Đối Thoại                                        Website: Doi-Thoai.com                              Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Tâm Thư của Linh mục Chân Tín
gửi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Linh Mục Chân Tín

Sàigòn, ngày 24 tháng 9 năm 2004

Kính gửi:
     – Đức Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Đnh Tụng,
     – Đức Hồng Y Gioan-Baotixita Phạm Minh Mẫn,
     – Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Chủ Tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam,
     – Quý Đức Cha trong Hội Đồng Giám mục Việt Nam, Trọng kính Hai Đức Hồng Y, Quý Đức Cha,

Con là linh mục Chân Tín, đại diện cho một số linh mục và giáo dân không có điều kiện lên tiếng nói, xin được ngỏ lời với Hai Đức Hồng Y, Quý Đức Cha nhân kỳ họp của Hội Đồng Giám Mục tại Hà Nội vào cuối tháng 9 này. Trước hết, con xin kính chúc Hai Đức Hồng Y, Quý Đức Cha luôn mạnh khỏe và tràn đầy ơn Thánh Thần để kỳ họp này thành công tốt đẹp, tiếp tục đem lại sức sống mới cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Kính thưa Hai Đức Hồng Y, Quý Đức Cha, Ngày 18-6 vừa qua, Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam đã ban hành "Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo" được ấn định có hiệu lực từ ngày 15-11-2004. Pháp lệnh này có mục đích buộc tất cả mọi hoạt động tôn giáo trong nước phải nằm trong vòng kiểm soát và kiềm chế chặt chẽ của nhà nước.

Để thực hiện điều ấy, một mặt pháp lệnh chỉ chấp nhận là hợp pháp những hoạt động tôn giáo nào nằm trong vòng kiểm soát của nhà nước, hoặc đã xin phép và được nhà nước cho phép. Mặt khác pháp lệnh quy kết là bất hợp pháp, là vi phạm pháp luật tất cả những hoạt động nằm ngoài vòng kiểm soát và kiềm chế ấy, và những hoạt động không xin phép hoặc có xin phép mà không được chấp thuận.

Như vậy, khi pháp lệnh này được áp dụng, các tôn giáo sẽ bị hạn chế hoạt động đến mức tối đa. Rất nhiều hoạt động cần thiết cho sự phát triển tôn giáo trở thành bất hợp pháp. Và tôn giáo có nguy cơ chỉ còn tồn tại với những sinh hoạt bề ngoài mang tính hình thức (các nghi thức bên ngoài, rước sách, xây dựng nhà thờ…), khiến tôn giáo chỉ giống như một vỏ trứng rỗng ruột: bề ngoài vẫn là một quả trứng nguyên vẹn, nhưng thực chất không còn là quả trứng nữa. Lúc đó, tôn giáo không còn là tôn giáo đúng nghĩa, không thể hoàn thành sứ mạng của mình được, mà chỉ còn là công cụ trong tay một chính quyền độc tài. Trong chiều hướng đó, chính quyền sẵn sàng cho phép hoạt động, thậm chí còn khuyến khích, những sinh hoạt mang tính hình thức này để tạo vẻ bề ngoài là có tự do tôn giáo hầu đánh lừa dư luận quốc tế và những người nhẹ dạ, kém suy nghĩ, đồng thời tạo điều kiện cho việc đàn áp thật sự ở bên trong. Như thế, chính quyền vừa tiêu diệt được bản chất của tôn giáo, biến tôn giáo thành công cụ của mình, đồng thời vẫn duy trì được cái vỏ bên ngoài của tôn giáo, của tự do tôn giáo. Điều đó dễ hiểu. Nhưng tôn giáo có nặng về hình thức hay không, trước hết và chủ yếu là tại chính tôn giáo hơn là tại chính quyền. Chính quyền chỉ lợi dụng một cái tật xấu có sẵn trong các tôn giáo. Nếu giới lãnh đạo tôn giáo chỉ chăm chút những hình thức bên ngoài của tôn giáo, là những gì nhà nước rất dễ cho phép, mà không quan tâm tới sự phát triển cái chính yếu bên trong, nhất là về mặt tâm linh (như sống đạo có chiều sâu, chất lượng nhân sự, v.v…) thì dần dần tôn giáo chỉ còn là hình thức bên ngoài mà không còn nội dung hay thực chất bên trong. Lúc đó tôn giáo "rỗng ruột" ấy sẽ được chính quyền để cho tha hồ mà tự do! Nhưng lúc đó tự do đâu còn ích lợi gì nữa? Thực ra, chính sách đàn áp tôn giáo trong pháp lệnh này không phải điều gì mới lạ, vì nhà nước cộng sản đã áp dụng nó từ khi đảng Cộng Sản nắm chính quyền ở miền Bắc năm 1954, và ở miền Nam năm 1975. Nếu có mới lạ thì chỉ ở chỗ trước đây, chính sách trên chỉ được ban hành qua các nghị quyết, nghị định của chính phủ và chỉ được huy động thi hành chủ yếu bởi các cơ quan của chính phủ các cấp. Nay chính sách đàn áp này được áp dụng một cách quy mô hơn rất nhiều, trước hết là được ban hành bởi Quốc Hội là cơ quan cao nhất nước mang danh là đại diện cho toàn dân, đồng thời được tuyên truyền, vận động và thực hiện bởi "các cơ quan nhà nước chủ động phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận" (Điều 7§2).

