THẾ NÀO LÀ DÂN CHỦ?Phạm Hồng Sơn & Thư Lê |
Bản dịch của Phạm Hồng Sơn và Thư Lê
Phần 3
CHÍNH PHỦ DÂN CHỦ
DÂN CHỦ VÀ QUYỀN LỰC
Những người theo chủ
nghĩa độc đoán và một số
nhà phê bình thường có
một nhận thức sai lầm
chung là dân chủ sẽ
không đủ sức mạnh để
trấn áp và không đủ
quyền lực cho chính phủ
để lãnh đạo. Quan điểm
này sai lầm về cơ bản:
các thể chế dân chủ chỉ
yêu cầu sự giới hạn cho
chính phủ chứ không yêu
cầu chính phủ phải yếu
đi. Xem lại dòng lịch
sử, thực tế khi mới xuất
hiện các nền dân chủ đều
yếu ớt và lẻ tẻ, thậm
chí ngay cả vào thời
điểm thuận lợi trong
thập kỷ trỗi dậy của dân
chủ. Các nền dân chủ
cũng không thể chống lại
được qui luật của lịch
sử, nó cũng bị suy sụp
do các thất bại về chính
trị, bị thua cuộc do các
chia rẽ nội bộ hay bị
phá hủy do nạn ngoại
xâm. Tuy nhiên, thời
gian qua các nền dân chủ
cũng đã chứng tỏ được sự
hồi sinh kỳ diệu của nó
và chứng minh rằng: bằng
sự cam kết và sự ủng hộ
của các công dân, nó có
thể vượt qua được các
khó khăn khắc nghiệt về
kinh tế, hòa giải được
các chia rẽ dân tộc và
xã hội và khi cần thiết
thể chế dân chủ cũng
chiến thắng trong các
cuộc chiến.
Đó thực sự là những
vấn đề về dân chủ được
các nhà phê bình đề cập
nhiều nhất, và đó cũng
chính là các yếu tố làm
cho dân chủ được hồi
sinh. Các quá trình
tranh luận, bất đồng và
thỏa hiệp mà một số
người cho là điểm yếu
thì chính đó lại là các
điểm rất mạnh của dân
chủ. Chắc chắn, chưa có
ai kết tội dân chủ vì đã
đạt được hiệu quả đặc
biệt khi cân nhắc các
vấn đề trong tranh luận:
quá trình quyết định
theo cách dân chủ trong
một xã hội lớn và phức
tạp có thể diễn ra hỗn
độn, mệt mỏi và tiêu tốn
nhiều thời gian. Nhưng
cuối cùng, chính phủ
được thành lập dựa trên
sự nhất trí của nhân dân
có thể phát ngôn và hành
động với sự tự tin và
quyền lực mà những điều
này không có trong một
chế độ mà sức mạnh của
nó được đặt bấp bênh
trên sức mạnh quân sự
hoặc trên một bộ máy của
đảng không được dân bầu.
KIỂM TRA VÀ CÂN BẰNG
Một trong những đóng
góp quan trọng nhất cho
việc thực hiện dân chủ
là sự phát triển hệ
thống Kiểm tra và Cân
bằng nhằm đảm bảo quyền
lực chính trị được phân
tán, phi tập trung. Đó
là hệ thống được thiết
lập trên niềm tin sâu
sắc là chính phủ ưu việt
nhất khi các khả năng
lạm dụng quyền hạn của
nó bị khống chế và khi
nó càng gần gũi dân
chúng.
Theo thuật ngữ thông
thường thì Kiểm tra và
Cân bằng có 02 nghĩa :
chế độ liên bang và phân
quyền.
Chế độ liên bang là
sự phân chia lãnh đạo ở
các mức độ địa phương,
tỉnh lỵ, các bang và
quốc gia. Ví dụ, Hoa kỳ
là một nước cộng hòa
liên bang bao gồm nhiều
bang, mỗi bang đều có
luật pháp riêng và quyền
lực độc lập với chính
phủ liên bang. Không
giống như kiểu phân tán
chính trị ở các quốc gia
Anh, Pháp, các nước này
đều có một cấu trúc
chính trị nhất thể, các
bang của Hoa kỳ không
thể bị xóa bỏ hoặc thay
đổi bởi chính phủ liên
bang. Mặc dù sức mạnh ở
cấp độ quốc gia tại Hoa
kỳ tăng lên rất nhiều so
với quyền lực của các
bang trong thế kỷ 20,
các bang vẫn lĩnh các
trách nhiệm lớn trong
các lĩnh vực như giáo
dục, sức khỏe, giao
thông và thực thi pháp
luật. Trong các hệ thống
chính trị tập trung hoặc
nhất thể, các lĩnh vực
đó do chính phủ quốc gia
quản lý. Đổi lại, mỗi
bang của Hoa kỳ thường
phải tuân theo kiểu mẫu
của liên bang bằng cách
ủy quyền nhiều chức năng
như trường học, sở cảnh
sát cho các cộng đồng
địa phương. Sự phân chia
sức mạnh và quyền lực
trong một hệ thống liên
bang chưa bao giờ diễn
ra một cách suôn sẻ,
trật tự. Ví dụ, các tổ
chức liên bang, bang và
địa phương có thể có các
kế hoạch trùng nhau hoặc
mâu thuẫn với nhau.
Nhưng chính quyền liên
bang vẫn muốn tăng tối
đa các cơ hội cho công
dân của mình tham gia
tích cực vào các hoạt
động của xã hội dân chủ.
Ở nghĩa thứ hai, Kiểm
tra và Cân bằng nhằm nói
đến sự chia tách quyền
lực mà các nhà xây dựng
hiến pháp Hoa kỳ 1789 đã
dày công dựng lên để đảm
bảo sức mạnh chính trị
sẽ không bị tập trung
vào trong một nhóm thế
lực của chính phủ quốc
gia. James Madison,
người được coi là giữ
vai trò chính trong việc
soạn thảo bản hiến pháp
Hoa kỳ, sau này là tổng
thống thứ 04 của Hoa kỳ,
đã viết:” Sự tập trung
tất cả quyền lực, quyền
lập pháp, hành pháp và
tư pháp vào trong cùng
một bàn tay có thể chính
thức được gọi là sự bất
công và bạo tàn.”
