Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Tin Trong Nước 19.05.08 |
|
Đối Thoại : Tham nhũng có bản chất cơ cấu: Vừa đá bóng vừa thổi còi Tham nhũng tại VN là một loại tham nhũng có bản chất cơ cấu. Vì tham vọng duy trì quyền lực nên đảng CS đang ngự trị trên mọi lãnh vực không cho phép, không để một ai đụng chạm đến cơ cấu quyền lực. Một thí dụ điển hình nhất về tham nhũng, một đống rác lớn giữa một thành phố sản xuất ra mùi khó thở khắp thành phố. Nhà nước và đảng CSVN chỉ cho phép dân trong thành phố tự giải quyết mùi khó chịu nhưng cấm đụng đến đống rác ! Cũng vậy, tham nhũng hiện tại phát sinh từ đảng CSVN! muốn giải quyết tham nhũng phải giải quyết đảng CSVN! Đảng CSVN có chấp nhận điều đó không? Có chấp nhận giải pháp biến đống rác thành phố thành phân bón, thành khí đốt không? chẳng những giải quyết mùi hôi thối mà còn biến đống rác trở nên hữu ích Bài học sơ đẳng chúng ta cần học là nghiên cứu các trường hợp điển hình. Chúng tôi xin cống hiến một trường hợp điển hình nhất trong ngành giáo dục. Quý vị đi tìm căn nguyên sẽ thấy giải pháp : Hãy nghiên cứu trường hợp vị tiến sĩ bí mật, con Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, bằng cách nào, bằng điều kiện nào, vị tiến sĩ bí mật đi du học Hoa Kỳ ? Tham nhũng tiền bạc hay tham nhũng quyền lực? |
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/41/168366/
|
Mở
rộng Thủ đô: |
|
|
(HNM) - Trong những ngày qua, dư luận đặc biệt quan tâm đến việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, và ngày hôm nay (19-5), tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XII, các đại biểu sẽ thảo luận và cho ý kiến về vấn đề này. Nhân dịp này, đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã có bài trả lời phỏng vấn báo chí. Báo Hànộimới xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Phóng viên (PV): Thưa đồng chí Bí thư ! Trước và ngay trong kỳ họp Quốc hội lần này, vấn đề mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội đang là đề tài thảo luận rất sôi nổi của báo chí và dư luận. Đồng chí có bình luận gì xung quanh hiện tượng này ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Những công việc hệ trọng liên quan đến Thủ đô đều được mọi người quan tâm là việc hết sức tự nhiên. Hơn nữa, đó còn là thể hiện bầu không khí cởi mở và dân chủ của đất nước. Mở rộng hay không mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội; mở rộng như thế nào và vào lúc nào… đều là những vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng tác động của nó không chỉ trước mắt mà lâu dài. Việc có nhiều ý kiến trao đổi, có nhiều người quan tâm là rất đỗi bình thường và cũng rất cần để chúng ta cùng lắng nghe, cùng xử lý thông tin. PV : Nhưng một điều dường như không bình thường là hiện có những ý kiến tuy đồng tình với chủ trương mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, nhưng lại cho rằng Đề án, Tờ trình chưa thuyết phục ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Đối với một vấn đề quan trọng, lớn lao như vậy thì việc luận bàn, trao đổi như đang diễn ra, tôi nghĩ là cũng xứng với tầm vóc vấn đề. Qua đó biết được trong số các ý kiến chỗ nào gặp nhau, chỗ nào chưa gặp nhau, đặt ra để Quốc hội xem xét quyết định. Đối với nội dung Tờ trình và Đề án mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, đây là một vấn đề lớn và lại khó, mặc dù đã được chuẩn bị công phu nhưng vẫn còn những khiếm khuyết là khó tránh. Với trí tuệ và tâm huyết, các đại biểu Quốc hội sẽ chỉ ra những gì chưa ổn, chưa hoàn thiện; Chính phủ chắc chắn sẽ rất sẵn sàng giải trình và tiếp thu trước Quốc hội. PV : Chắc là đồng chí đã có đọc Báo cáo thẩm định của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đặc biệt là những ý kiến băn khoăn hoặc không tán thành với Tờ trình ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Tôi có dự buổi họp đó của Quốc hội và tôi đã đọc các văn bản. Đúng là Tờ trình còn có những điều nói chưa sâu, chưa rõ, hoặc có sơ suất. Nhưng hầu hết những vấn đề đó đã được bổ sung, làm rõ trong Báo cáo do đồng chí Bộ trưởng Bộ Xây dựng trình bày, đặc biệt là trong phát biểu của Thủ tướng khi thảo luận. PV: Đồng chí có thể nói những căn cứ quan trọng nào khiến chúng ta phải đưa ra quyết định mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội vào lúc này ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Tờ trình của Chính phủ và nhất là Báo cáo về quá trình nghiên cứu mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội do Bộ Xây dựng chuẩn bị đã nói khá chi tiết vấn đề này. Đây là vấn đề lớn, chỉ nói mấy dòng thì thật là khó. Câu chuyện mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, về mặt chủ trương, đã được đề ra khá sớm, suốt gần hai nhiệm kỳ Chính phủ. Các cơ quan chức năng nghiên cứu khá công phu, đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều ngành. Lý do hay là căn cứ lớn nhất, theo tôi hiểu, đó là Thủ đô Hà Nội đang đứng trước những yêu cầu mở rộng, phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng gặp phải những sự bất cập, quá tải về nhiều mặt: dân số, diện tích, môi trường… Còn vì