Như thế các tôn giáo bị kiểm soát và kiềm chế chặt chẽ hơn, một mặt vì việc kiểm soát và kiềm chế này được hợp thức hóa bằng pháp luật, mặt khác vì có thêm sự hợp tác hữu hiệu của chức thành viên Mặt trận Tổ Quốv đã được công an hóa. Trước đây chính sách đàn áp tôn giáo chỉ mang tính tương đối cục bộ, chỉ được thực hiện bởi các cơ quan chức năng của nhà nước mà các tôn giáo đã gặp phải biết bao khó khăn, không phát triển được, và phải rên xiết khôn nguôi trước sự kiểm soát và trói buộc của nhà nước. Nay để thực hiện chính sách đàn áp này, nhà nước lại huy động cả một lực lượng hùng hậu từ Quốc Hội đến Mặt Trận Tổ Quốc, phối hợp với các cơ quan chức năng của nhà nước hầu kiểm soát và trói buộc các tôn giáo chặt chẽ hơn nữa, thì các tôn giáo sẽ còn khốn khổ đến thế nào? Ngày trước, việc đàn áp tôn giáo chỉ là công việc của nhà nước, nay công việc này lại được "nhà nước và nhân dân cùng làm" thì hữu hiệu và "danh chính ngôn thuận" biết bao! Như thế, rõ ràng là có sự leo thang nhanh chóng, rõ rệt và tinh vi trong việc đàn áp tôn giáo. Nguy cơ tôn giáo bị kiểm soát và trói buộc một cách triệt để ngay trước mắt như thế, chẳng lẽ chúng ta lại không có một phản ứng nào? Cha ông xưa nói: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Ngẫm nghĩ câu ấy, con cảm thấy ngay cả những giáo dân nhỏ bé nhất trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng có trách nhiệm về sự tồn vong và phát triển của Giáo Hội, huống gì các linh mục tu sĩ, nhất là hàng giám mục!

Rất may trong Giáo Hội Công giáo Việt Nam vẫn còn có những giáo dân, linh mục và giám mục, đặc biệt Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã can đảm, dám lên tiếng tranh đấu để bảo vệ Giáo Hội. Nhưng số giáo dân, linh mục và giám mục dám ra mặt tranh đấu ấy tiếc thay quá nhỏ, chỉ đếm được trên đầu ngón tay! So với 5,5 triệu người công giáo, với hơn 2.800 linh mục và 40 giám mục, con số đó nhỏ nhoi biết bao! Tuy nhiên, một điều rất đáng mừng và đem lại hy vọng cho toàn dân, đặc biệt tín hữu trong các tôn giáo, là Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ vào cuối năm 2002 bằng một bản văn. Bản văn này chỉ được gửi riêng cho giới lãnh đạo nhà nước Cộng sản Việt Nam, chứ không được phổ biến rộng rãi – một hình thức biểu lộ sự tôn trọng uy tín và danh dự của nhà nước – nhưng sau cũng được tiết lộ và phổ biến trên các mạng Internet.

