Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Những Giọt Nước Mắt Đầu NămPhan Kiến Quốc |
Sự việc xảy ra vào sáng ngày 8/1/2005 khi bốn tàu đánh cá của ngư dân xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, tình Thanh Hóa bị tàu của hải quân Trung Quốc tấn công tại khu vực đánh cá chung. Tàu của Trung Quốc xả súng bắn vào tàu của ngư dân Việt Nam làm 9 người chết tại chỗ, 7 người bị thương nặng và 6 người bị bắt. Tất cả đều được đưa về đảo Hải Nam.
Đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì đây là một sự kiện vô cùng trầm trọng, có thể dẫn đến chiến tranh hoặc chí ít cũng ảnh hưởng đến ngoại giao của hai nước, vì nên nhớ đây không phải là một cuộc chiến tranh giành vùng đánh cá giữa ngư dân hai nước, nhưng là sự tấn công của một tàu chiến vào những ngư thuyền. Tuy nhiên đối với Việt Nam và Trung Quốc thì lại khác.
Trước tiên, sự việc xảy ra vào sáng 8/1, phải đợi mãi đến ngày 13/1 người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Lê Dũng mới lên tiếng, yêu cầu "Trung Quốc giải quyết mọi hậu quả".
Ngoài tầm quan trọng của sự việc, đến lúc này mọi người mới biết thêm được rằng nơi xảy ra vụ việc nằm trong vùng đánh cá chung của hai nước, và nằm trong lãnh hải Việt Nam gần 10 hải lý. Ngày hôm sau, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói rằng cảnh sát của họ nổ súng vào ngư dân vì cho rằng họ có "hành vi cướp biển".
Kể từ thời điểm này và liên tục trong nhiều ngày, phóng viên đã đến tường thuật lại nỗi đau đớn của người dân Hòa Lộc. Thương tâm nhất là gia đình nạn nhân Trần Hùng, anh chết để lại một mẹ già 80 tuổi và hai cháu, đứa lớn nhất là cháu Mạnh học lớp 6, cháu nhỏ tên Thúy còn học lớp 2. Điều bi đát là vợ anh mới qua đời không lâu. Hôm phóng viên tới thăm, bà cụ chạy ra ôm chầm lấy chân :"Thằng Hùng về đây rồi bà con ơi". Từ ngày nghe tin con mất, bà cứ nửa tỉnh nửa mơ, ai đến nhà thăm hỏi cũng tưởng con trở về. Lại còn trường hợp chị Mùi cũng thương tâm không kém, từ ngày chồng mất chị không nói được, không đứng được và cũng không nhìn được. Gia sản của chị lúc này là ba cặp mắt trẻ ngơ ngác và một căn nhà 26m2 nhưng không có gì đáng tiền.
Cả một làng chài Phú Ngư dường như chìm trong cảnh tang tóc với những tiếng khóc, tiếng than không dứt của những ngư dân nghèo khó. Phóng viên báo Tuổi Trẻ viết : "Đã có lúc chúng tôi tưởng như không dám nhìn thẳng vào gương mặt những đứa trẻ, những quả phụ chít trên đầu vành tang trắng bởi nỗi đau quá lớn. Và không ai cầm lòng trước hoàn cảnh đầy tang thương của những ngư dân chân chất bị cảnh sát biển Trung Quốc giết hại...".
Những hình ảnh đau thương này đã làm dậy lên trong nước một làn sóng phẫn nộ chưa từng thấy. Hàng trăm lá thư gởi về các tòa soạn bày tỏ cảm tình đối với các nạn nhân và đòi hỏi công lý cho họ. Các sinh viên luật, các luật gia trong nước đã không ngần ngại gọi đây là những tội ác. Ngay ông Trần Công Trực, nguyên Trưởng ban biên giới của chính phủ cũng gọi đây là "hành động hết sức dã man". Các sinh viên trên thế giới mở các website để thông tin hoặc xin chữ ký phản đối. Đặc biệt, người Việt khắp nơi đồng loạt xuống đường trước các sứ quán Trung Quốc để biểu tình phản đối.
