Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Quan Điểm và Cuộc SốngNguyễn Hộ |
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời cách đây khoảng trên 300 năm (thế kỷ 17) là đối tượng nghiên cứu của Các-Mác và Ắn-ghen - hai nhà thủy tổ của chủ nghĩa cộng sản. Do đó bản tuyên ngôn của Đảng cộng sản mà Mác và Ắn-ghen là đồng tác giả đã được ông bố vào năm 1848, cách nay 145 năm, phân tích những mâu thuẩn, những mặt tiêu cực, yêú kém của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và bản chất áp bức, bóc lột thậm tệ của giai cấp tư sản lúc bấy giờ. Mác và Ắn-ghen đã đi đến kết luận xã hội rằng chũ nghĩa tư bản nhất định diệt vong, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cản ngại lớn của lịch sử tiến hoá của xã hội loài người. Vả lại, trên thực tế, chủ nghĩa tư bản đã bị tiêu diệt ở nhiều nước mà nên kinh tế còn rất lạc hậu, nghèo nàn (kinh tế tư bản chưa phát triển cao) như các nước Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Mông Cổ, An-ba-ni, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri,...Đến khi Lê Nin với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917, càng khẳng định chủ nghĩa tư bản phát triển đến thời kỳ đế quốc chủ nghĩa là đêm trước của cách mạng vô sản và xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Thế nhưng kể từ khi có Tuyên Ngôn của đảng cộng sản (của Mác, Ắm-ghen) và quan điểm của Lê Nin về chủ nghĩa đế quốc đến nay (145năm) lại chưa hề có cuộc cách mạng vô sản bằng bạo lực nào xảy ra ở các nước tư bản phát triển nhất (thành đế quốc chủ nghĩa) như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Canada...bởi vì tại đây, các Đảng cộng sản đều không tán thành cách mạng vô sản - cách mạng bạo lực - và chuyên chính vô sản, độc quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản, mà chủ trương đấu tranh bằng phương thức hoà bình: đấu tranh nghị trường với sự liên minh của nhiều đảng phái, lực lượng cấp tiến, đấu tranh bằng đình công, biểu tình... cho lợi ích dân sinh, dân chủ của nhân dân lao động; cho hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc, cho tiến bộ xã hội: và cũng vì tính chất ấy mà Đảng cộng sản Anh đổi tên thành Đảng dân chủ xã hội; Đảng cộng sản Ý đổi thành Đảng dân chủ cánh tả vào những năm 1990 - 1991,...
Còn chủ nghĩa xã hội được xây dựng ở các nước nông nghiệp, phong kiến lạc hậu như đã nói trên trong suốt 45 năm hoặc trên 70 năm tuy có đạt được những thành quả nhất định về các mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, ý tế, đời sống vẫn lâm vào tình trạng trì trệ. Khủng hoảng kéo dài thậm chí đưa đến sự sụp đổ của "chủ nghĩa xã hội hiện thực" hồi năm 1990-1991 (Đông Ấu, Liên Xô, Mông Cổ...) do sự vận động của nó trái với qui luật khách quan (chuyên chế toàn diện: độc tài về kinh tế, độc tài về chính trị và các mặt khác; tiêu diệt kinh tế cá thể, tư nhân, bóp nghẹt dân chủ tự do là nguyên nhân chính yếu của sự sụp đổ ấy.
"Chủ nghĩa xã hội hiện thực" tan rã và việc không hề xảy ra cách mạng vô sản, xã hội chủ nghĩa ở các nước tư bản tiên tiến nhất theo như dự đoán của Mác, Ắn-ghen, Lê Nin; đồng thời kinh tế cá thể tư nhân (tư bản) được phục hồi ở các nước XHCN đã tan rã và chưa tan rã, thì lấy phương thức sản xuất nào để thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang là phương thức sản xuất hoàn chỉnh nhất, hùng mạnh nhất của xã hội loài người ngày nay ? và dựa vào cơ sở thực tiễn nào để nói rằng chủ nghĩa tư bản nhất định diệt vong ? (nếu nói theo cảm tính, quán tính hoặc theo sách vở, giáo điều thì có giá trị gì ?)
Người ta biết rằng trên 300 năm tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là một quá trình đầy thử thách; khủng hoảng kinh tế định kỳ rất trầm trọng (hàng hoá dư thừa, ế ẩm do bán không được phải đem ra biển đổ hoặc đốt đi), nhân dân lao động sống lầm than, đói rách do bị áp bức bóc lột nặng nề phải vùng lên đấu tranh tự cứu lấy mình bằng đình công, biểu tình nhiều lúc có cả bạo lực; hai lần chiến tranh thế giới (1914-1918 và 1940-1945) bùng nổ giữa các nước tư bản mất đi một số nước (trở thành nước xã hội chủ nghĩa). tất cả tình hình ấy làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội- chủ nghĩa cộng sản càng có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới.
