Đối Thoại                                  Website: Doi-Thoai.com                                     Email: toasoandoithoai@yahoo.com


Đối Thoại Năm 2000

Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân

DÂN CHỦ : VẤN ĐỀ CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI (d)

Chúng ta phải tỉnh táo mà tránh những vết xe đổ của Liên Xô và Đông Ấu.

Ông Lê Hồng Liêm và ông Trần Văn Tạo không hiểu rằng đâu có phải cứ đàn áp Nhân văn giai phẩm, đàn áp những người văn nghệ sĩ chân chính, những trí thức tâm huyết mà xã hội ta phát triển được ?

Chúng tôi phải thẳng thắn chỉ ra rằng việc các ông muốn đàn áp những tác phẩm tốt như tiểu thuyết "Cơ hội của chúa" và tác giả của nó là hết sức sai lầm. Đó là một nếp nghĩ "ngựa quen đường cũ" rất lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với đường lối hiện đại hóa của Đảng. Và cũng không nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy của Lênin trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật cũng như trong lĩnh vực khoa học : phải biết tôn trọng ý kiến cá nhân.

Các ông thử nghĩ xem, một đất nước nếu không ai buồn nghĩ, buồn nói gì nữa, chỉ còn biết nghĩ theo nói theo nhau, chỉ còn biết sao chép của tiền nhân hoặc của người nước ngoài thì đất nước đó sẽ đi tới đâu ? đến được định hướng nào, mục đích nào ?

Nhiều người cứ ngộ nhận bản thân mình hoặc phe cánh của mình đang trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng. Phân tích ra mới thấy là họ đang chống lại tất cả mà không tự biết. Cái nguy là Trung ương ta cứ tin vào những người như thế rồi giao phó đủ các thứ quyền hạn cho họ và yên chí rằng họ là những người trung thành bảo vệ chế độ. Trung thành theo kiểu như thế là cực kỳ nguy hiểm.

Chúng tôi cũng đề nghị từ nay (tức là từ năm 2000 trở đi) đừng ai nói nữa rằng : nhân dân giảm sút hoặc sói mòn lòng tin đối với Đảng.

Không có chuyện đó đâu ! Đảng là một bộ phận máu thịt của Dân Tộc, do chính Nhân Dân đẻ ra và nuôi dưỡng, che chở, làm gì có chuyện không yêu với không tin. Trên đời này có ai lại không tin yêu bản thân mình.

Nên nói thế này thì đúng hơn : Nhân dân không thể tin yêu cái lũ đảng viên tiêu cực thoái hóa biến chất và cả những kẻ bao che cho chúng. Nếu thực sự Đảng này không tốt thì Dân này cũng sẵn sàng từ mặt mà "đuổi" đi lâu rồi. Con sâu bỏ rầu nồi canh, huống chi còn để cho sâu mọt tham nhũng nhung nhúc phát triển thì ai chịu nổi.

Còn những người cộng sản chân chính thì không phải người ta chỉ tin yêu kính trọng mà muôn đời sau vẫn biết ơn họ, thờ cúng họ.

Cứ nên nói thẳng ra rằng : nếu còn theo được cái đức khiêm tốn của Bác Hồ thì Trung ương Đảng ta nên nghiêm khắc tự phê bình về cái khuyết điểm không tin Dân của mình.

Những đồng chí nào không tin Dân, không biết kính trọng Dân thì đừng vội vã thanh minh, hãy bình tâm suy nghĩ về thực tế vừa qua thì thấy ngay. Tin gì mà Dân kêu ầm trời đất về nỗi oan khuất của mình mà lại lờ đi coi như không nghe thấy. Hàng tấn đơn khiếu tố của Dân gửi đi khắp các cơ quan Đảng và Nhà nước mà nhắm mắt lại coi như không thấy gì. (riêng Thủ tướng Phan Văn Khải đã than phiền mỗi tuần nhận đến 15 ký đơn).

Lúc nào cũng chỉ lo Dân bị lợi dụng, bị kích động. Đi cùng với Dân mấy chục năm liền mà bây giờ lại quay ra lo hão lo huyền.

Dân nói không nghe, những người trí thức chân chính, văn nghệ sĩ chân chính, những lão thành cách mạng nói cũng không nghe.

Lúc nào cũng lo bọn phản động nước ngoài lợi dụng, còn bọn "phản động" ngay trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước thì mất cảnh giác, Dân có phát hiện thì lại tìm cách bao che cho nhau rồi tìm cách trị Dân. Hỏi làm gì mà không tan cửa nát nhà, tanh bành sự nghiệp. Mất hàng trăm tỷ, hàng ngàn tỉ mới hoảng lên, thử hỏi hơn chục tỉ đô la nợ nước ngoài thì nó vào những lỗ hà nào ? Và rồi ai sẽ nai lưng ra kéo cày trả nợ đây ?

Chỉ có "hiền quá hóa ngu" mới không biết phẫn nộ trước một tình hình đất nước như thế. Mà Dân ta đâu có hèn có ngu mà để cho cái lũ cường hào tham nhũng, hoành hành ngang ngược bằng ấy năm trời, lại còn tìm cách chống chế để hoành hành tiếp.

Những vụ như vụ Thái Bình, Bộ Chính trị thấy lo, đ/c Tổng bí thư thấy lo, thế mà các cấp địa phương cứ nhởn nhơ coi như không xảy ra chuyện gì. Vẫn còn có những kẻ bàn nhau dám ăn cả vào quĩ xóa đói giảm nghèo, ăn vào tiền cứu trợ, rồi loanh quanh lại vẫn xếp nhau vào "đảng viên loại 1". Thật vô liêm sỉ !

Phải nói rằng Dân tin Đảng đến chừng nào nên mới kiên trì chờ đợi như thế. Cho nên khi thấy đồng chí Lê Khả Phiêu học lại bài học Dân vận của Bác Hồ, mọi người mừng xiết bao !

Khi chúng tôi lo lắng đề nghị với Bộ Chính trị sửa tận gốc của tình hình là với ý nghĩa đó. Nếu chúng ta không sửa lại cơ chế, tổ chức lại Đảng, Quốc hội, và nói chung là bộ máy Nhà nước ta thì nguy cơ sụp đổ là không tránh khỏi. Chúng ta có mang xử tử dăm chục đứa hay dăm trăm đứa cũng thế thôi.

Chế độ phong kiến sở dĩ không tồn tại được, dứt khoát bị lịch sử đào thải vì không thể trông cậy vào một vài vị minh quân hoặc dăm ba chục ông quan thanh liêm mà củng cố, trở nên tốt đẹp được.

Không thể trông vào vài ông quan thanh tra mang theo kiếm thượng phương tiền trảm hậu tấu mà diệt hết được lũ tham quan ô lại ở mỗi địa phương. Nghiêm khắc đến như thế còn chẳng ăn thua gì huống các Ban thanh tra của ta hiện nay.

Ta có một cái hết sức tệ hại là làm sai nhưng không cho ai động đến. Ai nói động đến là xúm nhau vào bắt bớ, giam cầm, đánh đập. Cái gì cũng nói là : Trên biết cả rồi. Biết thì phải ra tay hành động chứ biết để đấy thì biết làm gì. Cũng là đảng viên cả mà Bùi Minh Quốc vừa viết một bài thơ có câu :

Trong Đảng ta có những thằng đểu

thì vội vàng bắt bớ, khai trừ, quản thúc. Còn ông Cao Sĩ Kiêm làm thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng thì lại được an toàn thuyên chuyển từ Thống đốc ngân hàng sang làm Phó ban kinh tế trung ương. Kiến nghị mãi mới đưa ra để cảnh cáo. Thế là công bằng hay bất công. Đáng lẽ phải xem lại mình, kiểm tra xem trong Đảng có thằng nào là thằng đểu thì loại ra để bảo vệ sự lành mạnh, tốt đẹp của hàng ngũ Đảng, rồi ghi công phát hiện cho Bùi Minh Quốc.

Phương ngôn có câu : Anh hãy nói cho tôi biết anh chơi với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là hạng người nào. Chúng tôi cũng xin hỏi thẳng Bộ Công an : Hãy cho biết các đ/c ký giấy bắt những ai, chúng tôi sẽ nói cho các đ/c biết các đ/c có còn là bạn của Dân nữa hay không ?

Bác Hồ nói Công An là bạn Dân. Tình cảm bạn bè quí trọng nhau mấy chục năm trời ai cũng biết. Lâu nay ta nói nhiều đến thành tích của bộ đội Cụ Hồ anh hùng và chưa nói được đầy đủ đến thành tích của Công an nhân dân anh hùng. Chỉ tính riêng thành tích các đ/c công an ta đánh sâu vào trong lòng địch, nằm vào tận ruột phủ tổng thống ngụy để chuẩn bị cho những chiến dịch lớn thì công lao của công an ta lớn chừng nào trong công cuộc góp phần vào ngày đại thắng của ta. Cho đến hiện nay còn biết bao đ/c đang chiến đấu thầm lặng và thầm lặng hy sinh, có khi Tổ quốc và Nhân dân chưa kịp biết tên tuổi và thành tích.