Nhưng một điều đáng kinh ngạc hơn cả là đến ngày 25/1, tất cả đều đột nhiên yên ắng. Báo chí không hề có thêm những thông tin về số mạng những người đã chết hoặc thân nhân, gia đình họ. Trên truyền thanh truyền hình lại càng "bặt vô âm tín". Làn sóng phản đối của dân chúng đột nhiên phụt tắt. Tất cả đồng loạt ngưng bàn đến biến cố này và "lái" sang các đề tài khác như dịch cúm gia cầm, chuyện trực thăng quân đội gặp nạn, chuyện mừng sinh nhật đảng... Và đến ngày chúng tôi đặt bút viết những hàng chữ này chẳng ai biết 9 thi thể kia có được mai táng nơi đất Mẹ hay không và những cuộc đời bất hạnh kia đi về đâu.
Một điều đáng nói là trong suốt diễn tiến sự việc, ngoài phát ngôn viên Bộ Ngoại giao là một cấp rất thấp, không bao giờ có một nhân vật nào quan trọng trong chính phủ lên tiếng và cũng chẳng một ai ghé thăm làng chài bất hạnh này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài Á châu Tự Do, một phụ nữ trong làng đã nghẹn ngào khi nói đến mức phạt hàng chục triệu của nhà cầm quyền Trung Quốc và sự giúp đỡ của nhà nước cũng như các đại biểu nhân dân Việt Nam :" Bầu họ ra là bầu vậy thôi, chứ...chẳng trông mong gì". Câu nói đơn sơ thành thật này quả có giá trị gấp trăm lần những bài diễn văn, những lời hứa của các cấp chính quyền, một chính quyền "của dân, do dân và vì dân".
Ngày 18/1/2005, đúng 10 ngày sau cuộc thảm sát, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đã tổ chức chiêu đãi trọng thể nhân kỷ niệm lần thứ 55 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt-Trung. Cùng ngày Tổng lãnh sự quán VN tại Quảng Châu cũng tổ chức một buổi lễ tương tự. Tuy nhiên về phía đại diện của Trung Quốc trên lãnh thổ VN tuyệt nhiên không có một nghi thức nào đối đáp. Cũng cần phải nói thêm là vào ngày 16/1, tất cả báo chí đầu loan một nguồn tin : "đại diện Bộ Ngoại giao nước ta đã gặp Đại sứ quán TQ tại Hà Nội trao công hàm phản đối...". Bản tin quá sơ sài không nói ai gặp ai và gặp ở đâu. Về sau nhiều người đã tiết lộ rằng đích thân Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đã đến tòa Đại sứ TQ trao công hàm thay vì phải triệu Đại sứ này lên Bộ theo cách ứng xử bình thường. Quả là một sự nhượng bộ quá đáng.
Ngày 25/1, trong khi những lá thư ồ ạt bày tỏ lòng công phẫn được gởi đi khắp nơi, tôi ghé ngang Tổng lãnh sự quán TQ tại Sài Gòn. Vẫn không khí yên ắng như không có gì xảy ra, trên lề đường đối diện, trong những bóng râm, một vài tay xe ôm lơ đãng quan sát khách qua lại. Biết đâu họ đều là công an chìm nổi đứng dò la tình hình. Nhìn vào bên trong, hình ảnh một Tô Định vụt lên trong đầu.
Người ta có cảm tưởng sau khi bắn chết 9 ngư phủ VN, vu khống họ là hải tặc, mặc cho những lên tiếng (quá yếu ớt) về phía nhà nước và sự phẫn nộ của đồng bào khắp nơi ; nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn điềm nhiên tọa thị, coi không có chuyện gì xảy ra, hoặc nếu đã có xảy ra chuyện gì thì tất cả đều chấm dứt. Miễn bàn.
Nhưng ở làng chài Hòa Lộc, nước mắt vẫn chảy và cuộc sống lầm than của chị Mùi, của bé Mạnh, bé Thúy mới thật sự bắt đầu và mù mịt chẳng biết ngày nào mới chấm dứt.