sao bây giờ mới đặt ra thì cũng chính là lúc này chúng ta mới có đủ điều kiện và những đòi hỏi trên cũng đủ độ cấp bách, những khó khăn cũng bộc lộ rõ hơn, hầu như ai cũng thấy. PV : Liệu có giải pháp nào khác, hay cứ phải mở rộng và mở rộng như chúng ta đang dự kiến là hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, toàn bộ huyện Mê Linh và 4 xã của Hòa Bình ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Đây là câu hỏi rất then chốt của vấn đề. Tôi nghĩ câu hỏi đó cũng có thể đặt ra với mọi người, xem có ai đề xuất được phương án nào tốt hơn, hay hơn không? Nếu có, tôi chắc rằng sẽ được Quốc hội xem xét một cách nghiêm túc. Thực sự thì Bộ Xây dựng đã trình ra tất cả 5 phương án để so sánh, lựa chọn. Qua thảo luận, thu hẹp dần còn 2. Từ 2 phương án chọn 1 phương án có nhiều ưu điểm hơn cả, nhưng ngay với phương án đó, theo tôi cũng không phải chỉ toàn là thuận lợi, ưu điểm mà cũng có khó khăn, có nhược điểm, nhưng qua thảo luận, mọi người thấy đó là phương án tốt hơn các phương án khác. Tôi theo dõi, thấy có nhiều ý kiến không đồng ý, nhưng cũng không nêu ra phương án nào khác. Giả thiết có phương án thứ 5, thứ 6 đi nữa, thì chắc rằng nó cũng không đáp ứng được tất cả mọi khía cạnh. Vấn đề là chúng ta phải chọn lựa những gì là cơ bản, chính yếu nhất. PV: Nhưng trong Báo cáo thẩm định của Ủy ban Pháp luật và nhiều ý kiến đang chỉ ra những bất cập và những cái không hợp lý của phương án mà chúng ta dự tính thông qua ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Có những băn khoăn, lo lắng tôi nghĩ là chính đáng, như các băn khoăn liên quan đến các yếu tố, đặc điểm văn hóa, truyền thống của mỗi vùng miền, địa phương bây giờ tích hợp lại ra sao? Hoặc các gợi ý lựa chọn về mô hình Thủ đô cần phải ưu tiên giải quyết những loại vấn đề gì? Hoặc những lo lắng về năng lực quản lý điều hành một địa bàn rộng lớn, có nhiều đơn vị cấp quận, huyện; về quy mô, khối lượng công việc nhiều hơn trong khi trình độ, năng lực, đội ngũ cán bộ vẫn gồm bấy nhiêu con người, v.v… Lo lắng, băn khoăn là cần thiết, nhưng tôi nghĩ chúng ta cũng cần xem xét vấn đề trong xu thế vận động, phát triển, trong mối quan hệ nhiều mặt. Việc khó, nhưng nếu quyết tâm cao, lại được Trung ương và cả nước góp sức thì cũng có thể giải quyết được. PV: Nhiều ý kiến đề cập đến công tác bố trí cán bộ sau khi Thủ đô mở rộng. Ý kiến của đồng chí về vấn đề quan trọng này ra sao ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Chúng ta phải chờ quyết định chính thức của Quốc hội. Nhưng tôi đồng ý công tác cán bộ là việc vô cùng quan trọng và đây là công việc thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của nhiều cấp có liên quan xem xét, giải quyết phù hợp với các quy định của Đảng và Nhà nước. PV: Liệu có diễn ra tình hình là sau khi hợp nhất, bộ máy và cán bộ có sự xáo trộn, sẽ ảnh hưởng không tốt đến công việc ? Đồng chí Bí thư Thành ủy: Tôi đồng tình ở chỗ là không nên nhìn nhận vấn đề một chiều hoặc quá đơn giản. Nếu nói tuyệt đối không xảy ra thì cũng dễ có tư tưởng chủ quan. Nhưng tôi nghĩ rằng, nếu mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đều vì sự nghiệp chung, mà sự nghiệp chung ở đây được hiểu theo tinh thần “Thủ đô vì cả nước và cả nước vì Thủ đô”, dù cán bộ từ nhiều nguồn hợp lại, và Thăng Long - Hà Nội vốn là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của dân tộc thì việc tiếp nhận những giá trị văn hóa các vùng, miền khác nhau cũng như khả năng nhanh chóng ổn định bộ máy, cán bộ để cùng nhau xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại là điều chúng ta có thể làm được. Vì ngoài nguồn lực cán bộ tại chỗ, chúng ta còn có sự quan tâm của Trung ương và cả nước. Tất nhiên, đội ngũ cán bộ Thủ đô Hà Nội phải là những người trực tiếp nhất, phải nỗ lực, cố gắng trong quá trình tổ chức thực hiện sau khi Quốc hội thông qua. PV : Xin cảm ơn đồng chí Bí thư .
|
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/42/168380/
|
Giá thuê mặt bằng bán lẻ tại Hà Nội tăng vọt
|
|
Tại Hà Nội, giá thuê mặt bằng bán lẻ tại các khu vực trung tâm kinh doanh đang tăng vùn vụt do sự phát triển mạnh mẽ của ngành bán lẻ, trong khi nguồn cung mặt bằng tại các khu vực này đang ngày càng trở nên khan hiếm. Giá thuê mặt bằng tại toà nhà Vincom City Tower tăng từ 20 - 88 USD/m2/tháng lên 40 - 120 USD/m2/tháng. Những địa điểm bán lẻ mặt phố của một số toà nhà tại khu trung tâm có giá thuê rất cao như toà Pacific Place, Sofitel Metropole và Opera Business Centre, có vị trí lên đến 150 USD/m2/tháng. Một số trung tâm mua sắm bên ngoài khu trung tâm kinh doanh cũng có mức tăng tương đối. Chẳng hạn như tại siêu thị Big C, giá thuê mặt bằng tăng từ 23 - 34 USD/m2/tháng cuối năm 2007 lên 25 - 40 USD/m2/tháng vào quý I/2008. Với giá thuê mặt bằng không ngừng leo thang, các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh bán lẻ có xu hướng đa dạng hoá các địa điểm thuê mặt bằng, chứ không tiếp tục trả giá cao để thuê địa điểm ở những khu đắc địa. TTXVN |
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/13/168347/
|
Thị trường chứng khoán VN đi về đâu?
