Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Thư gửi bạnPhạm Hồng Sơn |
07/03/2002
Chào bạn,
Cảm ơn bạn đã dành
thời gian cho sự trao
đổi này. Sau đây, xin
gửi tới bạn những suy
nghĩ của chúng tôi về
trao đổi của bạn trong
lần vừa qua:
Như bạn nói “ ...tự
do chỉ có một,..” và “
.. cơ chế dân chủ chỉ là
sự thể chế hóa của một
văn hóa tự do. Thiếu
vắng cảm nhận tự do cá
nhân theo cảm nhận “
phương Tây”, liệu nền
dân chủ sẽ là kiểu dân
chủ gì?”
Như thế chúng ta cùng
thống nhất với nhau: Dân
chủ và Tự do chỉ có một
và muốn cho Dân chủ được
thực hiện đúng thì trước
hết phải có Tự do đúng
nghĩa ( như cảm nhận Tự
do của phương Tây ) và
sự Tự do đó phải được do
chính người dân cảm nhận
và đòi hỏi. Tôi hy vọng,
sự diễn giải này đúng
với ý của bạn.
Vấn đề sẽ cụ thể hơn
khi ta chuyển thành câu
hỏi: Người dân Việt nam
hiện nay đã cảm nhận
được sự Tự do đúng nghĩa
và trở thành một đòi hỏi
chưa? Chúng ta sẽ trả
lời câu hỏi này bằng
cách xem xét 02 vấn đề
chính của sự Tự do là:
Tự do về thân thể và Tự
do ngôn luận.
I. Về Tự do thân thể
Chúng tôi lấy cái Tự
do điển hình và bản năng
nhất trong cái Tự do về
thân thể là Tự do tình
dục ( nhà văn tài danh
Vũ Trọng Phụng đã có
cách gọi thẳng thắn hơn
là “Dâm”) để suy xét.
Trên cơ sở coi sự Tự do
trong xã hội phương Tây
là tiêu chuẩn để qui
chiếu, ta thử xem sự cảm
nhận của người dân Việt
nam đối với vấn đề Tụ do
tình dục như thế nào:
Quay ngược trở lại
Việt nam cách đây vài
thế kỷ: tình dục luôn là
một vấn đề cấm kỵ công
khai và thậm chí thường
bị coi là xấu. Tuy nhiên
đó chỉ là vẻ bề ngoài,
một sự cao đạo giả dối!.
Vì đằng sau sự cấm kỵ đó
là một sự phát triển,
thừa nhận ngấm ngầm mãnh
liệt, một sự phản đối
hoàn toàn cấm kỵ tình
dục.
Dẫn chứng:
· Những tác phẩm miêu
tả tình dục, đề cao và
đấu tranh cho sự tự do
tình dục luôn được người
dân ghi nhận, truyền
tụng. Điển hình là các
tác phẩm đầy tính đấu
tranh cho tình dục tự do
của Hồ Xuân Hương; tác
phẩm Nghêu, Sò, Ốc, Hến
của dân gian; một số bài
thơ và cuộc đời của
Nguyễn Công Trứ - người
có thể đại diện cho tầng
lớp lãnh đạo lúc đó,
cũng chứng minh cho sự
đề cao Tự do tình dục.
· Tình trạng đa thê
của đàn ông ( vợ bé,
tình nhân vụng trộm ),
chửa hoang của phụ nữ (
xin lỗi dùng từ “hoang “
) luôn xuất hiện. Mặc dù
đối với phụ nữ luôn bị
cái gọi là “ dư luận xã
hội” lên án, tẩy chay,
mặc dù trong cái gọi là
“ dư luận xã hội” đó
cũng có không ít người
đã “phạm “ phải cái sự
Tự do tình dục đó và
hoặc chưa được “ phạm
phải”
Vào những thập niên
30, 40 của thế kỷ 20:
cơn gió mạnh mẽ từ
phương Tây thông qua các
trí thức Tây học của
Việt nam đã thổi bùng
lên ngọn lửa Tự do tình
dục đã âm ỉ cháy bấy lâu
nay, mặc dù vẫn có những
giọt nước yếu ớt phản
kháng lạiõ. Sự cách tân
về giao tiếp, trang
phục, tư duy đều đã bị
nhuốm nhiều màu sắc của
Tự do tình dục ( không
còn “nam nữ thụ thụ bất
thân “, không còn “ môn
đăng hậu đối “, phong
trào nhảy đầm, pic-nic,
trang phục theo xu hướng
phô trương vẻ đẹp của cơ
thể,...)