Nhìn bề nổi, chỉ nói riêng TPHCM suốt 25 năm sau ngày giải phóng, kẻ thù không gây nổi một tiếng nổ nào, giữ được an ninh đến mức đó thật tuyệt vời biết bao ! So với cảnh sát nước Mỹ, nước Pháp và nhiều nước khác đã để xảy ra bao vụ đánh bom, mới phần nào thấy được tài năng và tầm vóc của công an nhân dân Việt Nam (ngoài ra còn hàng ngày hàng giờ xả thân bắt cướp, cứu dân, kịp thời xóa các băng nhóm giật dọc, ma túy ... mới thấy hết công lao và sự hy sinh cao quí của anh chị em công an).

Nói cho đầy đủ thì cũng chớ nên chỉ nhìn vào mấy chú công an phạt liều bắt oan, nhận lót tay, hay buôn ma túy hoặc thông đồng với nhóm Tân trường Sanh hoặc Epco Minh Phụng ..., mà đánh giá oan toàn bộ phẩm chất tốt đẹp của công an ta.

Với những đ/c công an trẻ chưa hiểu biết mấy sự đời, chúng tôi cũng thân ái nhắn nhủ : phải học tập các bậc đàn anh, giữ lấy phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ công an nhân dân, đừng quên cái vinh dự lớn : công an là thanh bảo kiếm của Đảng và Dân tộc. Càng không được quên bảo kiếm chỉ lợi hại khi có lá chắn là Nhân dân. Công an nằm vùng bị địch truy bắt chỉ cần chạy vào một con hẻm, vào được với Nhân Dân là an toàn, kẻ thù trở nên bất lực. Hiện nay, nhiều người quên mất lá chắn lợi hại này; nếu như mai kia kẻ thù đâm các chú mà các chú lại thiếu lá chắn này thì các chú đỡ bằng gì ?

Chuyện đời phải suy ngẫm cho kỹ, chớ có hồ đồ. Đừng có ham tiền, ham gái, ham nhậu nhẹt rồi quên đi việc giở lại những trang sử oanh liệt của các vị tiền bối trong ngành. Phải làm đầy tớ cho Nhân Dân. Chớ có hám tiền, hám gái, hám chức tước danh vọng mà đi làm nô lệ cho những kẻ thù của Nhân Dân, những lực lượng chống lại Tổ quốc XHCN và lý tưởng Hồ Chí Minh.

Cũng phải nói thêm rằng trong Đảng ta cũng như trong xã hội ta hiện đang phổ biến một tệ nạn : nhiều người nói theo như vẹt. Thấy trên nói về "ý thức làm chủ tập thể" thế là cũng lặp lại : "cần phải làm chủ tập thể". Nghe nói "ba cuộc cách mạng" cũng lặp lại "ba cuộc cách mạng", nghe nói "đốt cháy giai đoạn" cũng nói theo "đốt cháy giai đoạn". Thực tình họ cũng chẳng cần hiểu trên nói gì và họ lặp lại cái gì. Họ chẳng hiểu ý nghĩa thực sự thế nào là "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh", thế nào là "công nghiệp hóa, hiện đại hóa", thế nào là "nội lực". Trên nói sao dưới lặp lại y như vậy và yên trí rằng họ đang trung thành với lời dạy của lãnh tụ, của nghị quyết trung ương. Điều tai hại là trên cũng yên chí như vậy, có biết đâu rằng họ nói dzậy mà không phải dzậy, phần lớn là nói một đằng làm một nẻo.

Không phải nói địa phương vùng sâu vùng xa nào mà nói ngay tại Thủ đô cho nó cụ thể dễ thấy. Nếu ông Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng và ông Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Mai Liêm Trực mà thực sự hiểu đường lối hiện đại hóa của Đảng thì đâu có đặt giá mắc điện thoại, thuê bao điện thoại và nhất là giá vào mạng Internet cao đến thế. Các ông chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, cái gì cũng muốn hoàn vốn thật nhanh chứ quan tâm gì nhiều đến lợi ích lâu dài. Nói riêng việc đặt giá vào mạng Internet cao hơn cả giá khu vực và thế giới (450.000đ vào mạng, 50.000đ thuê bao tháng, 290đ/1phút, gần đây đã rút xuống 200đ/phút nhưng vẫn còn là đắt) thì ông chỉ mong phục vụ các nhà kinh doanh, và thẳng cánh gạt cả một lực lượng nghiên cứu khoa học kỹ thuật và lực lượng sinh viên trẻ ra ngoài. Các ông có biết đâu chỉ cần một nhà nghiên cứu hoặc một cháu sinh viên lôi từ mạng Internet về được một thông tin khoa học kỹ thuật quan trọng có khi đã đáng giá bạc tỷ rồi.

Một tình trạng đáng buồn trong Đảng ta nói riêng và trong xã hội ta nói chung là người ta nói và viết một cách rất khuôn sáo, công thức. Điển hình là tình trạng soạn thảo các văn bản, nghị quyết. Đáng lẽ mỗi nghị quyết mới chỉ cần nêu nghị quyết trước đã thực hiện đến đâu, còn lại phần nào và hiện tại phải giải quyết cụ thể những vấn đề gì (cả cũ cả mới). Nhưng hình như bộ phận soạn thảo nghị quyết cảm thấy không an tâm nếu không lặp đi lặp lại một số vấn đề nào đó. Đặc biệt vấn đề "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng", hầu như nghị quyết nào cũng được nhắc với những lý lẽ khô khan, nhàm chán.

Hình như họ quên mất hồi mới giành chính quyền và thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có thời gian chỉ có mình Cụ Hồ với hơn 5000 đảng viên, chẳng thấy ai hô "tăng cường lãnh đạo" mà nhân dân cứ làm theo răm rắp, có khi chưa kịp hướng dẫn người ta đã tự nguyện làm rồi. Sau đó mới tổng kết mà phổ biến sáng kiến cho mọi người, mọi địa phương.

Nhớ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, Đảng còn rút vào bí mật và lấy tên là Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, thậm chí người ta cũng chẳng biết ai là hội viên ai không hội viên. Công khai bấy giờ là Mặt trận Liên Việt. Cán bộ Cụ Hồ chỉ thấy toàn những người đầu tàu gương mẫu, bộ đội Cụ Hồ lại càng gương mẫu, chỉ thấy tin yêu quí trọng và bảo nhau sản xuất giết giặc cứu nước. Cán bộ miệng nói tay làm, gặp khó khăn nguy hiểm thì xung phong đi trước. Hằng ngày lãnh đạo là như thế, chỉ thị nghị quyết thì càng vắn tắt càng tốt. Cứ nói năng dễ hiểu theo kiểu Cụ Hồ thì dân hiểu và khó mấy cũng xong. Cụ Hồ và cán bộ Cụ Hồ chẳng ai phải hô tăng cường hay quán triệt. Không tin cứ giở các văn bản thời đó ra mà xem lại.

Sau này cũng nên nghiên cứu xem bắt đầu từ những văn bản nào mà lại sinh ra một lối viết dùng toàn những từ khuôn sáo : trên cơ sở, dưới ánh sáng, quán triệt, tăng cường, tích cực, phải thế này, phải thế kia.

Nói và làm không đi đôi với nhau từ hồi nào vậy ? Bắt đầu từ những ai vậy ? Sự thực đúng là cay đắng và đau lòng, thế mà không bàn nhau để giải quyết trong năm 2000 thì còn kéo dài đến thế kỷ nào ?

Vì uy tín và sự sống còn của Đảng ta đồng thời cũng là sự sống còn của Dân tộc, chúng ta không có quyền chần chừ do dự nữa.

Không để địch lợi dụng để phản tuyên truyền luôn luôn là điều đáng lo đáng cảnh giác. Nhưng đâu có đáng sợ bằng ta lợi dụng ta. Lợi dụng Đảng và Nhà nước giao cho chức quyền mà quan liêu tham nhũng, ức hiếp quần chúng là những kẻ nào ? Thông qua những kẻ này, người ta sẽ đánh giá Đảng ta và Nhà nước ta ra sao ? Có một thời người ta cứ say mê với lối nói : "Cá biệt có một số ít cán bộ đảng viên", "Đó chỉ là hiện tượng chứ không phải bản chất". Đành rằng bản chất chế độ XHCN của ta là tốt đẹp nhưng cứ để cho tham nhũng nảy nở tràn lan thành quốc nạn thì ta sẽ giải thích với Nhân Dân và thế giới ra sao ?

