Đối Thoại                                  Website: Doi-Thoai.com                                     Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Đối Thoại Năm 2000

Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân

DÂN CHỦ : VẤN ĐỀ CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI (c)

Theo chúng tôi, vấn đề cấp thiết nhất về lý luận hiện nay là phải hiểu cho chính xác và toàn diện về khái niệm "cầm quyền".

"Đảng ta là một Đảng cầm quyền" (Di chúc Hồ Chí Minh). Thêm một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại rằng : đó là một chân lý, một nhu cầu của Dân tộc và Lịch sử. Và đó cũng là một thực thể chính trị mà mọi lực lượng chống cộng cần nhớ rằng : động đến nó là động đến cả một dân tộc. Chớ có đùa với lửa, chớ có đùa với lịch sử. Nhưng ta với nhau thì lại phải phân biệt cho rõ : thế nào là cầm quyền ? Cầm quyền gì và không cầm quyền gì ? Ở đời có chuyện không cầm mà vẫn giữ được tất cả, ngược lại cầm hết, cái gì cũng cầm thì lại chẳng nắm giữ được gì.

Lại có chuyện cũng là cầm nhưng lại cầm lỏng cầm chặt ở cấp độ nào. Cái gì cũng cầm lỏng cả, thậm chí lại còn buông lỏng, liệu còn giữ được những gì ? Cái gì cũng cầm chặt, khư khư cầm tất cả thật chặt liệu đủ sức không ? Và giữ được bao lâu ?

Lâu nay, giới lý luận của ta hầu như không quan tâm đến vấn đề phân biệt cầm quyền lãnh đạo và cầm quyền quản lý, chỉ mải nhấn mạnh và chỉ lo mọi người quên mất rằng : Đảng phải độc quyền lãnh đạo, duy nhất lãnh đạo. Và trong khái niệm lãnh đạo này, người ta gói trong nội hàm của nó cả quyền quản lý. Họ lại luôn luôn lo sợ rằng hễ chia quyền là mất Đảng, mất CNXH. Do đó, mấy chục năm liền ở ta cũng như toàn phe XHCN, Đảng lãnh đạo tất cả mà cũng quản lý tất cả.

Hãy cứ công nhận tất cả như thế là đúng thì ngay trong cái đúng này cũng đã chứa đựng những sai lầm không thể khắc phục được.

Thử ngẫm xem trên đời này, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, từ tế bào vi mô cho đến vũ trụ vĩ mô có cái gì một, chỉ một mà thôi và dứt khoát phải một mà tồn tại được. Tồn tại không xong chứ nói gì đến phát triển.

Độc quyền lãnh đạo, về mặt nào đó, phải coi là một nguyên tắc. Với cái nghĩa đơn giản nhất lãnh đạo là dẫn đường, vậy thử hỏi tất cả các vị, nhu cầu của chúng ta là phải cần mấy người dẫn đường ? Giả thiết có hai vị dẫn đường mà một vị thì chuyên môn hứa hão nhưng lại kiên quyết bảo mọi người rằng : cứ theo ta tất sẽ đến cõi no ấm, cõi vui vẻ; với một người : đi với ta đến cùng, chia sẻ với ta mọi nỗi đắng cay, nhọc nhằn tủi nhục, vui buồn có nhau, nói với ta rằng : con đường hạnh phúc còn xa nhưng quyết đi thì sẽ tới. Vậy thì ta chọn ai là kẻ dẫn đường ?

Chuyện đời nhiều khi nói dài dòng sinh phức tạp chứ thực ra cũng đều là giản dị dễ hiểu thôi. Ai đã từng đi đường trường đều tự biết phải đi như thế nào, phải tìm ra cách đi, sao cho đỡ tốn sức người sức của và đến mau đến được nơi cần đến. Cái khó của chúng ta là đường cách mạng lại là một loại đường quá dài, quá gai góc mà đích của nó lại là một vùng chưa có dấu chân người.

Không thể vừa đi vừa ca cẩm phàn nàn hoặc lại nằm xuống kêu mệt, kêu khổ. Thậm chí lại vừa đi vừa ngoái cổ luyến tiếc những gì đã quen hay bàn nhau vòng lại lối xưa đường cũ. Đi kiểu này hẳn là muôn thuở sau cũng chẳng đến nơi ta cần đến, chưa kể có vị vừa đi vừa mỉa mai châm biếm kẻ dẫn đường.

Đi đường thì tốt hơn cả là nên giắt trong hành trang thơ văn của người xưa, nhất là thơ văn của cụ Hồ thì giữ tâm linh được yên ổn mà đi tới, tránh được chuyện nản lòng thoái chí :

Đi đường mới biết gian lao

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng

Núi cao lên đến tận cùng

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non

(Nhật ký trong tù)

Đi đã khó, dẫn còn khó biết chừng nào. Người dẫn đường làm sao dám quên mang theo cẩm nang và vận dụng sáng tạo những điều ghi trong cẩm nang của các vị tiên liệt anh hùng :

- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.

- Quần chúng là người sáng tạo lịch sử.

- Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.

- Dân là gốc nước, gốc vững thì nước yên.

- Dân như nước, chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân.

- Miệng dân sóng bể. Tức nước thì vỡ bờ.

Và có một nguyên tắc mang tính qui luật sao có thể quên : "Mỗi người đều phải đi bằng chân của mình" không thể đi hộ người khác, càng không thể nghĩ thay làm thay người khác.

Nhân dân đi đường chắc chắn phải biết chọn ai cẩn thận để giữ hầu bao, chọn kẻ nào khỏe mạnh để giữ gươm súng đối đầu với thú dữ trộm cướp và không thể giao gạo cho những ai suốt đời "trên sống dưới khê tứ bề nhão nhoét", càng không thể giao cho những vị ú ớ, ngọng nghịu làm kẻ phát ngôn cho mình hoặc cần đối thoại khi hỏi đường hay giao lưu đổi chác mua bán. Nhất định là không giao vải cho những kẻ chưa cầm vững kéo, càng không thể dán vào trán vài ba học hàm học vị rồi cấp hàng tỉ hàng tỉ nuôi béo các vị cai đầu dài trong khoa học.

Tóm lại là cứ tin ở nhân dân, để cho họ lựa chọn những kẻ quản lý từng công việc, từng lĩnh vực.

Nhiều người tưởng đã độc quyền lãnh đạo thì đồng thời phải độc quyền quản lý. Nhầm to ! Thực tế trên đời này chưa có một đảng nào dù tư sản hay vô sản có đủ năng lực và đủ người dăng khắp mạng lưới quản lý từ chính phủ trung ương cho tới các làng xã địa phương. Càng không thể có đủ năng lực và người để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội v.v. Liên Xô là một mẫu mực về cố gắng này nhưng đã hoàn toàn thất bại. Chúng ta không thể đi theo vết xe đổ đó. Chúng ta không có đủ số đảng viên có năng lực để quản lý các loại hợp tác xã nông nghiệp cấp cao cũng như cấp thấp. Đơn giản là với một nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật canh tác lạc hậu mà lại tổ chức làm ăn theo kiểu "cha chung không ai khóc", "lắm sãi không ai đóng cửa chùa", không thể có năng suất như ta mong muốn. Cho nên dù có lo lắng chủ nghĩa tư bản sẽ tự phát nảy nở hằng ngày hằng giờ trên từng mảnh đất riêng lẻ của nông dân, chúng ta vẫn phải giao ruộng đất cho từng hộ nông dân, từng chủ trang trại để họ quản lý thay cho các ban chủ nhiệm hợp tác xã và các ban giám đốc nông trường do tổ chức Đảng cắt cử.

Ở công nghiệp cũng thế thôi. Mấy chục năm liền chúng ta chấp nhận hai hình thức xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Không thể có chuyện cá thể hay tư nhân ở đây. Làm ăn dù có giỏi giang hiệu quả như vua Lốp thì cũng phải tìm mọi cách triệt bằng xong (cho đến nay chúng tôi cũng không rõ UBND TP Hà Nội đã trả lại nhà cửa và bồi hoàn thích đáng cho ông vua Lốp này chưa).