Trong văn bản này, Hội Đồng Giám mục đã tố cáo những cơ chế xã hội đang làm người dân bị tha hóa, khốn khổ và làm đất nước bị tụt hậu, mà điển hình nhất là cơ chế xin-cho. Trong cơ chế này, quyền tự do của người dân bị nhà nước tịch thu hết, rồi chỉ ban phát lại cho người dân một cách nhỏ giọt và tùy tiện theo cảm tính khi nào họ ngửa tay xin. Có xin thì mới cho, nhưng không hẳn cứ xin thì sẽ cho!

Như thế Hội Đồng Giám mục đã rõ ràng và cụ thể nói cho thế giới biết tình trạng thiếu tự do trầm trọng của người dân trong nước. Đó quả là lời lên tiếng vô cùng can đảm và đầy giá trị của Hội Đồng Giám mục Việt Nam, đã tạo nên một điểm son trong lịch sử đất nước và lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Rất tiếc là sự lên tiếng ấy không được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, nhất là giới linh mục và giáo dân trong nước, khiến cho đa số linh mục và giáo dân trong nước không biết mà ủng hộ. Vì thế, nó không gây được tiếng vang và ý thức trong nước, ngay cả trong nội bộ Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Thiết tưởng những văn bản đề cập đến quyền lợi chính đáng của người tín hữu như tự do tôn giáo (chẳng hạn thư của Đức Gioan-Phaolô gửi các giám mục Việt Nam nhân dịp các ngài đến thăm Tòa Thánh ad limina đầu năm 2003, hay những văn bản lên tiếng của Hội Đồng Giám mục Việt Nam cho những quyền chính đáng của người dân…) chẳng những cần phải được phổ biến mà còn phải được các linh mục và giáo dân nghiên cứu học tập nữa.

Đó là những việc rất chính đáng mà Hội Đồng Giám mục có quyền làm, nhà nước không có quyền ngăn cản hay can thiệp, vì những quyền ấy đã được chính hiến pháp và luật pháp của nhà nước công nhận. Chính vì thiếu sự ủng hộ của quần chúng, đặc biệt của hàng linh mục và giáo dân, mà sự lên tiếng của Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã không đem lại kết quả mong muốn và không được hậu thuẫn ở trong nước. Tại sao trong bối cảnh thế giới hiện nay càng ngày càng đề cao nhân quyền, càng đặt nặng các quyền tự do căn bản của con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, thế mà nhà nước lại leo thang mạnh mẽ trong việc đàn áp và trói buộc các tôn giáo như thế? Phải chăng vì sự tranh đấu cho những quyền căn bản ấy ở trong nước, đặc biệt trong Giáo Hội Công giáo Việt Nam quá yếu ớt? Thiết tưởng đã đến lúc – dù đã khá muộn – phải gây ý thức để mỗi người Công giáo phải tự vấn lương tâm xem, trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, mình đã thật sự làm gì cho chính Giáo Hội của mình đang bị đàn áp cách tinh vi? Người Kitô hữu đã ý thức trách nhiệm của mình thế nào trước tương lai mù mịt của đất nước và Giáo Hội Việt Nam? mình đã thờ ơ, khoanh tay thụ động, phó mặc cho đất nước và Giáo Hội mình ra sao thì ra, ai tranh đấu thì mặc kệ họ, hay mình đã thật sự tích cực tìm cách cải thiện tình trạng hiện nay trong khả năng của mình? Càng có khả năng lên tiếng, tranh đấu, xây dựng đất nước và Giáo Hội, trách nhiệm của ta càng lớn trước mặt Thiên Chúa và lịch sử (x. dụ ngôn những nén bạc trong Mt 25,14-30). Đành rằng làm theo sự đòi hỏi của lương tâm và tình yêu đối với Giáo Hội trong hoàn cảnh này quả là điều khó. Nhưng chắc chắn tình yêu và lương tâm không cho phép chúng ta vì khó mà đành thụ động bó tay. Đành rằng sứ mạng chính yếu của các linh mục và giám mục là loan báo Tin Mừng, là làm mục vụ, nhưng các ngài có thể nhân danh sứ mạng chính yếu ấy để tự miễn cho mình trách nhiệm đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước, của Giáo Hội không? Thế thì khác gì chủ trương của người Pharisêu xưa đã từng bị Chúa khiển trách: "Ai nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều dùng làm lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải hiếu thảo với cha mẹ nữa" (Mt 15,5-6) ?

