Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Thư chất vấn công an huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi của HT Thích Huyền QuangHT Thích Huyền Quang |
Kể từ sau khi HT Thích Quảng Độ gửi thư cho nhà cầm quyền Hà Nội phải trả tự do cho HT Thích Huyền Quang vào ngày 29/3/2001, Hà Nội vẫn không một lời phúc đáp. Nhưng một mặt Hà Nội đã ra lệnh gia tăng lực lượng công an kiểm soát và theo dõi Thanh Minh Thiền Viện, kiểm soát chặt chẽ những sinh hoạt của HT Thích Quảng Độ ; mặt khác công an quận Nghĩa Hành lại đến chùa Phước Quang báo tin cho HT Thích Huyền Quang biết là "CIA của Mỹ sẽ ám sát Ngài". Trước những lời đe dọa này, ngày 19.4.2001, Đại lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang đã viết "Đơn xin hỏi một số sự việc" gửi Trung tá Trưởng Ban Công An huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi với nội dung như sau :
Thưa Trung Tá Trưởng Ban,
Hôm 15.4.2001, Trung tá đến nơi tôi quản thúc, chùa Phước Quang, giải thích các sự việc mà tôi nhờ Đại Úy Hải trình lại Trung Tá. Sau đó, Trung Tá nói rằng nếu tôi muốn về Sài Gòn thì viết đơn xin chính quyền Sài Gòn. Sài Gòn thuận, Quảng Ngãi sẽ cho tôi ra đi dễ dàng. Nhận thấy Biên Bản "làm việc" không ghi một số vấn đề tôi đặt ra, nên tôi viết lại nội dung các sự việc ấy :
Năm 1999, Thượng Tá Chúc đến "làm việc" với tôi. Lúc ra về, một số Phật tử có mặt ở nhà kho của chùa đón hỏi Trung tá : "Ông tôi, thầy tôi, có tội gì mà giam giữ ở đây gần 20 năm trời ?". Trung tá Chúc trả lời : "Chúng tôi đâu có bắt Thầy, Ông các người. Ông ấy muốn ở hay ra đi tùy ý". Sang năm 2000 lại đến gặp tôi, lại bị một số Phật tử chất vấn, và Thượng Tá cũng trả lời y như năm 1999. Nhân viết đơn xin hỏi một số sự việc hôm nay, tôi nhấn mạnh rằng : "Bắt tôi có giấy, thì nay thả tôi cũng phải có giấy tờ đàng hoàng, không thể nói khơi khơi vô bằng như thế". Tôi còn nhớ trong cuộc "làm việc" hồi tháng 5.2000, Thượng Tá Chúc đổ cho tôi tội muốn "rước Mỹ qua". Tôi vặn hỏi : "Tôi rước Mỹ qua để làm gì ? Chứng cớ đâu ?". Thượng tá Chúc im lặng không trả lời.
Tháng 4 năm nay (2001), Thượng tá Chúc cùng đi với Đại Tá Nam Tào đến "làm việc" với tôi. Trong buổi làm việc, Đại Tá Nam Tào báo cho tôi biết rằng : "CIA Mỹ sẽ ám sát tôi". Tôi liền hỏi : "Tôi làm gì mà CIA Mỹ hăm ám hại tôi". Đại tá im lặng không trả lời.
Thưa Trung tá Trưởng ban,
Hai vấn đề nêu trên không thể nào bỏ qua được, tôi đặt ra vì liên quan đến tôi. Thứ nhất là, chỉ trong vòng hai năm, mà một vị Thượng tá kết án tôi "rước Mỹ qua", một vị Đại tá thì nói "CIA Mỹ hăm ám sát tôi". Thử hỏi rằng, nếu tôi thân Mỹ, muốn rước Mỹ qua, tại sao Mỹ lại hăm giết tôi ? Yêu cầu hai vị chức trách cao cấp của tỉnh Quảng Ngãi giải thích hai sự kiện trầm trọng trên đây. Nếu CIA Mỹ thực sự muốn ám sát tôi, thì ai là người bảo vệ sự sống cho tôi ? Dù sao, tôi cũng sẽ tìm hiểu và điều tra sự việc "CIA Mỹ muốn ám sát tôi" rồi sẽ công bố sự thật cho dư luận được tỏ tường.