|
|
Chỉ trong vòng một năm kể từ 17.3.2007, chỉ số VN-Index đã từng đạt 1.170 điểm, nay tụt xuống chỉ còn 466,67 điểm vào cuối ngày 15.5. Đặc biệt tổng giá trị giao dịch cũng giảm mạnh từ xung quanh 1.200 tỉ đồng/ngày, xuống còn xung quanh 300 tỉ đồng/ngày. Hôm 15.5 là 125 tỉ đồng. Trong thị trường tài chính có hai thị trường bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, mối quan hệ mấu chốt nhất là quan hệ giữa thị trường chứng khoán (TTCK) – lõi của thị trường vốn với thị trường tín dụng ngắn hạn – lõi của thị trường tiền tệ! TTCK sau một thời kỳ dài ảm đạm, các chính sách đã không đáp ứng được sự “chờ đợi” và không “nghe” được đúng tiếng nói của thị trường quan trọng này. Vốn trong dân đang nằm ở đâu? Nếu quan sát ở một số thị trường quan trọng thì thấy: Thị trường bất động sản đang có dấu hiệu điều chỉnh giảm. Giá nguyên, nhiên, vật liệu tăng mạnh làm cho các nhà đầu cơ co lại, tốc độ giải phóng mặt bằng và tốc độ xây dựng theo đó chậm xuống, giá quyền sử dụng đất và bất động sản “đóng băng” và giảm bớt hàm lượng “bong bóng” mặc dù vẫn rất cao so với sức mua. Thị trường vàng, tuy giá vàng trong nước có giảm, nhưng tốc độ giảm chậm hơn nhiều so với tốc độ giảm giá của thị trường vàng thế giới. Giá vàng thế giới đã xác lập các kỷ lục kế tiếp nhau: từ trên 1.000 USD/ounce vào thời điểm giữa tháng 3.2008 xuống còn 865 USD/ounce tại thời điểm hiện nay, tương đương mức giảm 15,6%. Thị trường ngoại hối: về cơ bản tỷ giá VND/USD được “neo” ổn định, mặc dù có giảm cả năm 2007. Gần ba tháng đầu năm 2008 đồng USD liên tục sụt giảm, có lúc đã chạm được tới con số 15.300VND/USD trên thị trường tự do. Trong khi Ngân hàng Nhà nước hầu như rất cẩn trọng trong việc bơm tiền ra mua ngoại tệ và đang thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thì gần đây thị trường ngoại tệ đã xuất hiện nhu cầu đòi Ngân hàng Nhà nước bán USD ra. Chứng tỏ có một khối lượng tiền đồng tiềm tàng đang nằm “chờ” trong tay các “nhà” đầu cơ để sẵn sàng thao túng thị trường. Vậy đã khá rõ vốn đang nằm ở thị trường bất động sản, vàng, ngoại tệ... và phần lớn vốn tham gia vào lạm phát. Vì sao xuống dốc? Trở lai TTCK, bài toán đặt ra là giải pháp nào cho TTCK thực sự đủ hấp dẫn để thực hiện sứ mệnh số một là huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế đúng địa chỉ, có hiệu quả? Lý do mà TTCK không hấp dẫn có thể có nhiều trong các quan hệ khách quan khác thuộc tiềm lực và trình độ dân trí của nền kinh tế. Song những lý do nội tại, mang tính chủ quan là rất cần phải nhận dạng và khắc phục. Các lý do chính thuộc nhóm này là: Hàng hoá trên TTCK hiện có đang kém về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu và đặc biệt là giá IPO mang tính áp đặt tại thời điểm xuất phát đã bị đẩy lên rất cao so với giá trị thị trường của hầu hết các hàng hoá. Về cơ cấu, các “ông” chủ của TTCK Việt Nam đã vô hình trung lái nhà đầu tư hướng nhiều sự quan tâm về việc phát hành và buôn bán chứng khoán vốn (cổ phiếu) hơn là sự quan tâm đến chứng khoán nợ (trái phiếu...) – một công cụ tài chính hữu hiệu nhất trong việc “nối” TTCK với thị trường tiền tệ, tín dụng trong vai trò “chạy tiếp sức” và làm tăng tính thanh khoản cho TTCK. Tại thời điểm hiện nay, tổng giá trị chứng khoán nợ chỉ chiếm 16% tổng giá trị hàng hoá giao dịch trên TTCK. Thậm chí TTCK đã có 8 năm tuổi mà hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam không có một đồng nào đầu tư vào chứng khoán nợ đủ tiêu chuẩn để tham gia nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, trong khi đó lại thi nhau kinh doanh cổ phiếu (chứng khoán vốn). Do đó khi cần nguồn thanh khoản ngắn hạn ngân hàng phải đi vay lại với giá rất cao trong thị trường liên ngân hàng hoặc huy động giá cao trên thị trường tiền gửi. Trong lúc TTCK đang hấp dẫn nhà đầu tư, lúc có nhiều cơ hội phát triển của thị trường sơ cấp với hàng hoá chất lượng cao... thì lại bị trì hoãn, kéo giãn, tính toán quá lâu, gây mệt mỏi cho các nhà đầu tư, vừa mất thời cơ cổ phần hoá với giá có lợi cho các doanh nghiệp nhà nước lớn, vừa làm “lạnh” TTCK đang phát triển mạnh trở lại chưa đầy một năm (từ tháng 10.2006 – 6.2007). Hầu hết các nhà phát hành cổ phiếu Việt Nam sau khi “IPO một cách chụp giật” đã bỏ mặc các cổ đông. Thay vì phải trả lợi tức bằng tiền cho nhà đầu tư với tư cách là các cổ đông thì lâu nay lại chỉ trả bằng giấy... “bán giấy lấy tiền” thì cổ đông không thể yên tâm với “quyền” sở hữu công ty của mình được. Các nhà quản lý TTCK cũng chủ yếu chỉ quan tâm đến việc lên xuống của chỉ số trên các “sàn” chính thức, ít quan tâm đến TTCK nói chung (cả OTC). Nghĩa là quá quan tâm đến thị trường thứ cấp chính thức, nơi đang bao gồm những hàng hoá cũ do phát hành một cách chụp giật với giá cao, chất lượng thấp chiếm tỷ lệ áp đảo... Giải pháp nào? Từ rất nhiều nguyên nhân nói trên và căn cứ vào tiềm năng rất lớn của nền kinh tế Việt Nam, tôi cho rằng có thể và cần phải sử dụng các giải pháp sau đây để kích thích TTCK Việt Nam phát triển ổn định: Một là: Chính phủ cần phát hành chứng khoán thời hạn dài từ 10 năm trở lên, nhưng lãi suất quy định theo từng giai đoạn mỗi 2 năm một lần theo nguyên tắc đảm bảo cho nhà đầu tư không bị thiệt thòi hơn gửi tiết kiệm 24 tháng cùng giai đoạn. Hai là: Tiến hành IPO các doanh nghiệp nhà nước lớn với giá chủ yếu do thị trường quyết định. Ba là: Có chính sách bắt buộc tất cả các ngân hàng thương mại phải dành một tỷ lệ nguồn huy động đủ cần thiết để đầu tư vào trái phiếu dài hạn của Chính phủ lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước vừa để góp phần định hướng sử dụng nguồn đúng hiệu quả, vừa làm công cụ an toàn để tiếp cận thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước trong các trường hợp bị báo động vể rủi ro thanh khoản… Bốn là: Có chính sách thoả đáng để khuyến khích các công ty chứng khoán mở tài khoản tiền gửi lưu ký kinh doanh tại các ngân hàng thương mại. Tiền gửi gồm tiền tự doanh và tiền của nhà đầu tư tại công ty chứng khoán. Năm là: Có chính sách để khu vực sản xuất, dịch vụ có sử dụng thiết bị nhập khẩu giá trị lớn được xét theo một cơ chế chặt chẽ cho phép phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước kết hợp với chính sách loại bỏ dần tín dụng ngoại tệ. Sáu là: Có danh mục xếp hạng để hầu hết các chủ sở hữu của các chứng khoán nợ trong danh mục chuẩn được phép sử dụng chứng khoán đó trong việc chiết khấu, tái chiết khấu tại các ngân hàng thương mại để các ngân hàng thương mại bằng nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của mình tạo ra tính thanh khoản cho TTCK. Theo SGTT |
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/42/168391/
|
Không công nhận quyền sở hữu với nhà xây không phép
|
|
(HNM) - UBND thành phố Hà Nội vừa có quy định về cấp quyền sở hữu tài sản gắn với đất trên địa bàn. Theo đó, từ ngày 19-5-2008, tài sản gắn với đất sẽ được ghi công nhận quyền sở hữu trên sổ đỏ. Tuy nhiên, trường hợp công trình xây dựng không phép, sai phép sau ngày 1-7-2006 mà chưa được xử lý; trường hợp không có giấy tờ về nhà ở (quy định tại điều 43 Nghị định 90/2006/NĐ-CP); nhà thuộc sở hữu Nhà nước; nhà trong khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa; nhà có khiếu nại liên quan quyền sở hữu... sẽ không được công nhận quyền sở hữu. UBND phường, xã có trách nhiệm nhận hồ sơ, công bố công khai danh sách trường hợp không đủ điều kiện tại trụ sở trong 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ của công dân. Gia Khánh |
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/47/168342/
|
Sẵn sàng trong tư thế đổi mới chương trình, SGK phổ thông
|
|||
|
(HNMO)- Đó là tinh thần của Bộ GD-ĐT mà người đứng đầu là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã chia sẻ cùng các đại biểu về dự Hội thảo đánh giá chương trình, SGK phổ thông tổ chức tại Hà Nội ngày 18-5. Kết quả từ đợt đánh giá được coi là có quy mô lớn nhất từ trước đến nay của ngành giáo dục một lần nữa phô bày ra tất cả những ưu, nhược điểm tồn tại suốt 8 năm qua sau khi áp dụng chương trình và SGK mới. Vẫn quá tải, vẫn bất hợp lý GS.TSKH Nguyễn Mậu Bành, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Cựu giáo chức Việt Nam nêu ra một nghịch lý, trong một năm, một học sinh (HS) lớp 1 sẽ phải đọc tổng cộng 1.500 trang sách, trong khi đó, nhiều SV Đại học năm thứ nhất cũng chưa đọc đến lượng sách đó. Từ đó để thấy cho thấy chương trình và SGK dành cho học sinh tiểu học còn quá nặng. Đồng tình với quan điểm này, nhiều ý kiến khác trong dư luận xã hội cho rằng, không nên đòi hỏi HS tiểu học phải học quá nhiều môn như quy định của chương trình mà chỉ nên tập trung học Tiếng Việt và Toán. Các môn còn lại nên tích hợp lại thành ít môn hơn.