Và tới những năm cuối
của thế kỷ 20: khi Việt
nam thực hiện chính sách
mở cửa, thì khả năng cảm
nhận và thực hiện sự Tự
do tình dục, có lẽ,
không ai dám nói là kém
phương Tây! Điều này
được thể hiện trên mọi
lĩnh vực, chính thức và
phi chính thức:
· Các tác phẩm văn
học trong đó có những
phản ánh về Tự do tình
dục xuất hiện một cách ồ
ạt để đáp lại sự đón
nhận nhiệt tình và cổ vũ
của công chúng hoặc có
thể nói ngược lại. ( Bên
kia bờ ảo vọng của DTH,
Phố của CL,....)
· Điện ảnh và Sân
khấu cũng thể hiện sự
nhiệt tình qua các tác
phẩm riêng của nó và đôi
khi còn thái quá trở nên
phi cả nghệ thuật.
· Hầu như các khu vui
chơi giải trí luôn liên
quan và phục vụ cho Tự
do tình dục: từ quán
nước ngoại ô, quán cà
phê đèn mờ, Karaoke, nhà
hàng, nhà nghỉ, khách
sạn, mạng Internet, ...
· Hiện tượng “ cặp bồ
“ ( quan hệ tình dục
ngoài hôn nhân ) diễn ra
ở mọi tầng lớp, địa vị
trong xã hội và trở
thành hiện tượng không
còn bất thường nữa!
· Tự do tình dục còn
thể hiện cả trong sự
cách tân chiếc áo dài
truyền thống e lệ! (
đường xẻ eo bị kéo dài
lên trên, ...)
· Tỷ lệ quan hệ tình
dục trước hôn nhân trong
giới trẻ đang có xu
hướng tăng cao.
Vậy, với vài nét sơ
lược nhưng thực tế kể
trên chúng ta có thể nói
rằng: sự cảm nhận Tự do
tình dục hay Tự do thân
thể của người dân Việt
nam không khác biệt đối
với cảm nhận như người
phương Tây, chỉ có điều
nó có được tạo điều kiện
phát triển hay không. (
Xin lưu ý: ở đây chúng
tôi không đề cập tới
những ảnh hưởng tích
cực/tiêu cực của sự Tự
do tình dục đối với xã
hội hay cá nhân, cũng
như không bàn đến các
giải pháp)
II. Tự do ngôn luận
Theo chúng tôi hiểu
thì Tự do ngôn luận là
sự Tự do phát biểu, trao
đổi những điều mình suy
nghĩ một cách công khai
cho nhiều người khác
cùng biết.
Vậy cảm nhận của
người dân Việt nam về
vấn đề này như thế nào?
Một thực tế không thể
phủ nhận là các phát
biểu thực sự của người
dân Việt nam thường bị
biến tướng dưới các văn
bản, hoặc câu chuyện,
câu thơ vô danh tức là
trách nhiệm không thuộc
ai cả hoặc được phát
biểu gián tiếp dưới hình
thức văn học, sân khấu.
Nếu có ai đó dũng cảm
phát biểu thì ít được sự
ủng hộ công khai của
người khác mặc dù những
người đó nhận thức được
sự phát biểu đó là đúng,
hoặc nếu được người khác
ủng hộ thì sự ủng hộ đó
cũng không triệt để do
những hoàn cảnh khách
quan và chủ quan tác
động. Và bản thân những
người dám phát biểu đó
cũng thường có một tâm
lý rút lui “ cao đạo “
là “ treo ấn, từ quan “
nếu phát biểu không được
chấp nhận. Và xã hội
cũng dừng ở mức cổ vũ,
ca ngợi hành động “ treo
ấn, từ quan “ đó. Và một
điều cũng thường nhận
thấy là số người dám lên
tiếng khi vẫn còn đang
sung sức là chưa nhiều.
Những nhận xét này có
thể hoàn toàn đúng nếu
ta xem lại lịch sử Việt
nam thời phong kiến và
thậm chí cả những năm
gần đây.
Nếu là người Việt ai
mà chẳng nhớ một ví dụ
để chứng minh những nhận
xét trên. Nhưng có một
điều cũng hiển nhiên
la,ø dù vô danh hay hữu
danh, những phát biểu đó
rất thời sự:
“ Trăng Trung quốc
tròn hơn trăng nước Mý,
Đồng hồ Liên xô tốt
hơn đồng hồ Thụy sĩ !”
