới. Ðầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam ta ngày càng nhiều hơn.
Kèm theo đó là những hiệp định thương mại được ký giữa chính phủ ta với các quốc
gia và các tổ chức quốc tế.
Tuy nhiên, trong chủ trương đường lối cũng như trong thực thi nhiệm vụ đối
ngoại có một vấn đề tôi cho là rất không thỏa đáng, nếu không muốn nói thẳng là
một khuyết điểm, một sai lầm trường cửu của ta : quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Tiến trình quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ
Cách đây hai thế kỷ, trong những ngày đầu thành lập của Hợp Chủng Quốc
Hoa Kỳ, người Mỹ đã vượt biển để tìm đối tác mậu dịch, và một trong
những nước được hướng tới là Việt Nam. Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là
Jefferson đã tìm cách mua hạt giống lúa Việt Nam để đem trồng tại quê
hương ông. Năm 1823, Tổng Thống thứ 7 của Hoa Kỳ Andrew Jackson đã gửi
quốc thư mở quan hệ buôn bán với triều Minh Mạng. Ðáp lại, năm 1873, nhà
ngoại giao Bùi Viện, vâng mệnh vua Tự Ðức đã sang gặp Tổng Thống Ulysses
Grant cầu viện kháng Pháp. Những ngày trước cách mạng tháng 8, chính
lãnh tụ Hồ Chí Minh đã cùng một phi công Mỹ tên là Show tìm đường đến
gặp tướng Mỹ Shannon để bàn việc hợp tác chống Nhật. Từ đấy. phía Mỹ đã
cử một số chuyên gia quân sự đến căn cứ địa Việt Bắc giúp quân đội ta.
Tiếc rằng, sau đó quan hệ Việt - Mỹ không những không tiếp tục nảy nở mà
hai nước lại trở thành kẻ thù không đội trời chung của nhau trên trận
tuyến ý thức hệ Cuộc nội chiến đó đã cướp đi mấy triệu sinh mạng người
Việt (ở cả hai miền) và gần 60.000 ngàn binh lính Mỹ. Sau năm 1975 chúng
ta tạm thắng thế. Sau chiến bại Mỹ vẫn có ý giao hảo với Việt Nam vì một
vài lý do (khâm phục sự dũng cảm và anh hùng của dân tộc Việt Nam; muốn
dùng Việt Nam để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ... ) Ngoại
trưởng Mỹ lúc đó là Kissinger bay sang Hà Nội để thuyết phục và tìm
phương thức liên kết nhưng đã bị từ chối một cách thẳng thừng. Rời Việt
Nam, ông ta đã sang với Trung Quốc. Và cũng từ đó chính sách cấm vận của
Mỹ được ban bố, như chiếc vòng kim cô chụp xuống đầu nền kinh tế Việt
Nam.
Một nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp hướng tới ảo vọng hão huyền
về một thứ chủ nghĩa Cộng sản không tưởng đã tàn phá nền kinh tế nước
ta, đẩy chúng ta đến bờ của sự phá sản và đói nghèo. Chủ nghĩa xã hội
tan rã ở các nước Ðông Âu và Liên Xô, dù muốn hay không, đã buộc chúng
ta phải xem xét lại học thuyết Mác - Lênin. Kinh tế thị trường là quy
luật tất yếu của lịch sử, cải cách và mở cửa là một bước đi tuy muộn
màng song cũng đã kịp giúp ta vực dậy phần nào nền kinh tế. Từ đó, nền
ngoại giao của ta trở nên thông thoáng và quan hệ Mỹ-Việt cũng từng bước
được cải thiện.
Tháng 4/1992, Mỹ cho phép xuất khẩu sang Việt Nam hàng hóa đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của con người. Tiếp đó cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng
đại diện, tiến hành nghiên cứu khả thi, rồi cho phép các hãng Mỹ tham
gia đấu thầu các công trình tại Việt Nam.