Và cho dù chúng ta ghê tởm CNTB và lợi nhuận đến đâu, chúng ta vẫn không dám tiếp tục ôm ấp để bù lỗ cho hàng chục ngàn xí nghiệp quốc doanh. Cho dù về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các đ/c giáo điều tăng cường hù dọa chúng ta, vẽ ra đủ các thứ viễn cảnh đáng sợ, cuối cùng chúng ta vẫn phải tiến hành cổ phần hóa xí nghiệp quốc doanh và dò dẫm từng bước tư nhân hóa xí nghiệp quốc doanh. Bộ Công nghiệp cũng đã thử lên tiếng rao bán hoặc cho thuê xí nghiệp quốc doanh, nhưng chẳng thấy ai mặn mà hưởng ứng. Nên mừng hay nên lo ? Mừng là vẫn còn xí nghiệp quốc doanh để chủ động bổ nhiệm người tin cậy đứng ra quản lý, lo là không biết nếu trưng thu tất cả lương bổng và tài sản của bộ trưởng và tất cả nhân viên trong Bộ, cả lương tổng giám đốc, giám đốc quốc doanh có đủ bù lỗ không ?

Nói thẳng ra, ai giữ lại thì người đó chịu trách nhiệm chứ không thể kêu gọi Nhà nước và Nhân dân cùng đóng góp trong chuyện lỗ lã này.

Nói sơ sơ như thế để thấy rằng không thể mơ hồ về lý luận và tiếp tục đùa giỡn với qui luật. Như thế là Trung ương Đảng cũng như Nhân dân ta đều cùng nhận thấy rằng mình phải thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng của bản thân đất nước mình càng nhanh càng tốt. Trong cơn bão khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông Nam châu Á vừa qua, ta thuộc loại cây thấp nên chịu ảnh hưởng ít nhưng như thế không có nghĩa là có thể tự tin vô lối đến mức bình chân như vại. Cần nhớ rằng lạm phát hay thiểu phát đều tai họa không kém gì nhau. Trong những năm 80 và sang cả đầu thời kỳ 90, chúng ta chống lạm phát có hiệu quả. Do nhiều nguyên nhân nhưng đừng quên một nguyên nhân quan trọng là : lũ "tín dụng" lừa đảo như nước hoa Thanh Hương, Đại Thành, Huỳnh Là .... đã gom gần hết tiền mặt của nhân dân vô tình đã tạo một hệ quả vào việc "chống lạm phát" một cách vô ý thức.

Còn hiện nay lại có tình hình ngược lại, Thủ tướng thấy tình hình giảm phát là nguy hiểm cho nền kinh tế nên kêu gọi và hạ lệnh kích cầu, nhưng mấy ông bộ trưởng Tài chính, Bưu điện, Tổng cục thuế, Ủy ban vật giá chính phủ .... lại ban hành đủ các thứ giá mới, thuế mới trong cùng một thời kỳ nhằm triệt tiêu sức mua của nhân dân.

Đặc biệt việc bán 4.000 tỉ công trái là cách tốt nhất để bảo rằng đừng có mua hàng nữa. Đặc biệt hơn nữa là báo chí ta lại đăng một loạt bài của các nhà nghiên cứu đả kích tâm lý tiêu thụ hàng hóa và khuyến cáo "tiết kiệm".

Tất nhiên, tiết kiệm bao giờ chẳng là quốc sách. Hiện nay, nếu đi nhà hàng mà bảo nhau uống hết két bia này đến kết bia khác, thậm chí còn dội bia lên đầu nhau, hoặc "quan tỉnh" lại cưỡi hàng ngàn con trâu (xe hơi đời mới trị giá tỷ hai) lên vùng cao "thăm nghèo hỏi khổ", hoặc các vị phóng tay duyệt những dự án như "thủy cung Thăng Long", "công viên Thế kỷ", làng văn hóa v.v. thì dứt khoát phải tập trung lũ này lại để tập huấn về bài học Tiết kiệm mà Cụ Hồ đã dạy. Chứ sao lại "dạy dỗ" nhân dân ta phải tiết kiệm. Nhưng cứ giữ chặt tiền tiết kiệm không sắm xe đạp, xe máy, ti vi và không cả uống bia bình thường v.v. thì hỏi sản xuất để làm gì và không bán được hàng thì đẩy mạnh sản xuất làm gì và xí nghiệp sẽ ra sao ? Tiết kiệm vô lối để đuổi các nhà đầu tư nước ngoài về nước và đẩy công nhân ra hè đường chăng ? Ngay nói chuyện lãng phí trong lễ hội hoặc cúng tế, xây từ đường mồ mả .... cũng là do các cán bộ văn hóa và các nhà nghiên cứu văn hóa cổ động mà nên phong trào. Ngay việc cưới hỏi ma chay mà dềnh dang lãng phí cũng là do mấy vị đầu huyện, đầu tỉnh làm gương trước.

Trách dân thế nào được !

Nói chuyện thực tế thì không biết đến bao giờ mới dứt được. Vấn đề là ta phải giải quyết trước hết về nhận thức, lý luận thôi. Có một điều có thể khẳng định được là Đảng chỉ có thể độc quyền lãnh đạo chứ không thể độc quyền quản lý.

Cần giải quyết một nhận thức chứa đựng mâu thuẫn và từ bỏ tính đồng bộ : ta đã không độc quyền quản lý về kinh tế, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực khác, vậy thì tại sao hầu hết cán bộ lý luận của ta lại nói : dứt khoát ta phải độc quyền quản lý tư tưởng, báo chí và xuất bản.

Độc quyền mà đạt hiệu quả tốt trong việc củng cố chế độ và phát triển đất nước thì ta cứ việc tiếp tục độc quyền, chẳng cần phải bàn bạc gì. Nhưng thực tế cho ta thấy điều gì ?

Chúng tôi có dịp nói chuyện với đ/c Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng Cao Xuân Phách :

- Tại sao anh không đề báo của anh là "cơ quan ngôn luận của Đảng bộ TPHCM" mà lại đề là "tiếng nói của nhân dân TPHCM" ?

Anh Cao Xuân Phách vặn lại :

- Thế anh thử đếm xem ở trên báo của chúng tôi có bao nhiêu ý kiến của bạn đọc ?

- Nhưng ý kiến bạn đọc lại do các anh duyệt, quyền đăng hay không lại ở trong tay các anh. Giả thiết bạn đọc tố cáo kẻ tham nhũng mà kẻ ấy lại có quan hệ gia đình họ hàng hoặc bạn bè đồng chí của anh hoặc của bất kỳ một người nào trong tòa soạn, liệu anh có đăng không ?

Đó là chúng tôi chưa kể những kẻ hư hỏng như phóng viên Minh Diện nhận tiền lót tay của bọn tiêu cục thoái hóa, quan liêu dối trá, lừa đảo, tham nhũng rồi viết bài rước chúng lên, lừa dối Nhân dân và Trung ương đến mức mọi người tưởng chúng làm ăn chân chính, có thành tích thực sự nên cứ để chúng mặc sức đục khoét, thậm chí còn nhầm lẫn đến mức thăng chức tăng lương hoặc còn tặng huân chương lao động cho chúng và cấp kinh phí cho chúng mở hội mừng công.

Đấy ! Tên Kiểm ở dệt Nam Định, lũ Tamexco, lũ Tân Trường Sanh, Phạm Nhật Hồng, Lê Minh Xư, Minh Phụng là thế đó. Chẳng lẽ tên Kiểm ở dệt Nam Định làm thất thoát hàng 600 tỉ (trong đó có 20 tỷ là tiền mua "quà cáp biếu xén" các cấp, các phóng viên báo Đảng ở Trung ương về thường trú và các phóng viên báo Đảng địa phương lại không biết gì chăng ? lại không hề sơ múi gì chăng ?

Của đau con xót, đáng lẽ mất 100 triệu, hay nói quá đi là 1.000 triệu đã phải tri hô ầm ĩ cho làng xóm và bà con hàng phố biết chứ, cho cấp dưới cấp trên biết chứ, sao lại để mất đến hàng ngàn tỉ, thậm chí 8.000 tỷ (vụ Epco Minh Phụng) mà các phóng viên cứ im như thóc ? Những chuyện sai trái tai hại này không phải chỉ công an kinh tế có phần trách nhiệm mà giới báo chí của ta cũng phải liên đới chịu trách nhiệm. Giao trách nhiệm cho các anh làm tai, làm mắt, làm miệng của nhân dân mà các anh lại giả đui giả điếc và không giả câm, nói năng viết lách tung hỏa mù làm mờ mịt cả tình hình, các anh có tội với Nhân dân không ? Có tội với Đảng không ? Điều chất vấn này chúng tôi xin dành cho Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và Hội Nhà báo Trung ương trả lời. Chúng tôi chưa thấy ai tự phê bình về sai lầm khuyết điểm này trên báo chí.