Thời điểm vụ thảm sát Hòa Lộc xảy ra đúng vào lúc cận Tết. Hàng ngàn người Việt định cư ở nước ngoài lục tục về thăm quê hương, và đây là một dịp quá tốt để cổ vũ cho cái gọi là nghị quyết 36 của Bộ Chính Trị về Việt kiều và cho bộ mặt "dân tộc" mà Hà Nội đang ra sức đánh bóng trong thời gian gần đây.
Để làm việc này, một mặt nhà nước làm đủ mọi cách để ve vuốt kiều bào ngay từ lúc họ bước chân xuống phi trường. Một chiếc băng-rôn : "Mừng kiều bào về ăn Tết" căng ngay nơi nhận hành lý. Bước ra ngoài, một "hàng rào danh dự" các thiếu nữ tươi cười đứng phất cờ đỏ sao vàng. Các thủ tục cũng dễ dãi và ngắn gọn, chỉ mất 5 phút và không hề có vòi vĩnh. Song song, nhà nước cũng tổ chức những buổi tiếp tân trọng thị với sự có mặt của các lãnh đạo cao cấp. Tại đây kiều bào đi tham dự có dịp được nghe những chính sách mới như thủ tục hành chánh đơn giản, đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện mua bán bất động sản, hoàn thuế trị giá gia tăng...
Được hân hạnh ra đón một người chú về thăm quê hương. Chú tôi vốn là một cựu quân nhân QLVNCH. Tôi đã hỏi cảm tưởng của ông khi được "duyệt" qua đội quân danh dự với cờ quạt đón chào. Biết cháu mình xách mé, chú tôi nhẹ nhàng trả lời : "Tất cả chỉ làm cho chú lạnh xương sống và nhớ lại hình ảnh bỏ nước hồi 75". Tôi nghĩ có lẽ đó cũng là tâm trạng không riêng gì của các cựu quân nhân mà là của rất nhiều kiều bào khác.
Báo chí trong nước vốn có tài chụp ảnh, có tài tạo ra nội dung cho bài viết. Tôi đã thấy hình các tăng sĩ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và các tu sĩ của Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo bao quanh Nông Đức Mạnh và Phạm Thế Duyệt với nụ cười rạng rỡ nhân Đại Hội Mặt Trận Tổ Quốc cuối năm 2004. Tôi đã thấy nét uể oải của người dân khi xếp hàng từ nửa đêm để lấy tíc-kê mua vé tàu Tết. Cảnh vui hay buồn nhà báo đều tự mình tạo ra được, nhất nữa là trong một nước toàn trị như Việt Nam. Nhưng tuyệt nhiên trong các hình đón tiếp kiều bào khi đi qua đội quân danh dự với cờ đỏ sao vàng trên, tôi chỉ thấy toàn là những khuôn mặt nghiêm túc tưởng chừng như đang nín thở. Người cúi mặt, kẻ quay đi, người khác thì vội vã qua cho nhanh. Tất cả như không muốn thu hình trước ống kính, và họ chỉ cười thực sự khi đã tìm thấy người thân ngoài phi trường.
Qua hình ảnh trên tôi thiết nghĩ nhà nước đưa ra những chính sách như đơn giản thủ tục xuất nhập cảnh, khuyến khích đầu tư, mua nhà mua cửa... cũng có thể gây ấn tượng tốt cho một số kiều bào, nhưng đại đa số những người tôi có dịp tiếp xúc đều cho rằng nhà nước đánh giá họ quá thấp. "Tại sao nhà nước trưng ra toàn những ưu đãi vật chất ? Chúng tôi bỏ nước ra đi đâu phải vì tiền !". Tôi còn nhớ đã "phỏng vấn" một vị giáo sư định cư tại Canada sau khi tham dự một buổi gặp gỡ giữa nhà nước và kiều bào. Vị này đã châm biếm nhẹ nhàng : "Họ (nhà nước) bảo Việt kiều về ăn Tết đông đảo đã nói lên sự ủng hộ các chính sách và chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nhưng tớ nói thật với cậu nhé, tớ biết tất cả những người có mặt trong cái phòng kia, ai cũng có lý riêng để hiện diện nơi đây đấy, và cậu đừng tưởng bở, không phải "thằng" (việt kiều) nào cũng được mời đến đây đâu". Tôi không thể nào hiểu được cái nội dung úp úp mở mở ấy nên phải hỏi thêm vài câu cho rõ ngọn ngành, nhưng chỉ được trả lời bằng một ánh mắt và một nụ cười bí hiểm. Bí hiểm như khuôn mặt của ông chú tôi khi duyệt qua đội quân danh dự kia.