Tháng 7/1993, Mỹ tuyên bố không can thiệp việc các tổ chức tài chính quốc
tế (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, Ngân Hàng Thế Giới WB, Ngân Hàng Phát Triển
Châu Á ADB ) nối lại quan hệ với Việt Nam. Và tháng 11 cùng năm. Hội
Nghị Quốc Tế Về Viện Trợ Phát Triển cho Việt Nam đã họp tại Paris, đại
biểu Mỹ đã tham dự với tư cách là quan sát viên.
Ngày 3/2/1994, Tổng Thống Mỹ Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận chống Việt
Nam. tiếp sau đó bộ Thương Mại Mỹ chuyển Việt Nam từ nhóm Z (gồm Bắc
Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam) lên nhóm Y ít hạn chế thương mại hơn (gồm
Liên Xô (cũ), Khối Vác-sa va (cũ) ,An ba ni, Mông cổ, Lào, Campuchia).
Bộ Thương Mại và Vận Tải Mỹ cũng bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Mỹ
vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam, và tàu Việt Nam được vào cảng Mỹ
nhưng phải xin phép trước 7 ngày và thông báo tàu đến trước 3 ngày.
Ngày 6/8/1995, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Ðại
Sứ. Sự kiện này mở đầu thời kỳ giao bang đầy đủ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ,
trong đó hợp tác kinh tế và thương mại sẽ là trọng tâm trong quan hệ hai
nước. Nhưng để được hợp tác đầy đủ về kinh tế và thương mại với Mỹ, Việt
Nam cần phải được hưởng quy chế tối huệ quốc trong thương mại.
Về vấn đề quy chế tối huệ quốc
Ðiều I - GATT quy định: "Bất cứ một thuận lợi, đặc ân, đặc quyền hoặc
đặc miễn nào do bất kỳ một bên nước ngoài nào dành cho bất cứ một sản
phẩm nào, xuất phát, hoặc gửi đến một nước khác, sẽ được dành cho sản
phẩm tương tự, xuất phát hoặc gửi đến lãnh thổ của tất cả các bên kết
ước khác một cách tức thì và vô điều kiện ".
Trong khi đó Từ điển ngoại giao Việt Nam giải thích: "Chế độ đối xử ưu đãi
nhất mà các nước dành cho nhau trong quan hệ kinh tế và buôn bán, về các
mặt thuế quan, hàng hóa trao đổi, tàu bè chuyên chở, quyền lợi của pháp
nhân và tự nhiên nhân các nước này trên lãnh thổ nước kia. Theo tập quán
quốc tế, khi một nước cam kết cho một nước khác hưởng chế độ này thì
phải dành cho nước đó tất cả những ưu đãi mà mình sẽ dành cho một nước
thứ ba."
Giáo trình Luật Quốc Tế của trường Ðại học Luật Hà Nội lại định nghĩa:
"Tối huệ quốc là một chế độ mà theo đó từ nhiều nhân tố pháp nhân nước
ngoài và nước sở tại được hưởng các quyền ưu đãi mà các tự nhiên nhân và
pháp nhân của bất kỳ một nước thứ ba nào đang được hưởng và sẽ được
hưởng trong tương lai."
Như vậy có nhiều cách định nghĩa về quy chế Tối Huệ Quốc nhưng cuối cùng
tất cả các định nghĩa đều phản ánh nội dung cơ bản của Tối Huệ Quốc là
quốc gia này dành cho công dân và pháp nhân quốc gia kia các quyền và
những ưu đãi đã hoặc sẽ dành cho công dân và pháp nhân của bất kỳ quốc
gia thứ ba nào.
Sự cam kết Tối Huệ Quốc sẽ làm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, là cơ
sở để tạo ra các chính sách thẳng thắn, rõ ràng hơn, và còn được xem như
biện pháp tránh việc sử dụng quyền lực tùy tiện của các quan chức ngành
hành pháp trong vấn đề thương mại. Có thể nói quy chế Tối Huệ Quốc chính
là tấm Hộ Chiếu Ðỏ để các quốc gia có thể bước tới hòa nhập vào thị
trường quốc tế, đồng thời nó cũng là chiếc chìa khóa để các nước phát
triển mở rộng cánh cửa thị trường thỏa mãn nhu cầu xuất khẩu hàng hóa.