Phân chia quyền lực
là một thuật ngữ gây
hiểu sai trong một số
cách dùng vì hệ thống bị
phân chia bởi Madison và
những người soạn thảo
Hiến pháp khác đề cập
đến có ý nghĩa là một hệ
thống bao gồm nhiều phần
hơn là quyền lực bị tách
biệt. Ví dụ, quyền lập
pháp là thuộc quốc hội,
nhưng các luật đã được
thông qua quốc hội có
thể bị phủ quyết bởi
tổng thống. Ngược lại,
để phủ quyết lại quyết
định của tổng thống,
quốc hội buộc phải tập
hợp đủ 2/3 đa số biểu
quyết trong cả hạ viện
lẫn thượng viện. Tổng
thống chỉ định các đại
sứ, các thành viên chính
phủ và chịu trách nhiệm
đàm phán các hiệp ước
quốc tế, nhưng tất cả
các quyết định đó phải
có sự chấp thuận của
thượng nghị viện. Việc
chọn các thẩm phán cũng
tương tự như thế. Với
một ví dụ khác, hiến
pháp qui định chỉ có
quốc hội mới có quyền
tuyên bố chiến tranh,
mặc dù tổng thống là
tổng chỉ huy các lực
lượng quân đội, đó cũng
chính là nguồn gốc của
sự căng thẳng giữa hai
phe trong suốt thời gian
chiến tranh Việt nam
những năm 1960 và đầu
những năm 1970 và trong
cuộc xung đột ngắn vùng
vịnh 1990-1991. Do sự
cần thiết phải có chấp
thuận của quốc hội thì
các dự án chính trị mới
có hiệu lực, nhà nghiên
cứu chính trị Richard
Neustadt đã mô tả quyền
lực của tổng thống Hoa
kỳ là “ không phải là
quyền lực ra lệnh mà là
quyền lực thuyết phục.”
Hiến pháp không thể
qui định cụ thể mọi Kiểm
tra và Cân bằng đối với
chính phủ liên bang. Một
số được rút ra trong quá
trình thực hiện và qua
các tiền lệ. Có thể coi
một phát hiện quan trọng
nhất cho Kiểm tra và Cân
bằng là học thuyết kiểm
tư pháp (judicial
review), được rút ra
trong một vụ án năm
1803, học thuyết này cho
phép tòa án tối cao Hoa
kỳ có quyền tuyên bố các
quyết định trái với hiến
pháp quốc hội.
Sự phân chia quyền
lực trong hệ thống Hoa
kỳ thường không đơn giản
và nhanh chóng, nhưng nó
mang lại một sự an toàn
quan trọng để chống lại
khả năng lạm dụng quyền
lực của chính phủ - một
vấn đề mà mọi nền dân
chủ phải đối mặt.
THỦ TƯỚNG VÀ TỔNG THỐNG
Một trong các quyết
định quan trọng nhất của
một nền dân chủ là
phương pháp bầu ra các
vị lãnh đạo và các vị
đại diện cho nền dân chủ
đó. Nói chung, có hai
cách lựa chọn. Một cách
theo hệ thống nghị viện
trong đó đảng chiếm đa
số trong cơ quan lập
pháp hoặc liên minh các
đảng sẽ thành lập chính
phủ, đứng đầu là thủ
tướng. Hệ thống chính
phủ nghị viện đầu tiên
được thực hiện ở Anh,
ngày nay được áp dụng
tại phần lớn các nước
châu Âu, vùng Caribê,
Canađa, Ấn độ và nhiều
nước tại châu Phi, châu
Á ( thường là thuộc địa
cũ của Anh). Một cách
thường gặp khác là bầu
trực tiếp tổng thống độc
lập với cơ quan lập
pháp. Hệ thống tổng
thống ngày nay được áp
dụng rất nhiều tại châu
Mỹ-Latinh, Philipin,
Pháp, Ba lan và Hoa kỳ.
Điểm khác biệt chính
giữa hai hệ thống nghị
viện và tổng thống là
quan hệ giữa cơ quan lập
pháp và hành pháp. Trong
hệ thống nghị viện, lập
pháp và hành pháp nói
chung là một và cùng như
nhau, thủ tướng và các
thành viên của chính phủ
đều lấy từ nghị viện.
Nhiệm kỳ của chính phủ
được qui định rõ ràng ví
dụ 4 hoặc 5 năm, trừ khi
thủ tướng bị mất quyền
đa số tại nghị viện. Khi
đó chính phủ phải giải
tán và tổ chức bầu cử
lại, hoặc người đứng đầu
nhà nước là tổng thống
hoặc quốc vương lập hiến
( có vai trò lãnh đạo
tượng trưng) cho phép
chủ tịch một đảng khác
đứng ra lập chính phủ
mới. Sự phân chia quyền
lực theo kiểu hệ thống
tổng thống Hoa kỳ là
không có vì nghị viện là
định chế lãnh đạo tối
cao. Đổi lại, để đảm bảo
có sự kiểm tra và cân
bằng đối với quyền lực
của chính phủ, hệ thống
nghị viện phụ thuộc cực
lớn vào các động lực
chính trị trong nội tại
của nghị viện. Điều đó
thường tạo nên dạng đảng
đối lập có tổ chức đơn
độc như “cái bóng” của
chính phủ hoặc dạng cạnh
tranh giữa rất nhiều các
đảng đối lập.
Trong hệ thống tổng
thống thì cả hai vị trí
đứng đầu nhà nước và
chính phủ đều thuộc văn
phòng tổng thống. Tổng
thống được bầu trực tiếp
từ dân chúng cho một
nhiệm kỳ xác định. Các
thành viên của quốc hội
cũng được bầu tương tự.
Như một yếu tố phân
quyền, các thành viên
của văn phòng tổng thống
thường không phải là các
đại biểu quốc hội. Tổng
thống thường chỉ bị phế
truất trước nhiệm kỳ khi
phạm những tội nghiêm
trọng hoặc có những hành
động nguy hiểm đối với
nhà nước. Phần đa số
trong cơ quan lập pháp
ủng hộ cho đảng của tổng
thống có thể tạo thuận
lợi cho việc chấp thuận
các chương trình chính
trị, nhưng không như các
thủ tướng, các tổng
thống không phụ thuộc
vào các đa số như thế để
được tồn tại hay không.
NHỮNG NGƯỜI ĐẠI DIỆN
Một quyết định quan
trọng khác của nền dân
chủ là tiến hành bầu cử
như thế nào. Chúng ta
lại có 02 cách lựa chọn:
bầu cử theo kiểu đa số
tương đối hoặc bầu cử
theo đại diện theo tỷ
lệ.
Bầu cử theo đa số
tương đối, đôi khi được
hiểu như kiểu “ người
thắng được tất”, có
nghĩa là ứng cử viên
chiếm đa số phiếu trong
một khu vực xác định sẽ
là người chiến thắng cho
dù là đa số tương đối (
dưới 50% nhưng lớn hơn
các đối thủ khác) hay là
đa số tuyệt đối ( trên
50%). Tổng thống cũng
được bầu theo cách đó,
nhưng ở cấp độ quốc gia.
Một số hệ thống cho phép
bầu lại ( đua lại) giữa
hai ứng cử viên lớn nhất
nếu không có ai chiếm
được đa số tuyệt đối
trong vòng đầu. Bầu cử
theo đa số có xu hướng
phù hợp khi có hai đảng
chính trị lớn có khả
năng chi phối toàn bộ
tình hình chính trị.