Ngoài ra, việc phân bổ thời lượng giữa các môn học, cũng như giữa các cấp học, hoặc các nội dung trong cùng môn học còn có chỗ chưa hợp lý. Một số môn học có số tiết học tương đối nhiều hơn so với nhu cầu học tập của HS như Công nghệ, Hướng nghiệp, hoạt động giáo dục nghề phổ thông, giáo dục An ninh Quốc phòng… khiến cho một số môn học quá ít tiết như Toán, Vật Lý, Sinh học. Ví dụ như môn Vật lý THCS chỉ có 175 tiết trong khi môn Công nghệ lại có tới 210 tiết; thời lượng môn Sinh học cấp THCS là 280 tiết nhưng cấp THPT chỉ có 139 tiết. Trên cơ sở này, ông Nguyễn Minh Hùng, Trưởng phòng giáo dục trung học, Sở GD&ĐT Đà Nẵng đề nghị chương trình cần tinh giảm, phù hợp với thực tiễn phổ thông hơn. Số môn học hiện nay khá nhiều đối với từng lớp học vì vậy cần giảm bớt, hoặc tích hợp các môn trong một môn. Ông Hùng đưa ra dẫn chứng về sự quá tải: THCS có từ 16- 17 môn và hoạt động giáo dục nên bình quân THCS học 31 tiết/tuần, THPT là 34 tiết/tuần, chưa kể các hoạt động khác. “Chương trình nên cứng, SGK nên mềm” Đó là gợi ý của TS Tô Bá Trọng, Liên hiệp Các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam sau khi đưa ra kiến nghị về việc Bộ nên có nhiều bộ SGK khác nhau dựa trên khung chuẩn. Đây cũng là ý kiến của nhìêu đại biểu khi cho rằng việc HS cả nước phải dùng chung một bộ SGK, là không hợp lý. Bà Phan Thị Thu Hà, Phó giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Đồng Tháp lý giải, khi đã có chương trình, xây dựng được kiến thức chuẩn thì việc có nhiều bộ SGK là cần thiết. Vì mỗi nhóm tác giả có “điểm mạnh”, điểm “yếu” riêng. Có nhiều bộ SGK giúp giáo viên có nhiều chọn lựa hơn nhưng mặt khác cũng là một điều kiện để sáng lọc giáo viên.
Bà Trần Thị Thắng,
Phó GĐ Sở GD-ĐT tỉnh Lao Cai nêu thêm một lý do cho việc cần có nhiều bộ
SGK là để thích hợp với điều kiện vùng miền, trình độ nhận thức của các
HS vùng nông thôn, miền núi và dân tộc thiểu số. Bà lấy ví dụ một số yêu
cầu đối với học sinh trong SGK như kể một câu chuyện về tình hữu nghị
giữa Việt Nam và các nước, chuyển mẩu đối thoại thành kịch, cân bằng các
phản ứng hóa học… là quá khó khăn với các học sinh miền núi. Ngoài ra,
với riêng môn Ngoại ngữ, hiện có đến 77,5% học sinh THPT học hệ tiếng
Anh 3 năm thay vì 7 năm vì không đủ sức. Do đó, việc xây dựng những bộ
SGK khác nhau, phù hợp với từng vùng miền trên cơ sở khung chương trình
chuẩn là hết sức cấp thiết.