Ở đây, chúng tôi không muốn nói đến các Ban thanh tra nữa vì trong bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", dựa trên tình hình thực tế chúng tôi đã kết luận : Các đoàn thanh tra của chúng ta đã bị vô hiệu hóa và trở thành tê liệt. Chúng tôi cũng đề nghị nên giải tán một tổ chức mang tính hình thức là các ban Thanh tra nhân dân. Chúng tôi rất mừng thấy đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng nhất trí với nhận định của chúng tôi. Trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 8 vừa rồi, mọi người được xem truyền hình trực tiếp và nghe rõ ý kiến đ/c Lê Khả Phiêu nói thêm ngoài văn bản, đại ý thanh tra về cơ sở nào cũng được đánh chén và được nhận phong bì, như thế làm sao phát hiện được vấn đề.

Hiện nay, chúng ta có khoảng 650 báo hàng ngày, hàng tuần, nguyệt san, bán nguyệt san, các loại phụ san, tạp chí từ địa phương đến Trung ương. Mới nhìn qua, thật là một lực lượng hùng hậu. Nhưng thử rà soát lại xem có bao nhiêu kẻ vô tích sự hoặc cam tâm làm bồi bút cho bọn tham nhũng ?

Có một cái nếp không tốt và có lẽ người ta quan niệm phải như thế để giữ được tình đoàn kết trong nội bộ giới báo chí - nghĩa là ai sai mặc ai, không báo nào góp ý phê bình báo nào cả. Do đó, ngoài nội dung sai lầm hoặc nhạt nhẽo thì việc dùng từ sai, đặt câu sai, sửa mo-rat cẩu thả thành phổ biến và kéo dài.

Tình hình tăng về số lượng và sút kém dần về chất lượng không phản ánh đúng năng lực thực chất của giới cầm bút ở Việt Nam. Người có năng lực không sử dụng vào việc quản lý, người có gan viết sự thật không có đất dụng võ. Múa bút duyệt bài trong các ban biên tập hiện nay phần lớn là đám "bi ve" không hề có cái gọi là bản lĩnh của một nhà ngôn luận. Ngoài số người thận trọng muốn yên phận giữ ghế, làm việc theo kiểu tắc trách sự vụ, còn lại là những kẻ nghĩ đủ mưu mẹo câu khách kiếm tiền. Lại còn một số kẻ táng tận lương tâm thì hù dọa người, tống tiền các doanh nghiệp hoặc cơ quan "có vấn đề". Còn một ít người viết báo chân chính, giữ vững lương tâm của người cầm bút, thì gặp đủ mọi sức ép từ nhiều phía : cơ quan thì lo ảnh hưởng đến nồi cơm của anh em, những địa chỉ có vấn đề thì tìm cách xua đuổi hoặc hãm hại. Họ mượn chiêu bài bảo vệ cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước mà thực chất là bao che cho bọn cường hào tham nhũng để phê phán những người cầm bút này thiếu tính Đảng, tàn bạo hơn thì ghép cho tội cầm bút "chống Chế độ". Phùng Gia Lộc là một điển hình trong những nạn nhân điển hình của lối truy chụp và hãm hại này.

Đáng thương cho các cháu vừa mới tốt nghiệp các khoa báo chí. Trông gương các đàn anh như thế nên cũng uốn éo ngòi bút như thế nào để tồn tại. Một số bảo nhau trau giồi không phải kỹ năng viết mà là kỹ năng lách.

Chúng tôi ngờ rằng các đ/c ở Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương cũng như các đ/c có trách nhiệm ở Bộ Văn hóa chưa nhận thức hết được sự nguy hiểm cho Chế Độ và Đất Nước do tình trạng xuống cấp về chất lượng viết và nhân cách của một số đông trong giới báo chí.

Vậy, những đồng chí nào chủ trương báo chí quốc doanh phải giữ độc quyền ngôn luận có đủ khả năng biện hộ cho tình hình này không ?

Ở lĩnh vực kinh tế cũng như nhiều lĩnh vực khác, chúng ta đã nhận thức được chơi kiểu một mình một chợ là không thể phát triển được nên ta buộc phải bỏ trò quốc doanh độc quyền. Vậy ở lĩnh vực báo chí và xuất bản có chơi trò độc quyền được không ?

Nếu cho rằng độc quyền độc diễn là tốt thì ta cứ tiếp tục, chẳng ai cấm được ta. Nhưng nếu tiếp tục làm trì trệ Đất nước và làm lâm nguy Chế độ thì chớ tìm cách chạy tội trước Nhân dân và Lịch sử.

Chúng ta nên bỏ cái tâm lý và một nếp nghĩ thiếu tự tin, lúc nào cũng lo sợ những phần tử xấu lợi dụng, địch lợi dụng. Lỡ nó lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền ra báo tư nhân để phá ta thì sao ? Đúng là kiểu thần hồn nát thần tính.

Những đ/c chủ trương độc quyền ngôn luận, độc quyền báo chí quên mất rằng ta đang sống trong thời đại thông tin toàn cầu hóa. Ngăn chặn thông tin trong thời buổi này cũng vô lý như là bảo nhau đừng thở nữa. Lỡ không khí có bụi và vi trùng thì sao ? "Nhân cường tật nhược" mình khỏe thì sợ quái gì vi trùng, thần trí sáng suốt thì sợ quái gì ma quỉ. Vả lại ta có cấm nổi báo chí ngoại quốc viết về ta không ? (trong đó có cả các vị lưu vong mất gốc bán hồn cho quỉ, chỉ rình rập mang lửa về quê hương). Ngay các đài BBC, VOA, RFI. . . cứ ra rả hàng ngày hàng giờ xuyên tạc một cách kiên trì hàng nửa thế kỷ, ta đâu có ngán, dân ta đâu có bị mê hoặc.

Tóm lại, địch phá ta đâu có sợ bằng chính Ta phá Ta. Càng bưng bít thông tin thực tế chỉ càng có lợi cho bè lũ tiêu cực, thoái hóa tham nhũng. Càng bịt mồm bịt miệng nhân dân thì bọn cơ hội càng dễ bề lợi dụng. Và chính kẻ địch lại lợi dụng bọn cơ hội này để phát ngôn thay cho chúng và hướng dẫn dư luận đi chệch hướng.

Đánh phá trực tiếp vào chủ nghĩa Mác Lênin thì hàng thế kỷ nay các vị chống cộng đã từng thử sức rồi và cảm thấy phải sửa chữa và khắc phục tình trạng bất lực của mình.

Cái này sáng lên, cái khác tự nhiên phải mờ đi. Đánh phá kiểu cũ là lỗi thời rồi.

Giới sử học của ta bình chân như vại trước tình hình thiên hạ hô hoán, viết lách nhằm phục hồi triều Nguyễn, thậm chí có những vị học giả, giáo sư còn phụ họa theo biểu dương công nghiệp và chạy tội cho các vua nhà Nguyễn. Hàng loạt cuốn sách, bài báo và các bài tạp chí thi nhau ca tụng các ông vua bà chúa, ca tụng từ luật lệ, thiết chế chính trị, giáo dục, văn hóa xã hội, đạo đức cho đến cả các món ăn, lối sống cung đình, lễ tống táng và mồ mả của vua chúa nhà Nguyễn. Thậm chí có những vị còn trắng trợn bào chữa cho tội "cõng rắn cắn gà nhà" và tội làm mất nước của triều Nguyễn. Thế mới là đổi mới tư duy sử học, thế mới là "thoáng" chứ !

Đành rằng, nếu chúng ta có sự đánh giá nào khắc nghiệt và bất công với triều Nguyễn, chúng ta có trách nhiệm phải điều chỉnh, phải hối lỗi để đảm bảo sự công bằng đối với lịch sử. Nhưng đối với sự thật lịch sử thì tuyệt đối không ai được phép xuyên tạc.