Quy chế Tối Huệ Quốc luôn là kết quả cuối cùng mà các quốc gia đều mong
muốn đạt được trong hiệp định được ký kết.
Những điều kiện của quy chế Tối Huệ Quốc trong quan hệ thương mại Việt- Mỹ
Do không phải là thành viên của GATT, Việt Nam không đương nhiên được
hưởng quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Ðể có
được quy chế này, Việt Nam phải ký một hiệp định thương mại song phương
với Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế Hoa Kỳ luôn gắn vấn đề thương mại với các
yếu tố chính trị. Chiếu theo mục 4 Ðạo luật Thương mại Hoa Kỳ 1974 về
quy định việc áp dụng quy chế Tối huệ quốc, Việt Nam có thể được hưởng
quy chế này bằng cách hội đủ các điều kiện sau đây:
Ðáp ứng yêu cầu về các quy chế tự do di trú theo phần 402 của Ðạo Luật
Thương Mại 1974 (Tu chính luật Jackson- Vanik )
Hợp tác với Mỹ trong vấn đề tìm kiếm người "mất tích" (trong danh sách
MIA), trong chiến tranh Ðông Dương, thỏa mãn những điều khoản của phần
403 thuộc Ðạo Luật Thương Mại.
Ðạt được một hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, hiệp định này
cũng phải bao gồm một số điều khoản khác như việc bảo vệ chống việc nhập
lậu hàng hóa; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích thương mại và tư
vấn.
Theo pháp luật của Hoa Kỳ, nếu Tổng Thống chứng minh được trước Quốc Hội
là Việt Nam đã thỏa mãn các quy định tại phần 402& 403 nêu trên, Tổng
Thống có thể không áp dụng Tu Chính Luật Jackson-Vanik và đi đến ký kết
hiệp định thương mại với Việt Nam. Hiệp định này giới hạn trong thời
gian khởi đầu là ba năm và được gia hạn mỗi lần ba năm. Hiệp định này
phải :
a) Quy định rằng nó là đối tượng để giới hạn, ngừng hoặc hủy bỏ vì lý do
an ninh quốc gia.
b) Bao gồm các quy định bảo đảm an toàn để đàm phán và áp đặt những hạn
chế đơn phương về nhập khẩu trong trường hợp xảy ra, hoặc đe dọa sự bất
ổn định thị trường nhập khẩu.
c) Quy định rằng nếu Việt Nam không phải là nước tham gia công ước bản
quyền sở hữu công nghiệp hoặc công ước bảo hộ quyền tác giả, Việt Nam
vẫn quy định cho các công dân Hoa Kỳ được hưởng những quyền tối thiểu mà
có thể áp dụng nếu Việt Nam tham gia một hoặc hai công ước này.
d) Quy định việc bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, việc
giải quyết các tranh chấp và bất đồng thương mại, các biện pháp thúc đẩy
buôn bán.
e) Quy định việc xem xét lại các hiệp định thương mại và các quan hệ
thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Ðể hiệp định thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có hiệu lực thì nó phải
được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn. Hạ Viện và Thượng Viện phải đưa riêng ra một
nghị quyết với đa số phiếu tán thành hiệp định thương mại đó, và lúc đó
Tổng Thống mới có quyền ký quyết định ban hành luật.
Hàng năm Tổng Thống Mỹ phải quyết định việc khôi phục quy chế Tối Huệ
Quốc. Ðối với Việt Nam, Tổng Thống Mỹ phải tường trình trước quốc hội
vào các thời điểm 30/6 và 31/12 hàng năm. Trong bản tường trình đó, phải
đề cập đến việc Việt Nam hợp tác trong vấn đề tù binh chiến tranh và tìm
kiếm người mất tích, phân tích hiện trạng và chính sách di trú của Việt
Nam.