Còn sự việc Thượng Tá Chúc nói hai lần trong hai năm 1999, 2000 với Phật tử chùa Phước Quang rằng công an Quảng Ngãi không bắt tôi, tôi muốn ở thì ở muốn đi thì đi, xin Trung Tá xác nhận một lần cho hai năm rõ mười. Tại sao khi Thượng Tá Chúc đến "làm việc" với tôi, tôi chất vấn việc ấy, Thượng Tá chỉ cười không phủ nhận cũng không xác nhận ? Thậm chí khi Thượng Tá lên xe ra về, tôi thông báo rằng tôi đã thông tri cho các cơ quan công an cao cấp tỉnh Quảng Ngãi việc tôi sẽ rời khỏi Quảng Ngãi, Thượng Tá cũng chỉ cười mà chẳng xác nhận lời Thượng Tá minh thị với hàng Phật tử Xóm Chợ Chùa rằng công an Quảng Ngãi không bắt tôi, tôi muốn đi hay ở là tùy tôi. Lời các ông đúng ở một điểm : Công an Quảng Ngãi không bắt tôi, mà chính là Công an Sài Gòn bắt tôi giải giao ra Quảng Ngãi quản thúc. Thời ấy, tôi có hỏi Đại Tá Phạm Thuộc, Phó Trưởng Ban Công An sở Nghĩa Bình, rằng : "Vì sao tôi bị đưa ra đây ? Ra đây làm gì mà Công an canh gát chặt chẽ như vậy ?". Đại Tá Thuộc trả lời : "Họ gởi ông ra đây". Tôi lại hỏi : "Vậy Sài Gòn không có Tòa án ? không có Nhà giam ? không có Pháp trường cát hay sao, mà lại đưa tôi ra Quảng Ngãi ?". Đại tá Thuộc không trả lời.
Thưa Trung Tá Trưởng Ban,
Nhân đây tôi muốn lặp lại các điểm nhiều lần trình bày qua nhiều văn thư gửi Chính phủ. Lặp lại, vì không bao giờ được trả lời, giống như các cấp công an Quảng Ngải chẳng bao giờ trả lời các thắc mắc hay các câu hỏi chính đáng tôi đặt ra. Lần này tôi yêu cầu các cơ quan chức năng giải thích rõ ràng theo châm ngôn Đảng và Nhà Nước không ngừng kêu gọi "Dân biết, Dân làm, Dân kiểm tra" :
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có tội gì mà Nhà Nước lật đổ, ngăn cản sinh hoạt kể từ sau ngày 30.4.1975 ? Thậm chí các cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội, từ thiện, các văn phòng trụ sở của Giáo Hội đều bị tịch thu. Tính đến nay đã là 26 năm. Chúng tôi cần Nhà nuớc ra một công văn minh thị rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà các ông thường gọi là Giáo hội Ần Quang, đã bị khai tử để chúng tôi biết mà liệu lý ;
Xác nhận công khai qua tòa án, với đầy đủ quyền tự do biện hộ, rằng tôi, Thích Huyền Quang, là tên phản động cần trừng trị, lưu đày, quản chế chung thân, thì tôi sẽ không kêu ca, đòi hỏi gì nữa ;
Việc về Sài Gòn, tôi không làm đơn xin xỏ gì như Trung Tá Trưởng Ban gợi ý hôm 15.4 vừa qua. Vì tôi chẳng có tội gì để phải xin xỏ. Ngày 27.11.1997, Công an đến đọc cho tôi nghe Quyết định chấm dứt quản chế. Vậy theo Nghị Định 51/CP, mọi người mãn hạn tù, mãn hạn quản chế, đều toàn quyền về lại thành phố nơi họ cư trú trước kia. Nếu Nghị Định 51/CP và luật pháp được tôn trọng, được áp dụng thực sự, tôi đã trở về Sài Gòn từ lâu rồi ;