Sẵn sàng điều
chỉnh chương trình nếu cần thiết Phát biểu kết luận chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân cho biết, Bộ dự kiến sẽ tổ chức đánh giá chương trình và SGK hàng năm, từ nay cho đến năm 2010 trong nhiều năm. Bởi theo Bộ trưởng, nếu chỉ chỉnh sửa một lần thôi thì không đủ. Hơn nữa, nhiều nội dung mới được đưa vào giảng dạy, nếu đánh giá quá sớm thì sẽ chưa thật khách quan, mà phải cần thời gian, để cả thầy và trò đều có thể đưa ra những đánh giá tốt nhất. Bộ trưởng cũng chia sẻ cùng các đại biểu về dự hội nghị, tinh thần của Bộ là sẵn sàng điều chỉnh cả chương trình, nếu điều đó là cần thiết. Ông đưa ra gợi ý về hướng điều chuyển 2 nhóm ngành học có thể chuyển sang nhóm các môn tự chọn. Nhóm thứ nhất ở bậc tiểu học gồm 3 môn Thủ công, Nhạc, Mỹ thuật- Kỹ thuật, có thể rút gọn xuống còn 2 môn để phù hợp với điều kiện học tập của từng vùng miền. “Giảm số môn học, đồng nghĩa với việc giảm tiết học, giảm đi những căng thẳng trong học tập của cả thầy và trò” – Bộ trưởng nhấn mạnh. Nhóm thứ hai cũng có thể chuyển đổi theo hình thức 3 chọn 2 hoặc tích hợp lại gồm các môn Công nghệ hướng nghiệp và nghề phổ thông bởi theo lý giải của Bộ trưởng thì “Nhóm này có học xong HS cũng không thể hành nghề được”. SGK: Sai dù nhỏ đến mấy cũng sửa Về hướng sửa đổi SGK, Bộ trưởng Nhân cũng nêu ra hàng loạt những điểm có thể điều chỉnh được. Chẳng hạn với nhược điểm mà nhiều bộ sách hiện nay mắc phải là không phù hợp với tâm sinh lý học sinh, Bộ trưởng đề nghị các thầy cô, là những người trực tiếp giảng dạy, sẽ chỉ rõ những điểm chưa phù hợp và đề xuất cả hướng sửa chữa. Trên cơ sở đó, Bộ sẽ xem xét để phê duyệt. Với những nội dung sai, nội dung trùng lặp, dù nhỏ đến mấy Bộ cũng kiên quyết sửa. Tiếp thu ý kiến đóng góp của nhiều đại biểu về việc nên có nhiều hệ thống SGK dựa trên chương trình, kiến thức chuẩn, Bộ trưởng Nhân yêu cầu các vị đại biểu tiếp tục bàn thảo liệu với chương trình chuẩn đã có rồi thì có nên cho khởi động viết những bộ SGK mới trên cơ sở cái chuẩn này không. Ban đầu Bộ dự kiến đến năm 2010 nhưng hiện đã có một số môn đã có thể làm được vì đã triển khai giảng dạy từ năm 2002. “Nếu chúng rà soát lại chương trình, đánh giá chương trình là chuẩn thì cho phép các tổ chức, cá nhân được viết SGK. Tiếp đó, Bộ GD&ĐT sẽ tiến hành đánh giá, nếu tốt thì đến năm 2010 chúng ta đã có bộ SGK thứ 2” – Bộ trưởng bày tỏ hy vọng “Phương pháp ra câu hỏi thi phải đánh giá được nhận thức của HS chứ không nên bắt các em phải học thuộc lòng quá nhiều, vì sẽ quên ngay sau khi thi xong” – Bộ trưởng cũng đưa ra gợi ý về việc phải có những hướng dẫn riêng về cách ra đề thi . Ngân Hạ
|
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/48/168384/
|
Một ngày xử lý 3 vụ vi phạm môi trường
|
|
(HNM) - Ngày 17-5, Phòng Cảnh sát môi trường (CSMT)-CATP Hà Nội phát hiện 3 vụ vi phạm về môi trường. Trong đó, ở vụ thứ nhất, đã làm rõ Nguyễn Thị Hôm (SN 1950, ở Xuân Đài, Xuân Trường, Nam Định) có hành vi mua bán rác thải y tế nguy hại của Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương cùng nhân viên thu gom rác thải y tế và vận hành lò đốt rác của bệnh viện là: Lê Xuân Hiền (SN 1950, ở tập thể Bệnh viện Lao, phường Cống Vị, quận Ba Đình)-người đã bán rác thải y tế cho Nguyễn Thị Hôm; chuyển CA quận Ba Đình xử lý. Tiếp đó, Phòng CSMT phối hợp Thanh tra Sở GTCC điều tra bắt giữ Đặng Minh Quang (SN 1985, trú xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm) lái xe ô tô mang BKS 29X-9828 đổ trộm đất cát phế thải xuống bến Bạc, Từ Liêm, tạm giữ xe ô tô, chuyển Thanh tra Sở GTCC xử lý. Cùng ngày, Phòng CSMT phối hợp với Đội 1, Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội kiểm tra phát hiện Công ty xăng dầu ở 136 Phạm Văn Đồng, Cổ Nhuế, Hà Nội kinh doanh dầu diesel không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, không ghi hàm lượng lưu huỳnh. Đã xử lý hành chính, phạt 2 triệu đồng. Dương Hiệp |
http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2008/5/89146.laodong
|
Tăng lãi suất cho
vay tối đa lên 18%/năm: Lao Động số 111 Ngày 19/05/2008 Cập nhật: 11:25 AM, 19/05/2008 |
|
|
(LĐ) - Quyết định bỏ trần lãi suất huy động cùng lúc tăng lãi suất cơ bản VND lên 12%/năm áp dụng từ ngày hôm nay (19.5) là bước đột phá trong cơ chế điều hành lãi suất, như lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhận định. Một tín hiệu dự báo chấm dứt cuộc đua lãi suất nghẹt thở và giúp tăng khả năng thanh khoản cho các NH. Cơ chế... đột phá Sau rất nhiều mong mỏi, NHNN ngày 17.5 chính thức công bố chấm dứt việc áp dụng trần lãi suất huy động 12%/năm (theo công điện 02 của NHNN ngày 26.2.2008) và thay vào đó áp dụng một cơ chế điều hành lãi suất mới trên cơ sở lãi suất cơ bản. Với cơ chế mới, NHNN đồng thời tăng lãi suất cơ bản VND từ 8,75%/năm lên mức 12%/năm. Các TCTD theo đó được phép ấn định lãi suất kinh doanh bao gồm lãi suất huy động và cho vay VND đối với khách hàng, song không vượt quá 150% lãi suất cơ bản được NHNN công bố áp dụng trong từng thời kỳ (theo quy định tại khoản 1 điều 476 Bộ luật Dân sự về lãi suất cho vay).