Ngoài những cản trở do pháp luật hiện hành của Hoa Kỳ quy định, đối với
nước ta có vấn đề đặc thù trong quan hệ Việt Mỹ, đó là vấn đề tù binh
chiến tranh, và tìm kiếm người mất tích. Thực tế cho thấy phía Việt Nam
đã có sự hợp tác một các đầy đủ để giải quyết tốt nhất vấn đề nhân đạo
này, và chính quyền Mỹ cũng đã công nhận.
Hoa Kỳ cũng nêu vấn đề quyền con người đối với Việt Nam, và đây có thể trở
thành mấu chốt của vấn đề. Chỉ sau khi được Quốc Hội Mỹ thông qua, Hiệp
Ðịnh Thương Mại mới có giá trị thực thi, mà trước khi thông qua bao giờ
Quốc Hội Mỹ cũng tham khảo ý kiến của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo và Ủy Ban
Nhân Quyền của Quốc Hội. Ta hãy nghe một số ý kiến của các Nghị sĩ Mỹ
phát biểu vào năm 97 : "... sự đàn áp tiếp tục diễn ra ở Việt Nam, đã
chứng tỏ một điều khác. Cuộc biểu tình gần đây nhất của 49 tù chính trị
ở nhà tù Ba Sao, và những cố gắng của Hà Nội nhằm bóp méo việc tuyệt
thực đã để lộ bộ mặt thật của một chế độ không hối hận..." (Theo lời
Nghị sĩ Justin Hattan). Và, như lời Nghị Sĩ Dan Rather trong một bài xã
luận trên tờ National Review: "... thực sự chúng ta tin tưởng rằng, một
đất nước đã mất 58 nghìn sinh mạng để cho một thế hệ VN có thể sống tự
do, đất nước đó có động cơ thúc đẩy là một lời thôi thúc cao quý hơn..."
Tiến trình đi đén Hiệp Ðịnh Thương Mại đã được diễn ra như sau : tháng
12/1997, Công Ước Bản Quyền Sở Hữu Công Nghiệp và Bảo Hộ Quyền Tác Giả
giữa Việt Nam và Hoa kỳ đã có hiệu lực. Tháng 11/1997, công dân Việt Nam
khi xuất cảnh không phải xin phép nhà nước Việt Nam nữa. Cũng trong
tháng 6 năm đó, Tổng Thống Clinton tuyên bố: "Việt Nam đã cộng tác có
hiệu quả trong vấn đề tìm kiếm người Mỹ tại Việt Nam . Như vậy Việt Nam
đã thỏa mãn các yêu cầu của Tu Chính Jackson - Vanik.
Tháng 3/1998, Việt Nam đã được hưởng quy chế đãi ngộ Tối Huệ Quốc, nhưng
từ đó đi đến một hiệp định thương mại song phương giữa hai nước không
ngờ lại vẫn còn một chặng đường dài đầy chông gai. Ðã có lúc chúng ta
tưởng dịp may đã nắm chắc trong tay, nhưng bỗng nhiên nó bị tuột khỏi
tay một cách bất ngờ. Sau khi bản Hiệp định đã được Phó Thủ Tướng Nguyễn
Tấn Dũng và đại diện Thương Mại Hoa Kỳ ký tắt, vào đầu năm 2000 trong
một cuộc gặp bên lề một hội nghị tại New Zeeland, Tổng Thống Bill
Clinton và Thủ Tướng Phan Văn Khải đã chuẩn bị rất sẵn sàng để ký kết
chính thức. Hai vị đã sát vai nhau đi dạo rất lâu và ngồi bên nhau chụp
ảnh với vẻ vui tươi, hồ hởi thì bỗng nhiên một bức điện từ Việt Nam gửi
sang yêu cầu thủ tướng Phan văn Khải không được ký kết. Nghe nói sau
này, trong khi kiểm điểm ở hội nghị TƯ 11b trước Ðại hội IX, cựu tổng bí
thư Lê Khả Phiêu thì đổ tội cho cố vấn Lê Ðức Anh, còn cố vấn Lê Ðức Anh
thì đổ trách nhiệm cho Bộ Chính Trị. Mong rằng vấn đề này sẽ phải được
kiểm điểm nghiêm túc để làm rõ trách nhiệm và rút kinh nghiệm để ngăn
chặn sự lộng hành, sự độc đoán dẫn đến những quyết định sai lầm tại hại
bỏ lỡ thời cơ (chúng ta đã bỏ lỡ thời cơ nhiều lần !), làm thiệt thòi
quyền lợi của nhân dân, ghìm đất nước trong tình cảnh tụt hậu ngày càng
xa so với thế giới. Cần công bố công khai khuyết điểm hay tội trạng của
những người này để nhân dân định công tội cho phân minh.