Tuy nhiên, các nhà thủy tổ của chủ nghĩa cộng sản chỉ thấy chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn máy hơi nước (thế kỷ 19) và máy điện (đầu thế kỷ 20-hồi Lê Nin), chớ không hề thấy chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn của vũ khí hạt nhân, nguyên tử, của tin học, máy vi tính, rô-bốt (người máy), vệ tinh nhân tạo, con tàu vũ trụ bay vào không gian và lắp ghép với nhau, con người lên mặt trăng thám hiểm và dự định sẽ sinh sống tại đó,...Các nhà kinh điển của chủ nghĩa cộng sản chủ yếu nhìn thấy sâu sắc những mặt tiêu cực, khuyết tật của chủ nghĩa tư bản để từ đó rút ra kết luận và không bao giờ nghĩ rằng chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển đầy thử thách ấy, nó lại có nhiều khả năng tự điều chỉnh mình, tự cải tạo, thậm chí "lột xác" để tiến lên bằng tiềm năng kho học kỹ thuật, bằng trình độ tổ chức quản lý, bằng sức sáng tạo và nhiều chính sách xã hội hợp lý khác. Cho nên, trái hẳn với dự đoán của Mác-Lênin, chủ nghĩa tư bản đã tồn tại cho đến ngày nay (1993) trên 300 năm và chưa bao giờ chủ nghĩa tư bản phát triển hùng mạnh như bây giờ, và nhờ vậy nó đã đưa xã hội loài người đến đỉnh cao của nền văn minh. Với tuổi tác đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không những không già nua mà trái lại, nó giống như một lực sĩ còn rất sung sức với đầy đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu toàn diện và phức tạp của loài người. Như vậy, chủ nghĩa tư bản, trên cơ sở hùng mạnh có một không hai và chưa từng có trong lịch sử, có thể tiếp tục tồn tại và phát triển lâu dài hơn so với thời gian tồn tại và phát triển đã qua. (trên 3 thế kỷ) của nó.
Câu hỏi được đặt ra là chủ nghĩa tư bản có diệt vong không và bao giờ? Như mọi sự vật trong thế giới tự nhiên, chủ nghĩa tư bản cũng không thể đứng ngoài qui luật của nó: có sanh, có tử, có phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhưng có điều có thể khẳng định là chủ nghĩa tư bản sẽ không diệt vong bởi cuộc cách mạng vô sản- bạo lực của Đảng cộng sản, vì điều đó đã từng diễn ra và đã thất bại rồi ("chủ nghĩa xã hội hiện thực" sụp đổ trên phạm vi thế giới năm 1990-1991). Tuy nhiên đến lúc nào đó, chủ nghĩa tư bản cũng sẽ tiêu vong bởi những mâu thuẩn nội tại do phương thưc sản xuất của nó tạo ra, chứ không phải bằng một áp lực từ bên ngoài, giống như khi trái chín, nó rụng, chứ không phải nó bị người ta hái đi trước thời gian nó chín.
Sự phát triển của xã hội loài người đã trãi qua nhiều giai đoạn với những thay đổi lớn lao: "văn minh nông nghiệp (làng, xã), "văn minh công nghiệp" (thành phố và hiện nay đang bước vào giai đoạn của "văn minh trí tuệ" (chất xám) " - theo nhận định của nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler. Do đó những năm cuối của thế kỷ 20 này và đầu thế kỷ 21 tới đây, mọi vấn đề trong xã hội sẽ được giải quyết bằng máy tính điện tử, máy vi tính. Không những trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong lĩnh vực kinh doanh, công tác, phục vụ, dịch vụ cũng đều sử dụng máy tính điện tử, máy vi tính. Chính thời đại bùng nổ thông tin - thời đại của máy tính điện tử, máy vi tính - đã giúp chúng ta (người Việt Nam) có thể ngồi tại nhà mình và thông qua vệ tinh nhân tạo và máy truyền hình màu mà xem được "Thế vận hội" ở Mockba, Mehico, Bắc Kinh, Xê-un, Bác-xê-lô-na... và các trận đá bóng ở thủ đô các nước trên thế giới, hoặc như người dân Nga ngồi tại Mockba có thể đối thoại với người dân Mỹ đang ngồi tại Hoa-Thạnh-Đốn cũng thông qua các phương tiện thông tin nói trên. Thật là kỳ diệu nền "văn minh trí tuệ" (chất xám,khoa học kỹ thuật).