Theo thông lệ và
định kỳ hàng tháng, lãi suất cơ bản sẽ được NHNN công bố làm cơ sở cho
các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh. Như vậy, ngay khi lãi suất cơ bản
mới được áp dụng từ ngày 19.5, lãi suất cho vay tối đa của các TCTD sẽ
lên tới 18%/năm - mức lãi suất được cho là tương đối phù hợp với mặt
bằng lãi suất thị trường và không gây nên những xáo trộn lớn trên thị
trường tiền tệ, tín dụng. Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) - ông Nguyễn Ngọc Bảo nhận định, cơ chế điều hành lãi suất mới được xây dựng khá tỉ mỉ sẽ tạo nên (và sớm ổn định) một mặt bằng lãi suất mới trên thị trường hiện nay cũng như trong thời gian tới. Trong đó, lãi suất cơ bản phản ánh được diễn biến thị trường và được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường nội tệ liên NH, lãi suất huy động đầu vào của các TCTD và xu hướng biến động cung - cầu vốn. Đánh giá về mức lãi suất cơ bản mới vừa được ban hành, Thống đốc NHNN - ông Nguyễn Văn Giàu cho rằng, lãi suất cơ bản mới là bước điều chỉnh rất lớn so với lãi suất cơ bản trước đây vốn được duy trì trong một thời gian dài và chỉ mang tính tham khảo. "Lãi suất cơ bản mới được ban hành là cơ sở cho các TCTD chủ động ấn định lãi suất kinh doanh của mình và đưa hoạt động tín dụng tuân theo đúng khuôn khổ pháp luật" - ông Nguyễn Văn Giàu nói. Đồng thuận Thông báo kết quả làm việc với các TCTD trên địa bàn Hà Nội về cơ chế điều hành lãi suất mới, Thống đốc NHNN và bà Dương Thu Hương - Tổng Thư ký Hiệp hội NHVN (VNBA) - đều khẳng định, 100% lãnh đạo các TCTD đồng thuận và nhận định cơ chế lãi suất mới linh hoạt hơn với diễn biến thị trường. "Trước hết đó là một cơ chế đúng luật và các NH không còn con đường nào khác phải tuân theo trong khi suốt một thời gian dài vừa qua có vẻ như các NH hơi "quên" khi lao theo thị trường" - bà Dương Thu Hương cũng nhận định, cơ chế này đồng thời cũng thông báo cho các NH biết rằng họ đang hoạt động trong khung pháp lý nào. Dù không khẳng định việc bỏ hay không bỏ đồng thuận trần lãi suất huy động giữa các NH khi cơ chế điều hành lãi suất mới được ban hành song Tổng Thư ký VNBA cho rằng, khi quy định trần lãi suất huy động 12%/năm của NHNN không còn hiệu lực và các NH có khung pháp lý ấn định lãi suất của mình, các NH sẽ không cần phải tuân theo sự đồng thuận trước đây. Ngoài việc chấm dứt cuộc đua lãi suất giữa các NH từng rất gay gắt với lãi suất cho vay được khống chế ở mức 18%/năm như Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhận định, cơ chế lãi suất mới còn giúp xua đi những tín hiệu xấu về tình hình tài chính của các NH. Bà Dương Thu Hương cho rằng, các NHTM sẽ rất linh hoạt khi ấn định lãi suất kinh doanh, đặc biệt là lãi suất huy động với cơ chế lãi suất mới. Thêm nữa NH nào càng huy động với lãi suất cao, càng sát với ngưỡng cho vay tối đa sẽ càng lỗ. Lãi suất huy động qua đó phản ánh tình hình tài chính của chính các NH.
Văn Nguyễn |
http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2008/5/89119.laodong
|
Đánh giá chương
trình, SGK phổ thông: Lao Động số 111 Ngày 19/05/2008 Cập nhật: 8:35 AM, 19/05/2008 |
|
(LĐ) - • Thứ trưởng
Bộ GDĐT Nguyễn Vinh Hiển: Sửa SGK là bình thường. Ngày 18.5, phát biểu chỉ đạo tại buổi hội thảo về đánh giá chương trình, sách giáo khoa phổ thông do Bộ GDĐT tổ chức, Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân kỳ vọng "sẽ trả lời cho thắc mắc của 85 triệu người dân VN là hiện nay SGK của chúng ta như thế nào". Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân yêu cầu hội thảo tập trung đánh giá thẳng thắn những yếu kém, hạn chế, để có những giải pháp tháo gỡ cụ thể. Những con số đáng suy nghĩ Sau khi tâm tư về một số ý kiến của đồng nghiệp trực tiếp thúc hối sớm có những đổi thay về chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK), rất thẳng thắn, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói: "Tôi có sự dè dặt là do chưa bao giờ dạy phổ thông, mà phát biểu về chương trình phổ thông thì nguy cơ nói sai là rất lớn". Nhưng sự gợi ý, chỉ đạo định hướng của ông cũng rất rõ. Về chương trình, Bộ trưởng khẳng định: "Cho đến nay SGK chưa thay đổi được một vòng, mà sách cần phải qua thực tiễn một thời gian thì mới kiểm chứng được. Còn nếu chúng ta nói với các thầy biên soạn sách thì đương nhiên là các thầy nói sách tốt. Nhưng nếu chúng ta gặp một nhóm chuyên gia chuyên nghiên cứu và có ý kiến phản biện, chắc còn tranh luận nhiều năm nữa. Do đó, thảo luận không dựa trên cơ sở thống kê toàn quốc thì không kết thúc được". Đồng thời, ông cũng nhận xét và cũng có ý phê bình: "Về định lượng, trong báo cáo không có số liệu minh họa như bao nhiêu sở nhận xét về mặt này là mạnh? là yếu? mà không có thì rất khó thảo luận". Về nội dung có phù hợp với thời lượng hay không (nói nôm là có quá tải hay không), Bộ trưởng đưa ra con số: "Trong 41 sở GDĐT nộp báo cáo về, có 23 sở nói trực tiếp thì 3 sở nói là phù hợp, còn 20 sở nói không phù hợp. Đấy là vấn đề rất đáng suy nghĩ. Còn có phù hợp với hoàn cảnh , đặc điểm vùng miền hay không thì trong số 15/41 sở nói trực tiếp, chỉ có 5 sở nói phù hợp, còn lại là không". Cụ thể về vấn đề này, Bộ trưởng đặt vấn đề: Nếu bình quân dạy - học trên 30 tiết/ một tuần, nên dạy 6 buổi cũng không kịp thì có nên áp dụng nữa không? Do đó, nếu xác định là quá tải thì phải có nhóm giải pháp tổng thể, trong đó có nhóm giải pháp ngắn hạn, nhóm dài hạn. Môn lịch sử thì lịch sử thế giới nhiều quá, nếu đúng như vậy thì nên sửa như thế nào; môn công nghệ lại dạy về quản trị kinh doanh; ở cấp tiểu học lại yêu cầu học sinh viết thư cho bạn ở nước ngoài... Chúng ta đang áp dụng quy trình