Chính quyền Bush có thể cứng rắn hơn trong vấn đề Việt Nam, nhưng cũng sẽ
không thể không ủng hộ Hiệp Ðịnh Thương Mại (HÐTM). Tuy nhiên, để đi đến
hiệu lực, HÐTM còn phải được Quốc Hội phê chuẩn. Mà như đã nói ở trên,
QH Hoa Kỳ luôn gằn vấn đề Nhân quyền với vấn đề kinh tế nhất là đối với
các nước Cộng Sản. Trong khi đó, không hiểu sao hàng loạt các hành vi vi
phạm quyền con người của ta vẫn tiếp tục diễn ra. Những vụ đàn áp tự do
tôn giáo, những vụ bắt người, khám nhà trái phép đối với các ông Lê Hồng
Hà, Hà Sĩ Phu, và gần đây nhất là vụ bắt giam và khám nhà trái phép đỗi
với ông Vũ Cao Quận ... có nguy cơ gây nên những phản ứng tiêu cực của
Quốc Hội Hoa Kỳ đối với HÐTM. Bằng chứng là, mới gần đây, Ủy Ban Tự Do
Tôn Giáo của Quốc Hội Mỹ đã gây sức ép buộc Ngân Hàng Thế Giới đình chỉ
một khoản vay hơn 300 triệu đô la của ta mà WTO đã hứa từ trước. Chúng
ta không nên chỉ luôn sẵn sàng tìm cách trách cứ người khác và ngụy biện
tất cả phần đúng về phía mình, càng không nên vừa chối tội vừa vu khống
chửi bới người ta như bà Phan Thuý Thanh khi trả lời các tổ chức quốc tế
về vụ bắt giam cựu chiến binh Vũ Cao Quận. Việc ký kết HÐTM bị đình trệ
cách đây đã gần một năm là lỗi ở chúng ta.
Việt Nam trong con mắt người Mỹ
Có hai cách nhìn Việt Nam trong con mắt người Mỹ. Loại thứ nhất cho
rằng Việt Nam không quan trọng đối với Mỹ, bởi vì Việt Nam vừa ở quá xa,
vừa rất nhỏ bé đối với Mỹ, cả về quy mô quốc gia lẫn tiềm năng kinh tế.
Về diện tích : Việt Nam chỉ bằng 1/25,8 diện tích của Mỹ. Dân số : bằng
1/3,4. Về tiềm năng kinh tế : tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam bằng
1/ 171,4 của Mỹ. (GDP của Mỹ là 4800 tỷ đô la , Việt Nam là 28 tỷ đô la
). Chỉ số thu nhập bình quân đầu người Mỹ là 19.856 đô la, Việt Nam
khoảng 320 đô la, bằng 1/62,2 của Mỹ. Với cách nhìn nhận này, nhiều
người Mỹ muốn quên hẳn hai tiếng Việt Nam ngay sau thất bại 1975.
Loại thứ hai, chủ yếu là các thương gia, các cựu chiến binh... và một số
quan chức chính phủ có tầm nhìn chiến lược về ASEAN và Việt Nam. Họ nhận
thức được vị thế địa lý chính trị quan trọng ở khu vực Ðông Dương và
Ðông Nam Châu Á của Việt Nam.