Chúng tôi rất hoan nghênh việc Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và trung ương ta bắt đầu thẳng tay qui rõ trách nhiệm. Thủ tướng Phan Văn Khải cũng tuyên bố rõ từ nay ai ký duyệt dự án nào phải chịu trách nhiệm về dự án ấy.

Đúng ! Ai phụ trách Bộ nào, ngành nào, địa phương nào, hay bất cứ công việc gì phải chịu trách nhiệm rõ ràng trước pháp luật. Phải bỏ hẳn cái lối làm hỏng việc lại đổ lỗi cho tập thể, cho tổ chức, cho Đảng. Nếu thấy mình không đủ khả năng đảm đương trách nhiệm thì nên từ chối đi. Chức vụ, quyền hạn thì nhận thế mà khi phạm tội bị đưa ra tòa thì lại đổ lỗi cho tổ chức : Tôi không có đủ trình độ nhưng vì ý thức tổ chức nên Đảng giao tôi cứ phải nhận (!).

Chúng ta phải xây dựng một cơ chế tạo ra được một tâm thế : từ viên chức thấp nhất cho đến viên chức cao nhất của bộ máy nhà nước, từ đảng viên thường cho đến tổng bí thư luôn luôn cảm thấy, như người xưa nói : lúc nào cũng như đang cưỡi ngựa mà cầm dây cương mục hoặc đi trên băng mỏng : "Dư lâm triệu dân, lẫm hồ nhược hủ sách chi ngự lục mã" (ta cai trị muôn dân, lòng luôn lo sợ như cầm sợi dây cương mục mà chế ngự cỗ xe 6 ngựa), hoặc "chiến chiến căng căng như lâm thâm uyên như lý bạc băng" (run run sợ sợ như đứng sát vực sâu như dẫm trên băng mỏng) nghĩa là luôn luôn nơm nớp lo sợ vì không làm tròn trách nhiệm.

Chính giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản đã thành công trong việc tạo ra cái tâm thế này. Một Nguyễn Công Trứ tài năng và khí phách, một Nguyễn Tri Phương giỏi giang và được tin cậy, thế mà người thị bị cách tuột xuống làm lính thú, người thì bị án trảm giam hậu. Thử hỏi còn viên quan nào dám lơ mơ bỏ bễ công việc. Từ các viên chức ở một công sở cho đến tổng thống ngự trị trong Nhà Trắng, lúc nào cũng có thể bị đuổi sở hoặc ra trả lời trước tòa, thử hỏi không nơm nớp sao được, không hết lòng vì công vụ sao được ?

Ta thì mới là Tổng cục trưởng Phan Văn Dĩnh được tòa gọi đến làm nhân chứng cũng không thèm đến. Vì sao ông Phan Văn Dĩnh không đến ? Vì trước đó tất cả các Phan Văn Vĩnh đều không đến và đều không hề hấn gì cả..

Nhưng Phan Văn Dĩnh đâu có ý thức được rằng mình đến hầu tòa là mình ra hầu công lý với tinh thần "thượng tôn pháp luật". Pháp luật này thể hiện ý chí của Nhân dân và của chính giai cấp lãnh đạo của mình. Tôn trọng pháp luật hiện nay chính là tôn trọng Nhân dân, tôn trọng Đảng và làm vững vàng thêm Chế độ. Mình là người lãnh đạo mình phải nêu gương trước để nhân dân thực hành theo. Nếu mình cứ hô : phải sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, nhưng bản thân mình lại không tôn trọng pháp luật thì Dân tin mình sao được ? Đi theo sự lãnh đạo của mình sao được ? Chính mình phá phách, giày xéo lên kỷ cương luật pháp thì còn mong gì lãnh đạo ai ? dẫn đường cho ai ? Nếu còn thực sự trung thành với Dân, với Đảng, chúng tôi mong tất cả những Phan Văn Dĩnh hãy nghĩ lại đi và mau mau sám hối đi. "Quan nhất thời, dân vạn đại", có thể mất các anh chứ mất Dân, mất Nước, mất Chế độ này thế nào được. Xương máu của bao thế hệ, xin các anh chớ giỡn đùa với Nhân Dân, với LỊCH SỬ.

Lại nhớ hồi mới "đổi mới", mấy ông nhà văn và nhà lý luận đặt lại vấn đề "mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị". Lại cho rằng văn nghệ không phát triển được vì phải phục vụ chính trị. Văn nghệ không phục vụ chính trị của một dân tộc hoặc một giai cấp thì phục vụ cái gì ? Một vấn đề đã trở thành nguyên lý và đã thảo luận bao nhiêu năm rồi, thay đổi thế nào được ? Đổi mới tư duy đâu có nghĩa là thay đổi những nguyên lý đúng đắn mà cả ta lẫn kẻ thù tư tưởng của ta đều phải tuân thủ nghiêm túc.

Chúng tôi cho rằng "đổi mới" kiểu ấy thực chất là trở về cái cũ rích. Cái chính cần thay đổi là nhận thức lại cho chính xác : thế nào là phục vụ chính trị ? Anh làm theo ý kiến của một vài ông cán bộ lãnh đạo tuyên huấn, hoặc một vài ông cán bộ cao cấp nào đó trong chính phủ, thế là anh đang phục vụ mấy ông chính quyền hoặc chính khách chứ đâu phải anh phục vụ đường lối chính trị của dân tộc hay của giai cấp.

Ý kiến của từng cá nhân lãnh đạo trong bộ máy Đảng hay bộ máy Nhà nước có thể đúng mà cũng có thể sai. Tại sao cái đúng anh không theo lại đi theo cái sai ? Vừa nghe một ông lãnh đạo tuyên huấn cấp tỉnh hoặc cấp trung ương : tác phẩm này hay đấy ! Thế là chưa biết nếp tẻ thế nào đã vội vàng xúm vào công kênh và bốc thơm lên tận mây xanh. Vừa mới nghe phán một câu : tác phẩm này xem ra có vấn đề đấy ! Thế là chả biết "vấn đề" ra sao cũng xúm vào moi móc, bới lông tìm vết vùi dập xuống tận bùn đen.

Không phân biệt nổi các khái niệm chính trị, chính khách, chính quyền, do đó sinh ra bao tai họa không đáng có.

Mấy năm vừa qua, có một hiện tượng đáng chú ý là hiện tượng Trần Mạnh Hảo và Mai Quốc Liên. Mai Quốc Liên và Trần Mạnh Hảo đã đặt các đối tượng phê bình lên "cái giường Prô-cut" của một thứ lý luận từ thời Timôfiep, Diên An và Nguyễn Lương Ngọc.

Trần Mạnh Hảo thông minh và hăng hái, đó là điều đáng khen ngợi, nhưng làm thơ hay đã khó, phê bình hay càng khó hơn nhiều. Vì cái hay của phê bình đòi hỏi độ chính xác cao lắm, đòi hỏi nhiều tri thức, kiến văn lắm. Không hiểu đầy đủ và sâu sắc đạo Mẫu Việt Nam, văn hóa Đại Việt, văn hóa Champa v.v. đã bàn thế nào được về Chùa Một Cột, về cọc đá Thánh Gióng buộc ngựa, về Man Nương Phật mẫu ...

Không hiểu đầy đủ và sâu sắc tiến trình lịch sử Việt Nam và lịch sử nhân loại đã bàn thế nào được về văn hóa Việt Nam. Không hiểu đầy đủ và sâu sắc mỹ học cổ kim đông tây, mỹ học Lưu Hiệp, mỹ học Hêỉghen, mỹ học Lucát, thậm chí còn lơ mơ cả về Secnưsepski, Biêlinski, Béctôn Brét, .. sao đã dám hạ bút phê bình thơ, tiểu thuyết ? Nói thế thôi chứ cầu toàn sao được. Đợi trang bị đầy đủ thì đã mắt mờ chân chậm còn sức đâu cầm nổi bút để sáng tác hay phê bình. Thôi thì biết đến đâu tâu đến đấy, biết điều gì thưa thốt điều ấy và phải biết cho chắc chắn, chính xác chứ đâu có chuyện vừa sờ vào được chân voi hay đuôi voi đã vội la toáng lên : ta đã chuẩn bị đủ loại roi rồi, mông nào roi nấy. (Trần Mạnh Hảo trả lời phỏng vấn của tạp chí Cửa Việt).

Tất nhiên những điều nói trên đây không chỉ dành riêng cho ông Trần Mạnh Hảo mà cả cho ông Mai Quốc Liên và những người cầm bút hăng hái nhất hiện nay.