Ngược lại, các cử tri
trong hệ thống bầu cử
theo kiểu đại diện theo
tỷ lệ, như thường thấy ở
các nước châu Âu, tính
phiếu bầu cho các đảng
chứ không cho các cử tri
cá nhân. Đại diện của
các đảng trong cơ quan
lập pháp phụ thuộc vào
số phần trăm hay tỷ lệ
số phiếu đảng đó thu
được trong bầu cử. Trong
hệ thống nghị viện,
người đứng đầu đảng
chiếm đa số tuyệt đối sẽ
trở thành thủ tướng và
có quyền lựa chọn các
thành viên cho chính phủ
từ nghị viện. Nếu không
có đảng nào chiếm đa số
tuyệt đối, các đảng phải
cùng nhau thương lượng
để thành lập một liên
minh các đảng cầm quyền.
Bầu cử theo kiểu đại
diện theo tỷ lệ có xu
hướng phù hợp với tình
hình có nhiều đảng,
thường các đảng phải tự
tìm cách thương lượng
với nhau để có được vị
trí trong chính phủ liên
minh, cho dù các đảng
đều có một tỷ lệ tương
đối nhỏ cử tri trung
thành.
NGHỊ VIỆN VÀ TỔNG THỐNG
Một trong những tính
chất cơ bản của hệ thống
nghị viện (hệ thống ngày
nay đã trở thành đa số
của các nền dân chủ) là
sự phản ứng nhanh và
linh hoạt. Các chính phủ
nghị viện, đặc biệt là
các chính phủ được bầu
theo đại diện theo tỷ
lệ, có xu hướng tiến tới
hệ thống đa đảng trong
đó cả những nhóm chính
trị tương đối nhỏ cũng
được hiện diện trong cơ
quan lập pháp. Như thế,
kể cả các nhóm rất thiểu
số vẫn có thể tham gia
vào quá trình quyết định
chính trị ở mức độ cao
nhất của chính phủ. Tính
đa dạng này tạo điều
kiện cho các đảng đối
thoại và thỏa hiệp khi
phải cùng nhau thành lập
liên minh cầm quyền. Do
đó khi liên minh sụp đổ
hay đảng mất quyền, thủ
tướng từ chức, phải
thành lập chính phủ mới
hoặc cả khi tiến hành
bầu cử lại vẫn không có
sự khủng hoảng đe dọa hệ
thống dân chủ.
Điểm yếu chính của hệ
thống nghị viện nằm ở
mặt tối của sự linh hoạt
và sự phân chia quyền
lực: đó là tính không ổn
định. Các liên minh đa
đảng có thể mong manh và
sụp đổ ngay khi có dấu
hiệu đầu tiên của khủng
hoảng chính trị và dẫn
tới chính phủ chỉ tồn
tại được trong thời gian
khá ngắn. Chính phủ có
thể cũng phải viện tới
sự khoan dung của các
đảng cực đoan khi các
đảng đó ép chính phủ
phải đưa ra các chính
sách đặc biệt bằng cách
đe dọa rút khỏi liên
minh cầm quyền hoặc buộc
chính phủ từ chức. Hơn
nữa, thủ tướng chỉ là
người đứng đầu một đảng
chứ không phải là người
có quyền do nhân dân
trực tiếp bầu ra.
Một vấn đề nữa là
thiếu sự kiểm tra chính
thức đối với quyền tối
cao của nghị viện. Ví
dụ, một đảng chính trị
với đa số đủ lớn trong
nghị viện có thể phê
chuẩn một chương trình
chính trị xa vời, phi
dân chủ mà không có các
giới hạn cần thiết đối
với các hành động đó,
khi đó sẽ tạo ra một
viễn cảnh bất công của
sự đa số.
Đối với hệ thống tổng
thống, các tính chất cơ
bản là trách nhiệm trực
tiếp, tính liên tục và
sức mạnh. Các tổng thống
do nhân dân bầu cho một
nhiệm kỳ nhất định có
thể khẳng định quyền lực
của mình từ bầu cử trực
tiếp mang lại, cho dù vị
trí đảng của tổng thống
có vị trí nào trong nghị
viện. Bằng cách tạo ra
sự phân chia nhưng về lý
thuyết thường các nhóm
là ngang nhau trong
chính phủ, hệ thống tổng
thống tìm cách làm cho
các định chế lập pháp và
hành pháp mạnh mẽ, mỗi
định chế đều có khả năng
yêu cầu nhân dân cho
quyền và mỗi định chế
đều có khả năng kiểm tra
và cân bằng các định chế
khác. Những người lo sợ
khả năng bất công trong
hành pháp sẽ nhờ đến vai
trò của quốc hội, những
người lo lắng sự lạm
dụng đa số nhất thời
trong cơ quan lập pháp
sẽ viện tới quyền của
tổng thống.
Điểm yếu của việc bầu
riêng biệt cơ quan lập
pháp và tổng thống là
khả năng bế tắc khi cần
quyết định. Tổng thống
có thể không đạt được
biếu quyết của quốc hội
cho các chương trình đề
xuất, nhưng tổng thống
cũng có thể tránh cho
quốc hội phải thay thế
các chương trình lập
pháp bằng cách sử dụng
quyền phủ quyết của
mình.
Đương nhiên do được
bầu trực tiếp, các tổng
thống có thể có nhiều
quyền lực hơn các thủ
tướng. Tuy nhiên, tổng
thống buộc phải đấu
tranh với cơ quan lập
pháp cho dù cơ quan lập
pháp có bị khống chế bởi
đảng đối lập hay không
vì cơ quan lập pháp được
bầu độc lập với tổng
thống. Do đó, vấn đề kỷ
luật đảng cũng không
mạnh như hệ thống nghị
viện, ví du: tổng thống
không thể khai trừ hay
kỷ luật các thành viên
của đảng có ý chống đối
như thủ tướng thường
làm. Trong khi thủ
tướng, với lợi thế đa số
chắc chắn trong nghị
viện, có thể đảm bảo
được chấp thuận cho các
chương trình lập pháp đề
xuất. Ngược lại, tổng
thống thường phải thương
lượng kéo dài với cơ
quan lập pháp với những
nghi ngại về các đặc
quyền của họ để đảm bảo
đạt được sự chấp thuận
cho các đề xuất của
mình.
Hệ thống nào đáp ứng
tốt nhất cho các yêu cầu
của nền dân chủ lập
hiến: kiểu nghị viện hay
kiểu tổng thống? Câu trả
lời thuộc về cuộc tranh
luận đang còn tiếp diễn
giữa các nhà nghiên cứu
chính trị và các chính
trị gia, một phần do mỗi
hệ thống đều có những
điểm mạnh và yếu riêng
của nó. Tuy nhiên, chúng
ta nên ghi nhận là cả
hai hệ thống đó đều phù
hợp với nền dân chủ lập
hiến, mặc dù không có hệ
thống nào đảm bảo cho sự
thành công.