Việt Nam án ngữ con đường biển huyết mạch từ Bắc Á xuống Ðông Á và Ấn Ðộ
Dương. Việt Nam có quân cảng Cam Ranh, một quân cảng tốt vào loại thứ
hai trên thế giới mà từ đây có thể kiểm soát toàn bộ số tàu bể đi qua
khu vực này. Hãy điểm qua mấy chuyến viếng thăm vấn gần đây của các
cường quốc đối với Việt Nam.
Tháng 11/2000: Tổng Thống Mỹ Clinton; Tháng 1/2001 : Thủ Tướng Ấn Ðộ Atal
Vajpayee; Tháng 1/2001: Bộ Trưởng Tư Pháp Nhật Mashahiko Komura; Tháng
2/2001 : Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Trì Hạo Ðiền; Tháng 2/2001 :
Tổng Thống Singapor S.R. Nathan.
Ngoài ra, chưa kể ta còn hủy bỏ chuyến viếng thăm của Ðô Ðốc tư lệnh lực
lượng Thái Bình Dương Dennis Bair của Mỹ hồi tháng 2. Tuy nhiên, trong
lịch trình ngoại giao Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Colin Powell sẽ viếng thăm
Việt Nam vào tháng 7 này.
Tổng thống Nga Putin trong chuyến thăm tháng 3/2001 đã xóa cho Việt Nam
khoảng 8 tỷ đô la trong tổng số 11 tỷ mà Việt Nam còn nợ của Nga. Trước
cuộc viếng thăm của tổng thống Putin, ngày 15/1/2001 Nga đã phái một
phần hạm đội Thái Bình Dương trong đó có hai khu trục hạm Udaloy, chuyên
săn và diệt tàu ngầm, vào cảng Cam Ranh để chứng tỏ Nga quyết tâm bám
giữ vị trí chiến lược này.
Trong tầm chiến lược của Mỹ, điều quan trọng hơn nữa là có thể sử dụng
Việt Nam làm tiền đồn kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc về phía Nam
tạo nên nguyên nhân gây mất ổn định ở khu vực Châu á. Người Mỹ không
quên rằng Việt Nam và Trung Quốc có mối thâm thù vĩnh cửu từ hàng nghìn
đời nay. Trong lịch sử, chiến tranh Việt - Trung đã nhiều lần nổ ra và
Việt Nam luôn luôn chiến thắng.
Trước kỳ Ðại Hội đảng CSVN lần thứ IX, theo tin của Washington Post, một
phái đoàn ngoại giao bí mật của Trung Quốc đã sang thăm Việt Nam với ý
đồ vận động cho Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu được ở lại thêm một nhiệm kỳ
nữa. Biết được động thái này của Trung Quốc, Mỹ điều ngay hàng không mẫu
hạm USS KITTY HAWK từ vịnh Thái Lan vào biển Nam Hải nhằm gửi tín hiệu
cho Trung Quốc rằng đừng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vì
Mỹ không muốn Việt Nam ngả vào lòng Trung Quốc.
Trước những thay đổi mới của tình hình quốc tế và khu vực, Mỹ càng phải có
những động thái tích cực hơn trong quan hệ với Việt Nam. Trong chuyến
viếng thăm Hà Nội vào tháng 7/1997, Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Robert Rubin,
đã phát biểu: "...Trong chính sách hợp tác toàn cầu của mình, Tổng thống
Bill Clinton nhận thức rõ vị trí của VN- một nước có tiềm năng rất lớn ở
khu vực...". Một Nghị sĩ Mỹ cũng đã khẩn thiết lưu ý chính phủ: "...Nước
Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam vào năm 75 và để quên Việt Nam vào những năm sau
80; giờ đây người Mỹ đã có cơ hội để sửa chữa những sai lầm này". Dưới
thời tân Tổng Thống Bush nhiều quan chức ngoại giao của Mỹ ở các nước
khác bị thay đổi nhưng Mỹ vẫn giữ Pete Peterson - một "chàng rể " Việt
Nam, người đã từng có câu nói nổi tiếng : "Chúng ta không thể thay đổi
quá khứ, nhưng những gì chúng ta có thể thay đổi được là tương lai" -
làm Ðại sứ tại Hà Nội.