Không thể có chuyện trong thực tế lịch sử và trên sách sử kể cả Quốc sử quán triều Nguyễn đã ghi chép rằng vua Gia Long đã khéo léo xua đuổi các thuyền buôn nước ngoài (có cả thuyền buôn của người Pháp) mà người nghiên cứu khoa học lại dám bịa ra rằng : nhà vua có chiếu chỉ phát triển thương nghiệp và tàu bè nước ngoài ra vào buôn bán tấp nập (tham luận của Nguyễn Cẩm Thúy tại Hội thảo Gia Long). Lại còn ca tụng vua Gia Long có công mở mang kinh tế miền Nam và đã biết làm "cơ chế thị trường" (tham luận của GS Trần Quốc Vượng, của tiến sĩ Lê Hồng Liêm ...). Và còn gợi ý ta nên biết ơn học tập truyền thống "cơ chế thị trường" đó.

Trong khi sử sách ghi chép rằng vua Quang Trung có chỉ dụ cấm quân đội Tây Sơn không được cướp bóc, đốt phá thì sao lại dám viết tham luận bịa ra chuyện quân đội Tây Sơn đốt phá thành Thăng Long, thậm chí còn đốt phá cả thị trấn cổ Hội an (vẫn tham luận của Trần Quốc Vượng).

Trong số 50 tham luận, có nhiều tham luận viết theo những giọng điệu đó nhằm đề cao vua Gia Long một cách vô nguyên tắc, hạ thấp và xúc phạm đến anh hùng Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn. Chúng tôi viết bài phản đối sự xuyên tạc lịch sử đến trao tận tay đ/c Trịnh Gia Ban, đại diện Tạp chí cộng sản ở phía Nam. Đ/c Ban yêu cầu chúng tôi đừng nêu tên các giáo sư, học giả đã nói sai vì "tạp chí của chúng tôi" đã qui định không phê phán các cá nhân một cách cụ thể, chỉ nên nói : "có ý kiến nêu rằng". Như thế là những người xuyên tạc lịch sử thì có quyền viết cụ thể rằng vua Gia Long thế này, vua Quang Trung thế khác. Còn người viết phản đối sự xuyên tạc lịch sử thì lại không được nói động đến một cách cụ thể : Ông Nguyễn Đình Đầu, ông Trần Quốc Vượng, ông Vũ Ngọc Khánh, ông Lê Hồng Liêm .. Tất nhiên, chúng tôi phải mang bài về và gửi đến Báo Nhân Dân - cơ quan ngôn luận của Trung ương ĐCSVN - Báo Nhân dân cũng không đăng. Chúng tôi cũng chẳng ngạc nhiên.

Nhưng đáng ngạc nhiên là khi ngay trên báo Nhân Dân đăng những bài, theo chúng tôi, có những quan điểm sai lầm, chúng tôi viết bài tranh luận gửi đến cũng không đăng. Theo những thông tin mà chúng tôi nắm được thì có những đ/c trong ban biên tập đề nghị nên đăng, nhưng đ/c Hồng Vinh - Tổng biên tập hạ lệnh không đăng. Đáng lẽ, ai đúng ai sai đều phải đăng cả lên để công luận phân xử, phán xét. Như thế là vừa kích thích được tư duy nghiên cứu vừa có dịp thẩm định để uốn nắn những lệch lạc, hướng dư luận đi theo cái đúng có lợi cho khoa học và sự phát triển của đất nước. Cứ cho ăn thuần một món, cho nghe thuần một chiều mà lại còn kêu rằng dân trí chậm phát triển, hỏi lỗi tại ai ? Xin phép hỏi đ/c Trịnh Gia Ban và đ/c Hồng Vinh :

- Các đ/c làm báo cộng sản mà lại gắng giữ sự an toàn cho bản thân nhằm thăng tiến hoặc hạ cánh an toàn, như thế có xứng đáng không ?

- Thử hỏi Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Nguyễn, Nam Quốc Cang và bao nhiêu nhà báo cách mạng khác cũng làm báo theo kiểu các đ/c thì dân tộc này sẽ ra sao ? Mình là người làm báo cách mạng mà lại ngại hy sinh, lúc nào cũng dụt dè sợ hãi, không có gan bảo vệ chân lý, bảo vệ sự thật lịch sử dân tộc, không bênh vực quần chúng bị áp bức đau khổ, không đóng góp vào tiến trình phát triển của đất nước thì có đáng hổ thẹn với các bậc tiên liệt hay không ?

Chúng tôi chưa hỏi đến chất cộng sản trong người các đ/c, hãy nói đến sứ mệnh bình thường của người làm báo thì ngay nhân dân ở các nước tư bản cũng không chấp nhận chứ đừng nói đến nhân dân ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ta.

Vì vụ hội thảo Gia Long không giải quyết dứt điểm nên mới nẩy nòi ra hội thảo Việt Nhật. Sự xâm lược của phát xít Nhật lại biến thành "sự hiện diện của người Nhật". Hai triệu người chết đói năm 45, cả thế giới đều biết, mà chính các sử gia chân chính của Nhật Bản phải viết thành sách để xác nhận và tố cáo tội ác này. Và chính một giáo sư Nhật - giáo sư Furuta Moto - đã hợp tác với giáo sư Văn Tạo bỏ ra mấy năm liền đi điều tra thực địa, khảo sát 314 hồ sơ tội ác để viết thành 1 cuốn sách 732 trang về "Nạn giết hại 2 triệu người Việt Nam, xảy ra ở thế kỷ XX này, đó là một nỗi nhục của nhân loại" (Trích thư tay của giáo sư Furuta Motoo).

Những người nghiên cứu khoa học có lương tâm, có ý thức tôn trọng lịch sử và chân lý thì nghiên cứu và viết như thế đó !

Thế mà ông giáo sư Mạc Đường - lúc bấy giờ là Viện trưởng Viện KHXH tại TPHCM lại định hướng và chỉ đạo cho ông tiến sĩ Đinh Văn Liên - giám đốc Trung tâm Sử học cùng với một số giáo sư, học giả, tổ chức hẳn một hội thảo cấp quốc tế để hóa phép hơn hai triệu đồng bào chết đói thành còn "hơn một triệu" Viện trợ của Nhật cho ngụy quyền Sài Gòn lại biến thành viện trợ nhân đạo cho nhân dân miền Nam Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lại được phù phép thành "cuộc nội chiến".

Chúng tôi đã viết bài phê phán hội thảo Việt Nhật (bài "Không được phép xuyên tạc lịch sử"). Tất nhiên, đ/c Trịnh Gia Ban và đ/c Hồng Vinh cũng không đăng. Đặc biệt là một người được lệnh đăng cũng không đăng. Đó là giáo sư tiến sĩ Trần Trọng Đăng Đàn - Tổng biên tập Tạp chí KHXH của Viện KHXH tại TPHCM. Xin tóm tắt sự việc xảy ra như sau : Ngay trong hội thảo Việt Nhật, dư luận đã xôn xao về sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn, thể hiện cụ thể trên hai tập kỷ yếu phát trước cho các đại biểu. Sau đó, dư luận càng xôn xao bàn tán về sự kiện này. Chúng tôi viết bài "Không được phép xuyên tạc lịch sử !" với nội dung chủ yếu là phân tích, lên án sự xuyên tạc và yêu cầu Quốc hội chất vấn đại biểu Nguyễn Duy Quí về việc dung túng cho những người tổ chức hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật.

Khi nghe chúng tôi báo cáo, đ/c Huỳnh Vân bấy giờ là Bí thư Đảng ủy Viện yêu cầu chúng tôi hãy khoan gửi cho Quốc hội để đ/c thỉnh thị Trung tâm KHXH và NVQG ở Hà Nội đã. Đ/c Trần Trọng Đăng Đàn sau khi xem bài viết cũng động viên chúng tôi :

- Bài viết phê phán này đúng lắm. Lần này dứt khoát tạp chí chúng tôi phải đăng. Anh thông cảm, bài phê bình hội thảo Gia Long tôi không đăng vì chưa được bật đèn xanh. Kỳ này ông Quí đã bật đèn xanh thì không ngại gì cả. Ông Quí còn yêu cầu đăng cả bài tự kiểm điểm của ông Mạc Đường và của Đinh Văn Liên.