Với nền văn minh ấy, nhà máy, xí nghiệp không tổ chức đại qui mô như trước đây mà tổ chức theo qui mô vừa và nhỏ trong đó máy móc điện tử, máy vi tính giữ vai trò quyết định. Những xí nghiệp được rô-bốt hoá (toàn người máy) là những xí nghiệp sản xuất ra hàng hóa dồi dào chủ yếu do máy móc, chớ không có người lao động (công nhân). Như vậy, vấn đề mới đã phát sinh, xí nghiệp vẫn sản xuất nhưng lại không có công nhân - một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử.
Tin học hoá, rô-bốt hoá dần dần sẽ trở thành phổ biến trong hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác, phục vụ (dịch vụ) của xã hội loài người với nền "văn minh trí tuệ" ngày nay. Theo tin tức được biết: Nhật Bản chiếm 70% người máy (rô-bốt) trên thế giới, là nước đi đầu trong lĩnh vực rô-bốt hoá.
Từ "văn minh trí tuệ", những thay đổi lớn lao ấy không thể không ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp, quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, giữa chủ và thợ. Chắc chắn quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, giữa chủ và thợ sẽ dần dần lu mờ đi bởi những hiện tượng mới kể trên. Vì vậy, học thuyết về "thặng dư giá trị", về "đấu tranh giai cấp" của Các-Mác tất nhiên không thể không rơi vào tình trạng lãng quên. Nhưng sự tiêu vong của quan hệ giai cấp người bóc lột người, quan hệ chủ, thợ là một quá trình diễn biến lâu dài dưới nhiều dạng cụ thể khác nhau đến khi không còn giai cấp nữa. Sự tiêu vong của quan hệ giai cấp ấy không phải được giải quyết bằng một cuộc cách mạng vô sản - bạo lực đẫm máu của Đảng cộng sản, mà bằng một cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật - cách mạng của "văn minh trí tuệ" - rất hoà bình, nhân hậu, không hề đổ máu.
Hoà bình và khoa học kỹ thuật - "văn minh trí tuệ" - nhất định sẽ đưa cả loài người đi đến một thế giới văn minh tột đỉnh: phồn vinh, tự do, ấm no hạnh phúc, công bằng xã hội và đầy tình người.
Như mọi người đều biết, khi trên thế giới xuất hiện hai hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa song song tồn tại và đối đầu nhau quyết liệt thì đồng thời cũng bộc lộ khá rõ nét những hiện tượng nghịch lý:
- Chủ nghĩa tư bản xuất phát từ của riêng, lợi ích cá nhân, lợi nhuận - từng bị lên án là "thối nát", phản động và "phải bị tiêu diệt" - nhưng trong tác động thực tiễn của nó lại dẫn đến những hậu qủa kinh tế, xã hội kỳ diệu, không lường trước được: năng suất lao động cao, hàng hóa dồi dào có thể thỏa mãn mọi nhu cầu của xã hội, làm cho đất nước phồn vinh, giàu có, hùng mạnh, nhân dân ấm no hạnh phúc, xã hội phát triển đạt đến đỉnh cao của nền văn minh hiện đại ngày nay.
- Ngược lại chủ nghĩa xã hội được coi là "ưu việt", xuất phát từ của chung (sở hữu công cộng), luôn luôn vì lợi ích của xã hội (tức không có của riêng, không có lợi nhuận, không có giai cấp người bóc lột người) nhưng trong tác động thực tiễn lại dẫn đến những hậu quả hoàn toàn khác hẳn: kinh tế bị phá hoại nghiêm trọng bởi chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa, năng suất lao động thấp kém, hàng hoá đơn điệu, thiếu thốn không đáp ứng nổi các yêu cầu cấp bách của xã hội (tem phiếu, xếp hàng,quầy hàng trống rỗng...), đất nước lâm vào cảnh nghèo nàn lạc hậu triền miên, nhân dân sống cơ cực, lầm than, đói rách và không hề có dân chủ tự do.
- Rõ ràng, các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, dân chủ tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh, hiện đại lại không được tạo ra bởi chính phương thức sản xuất của nó mà ngược lại được tạo ra bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do đó, các nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc ngày nay phải thực hiện cải cách, đổi mới, tức là thông qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - tức kinh tế thị trường - để đem lại phồn vinh, giàu có, ấm no hạnh phúc cho nhân dân.