Công an Quảng Ngãi xác nhận không bắt tôi, thế sao lại quản thúc tôi chặt chẽ từ bấy đến nay ? Ba năm vừa qua, công an lại "chỉ định cư trú" cho tôi, bắt tôi làm "khách Tăng tạm trú ở chùa Phước Quang". Công dân vô tội bị công an "chỉ định cư trú" là nghĩa làm sao ? "Chỉ định cư trú" xong lại ép tôi làm đơn xin "hộ khẩu thường trú" tại nơi giam nhốt tôi ! Thật chẳng có luật pháp, luật lệ văn minh gì ở đây cả. Tôi chỉ là một nạn nhân thê thảm, chẳng còn quyền kêu xin, rên siết. Đến như thân nhân, Tăng, Ni, Phật tử lui tới thăm tôi đều bị sách nhiễu, gây khó đủ điều gần hai mươi năm qua ;
Do đó, tôi yêu cầu đem tôi ra xét xử công minh, nếu thấy tôi có tội. Cuộc thẩm vấn tôi bỏ dở từ năm 1995 cứ việc tiến hành trở lại để đưa hồ sơ qua Giám Sát Viện, chuẩn bị cho một phiên xử trước tòa, với quyền biện hộ do tôi quyết định hay chọn lựa luật sư. Có tội thì trừng trị theo luật định, để khi chết tôi khỏi mang nợ với chế độ Cộng Sản, một chế độ không dung chấp tôn giáo, trái lại chỉ muốn sử dụng tôn giáo làm công cụ chính trị mà thôi.
Tôi nay sức khỏe sa sút, mắt mờ, tay tê, ngủ ít, đi lại khó khăn. Bị té hai lần trong các tháng qua, nên chữ viết khó xem và không thể viết hết các sự việc cần đề cập. Lời nói của tôi bây giờ có phần lập cập, muốn nói hết tâm tư cũng khó lòng diễn tả. Tâm trạng cuối đời chỉ thu gồm trong mười hai chữ :
"Sống không nhà", vì từ nhỏ bỏ nhà ra đi năm 14 tuổi, nay đã 83, chẳng có một ngôi chùa nào để tự do cư trú ; "Chết không mồ", vì nơi quản chế lưu đày không phải là chốn an thân nằm xuống ; "Đi không đường", vì gần hai muơi năm trời giam hãm quyền đâu có mà đi ; "Tù không tội", luật pháp không phân minh xét xử, tự mình nghĩ mãi không biết phạm tội gì, thân xác chưa một ngày thoát vòng lao lý.
Mười hai chữ đó nói lên cảnh đời của một kẻ tu hành dưới một chế độ, mà một ông Tổng bí thư nào đó xác minh rằng "nước ta dân chủ một triệu lần hơn dân chủ ở phương Tây". Từ năm 1982, Nhà nước đưa tôi ra Quảng Ngãi quản thúc ở hai ngôi chùa : chùa Hội Phước rồi chùa Phước Quang. Gọi là chùa cho ra vẻ văn minh, kỳ thật là hai Nhà Giam trá hình. Hết Thượng Tá Chúc đến các vị chức trách cao cấp khác thường nói đi nói lại với tôi một lời : "Ông ra đây, Nhà nuớc cất nhà cho ở, cấp điện nuớc cho xài, không biết cám ơn mà còn QUẬY".
Do đó, tôi đề nghị những tháng ngày còn lại của đời tôi, xin đưa thẳng tôi vào Nhà Giam thật sự để tôi học thêm nỗi khổ và thêm biết ơn Nhà nuớc, và tôi sẽ không Quậy nữa.
Kính chào Trung Tá Trưởng Ban.
Phước Quang, ngày 19.4.2001
Nay kính,
Can cứu
(ký tên)
Thích Huyền Quang