Cao điểm của công tác kiều vận này là buổi họp mặt ngày 30/1/05 tại Dinh Thống Nhất (dinh Độc Lập cũ) của 600 kiều bào và có sự hiện diện của Thủ tướng Phan Văn Khải, một buổi họp mặt được mô tả là "ấm áp và tràn ngập tiếng cười". Trong bài phát biểu, sau khi nhắc lại những thành quả trong thời gian qua cùng những yếu kém vẫn còn tồn tại, ông Khải kêu gọi sự góp công, góp của của mọi người trong, ngoài nước. Trong đó có một câu nghe "chan chứa tình thương" : "Bà con ta ở nước ngoài dù ra nước ngoài vì lý do gì cũng là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam".
Đọc qua bản tin nay chắc hẳn không ít kiều bào phải chùng cõi lòng xuống : "Mới ngày nào chúng tôi được gọi là kẻ phản quốc mà bây giờ máu máu thịt thịt sao mà nó lạ quá. Máu thịt chúng tôi vẫn là máu thịt của người Việt Nam, có cái gì thay đổi đâu". Riêng cá nhân tôi, tôi thấy ngoài chuyện máu thịt này ra còn có nhiều chi tiết khác cũng khiến người ta phải chùng cõi lòng :
Tại sao lại tổ chức trong Dinh Thống Nhất ? Đối với người Việt tị nạn, đây chính là cơ quan quyền lực, một biểu tượng cho chế độ mà họ đã phục vụ nhiều năm. Đối với nhà nước cộng sản, đây là đầu não của một chế độ bù nhìn, tàn ác, nô lệ ngoại bang, vân vân... Nhưng cho dù đứng ở góc độ nào đi nữa, đã gọi là "xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp ; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai"... thì tại sao lại lựa nơi này. Chính ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, người trong thời gian gần đây đã có nhiều tuyên bố được nhà nước ưu ái cũng đã nhỏ nước mắt khi nhìn lại căn phòng làm việc của mình cơ mà !
Theo tôi được biết thì chưa có một người lính Đức quốc xã nào vui đùa và có những hành động giễu cợt khi đến thăm nghĩa trang La Cambe ở Normandie nơi chôn cất trên 20 ngàn lính Đức chết trong đệ Nhị thế chiến cả ; và chẳng có người Nhật nào có thái độ phỉ báng đối với đền Yakusuni, nơi tưởng niệm các binh sĩ Nhật chết trên đất Hàn và đất Trung Quốc cả.
Sau 60 năm, tất cả đều đã thuộc về quá khứ, nhưng cả hai dân tộc bại trận cũng còn giữ được lòng tôn kính đối với những người đã chết - cho dù họ đều phục vụ cho những chế độ độc tài. Vậy mà sao đối với một dân tộc có thói quen thờ cúng gia tiên, thời cúng những người đã khuất như dân tộc Việt Nam, lại có thể vui đùa tại một địa điểm như Dinh Độc Lập cũ ? Theo thiển ý của tôi, giả sử năm 1975 không phải miền Bắc thắng mà là xe tăng của miền Nam ủi sập Bắc Bộ Phủ, thì bây giờ cũng không nên tổ chức vui đùa ca hát và ăn uống nơi đây, nhất nữa là lại mời các cán bộ, sĩ quan, công chức hoặc người của chế độ cộng sản đến dự. Đã là con người ai lại chẳng có tự ái. Viết đến đây tôi chợt nhớ lại câu nói hóm hỉnh của vị giáo sư kia : "ai cũng có lý riêng để hiện diện nơi đây !". Có lẽ là như thế thật.