Rất đúng khi nói rằng kinh tế hàng hoá ra đời trước chủ nghĩa tư bản tức kinh tế hàng hoá có trước, kinh tế tư bản có sau. Tuy nhiên nó không mâu thuẫn khi nói rằng kinh tế hàng hoá - kinh tế thị trường - là kinh tế tư bản chủ nghĩa. Bởi vì kinh tế tư bản phát sinh trên cơ sở của kinh tế hàng hoá. Vả lại, kinh tế hàng hoá trong chủ nghĩa tư bản mang những nét đặc thù (riêng biệt) của nó: phát triển vượt bực về qui mô, số lượng và chất lượng so với kinh tế hàng hoá trong điều kiện của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến (kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa có thể giúp con người đi nửa vòng quả đất với thời gian khoảng 24 giờ (1 ngày 1 đêm); có thể ngồi tại nhà và xem ca nhạc, thể thao diễn ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới,...- điều mà kinh tế hàng hóa của chế độ nô lệ và phong kiến không thể làm được. Cho nên nói kinh tế hàng hoá là kinh tế tư bản trong ý nghĩa đó. Vậy hiện nay, Việt Nam, Trung Quốc thực hiện thứ kinh tế hàng hoá nào ? Kinh tế hàng hoá của chế độ nô lệ, phong kiến hay tư bản ? Không lẽ vì sĩ diện, muốn tránh né để không dính líu đến chủ nghĩa tư bản mà hai nước này lại áp dụng kinh tế hàng hoá của thời nô lệ, phong kiến sao ? Thị trường chứng khoán thuộc kinh tế hàng hoá nào ?
Xã hội tư bản - xã hội thừa nhận của riêng, lợi nhuận, có giai cấp, cạnh tranh gay gắt - là một xã hội năng động đáp ứng tất cả những gì mà nhân dân mong muốn, yêu cầu. Trong chủ nghĩa tư bản với năng suất lao động cao, hàng hoá dồi dào, đời sống cao, dân chủ tự do cao, nhân dân trở thành người chủ đích thực của xã hội. Tất cả điều đó đã cắt nghĩa việc hai triệu người Việt Nam sau năm 1975 đã di tản sang 70 nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt tập trung ở các nước phương tây (Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Sĩ,...). Đó là sự lựa chọn dứt khoát và khá chính xác của những người dân bình thường mà có khi người cách mạng chân chính khó hiểu nổi, nghĩ không ra.
Hơn nữa những điều kể trên cũng cắt nghĩa được rằng các đoàn đại biểu của chính phủ CHXHCN Việt Nam vừa qua đã sang thăm hữu nghị các nước Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm Thái lan, Malaixia, Indonexia, Philipin, Bơ-ru-nây, Singapo,...; thăm Nhật Bản, Nam Triều Tiên,...và các nước phương tây (Mỹ,Anh,Pháp,Hà Lan,Đức,Thụy Sĩ,...) đã bị thu hút bởi những thành tựu kỳ diệu trong công cuộc xây dựng kinh tế,văn hoá,xã hội,môi sinh,...của các nước tư bản chủ nghĩa kể trên và ao ước sao Việt Nam cũng làm được như vậy.
Từ thực tiễn đó, ta thấy rằng không phải là vấn đề tiêu diệt chủ nghĩa tư bản như Đảng cộng sản từng khẳng định mà chính là vấn đề học tập và làm theo mô hình tư bản chủ nghĩa như thế nào cho tốt; cho nên cần khiêm tốn một chút vì thực tiễn luôn luôn là chân lý sáng ngời.
Chủ nghĩa Mác-Lênin thường lên án chủ nghĩa tư bản là ích kỹ, tham lam, phản động, nhưng chính sự tồn tại và phát triển của nó trong mấy thế kỷ qua cho thấy khá đầy đủ toàn bộ tính chất xã hội của nó trong sản xuất, lưu thông, phục vụ (văn hoá, giáo dục, ý tế, môi sinh...ở từng nước). Như người ta thường nói đến hàng ngàn, hàng vạn công ty siêu quốc gia - công ty đa quốc gia tức nói đến những thứ hàng hoá nào đó của các công ty nói trên không những được sản xuất ngay trong nước mà còn được sản xuất ở nhiều nước khác và đồng thời được lưu thông tiêu thụ ở hằng trăm nước trên thế giới. Chính tính chất xã hội ấy đòi hỏi phải thúc đẩy công cuộc khu vực hoá, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và nhiều lĩnh vực khác nữa.