Nhà văn Nguyễn Khải đọc sáng tác và lý luận của Kandéra và của một vài nhà hiện đại khác, "ngộ" ra được rằng mình phải thay đổi cách viết. Với những nhà văn tài năng và nổi tiếng như Nguyễn Khải, khi tuổi đã cao, danh đã thành, công đã toại mà vẫn còn nghĩ đến việc đổi mới cách viết của mình, thật đáng mừng và đáng ca ngợi. Thế mà giữa báo Sài Gòn giải phóng, ông Mai Quốc Liên lại hạ bút trì chiết, chỉ trích Nguyễn Khải bằng một giọng khó nghe. Rằng : sao Nguyễn Khải đã từng là một nhà văn cách mạng, một đại tá quân đội nhân dân, lại đi mê lý thuyết phương Tây, đổi mới đến nỗi quên cả cái gốc phương Đông, gốc cách mạng của mình.

Thế mới biết, khi người ta vốn "tiểu khí" mà lại muốn làm "tráng chí thành đại cuồng" thì quả là gay go thật. Đằng sau đó là cái gì thì lại phải nhắc nhau nhớ lại cách xét đoán tâm lý và tìm động cơ của người đời một cách cực kỳ thông minh và sâu sắc của đức thánh Khổng :

"Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, nhân yên sưu tai ! Nhân yên sưu tai !"

Mai Quốc Liên không hiểu Nguyễn Khải và tất nhiên cũng chẳng hiểu Kandera (nhà cách tân tiểu thuyết người Tiệp Khắc) nên mới chụp mũ Nguyễn Khải một cách vô lối như thế.

Ông Liên cũng chẳng hiểu Trần Quí Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và nhiều bậc tiền bối đồng hương với ông nên ông mới hô lên rằng ta bỏ chữ vuông, bỏ khăn đóng áo dài từ mấy chục năm qua là đã cắt đứt với truyền thống.

Trung tâm Quốc học do ông phụ trách lại bỏ công ra in lại Thơ chữ Hán của Nguyễn Du do giáo sư Lê Thước và giáo sư Trương Chính biên khảo hiệu đính và do các nhà Hán học lão thành dịch thuật và nhiều tác phẩm biên khảo dịch thuật khác của các soạn giả đi trước. Việc làm của Trung tâm Quốc học cũng như của Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học in lại tác phẩm Tố Tâm và các tác phẩm trước cách mạng đều là những việc bổ ích. Nhưng việc kinh doanh sách - một loại hàng hóa đặc biệt - cũng như mọi loại hàng hóa khác trong cơ chế thị trường đòi hỏi sự minh bạch và sòng phẳng. Mình in lại sách của người khác soạn, thậm chí in cả lại những chú thích sai hoặc dịch sai mà soạn giả xưa đã đồng ý sửa, mà lại dám đề tên mình là chủ biên công trình thì thật là can đảm ! Mình chưa hiểu thế nào là một tiểu thuyết mà dám gọi truyện Thầy Lazarro phiền là tiểu thuyết. Nhà nghiên cứu Phạm Khánh Cao có lý khi phân tích trên Báo Văn Nghệ rằng : truyện Thầy Lazarro phiền chưa đủ tiêu chuẩn để xếp vào hàng tiểu thuyết và càng chưa đủ tư cách là tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên viết bằng quốc ngữ. Vinh quang này vẫn thuộc về tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Chúng tôi thấy ông Mai Quốc Liên nên đọc kỹ bài của ông Phạm Khánh Cao và trân trọng kiến nghị giới nghiên cứu lý luận phê bình văn học nên tập trung thảo luận cho ra môn ra khoai để tránh sự ngộ nhận đối với người đọc hiện nay cũng như con cháu sau này.

Chưa kể trường hợp ông Nguyễn Đình Đầu còn cả gan đề tên mình cạnh tên tác giả Trương Vĩnh Ký ngoài bìa sách và tên dịch giả cỡ chữ lại to hơn cả tên tác giả. Còn với bộ Địa bạ triều Nguyễn thì ông Đầu lại tỏ ra can đảm hơn khi ông gạt toàn bộ tên của các vị dịch thuật lão thành : Vũ Văn Kính, Tăng Văn Hỷ, Đinh Tấn Dung, Trần Văn Mãi, v.v. ra khỏi bìa sách và trần trụi còn có mình tên ông với tư cách nhà nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn. Mà theo các cụ thì ông Nguyễn Đình Đầu chỉ có công in thêm một số bản đồ mà ông đã sưu tầm được và ông có công thống kê số làng xã và số ruộng đất mà các cụ đã dịch ra từ Địa bạ triều Nguyễn. Các cụ và cả dư luận thành phố đã phì cười khi thấy ông trên màn ảnh nhỏ đang soi đi soi lại kính lúp trên từng dòng chữ Hán chữ Nôm y như một dịch giả chính cống (mọi người đều biết ông không phải là người thông thạo chữ Hán chữ Nôm). Có người còn đùa tếu : "Chữ Hán không đầy lá mít cũng chủ biên tới mấy công trình"). Có người còn tếu hơn : ở hội nghị nào cũng chỉ vào ông, giới thiệu ông là "Tả Ao hiện đại" có khi còn ỡm ờ "biểu dương" ông là "nhà nghiên cứu không phải Việt cộng".

Tuy thế còn có người siêu hơn cả ông Nguyễn Đình Đầu tức là ông Trần Trọng Đăng Đàn.

Ông Nguyễn Đình Đầu chỉ nhận tiền tài trợ của ngoại quốc (Nhật Bản - Toyota Foundation) mà ông nói rằng không thể chia cho các cụ được vì "thành phố" giữ. Nhưng hỏi ra thì Sở tài chính, Sở văn hóa thông tin, Hội đồng khoa học xã hội chẳng nơi nào giữ khoản tiền này cả. Ông Trần Trọng Đăng Đàn khéo léo khai thác được cả hai nguồn tài trợ nội địa : một của Viện KHXH (cơ quan trung ương), một của thành phố (địa phương). Ông Đàn cũng siêu chẳng kém ông Đầu trong việc đề tên tác giả. Cầm bộ sách Góp mấy dòng vào văn học dày hơn 700 trang, đề tên tác giả là Trần Trọng Đăng Đàn, người ta không khỏi kinh ngạc khi thấy tới ngót 400 trang sách là hai tác phẩm của hai tác giả người Nga mà ông chỉ là dịch giả. Cũng nên thông cảm với ông Đàn, vì sự xô bồ lộn xộn trong tình hình sách vở hiện nay cũng chẳng còn là của riêng ai.

May mắn thay, dưới đáy hòm Pandor vẫn còn sót một thứ được gọi tên là Hy vọng. Bức tranh nhân thế đâu chỉ có những nét xám xịt mà còn những mảng gam màu rực rỡ đáng cho ta ngưỡng mộ và hy vọng.

Một trong số mảng đó là cuốn sách "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa. Đã lâu lắm rồi người ta mới được đọc một cuốn sách thú vị như thế. Thú vị chẳng kém gì khi đọc Gamzatop. Viết bình luận văn chương mà hóm hỉnh, sâu sắc và bao quát được cả một thời kỳ văn học rộng lớn một cách rất Trần Đăng Khoa như thế, quả là xưa nay chưa từng thấy. Sai, đúng ra sao cần phải phân tích kỹ lưỡng và "đối thoại" một cách nghiêm chỉnh với tác giả chứ không thể nói khơi khơi dăm câu ba điều những chuyện ngoài cuốn sách như ông Nguyễn Khải và ông Tố Hữu. Trần Đăng Khoa có những nhận xét chưa được trúng lắm về một vài tác phẩm hay tác giả. "Đúng sai thì cũng người ta thường tình". Chẳng có cá nhân, cộng đồng hay tổ chức nào được cấp phép độc quyền về chuyện này. Chỉ biết rằng những sai sót không đáng có cũng chẳng ảnh hưởng gì nhiều đến giá trị của một cuốn sách ngồn ngộn đời sống văn chương, đầy ắp những suy ngẫm về nhân thế. Tất cả được gói gọn, dồn nén trong những con chữ được lọc lựa kỳ khu chẳng thua gì những con chữ của Nguyễn Tuân. Con chữ Nguyễn Tuân người ta còn ái ngại khi bắt gặp những hình hài gầy gò, còm cõi vì thiếu dinh dưỡng tư tưởng. Còn câu chữ của "Chân dung và đối thoại" và cả trong "Thời sự làng tôi" và "Chuyện nhặt ở đảo chìm", nói trộm vía Trần Đăng Khoa, cứ hơ hớ, phây phây, mập mạp cả về tư tưởng và nghệ thuật.