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ ĐA
NGUYÊN
SỰ THAM GIA HOẠT ĐỘNG XÃ
HỘI
Các công dân không
bắt buộc phải tham gia
vào các hoạt động chính
trị và họ cũng được tự
do thể hiện sự không hài
lòng bằng cách không
tham gia vào các hoạt
động chính trị. Nhưng
nếu không có sự tham gia
tích cực của công dân
thì nền dân chủ sẽ trở
nên yếu ớt. Công dân
trong các xã hội dân chủ
có cơ hội được tham gia
vào rất nhiều các tổ
chức, các hiệp hội tư
nhân, các tổ chức tình
nguyện. Phần lớn các tổ
chức đó hoạt động liên
quan tới các chính sách
công cộng. Và chỉ có một
số là do chính phủ tài
trợ và kiểm soát. Một
quyền cơ bản để tạo nên
dân chủ là mọi cá nhân
có quyền tự do hội họp,
tự do tổ chức và thành
lập các hội dưới nhiều
dạng khác nhau của tổ
chức phi chính phủ. Khi
những người có cùng lợi
ích tập hợp nhau lại,
khi đó tiếng nói của họ
sẽ được lắng nghe và cơ
hội để gây ảnh hưởng
đốùi với các thảo luận
chính trị sẽ được tăng
lên. Như Alexis de
Tocqueville, nhà nghiên
cứu chính trị nổi tiếng
thế kỷ 19 đã viết :”
Không có một đất nước
nào mà sự đòi hỏi cấp
thiết phải có các hiệp
hội để chống lại sự
chuyên chế bè cánh và sự
độc đoán lãnh đạo như
một đất nước được xây
dựng theo kiểu dân chủ.”
Các tổ chức, hiệp hội
trong các xã hội dân chủ
có số lượng rất lớn và
được phân loại theo
nhiều cách. Các tổ chức
mà chức năng chính của
nó là gây áp lực đối với
chính phủ về một vấn đề
đặc biệt nào đó thì được
xếp vào các nhóm hoạt
động vì lợi ích hay các
nhóm vận động hậu trường
( lobby). Các nhóm vì
lợi ích tư nhân như các
hiệp hội kinh doanh, các
tổ chức nghề nghiệp hoặc
liên đoàn lao động,
thường có các lợi ích
kinh tế trong các chính
sách mà họ ủng hộ, mặc
dù cũng có thể họ đề cập
tới lợi ích công cộng
trong các vấn đề khá xa
so với lĩnh vực chuyên
môn của họ.
Các tổ chức được gọi
là vì lợi ích công cộng
như các tổ chức phúc lợi
xã hội hoặc vì môi
trường, họ luôn tìm cách
làm cho các nhận thức
của họ trở thành các lợi
ích tập thể hoặc của xã
hội. Điều này không làm
cho các tổ chức vì lợi
ích công cộng trở nên
tốt hơn hay đạo đức hơn
các tổ chức vì lợi ích
tư nhân. Hơn nữa, lợi
ích của bản thân cá nhân
bao giờ cũng được đặt
ngay tiếp theo lợi ích
công cộng.
Cả hai dạng tổ chức
vì lợi ích này đều hoạt
động rất mạnh tại các xã
hội dân chủ. Cả hai đều
rất quan tâm tới dư
luận, cùng cố gắng để mở
rộng sự ủng hộ như tìm
cách giáo dục công chúng
và đồng thời ảnh hưởng
tới chính sách của chính
phủ cùng một lúc.
Các nhóm vì lợi ích
đóng vai trò như một sức
mạnh trung gian giữa các
cá nhân đơn độc và chính
phủ có qui mô lớn và
cách xa dân chúng. Chính
thông qua các hoạt động
của các tổ chức đó và
thông qua các cuộc tranh
luận công khai, cởi mở,
các tranh cãi gay gắt,
các quyết định thỏa hiệp
và các nhất trí đồng
thuận giữa các bên mà xã
hội dân chủ mới đưa ra
được các quyết định liên
quan tới đời sống của
các thành viên trong xã
hội đó.
HOẠT ĐỘNG BỎ PHIẾU
Trong các nền dân chủ
hiện đại, hoạt động bỏ
phiếu bầu các công chức
nhà nước là một dạng
hoạt động thường thấy
nhất và cũng là cơ bản
nhất nói lên sự tham gia
của công dân vào việc tổ
chức xã hội. Khả năng
thực hiện các cuộc bầu
cử tự do và công bằng là
vấn đề cốt lõi để một xã
hội được gọi là dân chủ.
Động cơ bỏ phiếu của
cử tri cũng nhiều và đa
dạng như các tổ chức và
quyền lợi mà các tổ chức
đó đại diện trong xã hội
dân chủ. Đương nhiên là
các cử tri sẽ bỏ phiếu
cho các ứng cử viên đại
diện cho quyền lợi của
họ, nhưng cũng có nhiều
yếu tố khác ảnh hưởng
tới sự lựa chọn đó. Ví
dụ sự liên quan tới đảng
chính trị: các cử tri có
cảm tình mạnh mẽ với một
đảng chính trị nào đó sẽ
có nhiều khả năng bỏ
phiếu cho đảng đó hơn
các cử tri có tính chất
độc lập và không thuộc
đảng phái nào. Trong các
hệ thống bầu cử theo đại
diện tỷ lệ , các cử tri
chỉ có thể bỏ phiếu cho
một đảng nào đó chứ
không bỏ cho các ứng cử
viên cá nhân.
Các nhà khoa học
chính trị đã xác định
được rất nhiều yếu tố có
thể ảnh hưởng tới sự
quyết định của cử tri và
tổng số lá phiếu bầu. Ví
dụ, ở các quốc gia theo
hệ thống bầu cử đại diện
theo tỷ lệ, khi mà mỗi
lá phiếu đều được tính
vào tỷ lệ đại diện trong
cơ quan lập pháp, luôn
có tổng số lá phiếu cao
hơn các nước theo hệ
thống đa số tuyết đối
hoặc đa số tương đối.
Tình trạng kinh tế, xã
hội, sự dễ dàng đăng ký
bầu cử, sức mạnh của hệ
thống đảng, hình ảnh ứng
cử viên trong công
chúng, khoảng cách giữa
các cuộc bầu cử - tất cả
các yếu tố này đều tác
động tới số lượng và tần
số đi bầu của các cử
tri. Trong các cuộc bầu
cử dân chủ, vấn đề chính
không phải là xác định
được ứng cử viên nào kêu
gọi được nhiều ủng hộ
nhất từ công chúng mà là
xác định được ứng cử
viên nào có khả năng làm
cho những người ủng hộ
mình chuyển các mong
muốn của họ thành lá
phiếu một cách hiệu quả
nhất. Sự thờ ơ của công
chúng vẫn là một lo lắng
trong bầu cử dân chủ, ở
chỗ là những người nắm
quyền lãnh đạo sẽ được
bầu bởi một số lượng cử
tri nhỏ hơn tổng số
lượng cử tri hợp pháp,
chứ không phải là lo
ngại không đủ người cho
các vị trí lãnh đạo.
CÁC ĐẢNG CHÍNH TRỊ
Các đảng chính trị
tuyển chọn, chỉ định ứng
cử viên và tổ chức các
chiến dịch bầu ra các
lãnh đạo nhà nước. Nếu
là đảng chiếm đa số, họ
sẽ xây dựng các chương
trình chính sách cho
chính phủ, còn nếu là
phía đối lập họ sẽ đưa
ra các phê phán, chỉ
trích và đề nghị các
giải pháp khác. Các đảng
huy động ủng hộ từ các
tổ chức vì lợi ích cho
các chính sách chung;
giáo dục công chúng về
các vấn đề công cộng;
xây dựng các nguyên tắc
và cấu trúc cho các
tranh luận chính trị.