Đúng ra sứ mạng loan báo Tin Mừng về tình yêu Thiên Chúa càng phải giúp các ngài ý thức hơn ai hết trách nhiệm thể hiện tình yêu của mình đối với Giáo Hội và đất nước. Nhất là khi Giáo Hội và đất nước đang lâm vào tình trạng nguy khốn! Thật ra, trong quá khứ, Hội Đồng Giám mục đã tỏ ra rất ý thức về trách nhiệm ấy, nên dù bị hạn chế rất nhiều, cũng đã từng lên tiếng tranh đấu, chủ yếu là theo đường lối âm thầm đối thoại – chỉ một mình mình với nhà nước nhằm bảo vệ uy tín của nhà nước – với tất cả nhiệt tâm và tin tưởng vào thiện chí của họ. Nhưng thử hỏi việc tranh đấu theo đường lối thầm lặng ấy đã đạt được những kết quả nào ?

Trước khi ra pháp lệnh tôn giáo, nhà nước đã dò hỏi ý kiến của hàng giám mục, các linh mục và các tín hữu. Ngoài những ý kiến đóng góp riêng lẻ của các linh mục và giáo dân, chắc chắn các giám mục đã chính thức có những góp ý chân thành và tích cực để pháp lệnh tôn giáo được soạn thảo tôn trọng quyền tự do tôn giáo của người dân hơn. Nhưng pháp lệnh tôn giáo vừa ra đời cho thấy nhà nước đã chẳng coi những góp ý âm thầm ấy của Quý Đức Cha và các tín hữu ra gì cả. Vì từ trước đến nay, chưa hề có một văn bản pháp luật nào về tự do tôn giáo lại muốn kiểm soát, kiềm chế và trói buộc các tôn giáo một cách qui mô và toàn diện như pháp lệnh tôn giáo vừa ban hành.

Như thế, hiển nhiên là việc hỏi ý kiến trước đó chỉ được nhà nước làm cho có lệ, để "cho có vẻ dân chủ", hoặc để thăm dò lập trường và phản ứng của các tôn giáo, chứ không phải vì thiện chí muốn lắng nghe ý kiến của người dân để làm theo ý dân nếu ý đó hợp tình hợp lý. Vì thế, cách tranh đấu âm thầm và nhún nhường, xây dựng trên sự tin tưởng vào thiện chí của nhà nước, nếu rõ ràng không đem lại kết quả, thì sự khôn ngoan đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách tranh đấu. Thử nhìn xem những người ngoài Kitô giáo ở trong nước đã tranh đấu cho nhân quyền và tự do dân chủ như thế nào? Quả thật, có biết bao người đã can đảm tranh đấu cho quê hương bất chấp khó khăn, tù tội, nguy hiểm đến mạng sống. Chúng ta có thể kể ra một số người nổi tiếng như Nguyễn Đan Quế, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Đình Huy, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Dương Thu Hương, Nguyễn Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình, v.v… Họ đã nêu gương sáng ngời về lòng yêu quê hương của họ.