Quan hệ Việt - Mỹ, mối quan hệ ngoại giao cần được ưu tiên hàng đầu đối với Việt Nam
Dẫu có mong ước tương lai về một thế giới đa cực thì thực tế hiện nay,
về cơ bản điều đó vẫn chưa hiện hữu. Cho đến nay, Mỹ vẫn là một cường
quốc kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, là một trong ba trung tâm
kinh tế của thế giới, là thành viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên
Hiệp quốc (LHQ), cũng như các tổ chức thuộc hệ thống LHQ, và các tổ chức
quốc tế khác. Tại Tổ Chức Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Mỹ nắm giữ 2/3 số
phiếu. Với sức mạnh về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, Mỹ đang chi
phối đời sống kinh tế và chính trị quốc tế, nhất là sau thời kỳ chiến
tranh lạnh.
Ðể thực hiện những mục tiêu của Ðảng và nhà nước đề ra trong nhiệm kỳ Ðại
hội IX, ta cần tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ trong quan hệ kinh tế.
Trước hết tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu là : thương mại và du lịch,
đầu tư trực tiếp và hợp tác phát triển.
Về phát triển buôn bán đối ngoại : nếu hiệp định thương mại Việt - Mỹ được
Quốc Hội Mỹ thông qua, ta có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ
những sản phẩm may mặc, giày dép, nông thổ sản, đồ mỹ nghệ, cao su, dầu
thô....
Về nhập khẩu ta có thể nhập máy móc, thiết bị công nghệ cao, nguyên vật
liệu để phát triển sản xuất trong nước. Xúc tiến các dự án thăm dò và
khai thác dầu khí và năng lượng, xây dựng ngành công nghiệp lọc, hóa
dầu, kêu gọi đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện, điện nguyên tử. Ðầu
tư xây dựng các khu công nghệ cao, tại thành phố Hà Nội và thành phố HCM
, kêu gọi đầu tư vào một số dự án xi măng, sắt thép... và các dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng.
Công nghiệp nhẹ : kêu gọi đầu tư và mở rộng các nhà máy dệt, may mặc, sản
xuất giày.
Nông nghiệp : tập trung các dự án chăn nuôi và chế biến thịt, nông, lâm
thổ sản, bông, ép dầu.
Tranh thủ được các khoản viện trợ như ODA, OPIC, TDT của chính phủ, các tổ
chức phi chính phủ để tập trung cho các lĩnh vực nhân đạo, y tế, giáo
dục, đào tạo vv...
Tranh thủ học bổng của chính phủ Mỹ và các trường đại học, để đào tạo sinh
viên và nghiên cứu sinh Việt Nam.
Ngoài ra ở Mỹ còn có một lược lượng đông đảo Việt kiều, có vốn và tri thức
sẵn sàng đầu tư về Việt Nam nếu có điều kiện.
Nếu quan hệ Việt-Mỹ tốt đẹp ta có thể nhận được chế độ ưu đãi thuế quan
phổ cập GSP, là chế độ ưu đãi đặc biệt mà Mỹ dành cho một số nước đang
phát triển.
Không chỉ có vấn đề kinh tế. Cho đến nay, Mỹ vẫn là cường quốc số một, đặc
biệt là về hải quân và không quân. Ta có thể tranh thủ được sự ủng hộ
của Mỹ để hiện đại hóa quân đội, và tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ để đòi
lại chủ quyền của ta ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay Mỹ
đang rất cần các căn cứ quân sự ở Ðông Nam Á, nhất là từ khi Mỹ trao trả
2 căn cứ quân sự Subick và Clark cho Philippines. Nếu nhận được thỏa
thuận cho thuê một vài đảo nhỏ ở quần đảo Hoàng Sa thì hẳn là Mỹ sẽ cùng
ta kiên quyết bảo vệ chủ quyền đương nhiên của Việt Nam đối với quần đảo
này, bằng sức mạnh quân sự lẫn tiếng nói quan trọng của Mỹ tại Tòa Án
Công Pháp Quốc Tế trong vấn đề chủ quyền của Việt Nam.