Trong một số hệ thống, ý
thức hệ có thể đóng một
vai trò quan trọng khi
tuyển chọn và là động cơ
thúc đẩy các đảng viên;
còn ở những hệ thống
khác, các quan tâm về
kinh tế hoặc các quan
điểm về xã hội lại có
thể đóng vai trò quan
trọng hơn tư tưởng chính
trị ( ý thức hệ).
Cách thức tổ chức và
hoạt động của các đảng
rất khác nhau. Có hai
kiểu đặc trưng. Một thái
cực theo hệ thống nghị
viện đa đảng tại châu
Âu, các đảng chính trị
có thể được tổ chức rất
chặt chẽ và hoạt động
gần như chỉ do những
đảng viên chuyên nghiệp
trọn thời gian (
full-time
professionnals). Một
thái cực khác là ở Hoa
kỳ, có hai đảng chính là
đảng Cộng hòa và đảng
Dân chủ, là các đảng
được tổ chức phi tập
trung, hoạt động rộng
khắp ở cả quốc hội và
các bang. Cứ 04 năm lại
thay đổi khi các tổ chức
của đảng Cộng hòa và
đảng Dân chủ hợp lại với
nhau để tổ chức các
chiến dịch cho bầu cử
tổng thống, với sự giúp
đỡ phần lớn của những
người tình nguyện.
Các đảng chính trị
cũng thay đổi tùy theo
xã hội mà nó hoạt động.
Các chiến dịch bầu cử
thường được tổ chức rất
công phu và tốn kém thời
gian và đôi khi kỳ cục.
Nhưng chức năng của các
chiến dịch lại hết sức
nghiêm túc: đảm bảo cho
các công dân của xã hội
dân chủ có thể lựa chọn
các vị lãnh đạo và tự
mình xác định cho số
phận của riêng họ theo
một cách thức hòa bình
và công bằng.
PHẢN ĐỐI
Trong xã hội dân chủ
các công dân có quyền
tập hợp nhau một cách ôn
hòa và phản đối các
chính sách của chính phủ
hoặc các tổ chức hành
động bằng các hình thức
biểu tình, tuần hành,
gửi kháng nghị, tẩy
chay, bãi công và nhiều
hình thức hành động trực
tiếp khác.
Hành động trực tiếp
được phép cho tất cả mọi
người trong xã hội dân
chủ, nhưng thường được
sử dụng bởi các tổ chức
đối lập, các nhóm thiểu
số hoặc nhóm bị thiệt
thòi về quyền lợi khi
những nhóm đó cảm thấy
không còn các phương
tiện nào khác để gây ảnh
hưởng tới chính sách của
chính phủ. Các loại phản
đối như thế luôn luôn là
một phần tất yếu của xã
hội dân chủ. Ngày nay,
các hình thức phản đối
phi bạo lực thường được
tổ chức để lôi kéo sự
chú ý của giới truyền
thông về nhiều vấn đề
rộng lớn từ ô nhiễm môi
trường tới vũ khí hạt
nhân, các chính sách đối
ngoại, các vấn đề phân
biệt chủng tộc và màu
da. Một dạng hành động
trực tiếp đặc biệt khác
là quyền của các công
đoàn lao động tổ chức
các cuộc bãi công phản
đối những người sử dụng
lao động khi các mâu
thuẫn không giải quyết
được trên bàn đàm phán.
Các phản đối là một
cơ sở để đánh giá một
nền dân chủ. Các lý
tưởng của sự tự do thể
hiện và tham gia tổ chức
xã hội của công dân sẽ
dễ dàng đạt được khi mọi
người đều giữ được cách
cư xử lịch sự và cùng
thỏa thuận về các vấn đề
cơ bản. Nhưng khi những
người phản đối và bị
phản đối không thống
nhất được trên các vấn
đề cơ bản, thì sự bất
đồng có thể trở thành sự
cáu giận và manh động.
Lúc đó một trong những
vấn đề cần phải Cân bằng
là vừa bảo vệ quyền tự
do ngôn luận, quyền hội
họp của công dân, vừa
duy trì được trật tự của
xã hội và tránh mọi ý đồ
hăm dọa hay bạo lực. Nếu
triệt tiêu các phản đối
ôn hòa với lý do đảm bảo
trật tự xã hội sẽ tạo
nên sự dồn nén, ức chế.
Ngược lại, nếu để các
phản đối bằng bạo lực
xảy ra một cách không
kiểm soát thì lại dẫn
tới tình trạng hỗn loạn,
vô chính phủ.
Không có một công
thức kỳ diệu nào để đạt
được sự Cân bằng, điều
đó phụ thuộc vào cam kết
của đa số người dân là
cần phải duy trì các
định chế của dân chủ và
các đòi hỏi của quyền cá
nhân. Các xã hội dân chủ
có khả năng chấp nhận
mọi bất đồng sâu sắc
nhất giữa các công dân
chỉ trừ một bất đồng đó
là tính hợp pháp của bản
thân nền dân chủ.
CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG
TIN
Lãnh đạo là sự trao
đổi thông tin. Do các xã
hội hiện đại đã phát
triển rất lớn về kích
thước và tính phức tạp,
lĩnh vực truyền thông và
các thảo luận công cộng
đang ngày càng bị chi
phối bởi các phương tiện
thông tin: đài phát
thanh, ti-vi, báo, tạp
chí, sách và cả các cơ
sở dữ liệu tin học.
Trong xã hội dân chủ
có rất nhiều phương tiện
thông tin giống nhau,
nhưng các chức năng của
chúng đặc biệt khác
nhau. Một trong số những
chức năng đó là thông
tin và giáo dục. Để có
được quyết định khôn
ngoan cho các chính sách
công cộng, công chúng
cần phải có các thông
tin chính xác, kịp thời
và không bị thiên lệch.
Do có nhiều ý kiến khác
nhau, công chúng cũng
cần phải được tiếp cận
với tất cả các quan
điểm. Đây là điểm đặc
biệt quan trọng trong
các chiến dịch bầu cử,
khi chỉ có một số ít cử
tri có được cơ hội gặp
ứng cử viên và số được
nói chuyện với ứng cử
viên còn ít hơn nữa, do
đó các cử tri buộc phải
trông cậy vào báo chí và
ti-vi để hiểu các vấn đề
và biết được đặc điểm,
cũng như các thông số
cần thiết của các vị trí
khác nhau của các ứng cử
viên và đảng của họ.
Chức năng thứ hai của
các phương tiện thông
tin là giữ vai trò kiểm
soát chính phủ và các
định chế quyền lực khác
trong xã hội. Do giữ một
vai trò độc lập và khách
quan, dĩ nhiên không
tuyệt đối, các phương
tiện thông tin có thể
lật tẩy sự thật đằng sau
các tuyên bố của chính
phủ và buộc các công
chức nhà nước phải có
trách nhiệm với các hành
động của họ.