Chúng tôi, lòng tự hẹn với lòng, thể nào cũng phải viết một bài đầy đặn, tử tế về cái món đồ kim hiếm có này. Trong khi chờ đợi, chúng tôi phải gửi đến em Khoa (thực ra đã phải gọi là ông Khoa từ lâu rồi) hai lạy. Theo truyền thống dân tộc thông thường dưới phải lạy trên, thấp tuổi phải lạy cao tuổi ... nhưng vài mươi năm qua bảng giá trị xã hội được sắp xếp lại, ta cũng nên biết tôn trọng trật tự mới với lễ nghĩa hiện đại. Thế mới là thức thời và biết cách tự khẳng định mình một cách có văn hóa !

Chắc có người sẽ thắc mắc : sao lại lạy mỗi hai lạy, hoặc sao lại lạy những hai lạy ? Xin thưa rằng : một lạy là để đền ơn em Khoa vì em đã vô tình thay mặt cho chúng tôi và tất cả những người có lương tri sụp lạy nhà văn Phù Thăng, cha đẻ của tiểu thuyết Phá vây, đã cùng với bao nhà văn, nhà thơ khác bị vây hãm mấy chục năm liền.

Lại nhớ đến Võ Tắc Thiên, vị nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc vĩ đại, nghe đọc hịch của Lạc Tân Vương vạch tội và chửi rủa mình, miệng vẫn cười tươi, lại còn khen văn hay, lại còn quở trách và cách chức lũ quan địa phương bỏ uổng nhân tài, không biết tiến cử . Đặc biệt, khi Lạc Tân Vương cùng với những người khởi nghĩa bị bắt, chờ ngày ra pháp trường, thế mà, vừa nghe tấu biết Lạc Tân Vương không chỉ viết hịch giỏi mà còn làm thơ hay, vị nữ hoàng đế này đã quát lên :

- Thả ngay ra, ta không thể giết một nhà thơ !

Trọng văn thơ, trọng nhà văn, nhà thơ như thế, hèn chi thiên hạ không nghiêng mình bái phục. Lại có đủ cả : nào là Thịnh Đường, nào là Trung Đường, nào là Vãn Đường, nào là thi thánh (Đỗ Phủ), thi tiên (Lý Bạch). Ôi ! Hàng ngàn nhà thơ với hàng chục ngàn bài thơ để đời hẳn là thành quả vĩ đại đáng tự hào của thi nhân, của những người cổ cày vai bừa nuôi dưỡng các thi nhân, đồng thời cũng là công đức to lớn mà lịch sử ghi dấu son cho những vị hoàng đế biết tôn trọng trí tuệ và thi ca. Buồn thay cho ta, bản thân nhà thơ cũng không biết quí trọng nhà thơ nói chi đến người cầm quyền thiếu hiểu biết tầm quan trọng của thơ ca.

Có những người làm thơ chân chính lại có thêm một người làm thơ chân chính biết bình luận văn chương sắc sảo như Trần Đăng Khoa là may mắn cho cuộc đời này. Mà em Khoa tài thật, tài thật, tài đến thế là cùng, sao chúng tôi lại không cảm phục được ! Em lại còn biết nói chuyện cả với ma. Em nói tiếng Việt giọng người mà khối người Việt đã từng máu mê văn chương còn không hiểu nổi, cứ như ngôn ngữ bất đồng. Thế mà ma lại hiểu. Mà ma cũng thánh thật. Phán chuyện người, chuyện đời, chuyện văn chương cứ như là đã thành người từ lâu lắm rồi. Dẫu ông Azit Nêxin ở Thổ Nhĩ Kỳ có tái thế cũng phải dập đầu tâm phục, khẩu phục.

Em Khoa lại còn dám đối thoại với Hổ mới kinh chứ. Đức thánh Khổng dạy đâu có sai : "Hà chính mãnh ư hổ". Đọc Khoa mới thấy hổ hiền khô chứ chẳng dữ dằn như ta tưởng. Lại còn hiểu thơ Thế Lữ, cao giọng bình giảng rồi ái ngại thay cho tâm sự tác giả và người đời. Cứ y như một nhà phê bình thứ thiệt ! Mới hay trong khi đua nhau học Mỹ ngữ, Anh ngữ, Nhật ngữ ... thiết tưởng những nhà phê bình chưa phải là thứ thiệt cũng nên trau dồi một ít ma ngữ và hổ ngữ mới mong thành danh được.

Cho nên, mặc miệng thế thị phi, người kêu ít, kẻ chê nhiều, chúng tôi cứ xin lạy em Khoa một lạy nữa, gọi là để đáp nghĩa Trần Đăng Khoa. Nhờ em mà nghĩa ma, nghĩa hổ, nghĩa người thêm phần sáng tỏ, lại làm tăng thêm trong chúng tôi nỗi niềm không biết sợ.

Nghĩ tình hình phê bình văn học nghệ thuật nước mình thật đáng buồn. Khen một tí, chê một tí rồi lặp đi lặp lại bằng một kết luận đầy công thức : "giá như thế này, giá như thế khác thì hẳn tác phẩm còn thành công hơn nhiều". Vẫn còn thịnh hành cái lối yêu ai thì bốc tác phẩm người ta lên tận mây, ghét ai thì dìm xuống tận bùn. Không thấy lợi lộc trước mắt thì dù hay dù dở, chẳng ai bảo ai cũng đều lờ đi, coi như không có mặt tác phẩm đó trên đời này. Đặc biệt có những cây bút phê bình kiên trì mai phục, đón gió, đón ý lãnh đạo. Gật một cái "tác phẩm ấy có vẻ được đấy !" thì dù có nồng nặc mùi con thuyền Nghệ cũng cứ là thơm như múi mít. Lắc một cái "tác phẩm ấy nghe có vấn đề đấy !" thế là xúm vào đánh đòn hội chợ, lấy thịt đè người. Thảng hoặc còn dăm ba người thực sự hiểu biết và có tâm huyết thì cũng hè nhau làm thịt. Nhớ ngày nào ông Hoàng Ngọc Hiến vừa đặt bút chê trách mấy người làm văn chương phải đạo. Đáng lẽ cần suy xét, tự nghiêm khắc kiểm điểm bản thân : nếu mình viết "phải đạo" thì lợi hại ra sao, tác lợi tác hại như thế nào đối với nền văn học nghệ thuật, đối với sự phát triển của Dân Tộc, sự tồn vong của Chế độ. Thế mới là phải đạo lý chứ !

Nhưng chẳng chịu phân tích nếp tẻ ra sao, cứ ra lệnh, cứ chấp hành, cứ hò nhau phang đập túi bụi. Buồn thay, ngay những người bạn thông cảm và hiểu được cái đúng và cả cái ý thức xây dựng của tác giả "phải đạo" cũng vẫn đành :

"Vẽ mặt bôi râu làm mặt lạ

Mang gươm vác dáo đánh người quen"

Chưa đến nỗi thuộc hàng tâm địa xấu xa nhưng rõ ràng đó là những người thiếu bản lĩnh. Thấy phải không dám bảo vệ, thấy trái không dám đấu tranh, không thể coi là xứng với phẩm chất của người trí thức hoặc văn nghệ sĩ chân chính.

Lại nhớ hồi nào nhà văn Sơn Tùng vừa chui ra từ khói lửa miền Nam, thương tích đầy mình, bị liệt hẳn cột sống, nằm mấy năm trời chữa chạy mới đỡ, hiện tại trong đầu vẫn còn hai mảnh đạn. Đau nhất cho người viết văn là liệt đúng tay phải, cầm bút không được, bắt tay bạn bè cũng khó. Thế mà không biết kỳ cạch xoay xỏa thế nào mà viết xong được cái "Búp sen xanh" kể về thời thanh niên của Bác Hồ bằng tư liệu gốc do chính anh tìm tòi và kiểm nghiệm. Đặc biệt, trong đó có kể về mối tình của anh Nguyễn Tất Thành và cô Nguyễn Thị Huệ. Đọc truyện của Sơn Tùng, người ta mới vỡ ra nhiều lẽ và cảm thấy càng yêu mến quí trọng Hồ Chí Minh của mình hơn. Đúng là một CON NGƯỜI. Trước khi trở thành lãnh tụ, thành anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại, Bác đã có một mối tình đẹp và những tình cảm trong sáng tươi đẹp này Bác đã mang theo suốt cuộc đời mình. Nhờ "Búp sen xanh" mà mọi người hiểu thêm được một bí mật trong tiểu sử Bác Hồ. Riêng các cháu thiếu niên nhi đồng đọc "Búp sen xanh" càng thấy Bác gần gũi thân thiết với mình hơn. Viết về Bác Hồ, các cây bút trong nước, ngoài nước viết đã nhiều, nhưng thành công ở cấp độ Sơn Tùng quả là hiếm.