“ Chính sách đổ đá
vào lưng “
“ Quan to đi xe nhỏ,
quan nhỏ đi xe to “
“ Tiến lên không biết
đi đâu,
Đi đâu không biết,
hàng đầu ta cứ đi !“ (
xem lại thơ Bút Tre )
*Một số tác phẩm của
DTH, MVK, TKT,...Một số
kịch bản mãnh liệt của
LQV,..
Nhận xét trên không
nhằm mục đích chỉ trích
một cá nhân nào mà chỉ
mong chúng ta nhìn nhận
thấy điểm yếu của truyền
thống Dân tộc trong đòi
hỏi phát triển ngày nay.
Dĩ nhiên, đó chỉ là
sự thể hiện, trong trao
đổi ngắn ngủi này chúng
tôi không có điều kiện
đi sâu vào tìm hiểu các
nguyên nhân dẫn đến
truyền thống đó, nhưng
cũng mạnh dạn đưa ra 03
điểm sau đây, theo chúng
tôi là nguyên nhân chính
cho truyền thống thực
hiện sự Tự do ngôn luận
còn yếu của dân tộc Việt
nam:
1. Ảnh hưởng nặng
nề và lâu dài của văn
hóa Khổng giáo ( “ Trung
quân”, “ Bề tôi”, “chính
danh” ), tư duy rập
khuôn, không chấp nhận
cái khác với cái gọi là
chính thống.
2. Chính sách khắc
nghiệt và độc đoán của
hệ thống cầm quyền.
3. Chưa có tấm
gương hay sự thức tỉnh
nhận thức cho sự thành
công của Tự do ngôn
luận.
Vậy hiện nay truyền
thống yếu ớt đó đã được
cải thiện chưa? chắc
chắn là đang được cải
thiện, dù chưa mạnh mẽ,
với những tiến bộ của
công nghệ thông tin,
truyền thông, nhưng theo
chúng tôi, tiến bộ của
thông tin cũng không thể
thay thế được sự Tự do
ngôn luận theo hình thức
cổ điển với lý do đại đa
số dân chúng khó hoặc
không tiếp cận được với
các thiết bị thông tin
hiện đại, và biện pháp
cổ điển vẫn có những tác
động đặc biệt riêng của
nó.
Như thế chúng ta có
thể khẳng định là người
dân Việt nam hoàn toàn
cảm nhận được sự cần
thiết và tính bức xúc
của Tự do ngôn luận.
nhưng truyền thống thực
hiện sự Tự do ngôn luận
không được thể hiện một
cách chính thống và tính
công khai, trực tiếp,
tính mục đích còn yếu.
Với hai điểm phân
tích nói trên về sự Tự
do Thân thể và Tự do
ngôn luận, chúng tôi
nghĩ rằng về cơ bản sự
cảm nhận sự Tự do của
người dân Việt nam không
khác biệt với sự cảm
nhận của người dân ‘
phương Tây” và điều đó
luôn là sự đòi hỏi cần
thiết của người dân. Và
hệ quả của nhận xét này
là chúng ta có thể hoàn
toàn tự tin phát triển
được một thể chế Dân chủ
đúng nghĩa với dân chúng
Việt nam hiện nay; hay
nói cách khác:
Trình độ dân trí của
người dân Việt nam hiện
nay hoàn toàn có thể
tiếp thu và phát triển
một thể chế Dân chủ đích
thực. Nếu có điều gì e
ngại, thì đó chỉ là sự e
ngại có hơi muộn hay
không!
Bạn nói rằng “ chúng
ta không thể chấp nhận
được thực tế, nhưng
chúng ta cũng không có
quyền chối bỏ nó, lại
càng không có quyền phủ
nhận nó.” Đúng, chúng
tôi hoàn toàn đồng ý.
Nhưng chúng tôi cũng xin
bổ xung: Nhưng chúng ta
cũng hoàn toàn có quyền
thay đổi nó!
Chúng tôi hy vọng,
cái mà bạn và chúng tôi
đang trao đổi với nhau
chính là chúng ta đang
bàn đến cách tiếp cận
cho Dân chủ tại Việt
nam.
Điểm sau cùng trong
trao đổi này chúng tôi
muốn bạn và chúng tôi
cùng đồng ý là: mặc dù
chúng ta đều là những
người “ quan tâm đến vấn
đề văn hóa - chính trị
trong giới hạn thời gian
cho phép “, điều đó cũng
không làm cho chúng ta
ngần ngại tiếp cận và đi
sâu hơn, nếu chúng ta
thấy công việc mà chúng
ta làm là có ý nghĩa.
Trân trọng cảm ơn bạn
rất nhiều, Tạm biệt và
mong nhận được ý kiến,
Phạm Hồng Sơn