Còn người Kitô hữu ? – Người Kitô hữu luôn luôn tin tưởng rằng với ơn Chúa được thông ban dồi dào qua các bí tích, đặc biệt phép Thêm Sức và Thánh Thể, người Kitô hữu cũng có thể yêu quê hương, yêu đất nước, yêu tôn giáo của mình một cách cũng dũng cảm và hữu hiệu không kém ai. Nhất là những linh mục, giám mục là những người đem chính ơn sủng và sức mạnh ấy của Thiên Chúa đến cho mọi người. – Nếu chúng ta kém họ về những mặt ấy, làm sao chúng ta có thể làm chứng cho tình yêu, cho công lý, cho sức mạnh hay quyền năng của Thiên Chúa nơi bản thân mình được? Làm sao chúng ta có thể rao giảng mà không ngượng miệng về việc xây dựng Nước Trời ở trần gian, về việc thực thi công bằng xã hội, hay về giáo huấn của Giáo Hội về xã hội được? Đã đến lúc đặc biệt nghiêm trọng đòi hỏi chúng ta phải thật sự làm chứng cho những gì chúng ta tin và rao truyền. Nếu không hóa ra chúng ta chỉ rao giảng những điều không thực tế mà chính người rao giảng cũng không thể làm nổi! Nếu trước đây Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những cơ chế làm tha hóa xã hội, làm dân tình khốn khổ, đất nước bị tụt hậu, thì thiết tưởng hiện nay Hội Đồng Giám Mục cần tiếp tục phân tích và làm sáng tỏ những nguyên nhân gần cũng như sâu xa của những cơ chế ấy, đồng thời đưa ra những phương cách khắc phục.

Theo thiển ý con, nguyên nhân sâu xa làm tha hóa xã hội, dẫn dân chúng đến nghèo khổ, đất nước tụt hậu chính là chủ trương độc quyền chính trị của đảng Cộng sản, muốn kiểm soát và điều khiển tất cả, không chấp nhận cho bất kỳ ai khác quan điểm chính trị với mình được tham gia xây dựng đất nước. Vì thế, chính quyền không đủ người tài đức để điều hành và xây dựng đất nước, cho dù đất nước không thiếu người tài đức, khiến đất nước lâm vào tình trạng đen tối trên. Chúng ta vốn không chống ai cả, mà chỉ nói lên tiếng nói trung thực của mình về phương pháp cai trị hiện nay của đảng cầm quyền, đó chính là thực hành sứ mạng ngôn sứ của chúng ta. Nếu phương pháp cai trị mà nhà cầm quyền đang sử dụng không đem lại lợi ích cho quốc gia dân tộc, thì hà cớ gì họ cứ phải cố giữ cho bằng được cái phương pháp cai trị không hay ấy ? Riêng về pháp lệnh tôn giáo vừa ban hành, theo thiển ý con, Hội Đồng Giám mục Việt Nam cần lên tiếng yêu cầu Quốc Hội rút lại pháp lệnh ấy. Vì đó là phương cách đàn áp tôn giáo một cách quy mô, tinh vi, hữu hiệu nhất từ xưa đến nay: đó là dùng chính luật pháp để đàn áp tôn giáo, hay hợp pháp hóa việc đàn áp tôn giáo bằng pháp luật. Nếu Quốc Hội không rút lại pháp lệnh ấy, các tôn giáo – trong đó có Giáo Hội Công giáo Việt Nam – sẽ không thể tồn tại và phát triển được. Nói đúng hơn, các tôn giáo chỉ còn tồn tại bằng những hình thức bên ngoài, còn cốt yếu của tôn giáo là tinh thần và cơ cấu bên trong sẽ dần dần bị suy yếu hoặc bị tiêu diệt. Việc lên tiếng ấy không thể tránh khỏi ít nhiều mang tính chính trị. Giáo Hội không chủ trương làm chính trị, nhưng cũng không chủ trương tránh né tất cả những gì liên quan đến chính trị, nhất là khi phải hành động theo tình yêu và lương tâm mình. Người Kitô hữu có thể không làm chính trị khi lương tâm không cho phép, nhưng không thể không làm theo lương tâm chỉ vì việc làm theo lương tâm ấy là một hành vi liên quan đến chính trị. Đó là một vài tư tưởng con muốn chia sẻ với Hai Đức Hồng Y và Quý Đức Cha nhân dịp họp Hội Đồng Giám mục Việt Nam kỳ này. Cuối cùng, con xin kính chúc cho cuộc họp của Hội Đồng Giám mục Việt Nam đạt được thành công mỹ mãn.

Kính thư
Lm Chân Tín


Mục Lục