Nếu họ muốn, các
phương tiện thông tin
cũng có thể có vai trò
tích cực hơn nữa trong
các cuộc tranh luận công
cộng. Bằng các bài xã
luận hoặc các phóng sự
điều tra, phương tiện
thông tin có thể huy
động một chiến dịch cho
các chính sách cụ thể
hoặc cho các cải cách mà
họ thấy cần được thực
hiện. Các phương tiện
thông tin cũng có thể
đóng vai trò như một
diễn đàn cho các tổ chức
và các cá nhân thể hiện
ý kiến, quan điểm bằng
cách gửi thư cho ban
biên tập và đăng các bài
báo với các quan điểm
khác nhau.
Các bình luận viên
lại mang tới cho các
phương tiện thông tin
một vai trò ngày càng
quan trọng: “tạo nên các
chương trình nghị sự “.
Do không thể đề cập mọi
vấn đề, các phương tiện
thông tin ( PTTT) buộc
phải lựa chọn vấn đề nào
cần đề cập, vấn đề nào
cần bỏ qua. Nghĩa là họ
cần phải xác định đâu là
tin, đâu không phải là
tin. Do đó, các quyết
định về thông tin đó sẽ
ảnh hưởng tới nhận thức
của công chúng đâu là
vấn đề quan trọng nhất.
Tuy nhiên, không giống
như các nước mà hệ thống
thông tin bị kiểm soát
bởi chính phủ, trong một
xã hội dân chủ, các PTTT
không đơn giản chỉ đóng
vai trò cổ động, lôi
cuốn hoặc tảng lờ cố ý,
vì các đối thủ khác hoặc
ngay cả chính phủ cũng
được tự do lôi kéo sự
chú ý của công chúng cho
các vấn đề quan trọng
của họ.
Đa số cho rằng các
PTTT không phải luôn
thực hiện các chức năng
đó một cách có trách
nhiệm. Các phóng viên
báo chí và truyền hình
có thể mong muốn đạt
được tiêu chuẩn khách
quan trong công việc của
họ, nhưng các tin tức
không thể tránh được sự
ảnh hưởng bởi sự nhạy
cảm và thiên lệch của
chính các cá nhân đó
hoặc của cơ quan báo chí
mà họ cộng tác. Họ có
thể là những người dễ
xúc động, hời hợt, chủ
quan, không chính xác,
xúc phạm và dễ khiêu
khích. Tuy nhiên giải
pháp cho vấn đề này
không phải là ban hành
luật pháp để qui trách
nhiệm một cách tùy ý
hoặc quản lý chặt chẽ
các nhà báo mà phải mở
rộng sự tranh luận và
trao đổi của công chúng
để công chúng có thể
sàng lọc tốt hơn trong
bạt ngàn thông tin và
các từ ngữ hùng biện của
báo chí để tìm thấy cho
mình các yếu tố cơ bản
của sự thật. Oliver
Wendell Holmes luật sư
nổi tiếng của Tòa tối
cao Hoa kỳ đã phát biểu
vào năm 1919 như sau:”
Thử nghiệm tốt nhất của
chân lý là sức mạnh của
tư duy làm cho nó được
chấp nhận trong sự cạnh
tranh của thị trường.”
DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ
Thể chế dân chủ không
áp đặt bất kỳ một hoặc
thuyết kinh tế nào. Các
chính phủ dân chủ chấp
nhận cả học thuyết của
các nhà xã hội chủ nghĩa
và những người theo thị
trường tự do. Thực tế,
trong các xã hội dân chủ
hiện đại có rất nhiều
tranh luận, bàn cãi đề
cập tới vai trò cụ thể
của chính phủ về kinh
tế. Tuy nhiên, cũng phải
nói rằng những người chủ
trương thể chế dân chủ
thường nhìn nhận vấn đề
tự do kinh tế như một
yếu tố căn bản của dân
chủ. Điều này không loại
trừ các vấn đề kinh tế
có thể trở thành phương
diện để phân chia và xác
định quyền lực chính trị
của phái “tả , hữu” như
chúng ta đang thấy. Ví
dụ, các nhà dân chủ xã
hội nhấn mạnh vào việc
đòi hỏi quyền bình đẳng
và phúc lợi xã hội phải
là vấn đề then chốt
trong các chính sách
kinh tế của chính phủ.
Trước đây, chính đòi hỏi
đó đã mang lại cho chính
phủ quyền sở hữu các bộ
phận quan trọng của nền
kinh tế quốc gia như
viễn thông, giao thông
và một số nghành công
nghiệp nặng. Các nhà dân
chủ xã hội cũng kêu gọi
chính phủ phải quan tâm
đến các vấn đề y tế,
thất nghiệp và các phúc
lợi xã hội khác. Ngược
lại, các đảng bảo thủ và
ôn hòa thường nhấn mạnh
nhiều hơn tới nền kinh
tế thị trường tự do,
không bị can thiệp hoặc
kiểm soát bởi chính phủ
như là một phương tiện
hiệu quả nhất để đạt
được tăng trưởng kinh
tế, phát triển công nghệ
và mở rộng giàu mạnh.
Tuy nhiên, trên thực tế,
tất cả mọi cá nhân và tổ
chức tham gia trong các
tranh luận về kinh tế
thường dễ thống nhất với
nhau hơn trong các cuộc
tranh luận về chính trị.
Ví dụ, cả hai phe tả và
hữu đều cùng thừa nhận
vai trò quan trọng của
các phong trào lao động
tự do, độc lập với chính
phủ. Những người lao
động trong một xã hội tự
do có quyền thành lập
hoặc tham gia vào các tổ
chức đại diện cho quyền
lợi của họ để thương
lượng với những người sử
dụng lao động về vấn đề
tiền lương, sức khỏe,
chế độ hưu trí, điều
kiện làm việc và các vấn
đề bất hòa.
Không có nhà nước dân
chủ hiện đại nào mà có
nền kinh tế hoàn toàn
thuộc sở hữu của nhà
nước hoặc hoàn toàn tự
do. Tất cả đều là sự kết
hợp giữa các xí nghiệp
tư nhân và các cơ sở của
nhà nước. Hoạt động của
nền kinh tế dân chủ chủ
yếu dựa trên các qui
luật của thị trường tự
do: giá cả không do nhà
nước qui định mà do sự
quyết định độc lập trong
mối quan hệ tương tác
giữa người tiêu dùng và
nhà sản xuất.
Các đảng chính trị
cánh tả, thường theo chủ
nghĩa dân chủ xã hội có
định hướng, thừa nhận là
thị trường tự do hoạt
động đúng theo các
nguyên tắc cung-cầu sẽ
là độc lực thiết yếu cho
sự phát triển kinh tế và
giàu mạnh. Tương tự như
thế, các đảng cánh hữu
ôn hòa, thường phản đối
sự can thiệp của nhà
nước hay sở hữu của nhà
nước trong khu vực sản
xuất, chấp nhận trách
nhiệm của chính phủ
trong việc điều chỉnh
một số lĩnh vực kinh tế:
thất nghiệp, y tế, các
phúc lợi xã hội, sử dụng
chính sách thuế để phát
triển kinh tế. Do đó,
các nền kinh tế theo thể
chế dân chủ mặc dù đa
dạng về chi tiết nhưng
đều giống nhau về các
đặc tính cơ bản.