"Búp sen xanh" mang tính nhân bản cao, tính giáo dục sâu sắc vì trong đó người ta gặp hình tượng nhân vật tuyệt vời nhân bản, Người hơn cả mọi loại Người trên đời này. Thật đáng khen cho những cây bút có khả năng, bằng tác phẩm của mình, giúp cho đồng loại tin yêu con người và muốn sống đẹp hơn cho xứng đáng với danh hiệu con người. Đã không khen thì thôi, lại còn hùa nhau vào phang đập túi bụi một tác phẩm đẹp như thế, một tác giả đáng kính trọng như thế. Họ nghĩ một cách thô thiển rằng viết về tình yêu của anh Nguyễn Tất Thành là hạ thấp Cụ Hồ. Và những đấng bậc nào kia mới được quyền viết về lãnh tụ Hồ Chí Minh chứ đâu phải ngòi bút nào cũng "chòi mâm son" mà được. Nhớ lại ngày Bác Hồ mất, cùng là làm thơ văn khóc Bác mà có người ba năm sau mới được đăng, chắc thế giới - kể cả Azit Nêxin cũng không tưởng tượng nổi là văn nghệ Việt Nam lại có cái màn bi hài đến như thế. Đời thuở nhà ai, bố chết mà phải xếp hàng ba năm sau mới được vào khóc.

Sau vụ "Búp sen xanh" và một số buổi nói chuyện ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh, cuộc đời Hồ Chí Minh, Sơn Tùng được ngầm chăm sóc sức khỏe 24/24, nhưng Sơn Tùng cứ thản nhiên viết hết tác phẩm này đến tác phẩm khác, bạn bè tâm huyết, Nam có Bắc có, nước ngoài có, nước trong có, vẫn đến thăm anh, đàm đạo cùng anh về mọi thứ đạo lý và nghĩa lý trên đời.

Gần đây, Sơn Tùng lại viết được một tác phẩm xuất sắc, tiếp tục ca tụng những khía cạnh mà mọi người chưa biết về Bác Hồ và những người ruột thịt của Bác. Bên cạnh đó lại còn những trang đẹp viết về các chiến hữu và các học trò của Bác. Và độc đáo thay lại còn có những dòng trân trọng khẳng định những người đang sống, những bạn văn thường gặp anh hoặc hàng tuần đến đàm đạo trên chiếu văn, trong cái gian gác thấp bé chật chội của anh ở ngõ Văn Chương, phố Khâm Thiên. Anh đặt tên tác phẩm là "Hoa râm bụt" - thứ hoa ở dậu nhà Bác Hồ và trên khắp làng quê Việt Nam. Nhận được sách tặng gửi từ Thủ đô vào kèm theo thư đề nghị "Viết cho vài lời", trong dịp bay ra Hà Nội họp, chúng tôi phải đến sụp lạy anh và phân trần với các cụ trên "chiếu văn", mong anh Sơn Tùng và chị Hồng Mai thể tất cho. Chúng tôi không dám "viết vài lời" mà dự định viết hẳn một bài trang trọng nhưng chưa viết được. Chỉ xin nêu ngay một đặc điểm hiếm có của tác phẩm này : trong khi nhiều người cứ thích làm sống lại những người đã chết và dìm chết những người đang sống thì Sơn Tùng lại hì hục gia công làm ngời sáng thêm tâm hồn dân tộc, chiêu tuyết cho người oan khuất và làm sống mạnh mẽ thêm những người đang sống.

Sơn Tùng cũng chắp tay vái : "Bất kể người phụ nữ nào đọc thông được 10 chữ Hán, chữ Nôm là tôi cũng xin lạy một lạy. Chị còn minh mẫn thế này mà họ lại cho chị về hưu thì tôi cũng lấy làm lạ !".

Chuyện lễ lạy ở Việt Nam ta lắm lúc nghĩ cũng vui. Cung kính vái lạy trời phật thần thánh đã đành, giờ đây bạn bè đồng môn, đồng nghiệp lại cũng cứ lễ lạy nhau rồi cười vui thoải mái. Thoái mái nhất đối với chúng tôi là thấy các tác phẩm của Sơn Tùng cứ việc tái bản đi tái bản lại. Riêng "Búp sen xanh" thì đã in tới lần thứ 10. Và sau NXB Thanh Niên thì tích cực nhất là NXB Kim Đồng. Ấu cũng là nhờ vong linh Tổ tiên và Bác Hồ ngầm phù hộ cho mà được như vậy.

Đặc biệt giới sử của ta chưa bỏ công nghiên cứu kỹ vai trò của tầng lớp thương nhân Việt Nam để xác định giá trị và tầm quan trọng của họ đối với lịch sử xã hội. Do đó, các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình của ta không hiểu giới thương nhân cũng là lẽ thường tình.

Lần ngược lại lịch sử thì thấy máu kinh doanh của dân ta đã có ngay từ thời Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử, và Bộ Thương mại của ta có thể đề nghị với Quốc hội công nhận ngài Mai An Tiêm là ông tổ của ngành xuất nhập khẩu, rồi hương khói cho tử tế. Sau Mai An Tiêm còn có những người nổi tiếng khác trong lịch sử thương mại nước nhà : ông Trần Khánh Dư thời Trần, ông Trần Nguyên Hãn thời Lê, cha con ông Phạm Quỳnh thời Mạc, ông Nguyễn Nhạc thời Tây Sơn, ông Lê Văn Khôi thời Nguyễn, ông Bạch Thái Bưởi thời Pháp, và đến thời ta những người kinh doanh giỏi như vua Lốp cũng không phải là hiếm.

Xin quay lại vấn đề lý luận phê bình và sáng tác. Rõ ràng, không có lý luận đúng, không có phê bình đúng thì cũng chẳng có sáng tác hay. Không hề là yêu cầu quá đáng, trước khi là nhà lý luận, nhà phê bình hay nhà sáng tác thì phải là nhà tư tưởng đã. Tư tưởng có thể lớn bé, thấp cao nhưng phải có tư tưởng đã rồi hãy nói chuyện đối thoại với cuộc đời. Và tư tưởng này là của bản thân mình chứ không phải là thứ dập khuôn sao chép của thiên hạ.

Có một thời ta rơi vào một kiểu suy luận rất ấu trĩ. Bên Trung Quốc có Hồ Phong, Đinh Linh, Trần Xí Hà hẳn bên ta cũng phải có ai chứ. Thế là lôi nhau ra "dê lại giết dê". Ta cũng có một cái thứ tính khí cần phải thanh toán là học cái dở của người rất nhanh, học cái hay của người rất chậm chạp. Văn chương, sách vở, phim ảnh người ta hay như thế, không học. Lúc nào cũng chỉ kêu thiếu tiền, thiếu phương tiện. Nhưng thử hỏi giả thiết nếu chính phủ ta có cấp ngay cho các vị hàng ngàn tỉ, liệu các vị đưa ra cho nhân dân những tiểu thuyết nào, những cuốn phim nào, những tập thơ nào có thể là ứng cử viên của các giải lớn giải nhỏ của khu vực và thế giới. Nhà đã nghèo nhưng có đồng vốn nào lại giao cho những đứa con "phả giá chi tử" rồi lại than thở không biết đến bao giờ mới qua được hồi "mạt vận". Một thời chẳng có tỉ nào mà "Chung một dòng sông", "Vĩ tuyến 17", "Chị Tư Hậu", "Cánh đồng hoang" vẫn làm xúc động lòng người. Giờ đây, có khi mất hàng chục tỷ mà không thấy có phim ảnh nào ra hồn, đến nỗi phim Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông ngự trị các đài truyền hình. Rõ thật xấu hổ. Kêu gào mãi, Hội nhà văn ta mới được cấp phát một lúc hẳn 2 tỷ đồng. Vậy mà các vị bàn bạc thế nào lại cấp bình quân cho mỗi đầu hội viên 2 triệu đồng. Đành phải hô to : bình quân chủ nghĩa muôn năm !

Hội nhà văn chơi bình quân, các Hội sáng tác văn học nghệ thuật khác cũng chơi bình quân. Các Viện khoa học, các Sở khoa học cũng bình quân. Từ lĩnh vực sáng tạo đến lĩnh vực hành chính cùng đua nhau bình quân. Đúng là "không sợ thiếu, chỉ sợ chia không đều" (bất hoạn quả nhi hoạn bất quân). Thật đáng thương cho những ông Lê Như Hổ của nghiên cứu và sáng tác cũng chỉ được cho xơi bằng những ông lực điền "sáng tai họ điếc tai cày", làm ăn như "mèo mửa".