Chúng tôi cũng như mọi người trong Viện đều không tránh khỏi ngạc nhiên trước thái độ khẩn trương sốt sắng của đ/c Nguyễn Duy Quí. Sau khi nhận được liên tiếp hai bản fax của đ/c bí thư Huỳnh Vân và đ/c Tổng biên tập Trần Trọng Đăng Đàn, đ/c Quí liền cử ngay đ/c Đỗ Hoài Nam - phó giám đốc TTKHXH và NVQG bay vào họp gấp những người đã tham gia tổ chức hội thảo Việt Nhật và Ban biên tập tạp chí để truyền đạt chỉ thị của đ/c Nguyễn Duy Quí. Mọi người xì xào bàn tán : thế mới xứng đáng là ủy viên trung ương, là đại biểu quốc hội chứ ! Có người còn khen đ/c Quí : ông Quí thấy được tầm quan trọng của vấn đề nên có cử ông Hồ Ngọc Hải vào đâu mà lần này cử hẳn một ủy viên trung ương ! Sau khi lên chế bản bài báo "Không được phép xuyên tạc lịch sử !", sau khoảng gần 10 buổi làm việc với ông Đàn và ông Huỳnh Vân, theo tinh thần công văn chỉ đạo của Trung tâm KHXH+NVQG do ông Nguyễn Duy Quí ký, ông Đàn nói :

- Chưa đăng ngay bài này được vì còn chờ hai bài kiểm điểm của ông Đường và ông Liên.

Đùng một cái, ông Đàn cho biết bài này không thể đăng được.

Ngay tối hôm đó, chúng tôi gọi điện thoại đường dài ra Hà Nội tới nhà riêng đ/c Nguyễn Duy Quí hỏi lý do, đ/c Quí trả lời chúng tôi : để đ/c hỏi lại anh Đàn chứ tôi không ra lệnh thôi đăng bài của anh.

Chúng tôi gặp ông Huỳnh Vân và hỏi ông :

- Vừa rồi anh Mạc Đường chiêu đãi anh với anh Đàn ở nhà hàng Phú Thọ, bàn bạc với nhau ra sao mà ông Đàn lại bảo không đăng bài Việt Nhật nữa ?

Ông Huỳnh Vân trả lời ngay :

- Ông Đường có mời nhưng tôi không đi. Còn việc tại sao không đăng tôi cũng không rõ.

Sau khi họp hội thảo quốc tế Việt Nam học ở Hà Nội về, chúng tôi thông báo cho ông Đàn biết :

- Vừa qua, chúng tôi đã gặp anh Quí và nói với anh Quí rằng : như thế là anh Đàn đã cơ hội thỏa hiệp vô nguyên tắc, chống lại lệnh của anh. Đó là điều nguy hiểm nhưng không nguy hiểm bằng anh Đàn đã chống lại chúng tôi. Chúng tôi lại nói thêm với anh Đàn (có cả mọi người trong phòng tạp chí nghe rõ) :

- Đăng hay không là quyền của anh, nhưng chúng tôi cũng giữ cái quyền công khai thông báo cho dư luận cả nước biết về thái độ cơ hội thỏa hiệp của anh.

Do mắc bận viết bài "Chỉnh đốn ..." do đ/c Triết đặt hàng nên chúng tôi tạm lơ vấn đề Việt Nhật.

Nhưng chúng tôi thật sự kinh hoàng khi nghe tin họ rục rịch tổ chức Hội thảo Việt Nhật lần thứ hai với nhiều đại biểu quốc tế hơn.

Chúng tôi tự hỏi : chẳng lẽ phía Nhật đã thay đổi quan điểm lập trường, tài trợ cho hội thảo Việt Nhật lần thứ hai là nhằm ca tụng VN và giúp đỡ cho VN phát triển. Chúng tôi tự rút ra kết luận : trên đời này không ai cho không ai cái gì cả, thiên hạ bỏ tiền ra tài trợ cho các hội thảo khoa học không phải làm chuyện từ thiện mà không thu được lợi gì. Nhiều nhà khoa học tự nhiên của chúng ta đã hớ trong việc này, vô tình hoặc hữu ý trở thành người cung cấp các thông số, các dữ kiện kinh tế, tự nhiên, môi trường (Thậm chí những tham số thuộc bí mật quốc gia) với giá rẻ mạt. Còn nhiều nhà khoa học xã hội của ta làm việc kiểu hội thảo Việt-Nhật, mọi người đã thấy rõ. Điều nguy hiểm là hội thảo kiểu này, một mặt người ta phản khoa học,trắn trợn xuyên tạc lịch sử, mặt khác còn đâm lưỡi dao vào lưng các nhà khoa học chân chính Nhật Bản và làm trò cười cho giới khoa học quốc tế.

Điều nguy hiểm sâu xa đáng sợ hơn là nếu ở bộ phận biên soạn sách giáo khoa lịch sử, của Bộ giáo dục tưởng đây là những phát hiện mới được các nhà khoa học quốc gia và quốc tế công nhận rồi cập nhật vào sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học thì hậu quả di họa đến bao đời ?

Vì ở ta làm gì đã có thông lệ như ở Nhật để có thể kiện Bộ Giáo dục yêu cầu rút những kiến thức sai lầm ra và thay kiến thức chính xác vào. Và ngay ở Nhật một vị giáo sư đáng kính cũng đã phải kiên trì kiện Bộ Giáo dục Nhật 20 năm liên tục mới đưa được cụm từ "phát xít Nhật" và "tội ác xâm lược" đối với nhân dân châu Á vào sách giáo khoa.

Vì người ta không giải quyết dứt điểm : phê phán đúng mức và xử lý kỷ luật thích đáng đối với những người có trách nhiệm trong việc tổ chức hai hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật nên họ lại âm thầm tiến hành hội thảo Việt Nhật lần thứ hai. Lần này, họ tỏ ra khôn ngoan bằng cách lôi kéo thêm những người như : ông Trần Trọng Đăng Đàn, ông Nguyễn Công Bình vào Ban tổ chức hội thảo, lại lôi kéo thêm một số giáo sư chưa bao giờ nghiên cứu về quan hệ Việt Nhật viết bài như giáo sư Nguyễn Văn Hạnh. Đúng là họ làm khoa học theo kiểu tư duy và tác phong tiểu nông, cứ kéo càng đông càng tốt. Chúng tôi có hỏi giáo sư Nguyễn Văn Hạnh :

- Tại sao anh đã thấy hội thảo Việt Nhật lần thứ nhất như thế mà anh còn tham gia viết bài cho hội thảo này ?

- Tôi cũng viết cho vui.

Đấy ! Hiện nay chúng ta đang ở trong một tình trạng tổ chức hội thảo tràn lan la liệt. Họ lôi kéo mời mọc bằng được những giáo sư này những tiến sĩ nọ để cho đông vui, cho oai. Còn các giáo sư tiến sĩ nhà ta dù chẳng thuộc lĩnh vực mình nghiên cứu cũng nhận lời viết bài tham gia. Người thì tham gia cho vui, kẻ thì vì một vài cái phong bì, kẻ thì cũng chẳng cần gì cả ngoài việc hy vọng được giới thiệu trân trọng, được nghe vỗ tay và thiên hạ nhớ được học hàm học vị của mình. Hầu hết các tham luận của giới KHXH hiện nay rơi vào tình trạng sao chép, lý luận kinh viện. Rất hiếm tham luận phát hiện được vấn đề, giải quyết những vấn đề bức xúc của đời sống theo một định hướng đúng. Chúng tôi vì ý thức trách nhiệm nên viết thư báo cáo với địa phương và trung ương, cả hai hội thảo kể trên đều xuyên tạc lịch sử và xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của dân tộc. Nếu các đ/c cho phép họ tiếp tục tổ chức, các đ/c phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi cũng thẳng thắn phê phán ý thức tổ chức kém cỏi, thái độ cơ hội của ông Trần Trọng Đăng Đàn và thái độ làm lơ vô trách nhiệm của ông Nguyễn Duy Quí.

Trong bản thư kiến nghị, chúng tôi cũng đã nêu rõ nguyên tắc : hội thảo khoa học phải nhằm phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Chúng ta mở cửa giao lưu kết bạn với tất cả các nước, sẵn sàng tiếp nhận mọi nguồn đầu tư, tài trợ của bè bạn quốc tế nhưng không được quên phương châm tự lực cánh sinh, không được bán hồn cho quỉ. Tuyệt đối không được để các nguồn tài trợ chi phối chủ quyền đất nước, chân lý lịch sử và lương tâm chúng ta.

Chúng tôi hoan nghênh sự đồng tình của lãnh đạo thành phố và mệnh lệnh kịp thời của Trung ương đình chỉ cuộc hội thảo Việt Nhật lần thứ hai.