Gần đây, sự sụp đổ
của một loạt các nền
kinh tế kế hoạch hóa
trung ương trên khắp thế
giới càng nhấn mạnh vai
trò quan trọng của các
thị trường tự do. Điều
đó cho thấy dù là trong
vấn đề kinh tế hay chính
trị thì tự do vẫn là một
yếu tố không thể thiếu.
Như Morris Abraham, cựu
đại sứ tại liên hợp quốc
về vấn đề nhân quyền và
cựu chủ tịch ủy ban quan
sát của LHQ tại
Giơ-ne-vơ đã phát biểu:”
Chỉ riêng tự do không
thể đảm bảo cho thành
công về kinh tế, nhưng
sự cưỡng ép chắc chắn sẽ
mang lại thất bại”. Thậm
chí điều đó đúng ngay cả
với một số ít chế độ độc
tài, họ đã tiến được các
bước dài về kinh tế khi
họ mang lại tự do cho
lĩnh vực kinh tế nhưng
lại từ chối trong lĩnh
vực chính trị. Tuy
nhiên, các thành công đó
của họ thường không đảm
bảo cho sự mạnh mẽ của
chế độ về lâu dài mà nó
góp phần làm tăng thêm
các đòi hỏi của dân
chúng về tự do chính trị
phải tương xứng với tự
do về kinh tế như trường
hợp của Chilê hay Đài
loan. Các nền dân chủ
vẫn sẽ tiếp tục các
tranh luận về kinh tế
một cách gay gắt như đã
có trong qua khứ. Nhưng
càng ngày các cuộc tranh
luận đó không chỉ nhấn
mạnh vào các nền kinh tế
do nhà nước chỉ đạo đã
bị thất bại mà còn đảm
bảo sao cho các lợi ích
của thị trường tự do đến
được với mọi người trong
một thế giới ngày càng
phụ thuộc lẫn nhau.
TIẾNG NÓI
Các nền dân chủ tạo
ra rất nhiều các trách
nhiệm mang tính nhân
bản, như người dân được
hưởng may mắn về khả
năng tự lãnh đạo mình
theo cách tự do và công
bằng, hoặc mọi xã hội
dân chủ đều chứa đựng sự
đa dạng vô tận về các sở
thích, và các cá nhân -
những người xứng đáng
được hưởng quyền lợi là
lời nói của họ được
người khác lắng nghe và
quan điểm của họ được
người khác tôn trọng. Do
đó, một điểm hết sức
hiển nhiên của mọi nền
dân chủ lành mạnh là sự
ồn ào và sôi nổi.
Cựu tổng thống Hoa kỳ
George Bush đã mô tả hệ
thống rộng lớn của các
tổ chức tình nguyện tại
Hoa kỳ như ” hàng ngàn
ánh đèn” có ý nghĩa ẩn
dụ như sự đa dạng hay đa
nguyên của các xã hội
dân chủ ở khắp nơi. Các
tiếng nói trong xã hội
dân chủ bao gồm tiếng
nói của chính phủ, của
những người ủng hộ đảng
cầm quyền và chắc chắn
có tiếng nói của cả các
bên đối lập. Nhưng các
tiếng nói đó được tăng
cường thêm bởi các tiếng
nói của các liên đoàn
lao động, các tổ chức vì
lợi ích, các hiệp hội
cộng đồng, các phương
tiện thông tin, các nhà
nghiên cứu và phê bình,
các lãnh tụ tôn giáo và
nhà văn, các doanh
nghiệp nhỏ cho tới các
tập đoàn kinh tế lớn,
các nhà thờ và trường
học.
Tất cả các tổ chức đó
đều được tự do phát biểu
và tham dự vào hoạt động
chính trị dân chủ ở bất
cứ mức độ nào, địa
phương hay trung ương.
Theo cách đó, các hoạt
động chính trị dân chủ
sẽ là một tấm lọc cho
mọi đòi hỏi, yêu cầu của
công chúng đa dạng để
trở thành các chính sách
chung cho xã hội. Như
cựu tổng thống Hoa kỳ
Jimmy Carter một lần đã
phát biểu:” Kinh nghiệm
của dân chủ cũng như
kinh nghiệm của chính
bản thân cuộc sống -
luôn thay đổi, vô tận về
sự đa dạng, đôi khi hỗn
loạn và điều giá trị hơn
cả là được thử thách qua
những khó khăn”
Tự bản thân dân chủ
không đảm bảo cho bất kỳ
điều gì. Dân chủ mang
lại cơ hội cho thành
công cũng như rủi ro cho
thất bại. Trong bản
Tuyên ngôn mạnh mẽ và
sắc sảo của Thomas
Jefferson thì lời hứa
của dân chủ là “ Cuộc
sống, Tự do và theo đuổi
Hạnh phúc.”
Dân chủ vừa là lời
hứa mà cũng là thách
thức. Lời hứa là con
người được tự do, cùng
làm việc với nhau, có
thể tự quản lý mình để
đạt được khát vọng về tự
do cá nhân, cơ hội kinh
tế và công lý cho xã
hội. Đó cũng là thách
thức vì thành công của
thể chế dân chủ chỉ dựa
trên chính đôi vai của
những công dân trong thể
chế đó chứ không ai
khác.
Chính phủ của dân và
do dân có nghĩa là các
công dân của xã hội dân
chủ cùng chia sẻ với
nhau các thành quả cũng
như các khó khăn. Do
lĩnh trách nhiệm tự quản
lý mình cho nên mỗi thế
hệ đều tìm cách duy trì
những thành quả vất vả
mới có được về tự do cá
nhân, quyền con người và
nguyên tắc sống theo
luật pháp cho thế hệ kế
tiếp. Mỗi xã hội và mỗi
thế hệ đều phải biết
cách thực hiện dân chủ
một cách sáng tạo: áp
dụng các nguyên tắc
trong quá khứ vào tình
hình thực tế đang đổi
thay của thời đại mới và
xã hội mới.
Nhà thơ quá cố Josef
Brodsky, gốc Nga, đoạt
giải Nobel đã từng viết:
” Con người tự do sẽ
chẳng trách cứ ai khi
thất bại” và điều này
cũng giống như các công
dân trong một thể chế
dân chủ, những người tự
nhận trách nhiệm đối với
số phận xã hội mà họ đã
tự chọn để sống.
Và cuối cùng chúng ta
sẽ có được chính phủ mà
chúng ta xứng đáng phải
có.
CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI DỊCH
1. 1. Pericles: vua
thời A- ten cổ đại sống
vào khoảng 495-429 trước
công nguyên, nổi tiếng
là người quyền lực, sống
cách biệt với dân chúng
nhưng với tài hùng biện,
sự thông thái, chính
trực và lòng yêu tổ quốc
đã được dân chúng ngưỡng
mộ, ủng hộ. Về mặt chính
trị, Pericles chủ trương
làm cho dân chúng tham
gia tích cực vào sự quản
lý, lãnh đạo đất nước.