Cho nên chúng tôi đề nghị "sửa tận gốc" nghĩa là sửa từ nhận thức, từ suy nghĩ mới có thể bàn tiếp đến chuyện chỉnh đốn lại tổ chức nhân sự, chỉnh đốn lại cả một cái cơ chế chồng chéo rối rắm, kỷ cương đảo lộn, "dưới lộng quyền trên bất lực" chỉ tổ làm mồi cho một lũ cơ hội, tham lam, xảo quyệt.

Việc đời cũng như việc đánh cờ nên người xưa luôn nói đến bàn cờ thế sự, biết đi thì thắng, không biết đi thì thua. Những cái đầu đầy ắp tri thức Tống Nho và Thanh Nho như triều đình Huế làm sao nghĩ được những nước đi hay mà không thua :

"Một bàn cờ thế phút sa tay" (Nguyễn Đình Chiểu)

Một đầu óc tỉnh táo, minh mẫn, dẫu có lâm vào thế bí vẫn có thể tìm được cơ thoát, chuyển bại thành thắng :

Lạc nước hai xe đành bỏ phí

Gặp thời một tốt cũng thành công

(Hồ Chí Minh))

Điều quan trọng trong bàn cờ cũng như trong cuộc đời là phải :

Kiên quyết không ngừng thế tiến công

(Hồ Chí Minh))

Tất nhiên phải "Bàn cho thấu, suy cho kỹ". Đánh cờ mà cứ tính nước một hoặc dập khuôn các nước đi của "Mai Hoa phả", "Quất Trung bí" thì sớm muộn vẫn lâm vào thế bí và thắng sao nổi đối phương. Phải xem lại những ván thắng ván thua của mình. Nghiền ngẫm lại từng nước đi đã qua để rồi nghĩ được những thế cờ mới mà chơi tiếp trong những ván chơi mới.

Ông bà ta xưa đã từng đi những nước cờ tuyệt vời như nước cờ Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa, Rạch Gầm Xoài Mút ... Có những nước cờ đặc biệt như nước cờ Bạch Đằng, "đi" đến lần thứ ba mà đối phương vẫn đành bó tay chịu thua cuộc. Lịch sử có khiếm khuyết là chỉ ghi tên Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo chứ không ghi tên những người đẽo cọc, vác cọc và cắm cọc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng chẳng ghi tên bà cụ bán hàng trên bến đò Rừng đã mách nước cho Trần Hưng Đạo.

Khi Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung phất lên ngọn cờ chiến thắng là do đâu ?

Hồ Quí Ly là một con người kiệt xuất của lịch sử, thế mà đi nước cờ Đa Bang, nước cờ Thanh Hóa tưởng là vững chắc mà sụp đổ không thể cứu vãn, đành đau đớn nhận ngọn cờ chiến bại. Tự Đức và triều đình Huế mới bị chặt vài cánh quân ở Chí Hòa, Vĩnh Long đã run tay không cầm vững ngọn cờ phất tiếp, vội hạ ngọn cờ ngũ sắc và giương lên lá cờ trắng. Tại sao thế ? Hóa ra những cái gì người ta tưởng là vững chắc lại không phải là vững chắc. Thành ngữ "vững như thành" chẳng phải lúc nào cũng đúng. Tính từ An Dương Vương, Hồ Quí Ly, rồi đến các vua Mạc, các vua Nguyễn, tất cả những người đắp thành giỏi thì sự nghiệp đều ra mây khói. Vương triều Trần không lo việc đắp thành (ngay khu vực các Thái thượng hoàng ngự ở Thiên Trường gồm cung Trùng Hoa, cung Đệ Nhất, cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam, cung Đệ Tứ mà giới khảo cổ Nam Định cũng như trung ương không tìm ra được một dấu vết nào của thành trì, và cả ba lần giặc Nguyên tràn sang, ba lần bỏ lại thành Thăng Long cho giặc. Thế là không lo đắp thành mà cũng chẳng lo giữ thành. Vì sao dám đi những nước cờ táo bạo như thế ?

Đơn giản là vì đã có lòng dân. Có Diên Hồng là có tất cả !

Lịch sử nhân loại từng chứng kiến vó ngựa Nguyên Mông giày xéo nát mọi thành trì từ Ấu sang Á thế mà buộc phải quị ngã trước những mái chèo của lòng dân Đại Việt.

Ở Việt Nam cũng như ở trên thế giới, tất cả những giới thống trị nào lo xây thành đắp lũy hoặc xây dựng những công trình kiến trúc vĩ đại đều làm kiệt sức dân, tan rã lòng dân. Sụp đổ là điều không tránh khỏi. Với những trí tuệ sáng suốt như Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, lòng dân là một thứ thành trì bất khả xâm phạm, bất khả chiến bại.

Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam cũng thấm nhuần chân lý đó nên đã đi được nhiều nước cờ tuyệt hay. Không phải Hồ Chí Minh thì không có nước cờ Tân Trào, càng không có nước cờ xít-mác (6-3-46). Và cũng chỉ có Hồ Chí Minh mới dám quyết định "bỏ Hà Nội, Huế, Sài Gòn và tất cả các thành phố, với một lệnh tiêu thổ kháng chiến triệt để khiến cho giặc phải kinh hoàng. Chỉ khi nào được LÒNG DẤN và TIN VÀO LÒNG DẤN người ta mới dám hành động quả quyết như thế.

Trần Hưng Đạo nếu đánh theo Tôn Ngô binh pháp hẳn không thể tạo ra một trận Bạch Đằng vang dội lịch sử nhân loại. Võ Nguyên Giáp nếu dập theo binh pháp của Hoàng Phố hay Xanh-xia (Sincyr) hoặc khuôn theo ý cố vấn này cố vấn khác thì chắc cũng không có một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu".

Và tiếp sau là những nước cờ: hòa đàm Paris, công kích Buôn Ma Thuột, đột nhập giải phóng Sài Gòn ... đều là những nước cờ tuyệt vời của Đảng ta đưa Việt Nam lên đỉnh vinh quang của thời đại.

Cũng phải nói đến nước cờ Đại hội VI đúng là một nước cờ quyết liệt gỡ được một bàn thua trông thấy. Tạm điểm một ít nước cờ như thế để thấy trí tuệ Việt Nam đâu có xoàng.

Những nước cờ hay đã vậy, còn những nước cờ dở thì sao ?

Thiết tưởng cũng nên điểm lại để rút kinh nghiệm cho thế kỷ mới.

Phải là một dân tộc kiên trì và đầy lòng tự tin nên mới tạo ra những thành ngữ kiểu như "thua keo này bày keo khác". Nhưng tại sao lại cứ phải thua và cứ phải bày lại. Liệu có cách đánh nào để không bao giờ thua để không bao giờ phải bày lại nữa. Với từng cá nhân thì có thể thua hay thắng, đó là lẽ thường tình. Nhưng đối với cả một dân tộc, một đất nước, có thể đặt vấn đề khác đi không ? Hay là cứ lặp lại kiểu suy nghĩ cũ và yên tâm với kiểu suy nghĩ đó : chẳng qua đều là cơ trời, vận nước ! Vậy thử hỏi vai trò của con người ở chỗ nào ? và những con người của một thời đại mới có thể làm gì khác hơn tổ tiên ông bà mình ? Chẳng lẽ một dân tộc như dân tộc Việt Nam mình mãi mãi chỉ có thể tự hào về những chiến công quân sự hay sao ? Còn những thành tích về những mặt khác, đặc biệt là về mặt khoa học kỹ thuật ta lại luôn khuyên bảo nhau phải nhún mình để nhường thiên hạ hay sao ? Theo thống kê mới nhất của liên hiệp quốc thì trong số 55 nước nghèo khổ nhất hành tinh thì ta với ngót 300 USD một đầu người được xếp thứ 48. Ta định giữ cái thứ hạng này đến thế kỷ nào nữa ?

Chuyện thật lạ đời mà lại có thật. Cứ thắng giặc ngoại xâm xong lại quay ra áp bức bóc lột lẫn nhau. Lại sát hại công thần. Lại tù đày chém giết những người cương trực. Lại để cho bọn gian thần, nịnh thần hoành hành tác oai tác quái, lại để cho tiếng than khóc hờn oán vang động hết thôn cùng xóm vắng. Lại đói rách cơ cực. Tóm lại, nghĩa là làm tất cả những trò để tự mình làm hèn yếu mình đi. Rồi khinh miệt nhau, oán hờn nhau. Thử hỏi nếu như mình hùng mạnh thì ngoại bang có dám động đến lông chân mình không ? Khi mình đã hèn yếu thì tha gì mà họ không đến để đè đầu cưỡi cổ mình.