Có một số người thiếu hiểu biết hoặc bị tổn hại đến quyền lợi riêng lại chê trách chúng tôi là cứng rắn, bảo thủ, cản trở khoa học phát triển. Chê hay khen là quyền của họ. Còn phê phán sai lầm và đề ra hướng sửa chữa là trách nhiệm của chúng tôi cũng như tất cả những người có lương tri muốn đối xử tử tế với lịch sử, với chân lý và dân tộc.

Gần đây, chúng tôi được tin, phía Nhật đã gửi công văn yêu cầu Viện KHXH tại TPHCM hoàn trả 17.000 USD (mười bảy ngàn đô la Mỹ). Dư luận trong Viện, ngoài Viện xôn xao bàn tán về chuyện ông Mạc Đường - cựu viện trưởng - được chia 16 triệu, ông Nguyễn Thế Nghĩa - tân viện trưởng - được chia 8 triệu, còn ông Đinh Văn Liên và đồng bọn chia chác nhau bao nhiêu thì hiện nay chưa rõ.

Chuyện ăn chia của họ hoặc lót tay cấp dưới cấp trên thực hư như thế nào, chúng tôi không cần quan tâm. Chỉ biết rằng liệu bảo nhau gom lại cho đủ mà trả lại đủ cho người ta. Đừng có để nhục đến quốc thể. Và cấm không được phép lấy tiền ở quĩ Viện cũng như bất cứ quĩ két nào của nhà nước, không được bắt nhân dân trả nợ đậy cho họ.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm về vấn đề hội thảo trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Trước hết xin được phép nhắc lại : đổi mới là nhu cầu của dân tộc và thời đại. Không ai được quyền bàn lùi. Cũng không được đổi mới vô nguyên tắc. Cái đúng, cái tốt sao lại có thể bỏ đi được, sao lại có thể thay thế được với lý do vì nó đã cũ. Người ta chỉ có thể bỏ cái cũ nếu nó hủ bại lỗi thời. Nực cười cho những người ngụy biện này trong khi tìm cách phỉ báng, hủy bỏ cái ĐÚNG, cái TỐT lại lục ra cái HỦ BẠI, cái LỖI THỜI rồi tô son trát phấn cho rằng làm như thế mới là "nối tiếp truyền thống", giữ gìn được bản sắc dân tộc.

Đổi mới kiểu này thử hỏi sẽ đưa nhau đi đến đâu ? đến được định hướng nào ?

Lại nói đến cái MỚI. Mới mà đúng, mà tốt, mà tiến bộ không theo sao được ? Nhưng thử hỏi MỚI mà lố lăng, lai căng, mất gốc thì có theo được không ?

Chúng tôi nói đến hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật cũng là nhằm mục đích để tất cả chúng ta - giới lãnh đạo, giới quản lý, giới nghiên cứu và giới báo chí - xem xét lại toàn bộ vấn đề nằm gọn trong bốn chữ TỰ DO NGÔN LUẬN đã được ghi ngay trong Hiến pháp năm 1946. Sau Cách Mạng Tháng Tám, căn cứ vào Hiến pháp, Bác Hồ cũng đã ký một sắc lệnh cho phép ra báo tư nhân. Tất nhiên, trong thời gian kháng chiến chúng ta không áp dụng nữa. Vì tất cả cho "trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" và sau này là "tất cả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi". Không ai có quyền nói ngang bàn ngang làm ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến. Trong 30 năm kháng chiến, chúng ta chỉ có báo Nhà nước, không có báo tư nhân. Áp dụng luật thời chiến như thế là hoàn toàn đúng.

Nhưng còn thời bình, khi chúng ta đi vào làm kinh tế, làm khoa học kỹ thuật, có nên giữ nguyên vẹn tình hình như thế không ? Có nhiều người vẫn nghĩ rằng không thể tự do báo chí và xuất bản theo kiểu tư sản được. Ngay bà luật sư Ngô Bá Thành (đại biểu quốc hội) và một số vị trí thức đã từng hoạt động trong thời Mỹ ngụy tạm chiếm cũng nói rằng "không nên" vì họ cho rằng tự do báo chí của ngụy quyền cũng chỉ là hình thức, không có thực chất. Do đó ta không thể cho phép ra báo tư nhân hoặc nhà xuất bản tư nhân để tránh bị địch lợi dụng. Cảnh giác như thế là đúng.

Nhưng đã đến thời kỳ tất cả chúng ta phải bình tâm xem xét lại tình hình thực tế của đất nước để nếu cần thì điều chỉnh lại hiến pháp, chủ trương chính sách và mọi thứ luật lệ, sắc lệnh của chúng ta.

Phải thẳng thắn mà nói rằng đã nhiều năm ta duy trì một nếp nghĩ không đúng và không tốt mà ta thường gọi là lối suy nghĩ giáo điều, duy ý chí, bao cấp v.v. nghĩa là có những cái chỉ đúng trong một thời nhưng chúng ta lại cố giữ lại và áp dụng cho muôn thuở. Không ai dám nghĩ khác và cũng không cho ai nghĩ khác, nói khác. Nếp nghĩ này gây ra sự trì trệ. Cuối cùng, chúng ta vẫn phải thay đổi vì nếu trì trệ mãi thì chết. Nhưng cứ gần chết mới chịu thay đổi. Và chúng tôi cũng đã từng phê phán cái lối nói xu nịnh của giới báo chí và giới lý luận của ta : Đúng thì khen ngợi là sáng suốt đã đành. Sai cũng khen ngợi. Rồi khi người ta sửa sai đáng lẽ phải phân tích cho ra lý ra lẽ để làm bài học kinh nghiệm lịch sử, nhưng không làm thế, lúc nào cũng vỗ tay khen ngợi, ca tụng.

Đảng thì dứt khoát là sáng suốt rồi. Nhưng từng Ban chấp hành, từng ủy viên trung ương thì cũng là người thường cả thôi, có lúc đúng lúc sai, lúc sáng suốt lúc kém sáng suốt, phải chân thành mà khen ngợi hay phê phán cho khách quan công bằng, giúp đỡ nhau tiến bộ. Cớ gì cứ làm ầm ĩ lên khiến cho những người lãnh đạo hoặc quản lý bối rối không còn biết mình đúng sai ra làm sao.

Khi biết ra được thì thường là quá muộn, xảy ra những tổn thất nặng nề không đáng có.

Không nói ra ai cũng biết rằng những lực lượng chống lại CHXH hay nói khác đi chống lại cái tiến bộ là tồn tại thường trực trên hành tinh này và chúng cũng chưa vội biến mất trong một vài thế kỷ tới. Việc gì phải sợ, việc gì phải thần hồn nát thần tính để tự mình lại làm tổn hại nguyên khí, thần khí của mình. Chẳng khác gì các vị bác sĩ non gan lúc nào cũng nghĩ đến vi trùng với vi rút rồi bản thân mình cũng như vợ con không còn dám ăn uống làm việc vui chơi một cách bình thường.

Đáng lẽ những đài báo thiếu thiện chí của nước ngoài xuyên tạc tình hình thực tế của ta, ta nên tổ chức những bộ phận nghiên cứu phân tích và luận chiến đàng hoàng. Đó là cách giải độc tốt nhất đối với những bộ phận bị nhiễm độc. Cần gì phải bưng tai bịt mắt, giấu giấu giếm giếm giữ thái độ A.Q. lỗi thời : "Mày chửi ông cũng như mày chửi bố mày". Cần nhớ rằng chúng ta đang sống trong một thời đại thông tin với đủ các phương tiện hiện đại, đâu phải như cái thời chơi ga-len bán dẫn ngày nào.

Thử hỏi mấy chục năm qua họ thường xuyên phản tuyên truyền, dùng đủ luận điệu và thủ đoạn xuyên tạc chống phá ta thì đã làm gì nổi ta chưa ?

Xin thưa rằng : chống phá ta mà đạt hiệu quả lại chính là các vị ở trong chăn của chúng ta đó.

Đáng lẽ khi Dân đã kêu, dư luận đã bàn tán về những kẻ cường hào, tham nhũng, quan liêu thì ta phải nghiên cứu xem nguyên nhân tại đâu và có đối sách kịp thời. Nhưng ta còn mải đi điều tra, chụp mũ cho những người phát hiện tình hình rồi gọi ngay là những phần tử "lợi dụng tự do, dân chủ", "chống lãnh đạo", "chống chế độ". Vậy, người tố cáo bọn tham nhũng và bọn tham nhũng : ai là kẻ chống Chế độ ?

Chính vì một thời gian dài chúng ta chỉ lo trù dập những cán bộ trung thực và làm tình làm tội những người dân lương thiện, đồng thời "buông lỏng" hay nói thẳng ra rằng dung túng, bao che cho bọn tham nhũng nên mới trở thành quốc nạn (ngay vừa qua, tại Tòa án nhân dân TPHCM phúc thẩm vụ Tân Trường Sanh mà ông chánh án còn cắt lời bị cáo khi họ khai ra tội lỗi của ông Phan Văn Dĩnh và đoàn thanh tra của Tổng cục Hải quan) thì đủ hiểu cái nếp bao che nó ăn sâu vào máu sâu sắc nhường nào.

Tóm lại, cứ để cho Dân nói, Dân kiểm soát mọi việc và kịp thời tố giác công khai thì tất cả sẽ trở nên tốt đẹp.

- Anh tố cáo sai phải không ?

- Anh xuyên tạc vu cáo phải không ?

- Anh bôi nhọ chế độ phải không ?

- Anh đả kích cán bộ, đả kích lãnh tụ phải không ?

Không cần biết anh là ai (dân thường hay phản động, gián điệp), xin mời anh ra tòa.

"Xuyên tạc lịch sử" là một tội danh hẳn hoi được ghi trong điều 22 của Bộ luật Báo chí và xuất bản, thế mà các ông Hồng Vinh, Trịnh Gia Ban, Trầ n Trọng Đăng Đàn v.v. lại xúm vào bênh vực chúng, thử hỏi các ông là loại người nào ?

Viết đến đây, chúng tôi lại thấy cần phải kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn thiếu tướng Tô Ký. Hồi anh Ba Tô Ký còn sống và đang giữ chức chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố, đọc xong bài phê bình hội thảo Gia Long, anh đã nói ngay với đ/c Trần Viết Tá - Tổng biên tập báo Cựu chiến binh thành phố :

- Tôi không quen biết tác giả bài này, nhưng đây là một bài viết tốt có quan điểm đúng, anh cứ cho đăng rồi ta gặp tác giả sau.

Khi nhận được báo biếu và tiền nhuận bút, chúng tôi ngạc nhiên liền hỏi số điện thoại và nói chuyện với Thiếu tướng Tô Ký :

- Thưa anh, chúng tôi không gửi bài đến tòa báo mà anh lại ra lệnh cho đăng. Đó là một việc làm sai nguyên tắc, nhưng các anh đã sai nguyên tắc một cách rất đáng yêu. Nếu ai cũng "sai" được như các anh thì tình hình đỡ quá. Xin cảm ơn các anh.

Đấy, những người cách mạng và cộng sản thứ thiệt đều nhạy cảm với chân lý khoa học và có ý thức bảo vệ lịch sử, bảo vệ dân tộc như thế đó. Đúng là cái máu Vân Tiên, Tử Trực của bà con Nam Bộ. Máu "nghĩa sĩ Cần Giuộc", Nam Kỳ khởi nghĩa, Nam Bộ kháng chiến cũng là cùng một thứ máu này đây.

Như thế là đăng hay không đăng, đăng cái gì hay không đăng cái gì, thật là một tình trạng hết sức tùy tiện. Tình hình xuất bản cũng tương tự.

Ở TPHCM, tháng 10 vừa qua, xảy ra một vụ án hiếm có : tác giả kiện nhà xuất bản. Giám đốc NXB là ông Đinh Quang Nhã, một nhà văn Nam Bộ nổi tiếng. Tác giả đi thưa kiện là ông Lương Vĩnh Kim, luật sư, con nhà liệt sĩ, dân tập kết đã được miền Bắc XHCN nuôi dưỡng đào tạo. Trước khi đến NXB Văn Nghệ để ký hợp đồng liên kết xuất bản, ông Kim đã đưa tác phẩm của mình đến hai nhà xuất bản - NXB Cà Mau và NXB Trẻ. NXB nào cũng đưa giấy phép rồi lại tìm cách rút lại. Đến NXB Văn Nghệ, ông Kim mới được ông Nhã giao giấy phép cho in. Sách đang in thì ông Nhã đòi lại giấy phép. Ông Kim không trả lại giấy phép và cứ đưa sách ra thị trường. Thị trường tiếp nhận, sách bán chạy, ông lại in tiếp. Ông Nhã liền ký quyết định thu hồi sách của ông Kim. Sở văn hóa thông tin cũng phối hợp với NXB Văn Nghệ ra công văn nội bộ yêu cầu các cơ sở phát hành quốc doanh không nhận phát hành sách của ông Kim. Sau khi nhận đơn kiện của ông Kim, Tòa án dân sự TPHCM hoãn đi hoãn lại khoảng 4 lần mới mang ra xét xử. Tình tiết vụ án thì có nhiều nhưng có hai vấn đề mà những người dự phiên tòa và dư luận quan tâm là :

1. Ông giám đốc Đinh Quang Nhã có thẩm quyền ký quyết định thu hồi sách hay không ?

2. Giấy phép xuất bản cho in 1000 cuốn, ông Kim có quyền in thêm không ?

Tất nhiên, dù biện bạch kiểu nào thì việc ông Đinh Quang Nhã ký quyết định thu hồi sách vẫn là sai pháp luật. Luật báo chí và xuất bản đã ghi rõ thẩm quyền này thuộc ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa hoặc ông Chủ tịch UBND thành phố. Còn ông Kim thấy sách của mình bán chạy, muốn in thêm thì phải xin phép, như thế cũng là sai pháp luật.

Nhưng Tòa sẽ kết án và phạt ông Nhã hay ông Kim như thế nào, điều đó chúng tôi không quan tâm nhiều lắm. Vấn đề chủ yếu mà chúng tôi muốn nói đến là có nên để cho các NXB cản trở việc các tác giả chân chính đưa sách của mình ra thị trường hay không ? Luật xuất bản ghi rõ nước ta không có chế độ kiểm duyệt nhưng thực tế một vị sử gia kiêm cách mạng lão thành đã nhận xét : hiện giờ ta còn kiểm duyệt khắc nghiệt hơn thời Pháp thuộc.

Chúng tôi thấy vừa khắc nghiệt vừa chẳng khắc nghiệt gì cả. Nếu kiểm duyệt khắc nghiệt sao vài chục năm qua, sách vụ án, tình dục, bạo lực, sách cổ động quảng cáo cho vương triều Nguyễn, cổ động cho Nho giáo, hương ước, bói toán, dịch số ... và ngay hiện nay thì sách Tam tông miếu, tử vi ... cứ in và phát hành tơi tới. Chưa kể các vụ băng đĩa in lậu và bán công khai trên đường phố.

Còn một cuốn tiểu thuyết hay một tập thơ phải viết dăm ba năm mới xong, một tập sách nghiên cứu phải viết hàng chục năm mới xong, đưa đến cho các NXB, vị nào cũng lắc đầu : sách tốt, nhưng phải cái kén khách khó bán lắm ! Họ chỉ chấp nhận loại sách tốt nhưng với điều kiện tác giả nộp tiền "quản lý phí" cho họ (nói nôm na là mua giấy phép và trả công biên tập cho họ, tiền nộp tỷ lệ nghịch với mức độ khắc nghiệt), và tác giả phải tự bỏ tiền túi ra mà lo liệu từ A đến Z.

Cái hay là sách xấu ra đời tràn lan nhưng chưa một vị giám đốc xuất bản, một vị giám đốc Sở Văn hóa Thông tin hoặc Cục trưởng, Vụ trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Văn hóa nào bị đưa ra tòa.

Sách làng nhàng nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt bao giờ chẳng chiếm số đông và cũng chẳng cần ai chịu trách nhiệm về nó.

Chỉ thương cho số phận những cuốn sách tốt và các tác giả của nó long đong lận đận trong cuộc đời. Họ chỉ còn biết nuôi hy vọng ở hậu thế.

Một câu hỏi được đặt ra : chúng ta có đặt quyết tâm tha lôi tình trạng này sang thế kỷ mới hay không ?

Hẳn các vị đang hưởng đặc quyền đặc lợi trong lĩnh vực báo chí và xuất bản sẽ đưa ra đủ thứ lý lẽ lỗi thời và ngụy biện đủ kiểu để chứng minh rằng phải giữ nguyên trạng độc quyền báo chí và xuất bản mới có thể bảo vệ được chế độ và định hướng XHCN.

Vâng, nếu quả các vị đúng và các vị tiếp tục thắng thế thì chúng tôi đành nhường quyền cho lớp con cháu đến sau phân xử ?

Chỉ biết rằng báo chí và xuất bản chơi kiểu vừa qua là kém hiệu quả chưa kể có những trường hợp còn gây ra tai hoạ. Cụ thể là nếu báo chí ta từ trung ương đến địa phương làm ăn tử tế , xử lý thông tin kịp thời, thảo luận vấn đề cho ra môn ra khoai và hiến kế cho trung ương đầy đủ thì đâu đến nỗi có những vụ như vụ Thái Bình gây kinh động dư luận toàn quốc, làm gì có những vụ tham nhũng khủng khiếp như dệt Nam Định, rừng Tánh Linh, Tamexco, Tân Trường Sanh, Eỉpco- Minh Phụng,.. Làm gì có các vụ hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật. Và thử hỏi còn biết bao vụ việc nữa ta chưa được biết.

Thế mới biết, khi báo chí là phương tiện thông tin đã biến thành phương tiện bưng bít và cản trở thông tin thì nguy hại biết chừng nào. Còn nhìn ra thế giới chẳng lẽ hằng trăm nước họ cho tự do báo chí và xuất bản, chế độ của họ đều sụp đổ cả chăng ?

Dù có nhiều người không hài lòng, chúng tôi cũng xin phép được nói thẳng một sự thật là tự do báo chí theo kiểu của ta hiện nay thực ra chỉ là trao quyền tự do cho những kẻ cơ hội tham lam và dối trá. Trong tình hình tự do như thế này, những người cầm bút chân chính bị bịt miệng, bó tay, không thể thực thi sứ mệnh của mình : cầm bút như cầm một thứ vũ khí để bảo vệ Nhân Dân, bảo vệ Cách Mạng và Công Lý. Người cầm bút nào quên sứ mệnh cao cả, thiêng liêng này, nên đọc lại truyện ngắn "Bút máu" của nhà văn Vũ Hạnh. Nỗi lo lắng của chúng tôi là nếu không chỉnh đốn thực sự tình hình báo chí và xuất bản hiện nay thì thế hệ cầm bút trẻ kế cận sẽ không sao tránh khỏi bị ô nhiễm, học tập các đàn anh, đàn chị cơ hội mà trở thành hư hỏng. Cũng nên nói thẳng với các em, cái cháu rằng : nếu chỉ đặt mục đích cuộc đời một cách bình thường là lo kiếm cơm và làm giàu thì chớ lựa chọn nghề cầm bút. Cuộc đời, dù chấp nhận bao cấp hay cơ chế thị trường tác oai tác quái vẫn có những nghề cực kỳ cao quí, đòi hỏi nhiều kiên trì, nhẫn nại và hy sinh. Nghề giáo, nghề y, nghề luật, nghề văn, nghề nghiên cứu ... là những nghề như thế. Đặc biệt nghề cầm bút, dù anh viết báo, viết văn hay viết nghiên cứu cũng phải vì chân lý, công lý và sự phát triển của dân tộc mà viết.

Mới nghe qua thì có vẻ như lý thuyết cao xa, quan trọng hóa vấn đề, nhưng nếu không hiểu đúng như thế thì người ta lý giải sao được tình cảm quí trọng của Nhân Dân dành cho những người cầm bút. Quyền gì đâu, chức gì đâu mà lại được trọng thị một cách thật đặc biệt. Chỉ cần nhắc đến tên những người đã từng xông pha nơi trường văn trận bút như Tản Đà, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thị Minh Khai, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Hải Triều v.v. là mọi thế hệ đều cảm thấy ấm lòng, tin yêu thêm cuộc đời và vững lòng tiến bước.

Thử hỏi nếu những người cầm bút Việt Nam không kế thừa xứng đáng những ngọn bút Chu Văn An, Lê Cảnh Tuân, Ngô Thì Nhậm, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Trường Tộ, Phan Đình Phùng, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa, Học Lạc v.v. thì giá trị của họ sẽ ra sao ? Đất nước này sẽ ra sao ?

Không thể viết mơ hồ như nhà văn Hoàng Lại Giang : "Phan Thanh Giản nghĩ rằng : Dân ta còn thì nước ta còn" (Phan Thanh Giản - nỗi đau trăm năm). Cũng chẳng khác, ông Phạm Quỳnh từng hô hoán : "Truyện Kiều còn - tiếng ta còn, tiếng ta còn - nước ta còn".

Vấn đề là còn như thế nào chứ ?

Còn trong cảnh rạng rỡ sạch bóng quân thù và làm người tự do, hay còn trong cảnh đất nước đầy vết giày đinh quân xâm lược và làm thân trâu ngựa ?

Nếu quan niệm còn theo kiểu các ông Phan Thanh Giản và Phạm Quỳnh thì hóa ra các ông Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Trung, Nguyễn Thông, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học v.v. và tất cả những người đã dẫn dắt nhân dân vùng dậy chống ngoại bang xâm lược đều là kém thức thời, ngu tối, dở hơi, hiếu chiến cả hay sao ? Phải công bằng mà đánh giá rằng anh Hoàng Lại Giang là một ngòi bút tài năng và đã viết được một số tác phẩm tốt, nhưng chúng tôi không hiểu vì sao khi viết về Phan Thanh Giản anh lại nhầm lẫn nghiêm trọng đến thế ! Viết tiểu thuyết lịch sử mà anh hư cấu một cách vô nguyên tắc. Anh lại cho nhân vật Phan Thanh Giản của anh đọc Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, ngẫm nghĩ về thơ Nguyễn Trãi rồi trăn trở suy tư hết hồi này đến hồi khác về DẤN, về NƯỚC; rồi nhân vật của anh lý sự về địch mạnh ta yếu nên cần phải ký nhượng ba tỉnh Nam Kỳ rồi bị kẻ địch đánh lừa mà mất nốt ba tỉnh miền Tây còn lại; rồi nhịn ăn 15 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử. Rồi anh lại hư cấu thêm một nhân vật là Phan Dĩ Thử, một người gần như tâm huyết tri kỷ của Phan Thanh Giản, cảm phục quá, thương cảm quá, cũng uống thuốc độc tự tử theo. Và thế là tác phẩm kết thúc. Tư tưởng chủ đề gần như được đúc kết trong câu : Lá cờ ba sắc không thể phấp phới ở nơi mà Phan Thanh Giản và Phan Dĩ Thử còn sống.

Anh Hoàng Lại Giang thử hình dung xem nếu đồng bào Nam Bộ hay nói rộng ra là đồng bào cả nước ta lại suy nghĩ, sống và hành động theo kiểu Phan Thanh Giản thì đất nước Việt mình sẽ ra sao ? Và nhà văn Hoàng Lại Giang thử nằm mơ gặp các cụ Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Trị rồi thuật lại cho bạn đọc chúng tôi xem các cụ phán bảo ra sao ?

Thấy tác phẩm của anh bán chạy, tái bản đi, tái bản lại mấy lần, chúng tôi cũng mừng cho chuyện thu nhập của anh nhưng quả thật là lo lắng nhiều hơn.

Những người hiện được cử đi giao lưu hợp tác liên doanh, liên kết mà mang cái tâm thế Phan Thanh Giản thì nguy hiểm biết chừng nào ! Họ mạnh về vốn, về kỹ thuật và công nghệ, ta yếu đủ thứ, phải tỏ ra biết người, biết mình chứ. Thế là bảo nhau thức thời thỏa hiệp vô nguyên tắc.

Họ có biết đâu rằng khi cần thỏa hiệp thì Cụ Hồ vẫn thỏa hiệp, nhưng không bao giờ Cụ bỏ nguyên tắc. Thỏa hiệp hay nhân nhượng mà vi phạm đến chủ quyền đất nước là không thể chấp nhận được.

Vậy, "nỗi đau trăm năm" là thế nào ? Đó là nỗi đau của một người, một nhà hay là nỗi đau của cả dân tộc ? Kỹ thuật viết trong tác phẩm này là khá cao nhưng hình như càng cao tác phẩm lại càng hỏng.

Chúng tôi cũng chân thành chia buồn với nhiề