ngược Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển trình bày bản báo cáo của Bộ GDĐT, đã chỉ rõ: CT một số môn học còn tương đối nặng, hàn lâm với phần đông học sinh như ngữ văn, ngoại ngữ, sinh học, vật lý, nghề THPT. CT môn học không mang tính chuẩn mực, tương đối trừu tượng, khó hiểu. Một số môn học có nội dung CT chưa thực sự cơ bản, làm cho khối lượng kiến thức gia tăng quá mức. Môn vật lý nhấn mạnh quá mức vật lý cổ điển, môn sinh học chưa thể hiện được khoa học của sự sống, môn lịch sử quá nhấn mạnh đến lịch sử quân sự, đấu tranh giữ nước, đấu tranh cách mạng mà có phần xem nhẹ lịch sử kinh tế, văn hóa, xã hội. Có hiện tượng trùng lặp nội dung ở CT một số môn học như đạo đức và tiếng Việt, sinh học và công nghệ, trong khi đó nhiều môn quan hệ mật thiết đến nhau nhưng chưa thực sự hỗ trợ cho nhau. Trong điều kiện hầu hết các trường THPT đều học 1 buổi/ ngày mà nội dung nhiều, thời lượng ít dẫn đến hiện tượng quá tải đối với cả nhà trường, giáo viên và học sinh, dẫn đến nhà trường phải "xem nhẹ" một số môn học... Nội dung SGK thể hiện những bất cập như sách lịch sử được viết theo lối mòn, xơ cứng, vẫn chỉ là "ta thắng địch thua", "bên chính nghĩa thì tốt, bên phi nghĩa thì xấu"; hơn nữa, thường có sự lặp lại, tạo cho học sinh cảm giác không cần học cũng đã biết rồi. Một số SGK sử dụng kiến thức không cập nhật... Những bất cập thể hiện sự chỉ đạo thiếu sự thống nhất, xuyên suốt được thể hiện rõ trong báo cáo này là cách dùng từ, thuật ngữ, khái niệm, ký hiệu, thậm chí cách tiếp cận giữa SGK chuẩn và SGK nâng cao ở một số môn học có chỗ chưa thống nhất; có nội dung khác biệt về nội dung kiến thức giữa sách chuẩn và sách nâng cao. Cách tiếp cận quá khác nhau (môn vật lý). Phát biểu tiếp sau đó, đa số những ý kiến tại hội trường đều cho rằng nhìn chung CT, SGK là có những mặt tốt, tiếp thu được những ưu điểm của chương trình cũ. Tuy nhiên, các ý kiến này cũng thẳng thắn chỉ ra những bất cập một cách cụ thể hơn. "Bất khả kháng nhưng bất khả từ" - đây là lời cảm thán của ông Nguyễn Mậu Bành - Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức VN - về "nhiệm vụ" đánh giá SGK chỉ trong vòng 1 tháng mà Bộ GDĐT đề nghị. Theo ông Bành, "không nên quy kết, phủ nhận công sức của đội ngũ viết sách mà cần tìm ra những vấn đề chưa phù hợp của SGK. Nhưng nhìn chung, chưa tiếp cận để xuất phát từ mặt bằng nhận thức chung của học sinh (HS) trên cả nước. Nội dung có chỗ quá nặng, trong khi đó một số nội dung lại chưa tiếp cận được kiến thức khoa học hiện đại". Theo ông Nguyễn Minh Hùng - Sở GDĐT Đà Nẵng - "trong chương trình chưa có sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành. Trong SGK của một số môn, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn có một số chỗ còn gây tranh cãi về tính chính xác". Phó Giám đốc Sở GDĐT Lào Cai - bà Trần Thị Thắm, cũng cho rằng với tỉ lệ học sinh dân tộc ít người chiếm 64%, điều kiện kinh tế khó khăn, giáo viên không đủ, trình độ có hạn thì kiến thức trong CT và SGK là nặng. Ví dụ như yêu cầu HS lớp 5 phải chuyển thể loại đối thoại sang kịch, hay kể lại hoạt động hữu nghị giữa 2 nước... thì không khả thi. Theo đại diện Sở GDĐT Đồng Tháp, hiện nay CT và SGK còn tham lam ôm đồm nên học sinh cảm thấy nặng nề, giáo viên cũng không bao quát hết chương trình thành ra quá tải. Theo báo cáo của Hội Liên hiệp các hội khoa học, điểm nổi bật là các chuyên gia đều nhận xét, quy trình xây dựng chương trình giảng dạy là ngược. Đáng lẽ phải có chương trình trước rồi mới viết SGK, nhưng bộ lại tổ chức viết SGK trước rồi chương trình mới được xây dựng cho phù hợp với sách. Vương Hà- Hạnh Ngân |
http://www.laodong.com.vn/Home/sknb/2008/5/89126.laodong
|
Hiệu trưởng ĐH Quy Nhơn "ăn" và "chia" như thế nào? Lao Động số 111 Ngày 19/05/2008 Cập nhật: 8:31 AM, 19/05/2008 |
|
(LĐ) - Loạt bài "Có một "đế chế" ở ĐH Quy NHơn" (số 90 - ra ngày 22.4) và "Vì sao không công khai tài chính?" (số 98 - ngày 3.5), Lao Động đã đề cập đến tình trạng hối mại lợi ích, ban phát đặc quyền đặc lợi ở ngôi trường này suốt 2 nhiệm kỳ hiệu trưởng của TS Trần Tín Kiệt cũng như sự mơ hồ, ngơ ngác của đông đảo cán bộ, giảng viên trước câu hỏi. Có hay không một quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB)? Bài viết dưới đây cung cấp bằng chứng về tệ nhũng lạm đi liền với cung cách điều hành chuyên quyền, độc đoán... Ký... hai tay Nhìn vào bản thanh toán quản lý phí (QLP) các hệ tại chức, chính quy ở ĐHQN, người bình thường dễ... "tẩu hỏa nhập ma" bởi cái mô hình rối rắm và lắt léo của bộ máy lãnh đạo. Ơ đấy, hiệu trưởng vừa là thành viên ban giám hiệu (BGH), vừa... không thuộc BGH lại vừa... chính là BGH.
Bùng nhùng, rắc rối nhưng nó lại là "mô
hình nhất quán" tồn tại trong tất cả các phương án ăn chia. Cũng trong ngày 10.1.2004, ông Kiệt còn ký nhận ở hai vai hiệu trưởng và BGH 2,9 triệu đồng về khoản QLP tại chức khoa Kỹ thuật và công nghệ. Nói chung, hiệu trưởng Trần Tín Kiệt khá bận rộn với việc ký rồi... nhận thay mà chứng cứ, chúng tôi chỉ đủ giấy bút nêu... ví dụ. Ngày 9.1.2004, ở các khoa Ngoại ngữ, Kinh tế và quản trị kinh doanh, Tin học, Toán, Ngữ văn, ông ký một lèo nhận 21,3 triệu đồng. Xa hơn, còn có các bản "thanh toán" ngày 27.6.2004 (12 triệu), v.v... và v.v... Với quy mô trên dưới 30 ngàn sinh viên, học viên chính quy, tại chức ở ĐHQN, tiền QLP hàng năm chảy vào hầu bao hiệu trưởng Kiệt thật khó có thể thống kê đầy đủ, chính xác. Liên quan đến hành vi hà lạm và sự ngự trị của "mô hình" lợi ích - quyền lực kỳ cục ở ĐHQN, tại cuộc họp với 300 đảng viên toàn Đảng bộ cơ quan mới đây, trả lời câu hỏi "có phải hiệu trưởng nói không có BGH, chỉ có người giúp