Tỉnh ra thì đã muộn. Lại khóc ra máu. Lại kêu hồn nước. Lại :

"Nỗi diệt chủng bề thương bề sợ

Nòi giống ta biết có còn không"

(Phan Bội Châu))

Mâu thuẫn nội bộ lại phải dẹp lại rồi đồng lòng đánh giặc cứu nước. Thắng giặc xong lại quay lại chu kỳ cũ. Cứ vòng đi vòng lại bao nhiêu đời như thế.

- Nào, ta còn định vòng đến đời nào nữa đây ? Cũng xin nói thẳng với những người vẫn hồn nhiên tin rằng : ta có quân đội mạnh sợ gì ! Ta có công an mạnh sợ gì ! Xin thưa rằng quân đội nhà Hồ, quân đội nhà Nguyễn không phải là thứ quân yếu đâu và bảo kiếm dẫu sắc mà không có lá chắn Nhân Dân thì anh đỡ bằng gì ?

Năm 2000 không thể là năm mơ hồ được nữa đâu. Vì từ năm 2000-2006 có xa gì lắm đâu. Khi AFTA xóa các hàng rào mậu dịch và hàng rào thuế quan là sẽ biết nhau ngay thôi ! Hàng hóa của thiên hạ tràn vào nước ta được không ? Hoàn toàn được. Hàng vừa tốt, vừa rẻ ai dại gì mà không mua. Hàng hóa của ta có tràn vào các nước được không ? Cứ như tình hình hiện nay thì hẳn là không. Vừa qua, ximăng của ta cạnh tranh với ximăng Thái Lan ngay trên đất mình mà cạnh tranh không nổi, nói chi đến hàng chục ngàn mặt hàng khác muốn cạnh tranh trên đất người. Nói thế không phải để bi quan mà phải biết bảo nhau lo dần đi kẻo sau hối không kịp.

Khi sản phẩm nông nghiệp cũng như sản phẩm công nghiệp không tiêu thụ được, thất nghiệp tràn lan, đất đai trở thành hoang hóa thì tình hình kinh tế và tiếp theo là an ninh xã hội, chính trị sẽ như thế nào. Giữ được an ninh chính trị như hiện nay là tốt, nhưng nó lại tốt đến mức sẽ đẻ ra một tình hình cực kỳ không tốt trong tương lai. Ví von một cách có hình ảnh thì ta đang như một nhà hát giao hưởng. Dàn nhạc ngồi biểu diễn rất tề chỉnh, nhạc công nào cũng biểu diễn hết sức mình; chỉ có điều các dàn dây, dàn gõ, dàn hơi không ai chịu kém ai, lờ luôn cả đũa điều khiển của nhạc trưởng. Trông lên sàn diễn thì nhạc trưởng vẫn đang điều khiển nghiêm chỉnh, ai cũng biểu diễn tích cực và nhiệt tình. Nhưng họ nghe theo "nhạc trưởng con" trong bộ phận của họ hoặc làm theo ý bản thân họ. Do đó, khi họ đã trật tự một cách hỗn loạn như thế thì thính giả không còn hiểu họ đang biểu diễn gì, không nghe nổi gì. Như ở phương Tây thì thính giả chắc chắn sẽ huýt sáo, la ó, có khi ném cả trứng thối lên sàn rồi bỏ ra về phản đối. Phương Đông, và nhất là Việt Nam ta thì không thế. Cứ ngồi mà chịu trận, cùng lắm là xì xào bàn tán. Những người không am tường lại tưởng thế mới là nhạc giao hưởng. Những người hiểu biết muốn bỏ về nhưng lại không dám vì không phải chỉ ban tổ chức mà ngay những thính giả cũng chê trách là bất lịch sự và vu cho ý đồ "phá hoại" buổi biểu diễn. Khi các dàn giao hưởng tứ phương đến biểu diễn, người ta mới tá hỏa thế này mới là giao hưởng thứ thiệt. Và người ta không mua vé để xem cái thứ lộn xộn được gọi là giao hưởng nữa. Đáng lẽ thì phải biết tổ chức lại ngay, thiết lập một trật tự mới trong biểu diễn, đúng theo bài bản và nghệ thuật của giao hưởng, nhưng mấy ông quản lý nhà hát lại tuyên bố dứt khoát rằng ta có cách biểu diễn giao hưởng của ta. Của ta dứt khoát không phải giống của Tây. Rồi cũng có đuổi vài anh đánh trống hoặc thổi kèn quá to và yên chí thế là đã có điều chỉnh, có cải tiến. Phiền một nỗi vé không bán được, mà vẫn phải tiếp tục trả lương cho các nhạc công và những nhân viên phục vụ, có tốn thêm một khoản thuê những người vỗ tay. Đành phải đi vay nợ để duy trì nhà hát. Duy trì đến bao giờ thì chưa rõ. Nợ sau này ai chịu trách nhiệm trả lại cũng chưa rõ. Chuyện nghe như bịa mà lại có thật. Cứ xem bản nhạc KÍCH CẨU vừa qua là đủ rõ. Với lối đua nhau tăng giá gas, giá điện, giá nước, giá xăng, giá điện thoại, bưu phẩm v.v. thì đủ thấy các ông Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng điện lực, Tổng cục Thuế, Tổng cục Bưu điện, Ủy ban vật giá đều tìm cách làm giảm sức mua. Riêng thuế giá trị gia tăng nghiễm nhiên rút bớt 10% lương của toàn thể cán bộ viên chức vốn đã mất đi 30% lương thực tế do chế độ lương điều chỉnh chậm. Đặc biệt chế độ làm việc 5 ngày 40 giờ mới xem thì tiết kiệm được một ít tiền điện nước, tiền điện thoại cơ quan nhưng lại làm khốn khổ hàng chục triệu gia đình có con em đi học mẫu giáo và phổ thông.

Chúng tôi thực sự không hiểu mấy ông Bộ trưởng, Tổng cục trưởng nghĩ như thế nào về mức thu nhập của nhân dân và cán bộ viên chức nước mình mà vấn đề gì các ông cũng đề ra là phải đánh đu với khu vực, với quốc tế. Các ông muốn đồng bộ với quốc tế. Đúng lắm ! Nên lắm ! Nhưng liệu ai có thể đồng bộ với các ông ? Chẳng lẽ các ông lại không hiểu thế nào là "liệu cơm gắp mắm", "liệu bò đo chuồng" hay sao ?

Các ông cứ chơi trò trống đánh xuôi kèn thổi ngược thế này thì định trút hết trách nhiệm lên đầu nhạc trưởng Phan Văn Khải hay sao ?

Cần nhớ rằng khi đã ngồi vào bàn cờ thế sự thì chỉ cần đi nhầm một nước là toàn bộ thế cờ bị xô đổ. Muốn gỡ được thế quân bình phải chống đỡ chối chết và tốn bao mồ hôi xương máu. Đúng là "gỡ ra cho nữa còn gì là duyên".

Một trong những nước cờ đi sai nghiêm trọng là nước cờ Quảng Trị. Ai hạ lệnh quyết giữ thành cổ Quảng Trị năm 1972 bằng bất cứ giá nào ? Lịch sử xác nhận đúng là một quyết định ngu xuẩn đi ngược hẳn lại đường lối và tư tưởng quân sự Việt Nam.

Nước cờ 76 cũng là một nước cờ sai. Sao lại có thể cắt đứt ngoại giao với nước láng giềng Trung Quốc để hợp tác toàn diện và tuyệt đối với Liên Xô. Sao lại có thể hy vọng "lấy nước xa để cứu lửa gần" được.

Nước cờ Nông-pênh (79) nửa đúng nửa sai cũng cần được rút kinh nghiệm một cách nghiêm chỉnh. Nhà láng giềng bị cháy, chạy sang cứu là đúng nhưng ở đấy hàng chục năm làm gì ? Phải nhìn tương quan lực lượng của cả khu vực và toàn cầu chứ. Nó lú nhưng chú nó khôn, đâu phải chuyện chỉ riêng với Khơ-me Đỏ. Việc đưa quân ra ngoài biên giới là người xưa rất thận trọng. Đại thắng như Quang Trung mà cũng chỉ cho quân lính đứng ở biên giới mà hò hét dậm dọa, cho Lưỡng Quảng bay hồn mất mật một phen.

Lực lượng quân sự mạnh như thời các vua Nguyễn mà với Lào, Miên, Xiêm vẫn phải thi hành chính sách "nhu viễn" mềm dẻo khôn khéo. Ở đời, trói thì dễ, cởi đâu có dễ; chiếm thì dễ, giữ đâu có dễ.

Có những nước cờ tay trái chém vào tay mặt như nước cờ cải cách ruộng đất, ta đã nhớ đời rồi. Nhưng điều đáng nói là những thói tố điêu, tố láo, lấy bần - cố làm chuẩn mực cho chân lý và công lý vẫn là những di căn không phải một sớm một chiều đã khắc phục được.