Trên đây tôi vừa nhắc về ông Nguyễn Cao Kỳ, tôi cũng chợt nhớ ra rằng từ hồi ông về thăm Việt Nam năm ngoái, đi đến đâu cũng được nghênh tiếp trọng thị, và phải nói hầu như chưa bao giờ báo chí trong nước gán cho ông chữ "ngụy" như tập thể binh sĩ VNCH cả. Chí ít thì cũng Phó Tổng thống chế độ Sài Gòn. Ông đã làm gì mà nhà nước này áp dụng nghị quyết 36 một cách nghiêm túc với ông như thế ? trong khi trên truyền thanh truyền hình, cứ thấy hình ảnh lính VNCH là y như rằng đó phải là một "tên ngụy tàn ác, có nợ máu với nhân dân" !
Cũng trong buổi họp mặt 30/1, ông Khải đã đọc câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, một người cũng đang được chế độ trải thảm đỏ :" (...) Sự thật quan trọng nhất của tôi đang sống là trong tôi đang sống không còn hận thù và kỳ thị..". Ở hàng ghế phía dưới, ông Nguyễn Cao Kỳ đã khóc. Thú thật là tôi không hiểu nổi câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, vì suốt quãng đời sống dưới chế độ cộng sản, không ngày nào, không giờ nào mà tôi không cảm nhận được hận thù và kỳ thị đang bủa vây quanh mình. Mà không chỉ riêng mình, bạn bè làm việc trong cơ quan, già có, trẻ có, đảng viên có, dân thường cũng có, Bắc kỳ 45, Bắc kỳ 75 và Nam kỳ rặt cũng có... chưa hề có một ai xưng tụng, ngợi khen và tin tưởng vào chính sách xóa bỏ hận thù của nhà nước này cả. Chính sách này thực ra chỉ có trên truyền hình, báo chí, trong các buổi hội thảo. Thậm chí ngay cả những người vừa đọc tham luận về chính sách này trên diễn đàn cũng chưa chắc đã tin vào nó ! Chính nhà toán học Phan Đình Diệu đã phát biểu trong một buổi tọa đàm về giáo dục :"nghịch lý lớn nhất trong giáo dục hiện nay là những mục tiêu đưa ra không đúng với thực tế. Nhiều khi bắt học trò thấm nhuần chủ nghĩa Mác-LêNin mà cả thày và trò đều không hiểu chủ nghĩa Mác-LêNin là gì". Một đảng viên kỳ cựu, giữ chức vụ cao nhất trong ngạch đã nói trong u oán :"Chúng ta đi đấu tranh cho một xã hội vô sản, nhưng ngày nay những người có tài sản to nhất lại là chính các đảng viên". Những vấn đề quan trọng và cơ bản như thế mà còn khác nhau một trời một vực giữa lời nói và hành động, giữa lý thuyết và thực tế thì bảo sao chúng tôi dám tin ở những chính sách "cấp thấp" như nghị quyết 36. Năm nào Bộ Chính Trị chẳng ra hàng chục cái như thế.
Không hiểu được câu nói của thiền sư Thích Nhất Hạnh, dĩ nhiên tôi lại càng không hiểu được những giọt nước mắt của ông Nguyễn Cao Kỳ. Năm ngoái khi về thăm Việt Nam lần đầu tiên ông nói rằng trong đời ông chỉ khóc hai lần : lần đầu khi rời khỏi nước năm 1975, và lần thứ hai là năm 2004 khi trở về thăm VN. Bây giờ mọi người lại ghi nhận lần thứ ba : khi nhà nước cộng sản nói về nghị quyết 36 : "xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp ; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai".
Nếu cứ tiếp tục như thế này thì ông và thiền sư sẽ còn có nhiều dịp để khóc mỗi lần ghé thăm quê hương.
Nhưng chúng tôi mong ước sẽ có ngày không chỉ nước mắt làng chài Hòa Lộc mà nước mắt trên cả quê hương này sẽ không còn chảy nữa.
Sài Gòn, 5/2/2005.
Phan-Kiến-Quốc