Hàng ngàn, hàng vạn công ty các nước đổ xô vào làm ăn ở một nước nào đó và ngược lại, hàng trăm, hàng ngàn công ty của một nước đến làm ăn ở hàng trăm nước khác trên thế giới đã nói lên tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, kể cả nước Mỹ bởi hiện tượng toàn cầu hóa nói trên.
Trong điều kiện đó, khu vực hoá kinh tế như Cộng đồng kinh tế Ấu Châu (EEC gồm 12 nước) và khu kinh tế tự do Bắc Mỹ (NAFTA gồm Hoa Kỳ, Canada, Mê-hi-co) là những bước tiến cao hơn trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Khu vực hoá nền kinh tế các nước là sự thai nghén đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, nhưng chính nó đã nói lên khát vọng muốn tiến mãi không ngừng của con người.
Từ tháng giêng năm 1993, kế hoạch giai đoạn đầu của Cộng đồng kinh tế Ấu Châu là thực hiện ba không:
- Việc đi lại của công dân ở 12 nước thuộc cộng đồng không cần hộ chiếu.
- Đi lại mua bán xuất nhập khẩu hàng hóa giữa 12 nước không qua hải quan.
- Tiền của một nước không bị cấm tiêu xài ở 11 nước khác của cộng đồng.
Nếu đến cuối năm 1993, Quôc Hội các nước trong cộng đồng đều thông qua hiệp ước Mastritch thì đầu năm 1994 sẽ bắt đầu thực hiện Liên Minh kinh tế và tiền tệ của giai đoạn hai.
Thật là kỳ lạ, chủ nghĩa tư bản không hề chủ trương "thế giới đại đồng" nhưng lại thực hiện "thế giới đại đồng". Còn CNCS thì chủ trương, hô hào tiến tới một "thế giới đại đồng" nhưng lại thực hành một quốc gia khép kín, tự cung, tự cấp (ích kỷ), bế môn tỏa cảng (Bắc Triều Tiên,Cuba,Việt Nam,Trung Quốc trước đây cũng vậy tuy hiện nay có khác rồi).
Tất nhiên sau cộng đồng kinh tế Ấu Châu và khu vực kinh tế do Bắc Mỹ như đã nói trên sẽ lần lượt hình thành các khu vực kinh tế tự do của Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ la tinh,...
Chủ nghĩa tư bản năng động, luôn luôn tìm mọi cách để tự hoàn thiện mình, do đó nó chưa phải hoàn hảo và còn những khuyết tật nhất định. Tuy nhiên chủ nghĩa tư bản đã vượt qua những cơn bão tố dữ dội suốt quá trình tồn tại và phát triển của nó trên 3 thế kỷ qua; điều đó cho phép nó có thể tiếp tục tiến lên một cách thuận lợi theo xu thế của thời đại ngày nay sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh (giữa phe tư bản, đế quốc chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa trên phạm vi thế giới) - hoà bình, đối thoại, hợp tác - từ trên cơ sở đã tốt đến chỗ ngày càng tốt hơn nhiều. Với xu thế mới của thời đại (hoà bình, hợp tác) nêu trên, chủ nghĩa tư bản lại có thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hoá và mua nguyên vật liệu và đưa vốn ra đầu tư đã đẩy chủ nghĩa tư bản lâm vào các cuộc khủng hoảng trầm trọng đầy tác hại và nguy hiểm suốt thế kỷ qua.
Ngoài ra, ngày nay chủ nghĩa tư bản lại có thêm những công cụ đắc lực như: Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á, Tổ chức "Hiệp định về thuế quan và mậu dịch" (GATT) - những tổ chức trụ cột - nhằm bảo vệ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giúp nó vượt qua những cơn suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế nếu có.
Khác với sự suy nghĩ, tưởng tượng trong đầu óc của con người, cuộc sống thực tiễn bao giờ cũng mang ý nghĩa tương đối thôi.
Cái gì được tuyệt đối hoá, thần tượng hoá hay bị sụp đổ. Đó là bài học qúi giá giúp con người phải biết thức tỉnh nếu không muốn bị lịch sử gạt qua bên lề. Vấn đề ở đây không phải là đã có bao nhiêu năm thâm niên cách mạng, kinh qua bao nhiêu chức vụ, mấy mùa kháng chiến hoặc mấy khóa tù mà vấn đề chính là có đuổi kịp và nhận thức được sự chuyển động của qủa đất, của cuộc sống ngày nay không ? và từ đó rút ra được kết luận gì làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng liên tục vì dân, vì nước của mình ?
Mục Lục | Quan Điểm và Cuộc Sống - phần 3