Các công dân khi phục vụ
nhà nước sẽ được trả
công và các thành viên
của hội đồng quản lý,
lãnh đạo được lựa chọn
từ nhiều người trong
toàn bộ cộng đồng A-ten.
Dưới thời lãnh đạo của
Pericles ( trong 15 năm
) A-ten đã trở thành một
trung tâm văn hóa, nghệ
thuật rực rỡ vào thời
đó.
2. 2. Vaclav Havel:
sinh ngày 05/10/1936 tại
Pra-ha, là nhà văn, kịch
tác gia, cựu tổng thống
cộng hòa Tiệp khắc cũ và
tổng thống đầu tiên của
cộng hòa Séc và hơn hết
là người đấu tranh cho
dân chủ và chủ nghĩa
nhân văn tại nước cộng
hòa Tiệp Khắc cũ. Thuở
nhỏ gặp rất nhiều ngáng
trở trong việc học hành
do xuất thân từ một gia
đình kinh doanh ở
Pra-ha. Tuy nhiên với
nghị lực và niềm tin vào
tương lai, ông đã tham
gia vào hoạt động văn
học, xã hội từ rất sớm.
Các kịch bản của ông đã
đóng vai trò chính trong
phong trào văn hóa, dân
chủ gọi là Mùa xuân
Pra-ha năm 1968, đề cao
văn hóa Séc và xã hội
Séc.
Sau đây là một số mốc
quan trọng:
+ 1975: gửi thư ngỏ
cho chủ tịch cộng hòa
Tiệp khắc chỉ ra các
điều kiện thiết yếu cho
xã hội và trách nhiệm
của chế độ cầm quyền.
+ 1977: Đồng sáng lập
của nhóm 03 người đại
diện đầu tiên cho sáng
kiến hiến chương 77,
trong đó có Ủy ban bảo
vệ những người bị khởi
tố trái pháp luật.
+ 1978: bị cầm tù
khoảng 05 năm, trong
thời gian này ông đưa ra
một tác phẩm có tên “
Quyền lực của không
quyền lực”, tác phẩm này
có ảnh hưởng rất lớn
nhất là các nước xã hội
chủ nghĩa.
+ 1989: là một trong
những người sáng lập và
lãnh đạo “ Diễn đàn công
dân” đưa ra các sáng
kiến dân chủ, sau này là
nhân tố chính cho “Cách
mạng Velvet”. Cũng trong
năm này ông được bầu làm
tổng thống tạm thời cho
Tiệp khắc đến khi bầu cử
nghị viện. Cuộc bầu cử
tự do sau đó đã bầu ông
làm tổng thống từ tháng
07/1990 với nhiệm kỳ 02
năm.
+ 20/07/1990: Từ chức
tổng thống vào lúc
18:00, với lý do được
đưa ra là không còn tiếp
tục cam kết trung thành
với nước cộng hòa Séc và
Slova nữa.
+1993: được bầu là
tổng thống đầu tiên của
cộng hòa Séc.
Ông được rất nhiều
các giải thưởng và danh
hiệu trao tặng của các
tổ chức quốc tế ( UNESCO
, Olof Palme,..) và các
trường đại học (York
Canada, Columbia New
York,...)
Một trong những phát
biểu nổi tiếng của ông
là “ Tất cả chúng ta đều
đang sống trong một kỷ
nguyên đa cực (không
phải 02 cực như thời
chiến tranh lạnh: ND) dù
chúng ta đã từng là
người nô lệ hay là ông
chủ thì kỷ nguyên này
cũng sẽ tạo ra cái mà
tổng thống vĩ đại
Lincoln đã gọi là “ Gia
đình con người”, kinh
nghiệm làm việc với
những người đối lập đã
dạy cho ông thấy rằng ý
thức vượt lên sự tồn tại
không như triết học của
Marx đã dạy một cách sai
lầm “ “ sự cứu rỗi thế
giới loài người không
dựa trên cái gì khác
ngoài tình thương con
người, năng lực phản ánh
của con người, sự hiền
lành của con người và
tính trách nhiệm của con
người.”
3. Andreil Sakharov:
Sinh ngày 21/05/1921 tại
Nga mất ngày 14/12/1989
. Nhà khoa học vật lý
hạt nhân, nguyên tử xuất
sắc của Liên bang Xô
viết cũ, đã được phong
tặng Anh hùng lao động
và các giải thưởng
Lê-nin, Stalin. Được
giải Nobel hòa bình năm
1975. Và trên hết là một
nhà khoa học đấu tranh
không mệt mỏi cho Hòa
bình, Nhân quyền, Dân
chủ, Giải trừ vũ khí.
Ông là một trong những
nhà khoa học trẻ trong
nhóm nghiên cứu bí mật
của Liên bang Xô viết cũ
với nhiệm vụ phát triển
vũ khí nguyên tử từ năm
1948 -1968, mặc dù trong
một thế giới khép kín,
cách biệt với bên ngoài,
ông đã nhận thức được
các hậu quả nguy hiểm
của các thử nghiệm hạt
nhân với con người ( tàn
phá, ảnh hưởng tới di
truyền,... ), chính điều
đó đã thúc đẩy ông viết
một bản đề nghị chân
thành tới nhà nước liên
bang về vấn đề đó, ông
hy vọng sẽ mở ra các
trao đổi quan điểm một
cách tự do và cởi mở,
nhưng ông đã hết sức
thất vọng. Theo ông, sự
nguy hiểm của chạy đua
vũ khí ( trong đó có hạt
nhân) chỉ có thể loại bỏ
được bằng cách thông qua
sự hợp tác hơn là các
tranh cãi về tư tưởng
hay dân tộc. Năm 1970
ông cùng một số người
bạn và đồng nghiệp lập
nên “ Ủy ban vì Nhân
quyền “, mục đích của ủy
ban này là hoạt động
trong khuôn khổ các
nguyên tắc nhân quyền
của Công ước về Nhân
quyền của Liên họp quốc
năm 1948 để đấu tranh
cho các mục tiêu: Bãi bỏ
xét xử kín; Luật báo chí
đảm bảo cho mọi người có
đầy đủ thông tin; Cải
cách hệ thống nhà tù; Ân
xá các tù chính trị; Bãi
bỏ án tử hình; Mở cửa
biên giới; và cấm sử
dụng các viện tâm thần
vì mục đích chính trị.
Trong bài diễn văn đọc
tại lễ trao giải thưởng
Nobel hòa bình năm 1975,
bà AASE Lionaes - Chủ
tịch Ủy ban Nobel của
quốc hội Na-uy đã nhắc
lại câu nói của Goethe
được Sakharov đưa vào
trong tác phẩm “
Manifesto” của ông năm
1968: “ Chỉ những con
người đấu tranh liên tục
cho chính bản thân mình
mới xứng đáng được hưởng
Tự do và Cuộc sống “.