việc hiệu trưởng?", TS Kiệt đã bình thản xác nhận. Về thắc mắc của Bí thư chi bộ khoa Giáo dục chính trị Nguyễn Thanh Hải đối với năng lực "ký nhận hai tay", ông Kiệt phúc đáp, đó là do... thói quen! Ngày 17.5, để tìm hiểu tập quán ăn chia trong nội bộ lãnh đạo ĐHQN, PV Lao Động đã liên lạc với một "người giúp việc" đương nhiệm. Không muốn nêu tên, ông này tiết lộ chuyện phân phối QLP xưa nay không tuân theo nguyên tắc nào. "Tôi không biết có hay không một QCCTNB rõ ràng, minh bạch. Thỉnh thoảng, qua một đồng sự (trong BGH), tôi nhận lúc thì 200 - 300 ngàn, lúc 1 triệu. Tôi không rõ nó thuộc nguồn nào, do ai ký lĩnh". Kẻ ăn không hết, người lần... bở hơi tai Đúng là vô nguyên tắc nếu căn cứ vào "khẩu phần" của hiệu trưởng Kiệt. Chẳng hạn, tỉ lệ ăn chia hình thức giữa hiệu trưởng và BGH: Bình thường là 1/2; nhưng lắm khi, ông Kiệt chen lên, "bằng vai phải lứa" với BGH (phương án 9,5 triệu - ngày 6.4.2004 ở Trung tâm ngoại ngữ (TTNN), "cán cân" giữa hai bên là 2/2 triệu); thậm chí có trường hợp ông còn ngang nhiên "bóp còi qua mặt" mà không cần lý do xác đáng (phương án 18,4 triệu ngày 9.6.2004, tỉ lệ hiệu trưởng/BGH là 2/1,6 triệu đồng). Từ mấy tháng trước và ngay trong các cuộc làm việc với đoàn thanh tra của Bộ GDĐT hiện nay, nhiều cán bộ giảng viên đã liên tục chỉ trích tình trạng o bế bất công mà hiệu trưởng dành cho khối phòng ban. TS Nguyễn Văn Đấu (khoa Ngữ văn) cho biết, tỉ lệ 42% cán bộ phòng - ban so với giảng viên cơ hữu ở ĐHQN là "kỷ lục" trong nhóm các trường ĐH trên cả nước. Không ít nguồn lợi chính đáng của giảng viên bị co kéo một chiều về phía các đơn vị quản lý, điều hành. Riêng quỹ thừa giờ, ở khối phòng - ban, có người được chi mỗi năm đến 22 triệu; người không dạy nhưng hệ số lương cao cũng được 11 triệu. Tại phương án thanh toán tiền ở TTNN, đợt tập trung từ 28.4 đến 28.5.2004, trong khi 15 giảng viên phờ phạc suốt tháng chỉ nhận tổng cộng 9,8 triệu đồng thì phần QLP (chủ yếu cho các mục hiệu trưởng, BGH, Phòng Đào tạo, Phòng Tài vụ) đã lên đến 8,6 triệu. Ở một bản khác, tháng 10.2002, "tương quan" ấy là 11,2/9,2 triệu. ThS Châu Minh Hùng (khoa GDTH) phản ánh: Đợt thanh toán thi tốt nghiệp lớp vừa học vừa làm ở Đắc Lắc năm 2007, nếu phần ôn tập của giáo viên chỉ chi trả 21,3 triệu thì các ban bệ tiêu tốn tới 109 triệu. Đã thế, sau khi kê đủ hạng mục chi, họ còn "chi khác" tới 26,5 triệu. Xuân Nhàn |
http://www.laodong.com.vn/Home/skbl/2008/5/89104.laodong
|
Bài học từ Nargis Lao Động số 111 Ngày 19/05/2008 Cập nhật: 7:27 AM, 19/05/2008 |
||
(LĐ) - Siêu bão Nargis tấn công Myanmar, cướp đi trên 133.000 sinh mạng (AFP đưa tin). Thiệt hại khủng khiếp đó gây chấn động cả thế giới, VN giật mình xem Nargis là bài học. Tại hội nghị giao ban trực tuyến các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, do Ban chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương - Uỷ ban Quốc gia tìm kiếm - cứu nạn tổ chức ngày 17.5, nhiều ý kiến cho rằng, nếu như có một cơn bão như Nargis vào ĐBSCL th́ vùng đất này sẽ tan hoang như vùng Irrawaddy của Myanmar. Cũng giống như Irrawaddy, vùng ĐBSCL có địa hình bằng phẳng nên bão hoành hành dữ dội như trên biển. Trong lúc đó, nhà cửa ở khu vực này phần lớn là nhà tạm, hoặc bán kiên cố. Điểm chết người nữa là vùng ĐBSCL thấp, siêu bão tạo sóng biển cao 10 -15m - tương đương với sóng thần, sẽ nhấn chìm tất cả. Cho nên Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát đặt vấn đề: "Giả sử có một siêu bão mạnh cấp 17 như Nargis đổ bộ vào ĐBSCL thì thế nào, việc ứng phó ra sao? Cơn bão số 6 năm 2006 cấp độ chưa phải mạnh, nhưng một số vùng ở khu vực này đã tan hoang?". Trước câu hỏi này, rõ ràng không ai có thể tự tin trả lời, ngoại trừ nêu lên những khó khăn hiện nay và khả năng chống đỡ yếu kém nếu như gặp bão dữ. Nhưng điều mừng là từ siêu bão Nargis, các ngành từ trung ương đến địa phương đã ngồi lại, cùng phân tích, so sánh với thực tế VN để tìm biện pháp phòng bị, tránh tối đa thiệt hại nếu như có bão. VN có kinh nghiệm trong phòng, chống bão lụt, nhưng cũng có nhiều lúc, do chủ quan nên tổn thất rất lớn. Các tỉnh phía nam và ĐBSCL không có kinh nghiệm nhiều trong phòng, chống bão, nên sự cảnh báo về một cơn bão dữ là điều không thừa. Đối với sinh mạng của người dân, không thể cứ để tổn thất rồi rút kinh nghiệm. Các đại biểu đã đề ra một số giải pháp phòng, chống như gắn chíp cho thuyền đánh cá, quy hoạch xây dựng cần tính toán khả năng chịu bão, xây dựng lực lượng cứu hộ chính quy, chuyên nghiệp. Ở khu vực ĐBSCL, phần lớn người dân nghèo không thể xây nhà kiên cố, nhà tranh tre nứa lá và bán kiên cố như hiện nay không chịu nổi bão cấp 7, cấp 8. Tuy nhiên tại hội thảo, giải pháp về điều kiện trú ẩn cho người dân khi có bão vẫn chưa được bàn triệt để, và đây chính là vấn đề cốt lõi nhất. Có ý kiến đề xuất đào hầm trú bão, nhưng quên tính đến chuyện người dân có thể chết vì ngập nước. Bài học từ bão Nargis ở Myanmar vừa qua cho thấy, người chết chủ yếu là do nước ngập chứ không phải do gió bão. Bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ đạo, phải chuẩn bị ngay từ bây giờ để chống chọi với các cơn bão lớn tràn vào ĐBSCL, mỗi thôn ấp phải có phương án sơ tán người dân đến từng hộ gia đình. Nhưng sơ tán đến đâu, làm sao có đủ nơi trú ẩn an toàn vẫn là câu hỏi cần phải tiếp tục giải đáp. Lê Thanh Phong |
http://www.laodong.com.vn/Home/xahoi/2008/5/89102.laodong
|
Thứ trưởng Bộ GDĐT
Nguyễn Vinh Hiển: Lao Động số 111 Ngày 19/05/2008 Cập nhật: 8:19 AM, 19/05/2008 |
|
(LĐ) - Bên lề hội nghị về đánh giá chương trình, SGK phổ thông ngày 18.5, Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Vinh Hiển đã trả lời |