*
Trên đây chỉ mới là phác thảo một vài lợi ích cơ bản trong quan hệ Việt-
Mỹ. Những ý kiến này có thể không những không hợp mà còn bị xem là thù
nghịch đối với một số người có tư tưởng bảo thủ mà trong thâm căn cố đế
họ cứ muốn khẳng định rằng Mỹ vẫn còn, và bao giờ cũng cứ là kẻ thù số
một của Việt Nam. Họ vẫn hù dọa rằng Mỹ không từ bỏ dã tâm muốn quay trở
lại xâm lược Việt Nam ! Thực ra đây chỉ là tư tưởng cực đoan của một số
người có nhận thức quá chừng xơ cứng, rất lạc hậu với thời cuộc. Mừng
rằng, sau Ðại hội IX, khá nhiều lực lượng khống chế cơ bản trong số này
đã ra đi. Hy vọng rằng những gương mặt mới sáng đẹp hơn của tân tổng bí
thư Nông Ðức Mạnh và nhiều ủy viên Bộ Chính Trị, nhiều ủy viên Trung
Ương Ðảng trẻ trung hơn, học thức hơn sẽ có đủ tầm trí tuệ để thực sự
đổi mới nhận thức, xác định lại một cách đúng đắn đường lối, chủ trương
đối ngoại nói chung, đặc biệt là nói riêng về vấn đề quan hệ Việt Mỹ.
Như chào đón êkip lãnh đạo Việt Nam mới, ngày 1-5-2001 tổng thống G. Bush
đã quyết định gia hạn miễn áp dụng điều luật bổ xung Jackson-Vanik đối
với Việt Nam thêm một năm. Ngày 8 tháng 6 năm 2001 ông đã trình bản HÐTM
song phương Việt - Mỹ lên Quốc Hội. Theo lời đại sứ Peterson bản HÐTM
này có thể được Quốc Hội Mỹ thông qua trước ngày 4 tháng 7 năm 2001 vì
đã được sự đồng thuận của cả hai đảng.
Ðể hướng tới một tương lai đúng đắn và xán lạn cho mối bang giao Việt Nam
- Hoa Kỳ, từ đấy tìm được những gì cần thiết cho công cuộc xây dựng một
nước Việt Nam dân chủ, công bằng, giàu mạnh, văn minh, tôi xin dẫn lời
Tổng Thống Mỹ Clinton phát biểu trong chuyến viếng thăm Việt Nam - tại
thành phố HCM trước các doanh nghiệp hai nước: "... Hiệp định thương mại
mà Mỹ đã ký với Việt Nam, sẽ còn giúp đỡ nhiều nhà đầu tư tới nước các
bạn nhiều hơn. Hiệp định cũng sẽ giúp đỡ để phát triển một thị trường mở
cửa rộng hơn, phức tạp và tự do, dựa trên những quy tắc quốc tế về luật
pháp. Và điều đó sẽ mang lại nhiều phần thưởng hơn cho sự sáng tạo và
đầu óc sáng kiến của dân tộc Việt Nam phi thường. Cả hai đất nước chúng
ta sẽ phê chuẩn hiệp định này và sẽ thực hiện đầy đủ hiệp định. Những sự
thay đổi mà hiệp định sẽ mang lại, sẽ chỉ có thể bao quát hơn chứ không
bị lo ngại... Những năm hận thù đã trôi qua. Hôm nay chúng ta có một
quyền lợi được chia sẻ trong niềm hạnh phúc và thịnh vượng của các bạn.
Chúng tôi có đánh cược vào tương lai của các bạn và chúng tôi muốn trở
thành đồng minh của các bạn"
Hà Nội ngày 19 tháng 6 năm 2001
Lê Chí Quang.
Ðịa chỉ : 22 phố Trung Liệt
Ðiện thoại: 8.514.000.
------------------------------------------
Kính gửi :
- Văn phòng Thủ Tướng Chính Phủ.
- Văn phòng Quốc Hội.
- Văn phòng Bộ Thương Mại.
- Báo Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh.