Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Đối Thoại Năm 2000Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân |
DÂN CHỦ : VẤN ĐỀ CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI (f)
Mấy năm gần đây, Quốc hội ta đã tổ chức được các cuộc chất vấn, thảo luận dân chủ một cách công khai. Đó là một bước tiến bộ rất cơ bản. Nhưng theo dõi những buổi truyền hình trực tiếp, dư luận nhân dân vẫn còn thấy nhiều điều băn khoăn. Một số đại biểu Quốc hội thì chất vấn chưa trúng những vấn đề mà dư luận thấy cần phải chất vấn. Thí dụ, chưa thấy đại biểu quốc hội nào chất vấn bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và bộ trưởng Bộ Thương mại rằng tại sao cả quốc doanh lẫn tư doanh đều bán cho nông dân cả 3 miền những sản phẩm giả hiệu : giống ngô trồng không có bắp, giống vải trồng không có quả, thuốc trừ sâu dỏm, gây thiệt hại cho nhân dân hàng ngàn tỉ đồng. Ai chịu trách nhiệm bồi thường cho nông dân những khoản thiệt hại này.
- Tại sao ốc bươu vàng gây tai họa khiến nông dân thiệt hàng ngàn tỉ đồng mà không ai chịu trách nhiệm ? Ai đã ký lệnh cho nhập ốc bươu vàng trong khi các nhà khoa học đã có khuyến cáo trên báo chí.
- Tại sao ông chủ nhiệm Ủy ban vật giá của chính phủ lại trả lời báo rằng chúng tôi không quản lý giá gas và để cho tăng giá gas một cách tùy tiện ? Tại sao gas sản xuất tại nội địa mà ông tổng cục trưởng tổng cục thuế lại đánh 30% thuế nhập khẩu để cho các công ty gas nội địa dựa vào đó đòi nâng giá gaz theo thị trường khu vực ?
- Tại sao người nông dân chỉ dùng xăng dầu chạy máy trên đồng ruộng của mình mà lại phải nộp thuế cầu đường do Tổng cục Thuế và Tổng cục Xăng Dầu tính vào giá xăng ? Vậy hai ông tổng cục này trả lời ra sao ? Ai chịu trách nhiệm về việc điều chỉnh giá chậm chạp này để làm thiệt hại cho nông dân ?
- Tại sao ông bộ trưởng Bộ Giáo dục không tham khảo nghiêm chỉnh ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy để cho tất cả các khoản đóng góp vào học phí, lại để cho các địa phương, thậm chí từng trường tùy tiện bày ra các khoản đóng góp làm khổ hàng mấy chục triệu các bậc cha mẹ học sinh ? Liệu đến bao giờ thì liên bộ giáo dục và tài chính chính thống nhất được chuyện đóng góp này và trả lời công khai trước dư luận ?
- Tại sao đ/c Thủ tướng chưa chọn lựa và bổ nhiệm được một tổng cục trưởng hải quan và một tổng cục trưởng thuế vụ có đủ năng lực chặn đứng được dòng thác lũ hàng nhập lậu để bảo vệ các doanh nghiệp nội địa an tâm sản xuất ? Khi các doanh nhân điêu đứng vì hàng nhập lậu, thì đ/c Thủ tướng và các đ/c Phó thủ tướng có chịu trách nhiệm gì không ?
Còn rất nhiều vấn đề nữa nhưng chúng tôi chỉ nêu mấy vấn đề trên để thấy rằng có những vấn đề mới xem qua là nhỏ nhưng thực chất lại là cực kỳ to lớn. Có thể có những người nghĩ rằng mỗi một thùng gaz tăng dăm ngàn đồng, mỗi một lít xăng tăng có hơn 100 đồng, mỗi học sinh đóng vài chục ngàn xây dựng trường lớp cả năm hoặc vài chục ngàn bồi dưỡng thầy cô dạy thêm thì có đáng gì mà phải quan trọng hóa đặt vấn đề chất vấn ở Quốc hội. Còn chuyện bán hàng giả mạo cho nông dân chẳng qua là một bọn thiếu đạo đức kinh doanh hoặc do tình hình xuống cấp chung của xã hội, có gì đáng phải làm ầm ĩ.
Nói thế thì có khác gì nói rằng khoán hộ hay không khoán hộ thì có gì là quan trọng. Không có vấn đề gì là nhỏ cả vì tất cả đều động chạm đến đời sống của hàng chục triệu dân sống ở đô thị và hàng mấy chục triệu nông dân sống ở nông thôn. Đó là chưa tính đến những vấn đề "lặt vặt" đó còn làm nảy sinh và ảnh hưởng dây chuyền đến hàng loạt vấn đề khác như văn hóa, đạo đức thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội và an ninh quốc gia.
Nói như thế để thấy rằng việc điều tiết ở cấp vĩ mô quan trọng và lớn lao biết chừng nào đối với xã hội ta hiện nay. Nếu ta "buông lỏng" trách nhiệm điều tiết này thử hỏi ta còn XHCN ở chỗ nào ?
Nghe phần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, chúng tôi trộm nghĩ rằng có một số đ/c Bộ trưởng chưa ý thức được trách nhiệm điều tiết vĩ mô của Bộ mình cụ thể là thế nào. Người ta hỏi một đằng lại trả lời một nẻo, có người thì đọc báo cáo thành tích của bộ mình, có người lại xin trả lời bằng văn bản, có người lại đẩy trách nhiệm sang Thủ tướng và nhường quyền trả lời cho Thủ tướng. Thậm chí có người còn nói : "Chúng tôi chỉ có trách nhiệm giúp đỡ Chính phủ, nên ...". Mình là bộ trưởng, là một thành viên của chính phủ, bản thân mình là chính phủ mà lại nói là "giúp đỡ chính phủ" ?
Thế mới biết dân chủ hóa đời sống trong đó có việc dân chủ hóa bộ máy nhà nước là khó thật. Xem ra thời kỳ tập sự dân chủ cũng không thể rút ngắn, đốt cháy giai đoạn mà được Lênin đã dạy : "Dân chủ XHCN gấp một triệu lần dân chủ tư sản". Mới thực tập một phần triệu mà đã thấy vất vả quá. (Chỉ có điều đáng mừng là Quốc hội ta tuy có sôi nổi nhưng vẫn giữ được hòa khí, ổn định. Chuyện "thượng cẳng chân hạ cẳng tay" như mấy nghị sĩ quốc hội tư sản là tuyệt đối không có).
Chúng tôi nghĩ rằng, bước vào thế kỷ XXI, tất cả những người trí thức chân chính ở trong Đảng cũng như ngoài Đảng đều phải dũng cảm và thật lòng cùng nhau bàn bạc để giúp đỡ Nhân dân và Trung ương ta tổ chức cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước một cách hoàn hảo, nghiêm chỉnh, đáp ứng được nhu cầu phát triển của Dân tộc và Thời đại. Ai có năng lực và tâm huyết hãy xung phong ứng cử mà đảm đương trọng trách. Ai thiếu năng lực lại không may bị giới thiệu nhầm thì phải kiên quyết xin rút cho có trật tự.
Tất nhiên, 100 đại biểu mà nhân dân đã bầu ra, dù vẫn trong cảnh thắt lưng buộc bụng nhưng cũng vẫn lo cho các đại biểu thật đầy đủ phương tiện để trau giồi tri thức về luật pháp. Có thể họ không hoàn toàn giỏi về luật nhưng những tri thức cơ bản, tinh thần cơ bản của cổ luật phương Đông, cổ luật phương Tây, đặc biệt là cổ luật Việt Nam, hình luật thời Lý, luật Hồng Đức thời Lê, luật Gia Long thời Nguyễn. Dù không đi sâu, họ cũng phải được các chuyên gia giỏi thuyết trình cho, để nắm được tinh thần cơ bản của hiến pháp và luật pháp của các nước điển hình trong thế giới hiện đại và đặc biệt là phải hiểu được sâu sắc tác phẩm Khế ước xã hội (le Contrat social).
Sau này ban Thường vụ Quốc hội phải tuyển những chuyên gia luật giỏi nhất nước để tham gia ban biên soạn các dự thảo luật.
Bên cạnh đó còn phải lập một Ban ngôn ngữ chuyên duyệt về từ ngữ và câu cú cho thật chính xác trước khi gửi cho các văn phòng của Đại biểu quốc hội nghiên cứu.
Về phía Đảng cũng cần chuẩn bị cho các đại biểu của mình một cách chu đáo. Tất cả chuẩn bị thật tốt để hình thành được một quốc hội thực sự đại diện được cho Nhân dân và cho Đảng, xứng đáng là cơ quan lập pháp của đất nước.
Phải nhìn thẳng vào thực tế để thấy rằng Quốc hội vừa qua mới thực sự đại diện cho Đảng chứ chưa thực sự đại diện cho Nhân dân, vì 20% đại biểu không phải là đảng viên thì cũng không do Dân lựa chọn. Và những người này cũng không dám nói năng gì. Ai có can đảm phát biểu điều gì khác ý thì lập tức khóa sau xin mời ông nghỉ. Cần chấm dứt tình trạng ban soạn thảo dự luật còn để lại trên văn bản những lỗi về từ pháp, cú pháp, logic. Nhiều đại biểu không nắm vững tri thức luật pháp lại phải làm nhiệm vụ giơ tay biểu quyết từng điều trong mỗi đạo luật.
Nước cờ dân chủ hóa chỉ thực sự là nước cờ hay, có thể làm chuyển biến được tình thế theo hướng phát triển tất yếu, nếu chúng ta tổ chức được các Hội đồng nhân dân địa phương và Quốc hội có hiệu lực thực sự, nghĩa là chúng ta thực thi được một điều cốt tử trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong học thuyết Hồ Chí Minh : trao toàn bộ quyền bính về tay Nhân dân và chỉ có thế chúng ta mới giữ vững được vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố được Chế độ và làm cho CNXH trở thành hiện thực trên đất nước ta.
Cho nên, sau nước cờ đổi mới tuyệt vời và cực kỳ khôn ngoan : trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nếu tiếp theo chúng ta chậm chạp trong việc đổi mới tư duy chính trị hoặc chỉ đổi mới một cách hình thức, chúng ta sẽ không tạo ra đủ thế và lực để chuẩn bị cho một trận quyết chiến chiến lược trên mặt trận công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chúng ta phải bàn với nhau thật kỹ để chuẩn bị những mũi giáp công mới như công nghệ tin học, công nghệ sinh học ...
Vừa qua, Ần Độ đặt chỉ tiêu phần đấu xuất khẩu 50 tỷ đô la phần mềm. Ta thử tính toán xem chất xám của mình sẽ tạo ra bao nhiêu phần mềm để có thể xuất khẩu vào năm 2005 hoặc 2010 bằng 1/100 hay 1/1000 của họ ?
Có lẽ phải khẩn trương tạo ngay những đột phá mới về nền giáo dục để tạo lấy những lớp nhân tài mới cho đất nước. Ai cũng biết muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi. Muốn có thầy giỏi thì phải tuyển được những học sinh xuất sắc nhất vào sư phạm. Muốn thu hút được những học sinh xuất sắc nhất vào sư phạm thì không thể kêu gọi suông mà phải bằng một chính sách, một chế độ ưu đãi. Các thầy dạy ở Sư phạm được hưởng thang lương đặc biệt, học sinh vào học sư phạm được hưởng chế độ học bổng đặc biệt. Tất cả các thầy các cô từ mẫu giáo đến đại học đều được hưởng lương cao hơn các ngành khác. Và chúng ta phải tạo ra một chế độ thi cử kiểu mới. Vì chính thi cử sẽ quyết định phương pháp giảng dạy. Thi mà chỉ khảo trí nhớ, người ta sẽ chỉ rèn luyện trí nhớ. Thi mà khảo sát về tư duy, người ta sẽ đi theo hướng rèn luyện tư duy (những phóng viên báo chưa hiểu về giáo dục và sư phạm chớ vội dè bỉu những phương pháp giảng dạy mới, chuyện này phải dành cho các nhà khoa học, những chuyên gia về phương pháp giảng dạy, không nên lấy đa số cha mẹ học sinh vốn được học theo phương pháp cũ và chính người viết báo cũng được học theo phương pháp cũ để lấy áp lực của đa số đối với cái mới. Những phương pháp mới như phương pháp của Hồ Ngọc Đại phải được thảo luận lại một cách nghiêm chỉnh cho hoàn thiện, không thể căn cứ vào một vài khuyết điểm, nhược điểm mà dè bỉu phủ nhận tất cả.
Loạt bài của Kiều Phan trên báo Sài Gòn giải phóng mắc sai lầm này.
Đổi mới tư duy chính trị trước khi đổi mới tư duy kinh tế như ở Liên Xô là hỏng. Đổi mới như ta là khôn, nhưng so với Trung Quốc lại là quá chậm chạp. Ta cứ than phiền là trừ diệt tham nhũng buôn lậu khó quá ! Chính người nhà nước ta tham nhũng, chính người nhà nước ta buôn lậu hoặc thông đồng với bọn buôn lậu mà ta lại sai họ đi bắt bọn buôn lậu thì họ bắt ai ? Chẳng lẽ lại bắt chính họ à ? Cũng là do đổi mới tư duy chính trị chậm chạp mà ra. Ta than phiền là không có tiểu thuyết hay, phim ảnh hay, mà ta đâu có thiếu những người viết kịch bản và đạo diễn tài năng. Cũng là do đổi mới tư duy chính trị chậm chạp. Không đổi mới tư duy chính trị thì làm sao đổi mới được tư duy văn học nghệ thuật. Mà không đổi mới tư duy văn học nghệ thuật thì có họp hàng trăm đại hội, có bầu hàng trăm ban chấp hành mới thì tình hình vẫn là giậm chân tại chỗ mà thôi.
Chúng ta cũng nên bỏ cái lối đổ sai lầm khuyết điểm cho cơ chế thị trường. Một thời chúng ta trút hết vào cái bị "phong kiến đế quốc sài lang", một thời thì trút hết vào cái bị "sản xuất nhỏ", bây giờ thì là cái bị "cơ chế thị trường". Thiên hạ cũng làm kinh tế thị trường - tại sao người ta lại phát triển, mình cũng làm kinh tế thị trường - tại sao mình lại trì trệ ? Không phân tích kỹ xem mình sai qui luật ở chỗ nào lại hò nhau đi "tu thân". Thật là hết sức nực cười, cứ làm như Dân mình là thứ dân hư hỏng, Đảng mình là thứ đảng hư hỏng. Thử nhìn lại xem, hàng ngàn năm qua và gần đây là 200 năm dưới triều Nguyễn, tổ tiên ông bà cha mẹ mình bảo nhau tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành có giải quyết được vấn đề nghèo nàn lạc hậu không ? Nếu cứ tu thân và tề gia cho giỏi rồi mọi bất công xã hội tự nhiên biến mất, thế thì hò nhau đổi mới làm gì ?
Dân chủ hóa mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, bao gồm nhiều công việc, nhiều công đoạn, đòi hỏi tốn nhiều sức người, sức của và thời gian. Không nên nóng vội nhưng cũng không được phép rề rà nữa. Rất nhiều chủ trương hay nhưng chúng ta thực hiện rất lề mề chậm chạp. Cứ xem mấy việc cải cách giáo dục, cải cách hành chính là đủ thấy đáng sốt ruột như thế nào. Tại sao như thế ?
Đơn giản là vì ta đi nước cờ dân chủ hóa một cách quá chậm chạp mà việc quyết định cho việc dân chủ hóa thành công lại là nước cờ tự do ngôn luận !
Cải cách giáo dục sau ba chục năm loay hoay rồi đi đến thất bại là do chính nguyên nhân này. Bộ giáo dục của ta toàn làm ngược. Đáng lẽ phải cải cách sư phạm trước thì người ta lại đi cải cách phổ thông trước. Đáng lẽ phải cải cách phương pháp giảng dạy trước thì người ta lại đi cải cách nội dung giáo dục trước.
Lại thêm cái bệnh hình thức rất nặng bỏ qua cả những tính toán khoa học và nhiều điều hợp lý tối thiểu trong đời sống. Tự nhiên ai đó có "sáng kiến" nhập cấp I vào cấp II mà không thấy rằng cả bàn ghế lẫn nhiều thứ sinh hoạt khác không thể chung được. Lại thêm một "sáng kiến" nhập các trường Đại học với nhau thành Viện đại học quốc gia. Tất cả mọi vấn đề cải tiến cải cách đều có những ý kiến đóng góp đúng nhưng đều bị bỏ ngoài tai. Ý kiến sai và những ý kiến tung hô ý kiến sai thì được phép tràn ngập trên các phương tiện truyền thông, nhất là báo chí chuyên ngành. Ý kiến đúng thì hoặc bị chìm đi, hoặc không bao giờ được xuất hiện trên mặt báo chí. Ngay những ý kiến của những người tầm cỡ lớn như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn còn bị gạt đi, huống chi tiếng nói của những người thường. Cái đúng mà không tạo được dư luận làm áp lực đối với cái sai thì sẽ bị cái sai đánh lui rồi lâm vào tình trạng bất lực hoặc thất bại. Khi người ta nhận diện được cái sai, thực tiễn xác nhận rằng đúng nó là cái sai thì thường đã mất đi hàng vài chục năm rồi. Vài ba chục năm là một thời gian không đáng kể đối với xã hội nông nghiệp "con trâu đi trước, cái cày theo sau", một xã hội hoàn toàn dựa vào tự nhiên và kinh nghiệm mà sống, không cần sáng chế phát minh lý sự dài dòng gì cả. Một xã hội như thế chỉ cần theo kinh nghiệm của các lão nông tri điền, chỉ cần hỏi ý kiến các già làng, các bô lão là giải quyết được hết. Đó là một nhịp điệu lững thững, từ từ, "dục tốc bất đạt", "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau".
Còn muốn xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, người ta phải tính công việc từng năm, từng quí, thậm chí từng ngày, từng giờ và từng phút một. Ngay trước mắt là 2003 ta có vượt qua được AFTA hay không, đó là vấn đề. Mỗi sự chậm chạp sai lầm của hôm nay phải trả giá rất đắt ngay vào ngày mai chứ không xa xôi lâu lắc gì. Sống trong một xã hội thông tin mang tính toàn cầu hóa buộc mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia phải có kiểu suy nghĩ mới để thích ứng. Thích ứng chậm thì bị đào thải nhanh. Mà muốn thích ứng nhanh thì lại phải nắm bắt được thông tin và xử lý kịp thời. Hiện nay, trên mặt nhiều tờ báo của chúng ta, người ta đưa ra những thông tin không những vô bổ mà còn có hại, vô tình hay hữu ý, người ta gây nhiễu về tư tưởng.
Chúng ta thiếu hẳn những cây bút viết xã luận sắc sảo, có những tờ báo hàng ngày bỏ hẳn mục xã luận, thiếu hẳn những cây bút viết phóng sự sinh tử với nghề. Do đó, có nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng không được điều tra phanh phu kịp thời. Có những ngân hàng, xí nghiệp, công ty quốc doanh cũng như tư doanh thông đồng, lừa đảo lẫn nhau, thua lỗ, ăn cắp, hối lộ, tham nhũng kéo dài hàng chục năm, phổ biến gần như trong toàn quốc, báo chí lại lờ đi coi như không hay biết gì. Ngay cả khi Tổng bí thư và Trung ương Đảng đã phát động phong trào dân chủ hóa cũng chưa báo nào dám cho phóng viên của mình đi làm phóng sự nhiều kỳ về một địa phương hay một ngành xem tình hình mất dân chủ cụ thể ra sao. Đáng buồn là một số bài bình luận viết hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, cũng trích lời này lời khác của Tổng bí thư nhưng vấn đề dân chủ hóa thì lờ đi. Các từ chỉnh đốn, đoàn kết, phê bình, tự phê bình có đủ cả, riêng cụm từ "dân chủ hóa" thì không thấy. Hình như họ bị dị ứng với vấn đề này và từ ngữ này. Xem như thế mới thấy rằng, thiếu sự cạnh tranh trong lĩnh vực báo chí như hiện nay báo chí quốc doanh chơi một mình một chợ kiểu này là không ổn. Bản thân báo chí đã không phát triển lại còn góp phần vào làm trì trệ xã hội. Cái nguy là họ làm hại cho Trung ương. Nếu nhận được thông tin đầy đủ và phân tích khoa học được tình hình thì làm gì đến nỗi xảy ra những vụ việc đáng tiếc như vụ Thái Bình. Một cái hại khác là những ý kiến hay của Dân, của những trí thức chân chính không được thông tin đầy đủ cho xã hội biết, Trung ương cũng không biết.
Đọc bức thư của đ/c cố vấn Võ Văn Kiệt gửi các đ/c thường vụ tỉnh ủy các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Nam Bô (Sài Gòn giải phóng thứ bảy 15-1-2000), chúng tôi giật mình khi thấy đ/c cố vấn chưa thấy thực trạng của "thực trạng tình hình" vùng đất này.
Đ/c quan tâm đến tình hình ăn ở đi lại, nói chung là tình hình đời sống sinh hoạt vật chất của nhân dân sau 25 năm giải phóng vẫn còn thấp kém một cách đáng buồn. Đ/c cũng quan tâm đến việc kiến tạo các khu di tích văn hóa của vùng và yêu cầu đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng các khu du lịch văn hóa và cải tạo môi trường văn hóa, tự nhiên. Đ/c không khỏi ngạc nhiên khi thấy việc phát triển các khu sinh thái du lịch và việc đẩy mạnh các mặt sản xuất tốt như thế mà đời sống nhân dân lại không được nâng lên. Tại sao có tình hình như thế thì đ/c lại chưa bỏ thì giờ nghiên cứu để thấy hết những nguyên nhân đã tạo ra tình hình đó.
Với tư cách những người nghiên cứu KHXH, chúng tôi đã có dịp khảo sát tình hình của khu vực đồng bằng Nam Bộ từ thời đ/c Kiệt còn làm Thủ tướng và thấy rằng cần phải thấy thực trạng của mọi thực trạng, nghĩa là phải tìm ra những nguyên nhân và bàn cách khắc phục những nguyên nhân đó mới có thể chuyển biến được tình hình. Thí dụ : vì sao nông dân đồng bằng Nam Bộ được mùa mà vẫn khổ, càng được mùa lại càng khổ. Chúng tôi đã đến thăm một số gia đình nông dân ở khu tứ giác Long Xuyên Đồng Tháp vào thời kỳ được mùa. Nhà nào cũng chất lúa đến tận nóc và quây lúa chật cả sân nhưng không thể bán được cho ai. Đến nỗi mừng đám cưới cũng phải mừng bằng thóc và người ta cũng không thể nhận quà mừng của bà con vì bản thân người ta cũng ngập thóc rồi. Nhà nước thì không thu mua, tư thương thì ép giá. Có bán hết số lúa thu hoạch được, người nông dân cũng không thể nào lấy lại đủ vốn để tái sản xuất chứ chưa nói đến chuyện tái sản xuất mở rộng.
Chẳng rõ những ai đã tham mưu cho đ/c Võ Văn Kiệt đặt ra cái "độc quyền quota" và chắc đ/c cũng không ngờ rằng làm như thế là ta đã chuyển cái độc quyền xuất khẩu từ tay nhà nước sang tay tư nhân. Nhà nước độc quyền, dân đã khổ nhưng còn có mức độ, tư nhân mà độc quyyền thì vô hạn độ rồi. Và mọi chuyện trên đời đã độc quyền là hỏng. Do đó giai cấp tư sản quốc tế vốn sính độc quyền mà cũng đã phải "thức thời" bảo nhau ban hành hẳn những đạo luật chống độc quyền.
Cho nên trong văn bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi đã viết " "Chính phủ Võ Văn Kiệt đặt ra độc quyền quota mà Dân phải chịu. Chính phủ Phan Văn Khải bỏ độc quyền quota thì Dân được nhờ".
Không thì ráng mà chịu, chẳng lẽ Dân chống lại đ/c và những người tham mưu cho đồng chí ? Một nhóm người làm sai mà thành ra mang tiếng cả Đảng, cả nhà nước Dân chủ. Dân không tin và không thể theo những người làm sai thì lại trách Dân là không tin Đảng, không chịu phục tùng Chính phủ, phục tục Nhà nước. Chúng tôi xin nhắc thêm một lần nữa : từ nay, không ai được phép nói Dân không tin Đảng hoặc giảm sút lòng tin với Đảng. Và cũng không ai được mượn danh nghĩa Đảng để làm sai rồi cứ đổ lỗi cho Đảng. Dân không chống những kẻ làm sai thì Dân khổ, Dân chết. Mà chống những kẻ làm sai để có thể tồn tại và phát triển thì lại bị qui là tội chống Đảng, chống Chế độ. Thế là nghĩa lý gì ? Thực ra, đ/c Võ Văn Kiệt cũng như tất cả những người cộng sản chân chính trải qua bao nhiêu năm vào sinh ra tử, có ai lại không mong cho Dân được sung sướng. Nhưng tham mưu giỏi thì không nghe, lại đi dùng những kẻ thiếu hiểu biết thì làm gì Dân không khổ.
Vừa qua, chúng tôi được biết đ/c muốn tổ chức 18 hội thảo ở 18 tỉnh và muốn xin Trung ương cấp kinh phí nghiên cứu cho một số công trình. Thế là đ/c có thiện ý, đ/c có cái tâm rất tốt. Nhưng đ/c lại tin và giao việc, giao tiền cho những người như giáo sư Nguyễn Công Bình, giáo sư Mạc Đường, ... thì hậu quả sẽ ra sao ?
Giáo sư Nguyễn Công Bình mười mấy năm làm Viện trưởng Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh từng làm chủ nhiệm vài chục công trình nghiên cứu, trong đó có những công trình nghiên cứu nhiều năm về đồng bằng sông Cửu Long. Thử hỏi ông Nguyễn Công Bình và cả tập thể những giáo sư tiến sĩ do ông chỉ đạo đã thực hiện được một công trình nào có chất lượng để đóng góp cho sự phát triển của khu vực và ngay TP Hồ Chí Minh là nơi Viện đóng ? Từ lâu dư luận cả trong lẫn ngoài Viện đều nhận định rằng trình độ hiểu biết khoa học của ông Bình chỉ chủ nhiệm một công trình còn khó hoàn thành, khả năng đâu mà làm chủ nhiệm hàng mấy chục công trình trên đủ các lĩnh vực.
Lại nói đến giáo sư tiến sĩ Mạc Đường, sau vụ ông Nguyễn Công Bình bị kỷ luật vì đã mắc nhiều sai lầm khuyết điểm (trong đó có khuyết điểm lớn là trù dập nhiều cán bộ khoa học có năng lực) nên ông được lên thay. Năng lực nghiên cứu Dân tộc học của ông thì mọi người đều hiểu cả. Sở dĩ ông nổi tiếng là do :
1. Trong 1 bài nghiên cứu đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, ông Mạc Đường đã khẳng định nước ta xưa là một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến (trong khi giới nghiên cứu đã thảo luận và thống nhất từ lâu rằng nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến khác hẳn với Trung Quốc là nước nửa thuộc địa nửa phong kiến). Không kể người quản lý khoa học mà bất cứ người nghiên cứu khoa học nào cũng không được quyền sai về những tri thức sơ đẳng, cơ bản như vậy. Cũng trong bài báo này, ông Mạc Đường còn qui định thành phần cho một số lãnh tụ của ta như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp là thuộc "tầng lớp trí thức đi theo cách mạng". Dư luận TP Hồ Chí Minh và cả Thủ đô nữa xôn xao bàn tán. Đ/c Nguyễn Duy Quý có hỏi chúng tôi về anh Mạc Đường. Chúng tôi nói : đó chẳng qua là do trình độ và sự sơ xuất chứ bản thân anh Mạc Đường không có tâm địa gì.
2. Ông cũng nổi tiếng vì đã định hướng và chỉ đạo những hội thảo lớn ở cấp quốc gia và quốc tế, đặc biệt là hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật mà chúng tôi đã có bài phê phán và đến nay mặc dù đã có chỉ thị của giám đốc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia mà bản thân ông cũng như người em họ ông là tiến sĩ Đinh Văn Liên - giám đốc Trung tâm Sử học vẫn chưa nộp bản kiểm điểm để ông Trần Trọng Đăng Đàn đăng công khai lên tạp chí KHXH. Khuyết điểm nặng như thế mà cả hai ông đều vẫn là đảng viên đủ tư cách loại 1.
Hiện nay, cũng như ông Nguyễn Công Bình, ông cũng bỏ chuyên môn chính của ông là Dân tộc học để đi tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo do Ford Foundation tài trợ. Một số cán bộ khoa học trẻ cũng noi gương ông tham gia những công trình nghiên cứu chẳng có quan hệ gì đến khả năng và trình độ chuyên môn của mình. Miễn có tài trợ là bảo nhau xốc tới.
3. Có lẽ ông nổi tiếng nhất là đã can đảm vô hiệu hóa một trung tâm đang hoạt động có hiệu quả là Trung tâm Hán Nôm (Chúng tôi sẽ có văn bản riêng để trình với Quốc hội và Bộ Chính trị về tình trạng "tuyệt tự" hiện nay của Trung tâm này. Chữ "tuyệt tự" là của ông Mạc Đường dùng trong dịp lễ tổng kết 2 năm hoạt động của Trung tâm Hán Nôm (1993) : "Thay mặt lãnh đạo Viện, chúng tôi xin hứa không để cho Hán Nôm bị tuyệt tự". Cho đến lúc chúng tôi đặt bút viết những dòng này thì Trung tâm Hán Nôm chỉ có duy nhất một nhân viên mới được tuyển vào biên chế. Giám đốc vừa đi hợp tác nghiên cứu ở Nhật về thì được các ông mưu mô cho về hưu ngay (cuối năm 1996). Cho về hưu lần trước không xong thì lần này chính thức cho về hưu (12-1999).
Tóm lại, cả hai ông trong 25 năm qua đều tích cực và chủ động góp phần phá vỡ kỷ cương nghiên cứu của một cơ quan khoa học cấp quốc gia. Nghiên cứu và tranh luận khoa học đích thực thì không quan tâm nhưng tranh luận và kiện cáo nhau về tiền bạc thì có phần sôi nổi do có sự mờ ám và thiếu công bằng.
Lại nói đến người kế cận các ông là tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa. Có thể các bạn không có thì giờ đọc mấy cuốn sách đầy chất tư biện, lý luận suông của ông. Vậy thì chỉ cần đọc bài viết mới nhất của ông (ngày 10-2-2000) cũng đủ hiểu phẩm chất tư duy và trình độ nhận thức về lý luận và thực tiễn của con người này.
Chú thích : Đọc tại lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng và đón nhận huân chương lao động hạng ba, Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh : "Phát triển khoa học xã hội và nhân văn để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở các tỉnh miền Nam".
Trong toàn bài diễn văn dài 10 trang khổ A4, ông Nghĩa đã để ra 3 trang ca tụng Đảng với những lời lẽ khuôn sáo mà mọi người đã từng nói và từng viết cách đây ba, bốn chục năm, và nếu như ba, bốn chục năm sau có nhắc lại như thế cũng vẫn đúng. Như thế là ông Nghĩa đã đúng một cách rất sai. Vậy, ông Nghĩa sai ở chỗ nào ?
Ông Nghĩa đã để ra nửa trang để nhắc lại lời của đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, nhưng vấn đề cốt tử mà đ/c Tổng bí thư nhấn đi nhấn lại trong những bài viết gần đây là vấn đề DẤN CHỦ HÓA đất nước thì ông Nghĩa không nhắc đến. Trong toàn bộ bài diễn văn, người ta cũng không tìm thấy cái cụm từ DẤN CHỦ HÓA cực kỳ quan trọng này. Ông Nghĩa cũng không ý thức được rằng trong những ngày chúng ta đang sống hiện nay, trong tình hình thực tế của giai đoạn hiện nay, các đảng viên không được nhấn công ơn của Đảng đối với Nhân dân (công ơn của Đảng thì quá vĩ đại, có ai không thấy mà cứ lặp đi lặp lại một cách vô bổ như thế). Hiện nay, đ/c Tổng bí thư cũng như nhiều đ/c cao cấp của Đảng yêu cầu phải nhấn mạnh công ơn của Nhân Dân đối với Đảng. Thử hỏi một đảng viên, hơn nữa lại là tiến sĩ triết học, được giao quản lý một Viện khoa học cấp quốc gia mà không hiểu thực tiễn, không hiểu vấn đề lý luận này, không nhạy bén với lời dạy của lãnh tụ thì nguy hiểm biết chừng nào ? Như thế là chưa cần các ông bàn rộng hay bàn sâu về lời dạy của lãnh tụ mà chỉ cần nhắc lại và giải thích CÁI ĐÚNG, ông Nghĩa cũng đã không làm nổi, nghĩa là còn dưới cả mức "minh họa".
Tình trạng đáng phàn nàn của ông viện trưởng Viện Triết học Nguyễn Trọng Chuẩn và ông viện trưởng Viện Khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Thế Nghĩa là như thế đó ! Nếu có xếp các ông vào loại "hủ Marx" hẳn các ông lại kêu ầm lên là chụp mũ, oan ức cho các ông.
Thật là đau khổ cho một đất nước khi phải dùng những người như các ông làm lớp kế cận !
Chưa kể khi ông Nghĩa lại còn tự hào rằng Đảng bộ do ông lãnh đạo là một Đảng bộ trong sạch và vững mạnh, 100% đảng viên loại 1. Xin thưa với ông Nghĩa rằng nếu cơ quan ông là một cơ quan quản lý kinh tế thì tạm coi là được đấy. Nhưng cần nhớ rằng đối với một cơ quan khoa học sao lại có thể coi nhẹ vấn đề nhận thức chính trị, quan điểm học thuật và vấn đề phục vụ thực tiễn cách mạng. Đặc biệt là vấn đề tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền nơi địa phương mình đóng.
Hóa ra, những đảng viên như ông Mạc Đường, ông Đinh Văn Liên, ông Phan An, ông Huỳnh Lứa v.v.. từng đứng ra chỉ đạo, định hướng hoặc tổ chức những hội thảo mang đầy tính chất xuyên tạc lịch sử như hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật lại vẫn đáng mặt đủ tư cách đảng viên loại 1 cả hay sao ?
Và bản thân ông Nguyễn Thế Nghĩa cũng rục rịch tổ chức hội thảo Việt Nhật lần thứ 2 (may mà có lệnh từ Bộ Chính trị bắt đình lại). Ông Nghĩa thử trả lời trước công luận : vì sao đã ra lệnh đình chỉ hội thảo "Phát triển kinh tế trang trại ở Nam Bộ" (mà ông lại ghi vào phần thành tích của viện). Vì sao ông lại nối gót ông Nguyễn Công Bình và ông Mạc Đường để tiếp tục vô hiệu hóa và làm tê liệt hoạt động của Trung tâm Hán Nôm. Cử nhân Hán Nôm Nguyễn Kim Dân đã trúng kỳ thi tuyển công chức của viện, vì sao ông không thu nhận mặc dầu ông đã hứa là nếu ông trúng cử viện trưởng, ông sẽ sửa cái sai của ông Mạc Đường và bà Nguyễn Cẩm Thúy ? 87 cử nhân Hán Nôm do Trường đại học tổng hợp đào tạo (theo thống kê năm 1996) hiện vẫn đang long đong đi xin việc ngoài ngành Hán Nôm của mình. Hơn 100 các vị cộng tác viên của Trung tâm Hán Nôm từ 5 năm nay không được triệu tập sinh hoạt, thế mà trong diễn văn của ông, ông vẫn hô to "Phải quán triệt và vận dụng một cách sâu sắc luận điểm : cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Ông còn cao giọng : "Đảng phải đi sâu sát quần chúng, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng để "việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh".
Vậy, việc biểu dương ba hội thảo khoa học và bốn tập kỷ yếu (*1) có giá trị của Trung tâm Hán Nôm trong 5 năm 1991-1995 là "có hại cho dân" nên ông "phải hết sức tránh" chăng ? Việc này ông Mạc Đường đã không làm nổi vì "thiếu tình người" (Lời đ/c Nguyễn Đức Bình và báo Văn Nghệ Trẻ) nhưng nay trong phần tổng kết thành tích của Viện để nhận huân chương, ông Nghĩa cũng không làm nổi.
Cũng nên nhắc để ông Nghĩa nhớ rằng theo nhu cầu của bạn đọc và giới nghiên cứu thì trong 4 tập kỷ yếu đã có 3 tập phải tái bản. Riêng tập kỷ yếu Tuệ trung thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam thì tái bản lần thứ hai (việc tài bản kỷ yếu của Trung tâm Hán Nôm) là hiện tượng hiếm có hiện nay.
Hiện tượng các bạn đọc ở trong nước cũng như ở Paris, Canađa, California hồ hởi đón nhận, chứng tỏ những công trình khoa học tập thể này thực sự đáp ứng được nhu cầu của công tác nghiên cứu và đời sống thực tế. Những công trình có giá trị như thế của viện, ông Nghĩa lờ đi không nhắc đến. Ông lại nhắc đến những đề tài mà ông và ông Mạc Đường mới đăng ký như :
- "Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh".
Chúng tôi chưa rõ trên đã duyệt chưa và cấp cho các ông bao nhiêu kinh phí. Cũng nên nói thẳng rằng nghiên cứu hình thức như các ông chỉ góp phần làm nghèo thêm thành phố và đất nước. Và nếu các ông thực sự quan tâm đến những vấn đề thực tế nóng bỏng của xã hội thì những năm vừa qua các ông đã sốt sắng tham gia nghiên cứu đề xuất để phát hiện tình hình tham nhũng và làm giảm nạn tham nhũng ở thành phố chưa ? Không ! Hình như những vấn đề nóng bỏng như quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ ... đều dị ứng đối với các ông.
Còn ông Nguyễn Thế Nghĩa gần đây với tư cách Viện trưởng đi khai mạc hết hội thảo này đến hội thảo khác. Với một giọng khuôn sáo, không tự ý thức được rằng mình đang "đúng một cách rất sai". Nói có sách, mách có chứng, ai không tin xin cứ mở Tạp chí triết học số 4/1999. để đọc một trong những bài nghiên cứu gần nhất của ông về Di chúc Bác Hồ.
Có thể nói không quá đáng rằng đây là bài viết đầy tính chất tư biện không hề đề cập và nhằm giải quyết một thực tiễn nào của xã hội hiện nay. Tất nhiên không thể bất công với ông Nghĩa là chỉ chê riêng bài của ông. Vì bài của ông Nguyễn Trọng Chuẩn - viện trưởng Viện Triết học ( ...) và cả bài của ông Nguyễn Duy Quý - giám đốc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia (...) cùng đăng trên số tạp chí đó cũng đều có nhược điểm chung như thế.
Cho nên nghị quyết của Trung ướng Đảng nhận xét và đánh giá rằng : Khoa học xã hội yếu kém và tụt hậu là không có oan. Điều chúng tôi muốn nói ở đây không phải là phân tích yếu kém cụ thể như thế nào (sẽ có bài riêng). Chỉ đáng phàn nàn về sự lãng phí tiền bạc của Nhân dân.
Ngay cái việc các ông in những bài lý luận tư biện, vô bổ trên tạp chí đã là một chuyện lãng phí rồi. Thế mà ông Nguyễn Duy Quý lại còn cử ông Hồ Ngọc Hải - phó giám đốc trung tâm đi máy bay từ Hà Nội vào để đọc một bài như thế. Ông Nguyễn Trọng Chuẩn cũng thế. Công bằng mà đánh giá thì lần này ông Chuẩn có khá hơn lần ông vào dự hội thảo kỷ niệm 150 năm bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản, không những đã không có tham luận mà suốt cả một ngày họp, hội nghị trao đổi sôi nổi, nhưng riêng ông thì lặng im không có một ý kiến nào. Thế là mỗi lần các ông bay ra bay vô kể cả tiền máy bay lẫn tiền ăn ở, tiền tham luận và chiêu đãi, quà cáp, biếu xén là tốn hàng chục triệu của Nhân dân. Chắc những người bênh vực các ông sẽ nói : chúng nó còn lãng phí hoặc tham nhũng những hàng ngàn tỉ kia, chứ dăm ba chục triệu thì nghĩa lý gì. - Xin thưa với các ông vẫn là tiền thuế mồ hôi nước mắt của Nhân dân cả đấy ạ !
Nhân dân đâu có tiếc tiền chi cho khoa học, và trong lĩnh vực này, tiền bạc trở thành chuyện nhỏ. Chuyện lớn ở chỗ khi các ông được giao quyền cao chức trọng, giữ những quyền uy trong khoa học mà không làm gì bổ ích cho nhân dân, thì thật là nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước : Các ông chiếm diễn đàn, chiếm mặt báo và tạp chí. Ngay mấy cuốn sách mà ông Nghĩa xuất bản gần đây cũng là một thứ vô bổ. Thử hỏi các ông có mắc tội tiếm quyền trong khoa học không ? Nhân dân cần các nhà khoa học chân chính nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đáp ứng những nhu cầu phát triển của xã hội và đất nước. Chỉ nhìn lại riêng 25 năm qua, khoa học xã hội của ta đã đóng góp được những gì ? Và tình hình bê bối khủng hoảng này làm đau đâu những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, làm cho đời sống nhân dân sút kém cả về vật chất lẫn tinh thần, vậy các ông - những người được giao trách nhiệm lãnh đạo và quản lý khoa học xã hội có chịu trách nhiệm gì không ? Có nên tự trọng nhường chỗ cho những người có thực tài và giàu tâm huyết không ?
Ngay trong hội thảo 30 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, các ông cũng dám làm ngược lại những điều Bác đã dạy : Bác dạy phải thực hành dân chủ, thế mà suốt từ sáng đến chiều, các ông Hồ Ngọc Hải, Nguyễn Thế Nghĩa, Nguyễn Thanh Bình không dành cho hội nghị một phút nào để thảo luận. Ngoài việc các ông đọc tham luận hoặc đọc hộ nhau, các ông lại chỉ định những người ăn cánh lên đọc tham luận, nhiều người dự họp đã than phiền rằng các ông đã biến hội thảo 30 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ thành mít-tinh kỷ niệm. Cái nguy là những tham luận có tính khoa học thực sự có phát hiện và đề xuất vấn đề mới thì không được mời lên trình bày. Các ông thì đưa lý do là không có thời gian, nhưng chúng tôi cho như thế là mất dân chủ.
Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ, ngay trong Di chúc, Người cũng dành hẳn một phần nói về phụ nữ, nhắc nhở Đảng và Nhà nước ta có trách nhiệm bồi dưỡng và đưa thêm nhiều phụ nữ có khả năng tham gia bộ máy quản lý. Thế mà 34 bản tham luận của các nhà khoa học nữ (trong đó có 1 bản nghiên cứu về quan điểm của Bác Hồ đối với phụ nữ), tuyệt nhiên các ông không mời một người nào lên đọc. Thậm chí, sau 24 năm, lần đầu tiên Viện KHXH mới có một nhà khoa học nữ được cử làm Phó viện trưởng, các ông không mời lên ghế chủ tịch đoàn, cũng không thèm giới thiệu. Cũng như nhiều nhà khoa học có mặt ở hội nghị hôm đó, chúng tôi xấu hổ thay cho các ông khi các ông thản nhiên tiếp tục coi thường DẤN CHỦ và PHỤ NỮ ngạy tại hội thảo khoa học về Bác Hồ. Đáng buồn hơn nữa khi nữ phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng lại đăng bài ca tụng các ông. Thế mới biết ý thức được thế nào là Dân chủ và Nữ quyền thực là điều khó, khó hơn cả việc tìm đường lên trời !
Như thế là Viện khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh qua ba đời viện trưởng không ông nào lo đến việc giải quyết những vấn đề nghiên cứu khoa học xã hội nhằm giải quyết thiết thực những vấn đề của TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Công Bình lại lo đóng vai trò "cai đầu dài" trong khoa học. Năng lực thì yếu kém mà ông dám chủ nhiệm hàng chục đề tài - thử hỏi riêng đề tài nghiên cứu đồng bằng sông Cửu Long (VIE) kéo dài ngót hai chục năm trời, tốn kém bạc tỉ của nhân dân, ông đã giải quyết được vấn đề gì. Gần đây, nữ phóng viên Hồng Quân lại viết trên báo Sài Gòn Giải Phóng ca ngợi ông Bình là : "nhà sử học nổi danh". Giới sử học chưa thấy ông có một công trình nào xuất sắc, thậm chí ông cũng chưa đề xuất được một vấn đề gì mới về sử học. Vậy, thì ông nổi danh về phương diện nào ?
Chẳng lẽ nữ phóng viên Hồng Quân lại muốn nhắc đến sự nổi danh của ông về vấn đề trù dập ba nhà khoa học của Viện, đã từng được dư luận và báo chí phê phán nên ông đã nhận kỷ luật ? Còn ông viện trưởng Mạc Đường thay ông, sau khi ông bị kỷ luật, lại chỉ lo tổ chức những hội thảo xuyên tạc lịch sử, bây giờ đến lượt ông Nguyễn Thế Nghĩa lại vẫn làm việc theo kiểu ngựa quen đường cũ và chưa nặn Bụt đã nặn bệ. Cả ba ông đều có tội rất lớn đối với văn hóa dân tộc, đặc biệt là đối với công tác nghiên cứu Hàn Nôm. Ông Bình thì sau khi đưa cụ Phạm Thiều về hưu rồi giải thể luôn bộ phận nghiên cứu Hán Nôm. Sau 11 năm bị giải thể, nhờ có giáo sư Trần Văn Giàu và giáo sư Đặng Xuân Kỳ, đơn vị nghiên cứu Hán Nôm mới được phục hồi. Trung tâm Hán Nôm hoạt động được 5 năm có hiệu quả thì ông Mạc Đường lại tìm cách làm cho lụn bại đi và bây giờ thì ông Nghĩa tiếp tục sự nghiệp của ông Bình và ông Đường. Cả một Viện khoa học hơn bảy chục cán bộ nghiên cứu, người có năng lực thì chán nản, kẻ bất tài thì lăng xăng bợ đỡ, chân ngoài dài hơn chân trong, đặc biệt người có năng lực và có thể làm việc tốt thì dứt khoát cho nghỉ, còn những người kém năng lực như ông Bình thì được giữ lại mặc dù đã 69 tuổi. Đúng là "đó rách ngáng chỗ". Đáng buồn hơn là cố vấn Võ Văn Kiệt không biết thực chất của ông Bình nên lại tin dùng. Các ông cùng với báo chí lại rước nhau lên để tham mưu cho cố vấn tổ chức đủ 18 hội thảo ở 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Thế là dân ta cứ nai lưng đóng thuế để cho các ông làm những việc vô bổ. Chúng tôi tình nguyện làm người giám sát xem các ông làm ăn ra sao rồi tổng kết để báo cáo cho Nhân dân biết.
Ở nước ta hiện nay có một tình hình đáng sợ là đua nhau tổ chức hội thảo, đua nhau đăng ký các đề tài nghiên cứu. Hội thảo nào cũng đọc những bản tham luận viết vội vã, sáo mòn, hoàn toàn kém chất lượng khoa học. Hội thảo nào cũng kêu thiếu giờ nên không tổ chức thảo luận nghiêm chỉnh. Công trình nào nghiệm thu cũng đều khá hoặc xuất sắc (riêng đề tài Hán Nôm ở Vĩnh Long của Nguyễn Thị Cẩm Thúy vừa qua lại triệu tập những người hoàn toàn không biết Hán Nôm đến họp nghiệm thu). Hầu hết các công trình đã được nghiệm thu ở cấp bộ cũng như cấp quốc gia trong lĩnh vực khoa học xã hội đều không thể phát huy tác dụng đối với cuộc sống. Mà phát huy làm sao được khi mà người ta đã sai ngay từ khi chọn đề tài. (Thí dụ như đề tài "Nghiên cứu và xây dựng CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN"). Chắc mọi người không thể tưởng tượng được rằng có những nhà khoa học nghiên cứu đề tài "chiến lược con người" mà bưng tai ngoảnh mặt làm ngơ trước tình hình thực tế của đời sống nông dân và công nhân hiện nay.
Đã có một nghị quyết của Trung ương nghiêm khắc đánh giá và phê phán những yếu kém của Khoa học xã hội nhưng nhiều người làm KHXH cứ lờ đi coi như không xảy ra chuyện gì. Những người quản lý khoa học ở Trung tâm quốc gia cũng như ở các Viện không thực thi một biện pháp thích đáng nào để thúc đẩy chuyển biến tình hình. Vì lụt thì lút cả làng, chẳng ai phải chịu trách nhiệm gì cả. Một câu hỏi được đặt ra : chúng ta định duy trì tình hình này đến năm nào của thế kỷ mới ? Chẳng cần nghiên cứu sâu sắc gì nhiều, người ta cũng có thể dự báo được rằng khi chúng ta tham gia AFTA 2003 thì tình hình thất nghiệp và đói khổ sẽ ra sao nếu chúng ta không biết lo sửa chữa ngay từ hôm nay ?
Xin chất vấn các nhà nghiên cứu :
- Nếu hàng hóa của thiên hạ ùa vào thị trường ta và tiêu thụ được, còn hàng hóa của ta ngay trên thị trường ở đất nước mình cũng không cạnh tranh nổi thì tình hình xã hội sẽ ra sao ? Không nên cho rằng tình hình quan liêu, tham nhũng, hối lộ, ức hiếp quần chúng đã đến mức trầm trọng như mấy năm vừa qua thì chỉ có các cấp lãnh đạo đảng và chính quyền, của từng địa phương phải chịu trách nhiệm, còn giới nghiên cứu KHXH thì vô can. Không phải như thế, những người nghiên cứu và quản lý nghiên cứu nếu còn lương tâm và ý thức trách nhiệm hẳn phải nghiêm khắc kiểm điểm lỗi lầm của mình đối với tình hình xã hội hiện nay. Chúng ta cũng phải công khai nhận lỗi trước Nhân dân, trước Đảng mới tỏ ra còn xứng đáng là những người nghiên cứu khoa học. Không đấu tranh kiên quyết để loại bỏ những phần tử dốt nát, cơ hội, cai đầu dài, ... trong nội bộ giới mình thì cũng là những tội lỗi không đáng được nhân dân tha thứ. Chúng ta phải biết bảo nhau thanh toán tâm trạng bất lực trước tình thế. Thử hỏi nếu thế hệ con cháu ta lại rập theo cái nề nếp nghiên cứu và đấu tranh như hiện nay thì đất nước này rồi sẽ ra sao ? Không phải chúng tôi quan trọng hóa vấn đề mà thực chất là vấn đề quan trọng như thế !
Tự mình làm sai qui luật, tự mình hủy hoại trí tuệ của mình, mình lại kiêu ngạo thành thần rồi tất cả lại đổ lỗi cho khách quan, cho hoàn cảnh. Trong cái cuộc sống đa đoan phức tạp này, ai mà chẳng "hoàn cảnh". Chẳng lẽ chỉ riêng mình có quyền "hoàn cảnh", còn người khác thì không. Mình "hoàn cảnh" thì yêu cầu mọi người rộng lượng, khoan dung, người khác "hoàn cảnh" thì mình lại xông tới phang đập túi bụi. Thế là công bằng chăng ? Thế là nhằm tiến tới văn minh chăng ? Cho nên trong buổi giao thừa đón năm 2000, lần đầu tiên nghe ông chủ tịch thành phố là đ/c Võ Viết Thanh, thay mặt Thành ủy và Ủy ban công khai xin lỗi nhân dân thành phố, chúng tôi thấy xúc động và hẳn nhân dân thành phố cũng mát dạ hả lòng. Có lẽ từ nay nên hình thành một phong tục mới, một nếp văn hóa mới, tất cả các thủ trưởng từ phường xã cho đến trung ương, bản thân mình làm sai hoặc các nhân viên dưới quyền mình làm sai, gây hậu quả nghiêm trọng thì phải đứng ra xin lỗi nhân dân. Cấp phường xã, quận huyện thì phải ra cuộc họp và đăng báo; cấp tỉnh, thành phố trở lên phải lên truyền hình công khai xin lỗi. Cần nhớ, ở những nước như nước ta, dư luận có sức mạnh rất to lớn. Nếu không tạo cho dư luận đúng một sức ép đủ để trấn áp cái sai thì tình hình sẽ là ngược lại. Vừa qua, có những tờ báo do cách đưa tin làm hoang mang dư luận xã hội. Chỉ cần nêu vài thí dụ điển hình là mọi người đã thấy sự vô lý. Dăm ba con nhà cán bộ có chức có quyền thoái hóa biến chất hoặc mấy đứa con nhà giàu sổi, cậy có tiền có bạc dám hỗn láo với thầy cô thì báo chí làm ầm ĩ lên như là đạo đức xã hội đến chỗ suy sụp, gia đình vô trách nhiệm với con cái. Nhân dân thì quên mất đạo Khổng Mạnh không biết thế nào là tôn sư trọng đạo. Cứ đọc những bài báo của ba vị phóng viên hoặc bỉnh bút này, người ta tưởng như xã hội trở nên đen tối, truyền thống dân tộc, bản sắc Việt Nam hầu như tiêu tán cả. Đất nước này đi theo cơ chế thị trường là khờ dại dễ đánh mất mình như chơi. Đúng là luận điệu hồ đồ bôi đen chế độ mà không tự biết.
Thử hỏi con cái của mấy chục triệu gia đình công nhân, nông dân và cán bộ viên chức tử tế, có ai dám hỗn với các thầy, các cô ? Ai dám không tôn sư trọng đạo ? Đáng lẽ vài chục năm qua báo chí phải hướng dư luận vào việc chống cường hào tham nhũng thì lại hướng dư luận vào những việc không đâu mà có hại như cổ động phục hồi hương ước. Họ tham mưu thế nào đến nỗi Thủ tướng ký một lệnh phục hồi hương ước. Họ không hiểu hoặc vờ không hiểu rằng hiện nay xã hội ta còn hương đâu nữa để mà ước. Xưa kia, hương ước hay còn gọi là lệ làng, là một thứ phương tiện, một thứ vũ khí để chống lại chính quyền Trung ương của giai cấp thống trị phong kiến. Vì thế mới có câu : "Phép vua thua lệ làng". Bây giờ lại bảo nhau đặt ra đủ các "lệ làng" mới thì nhằm chống chính quyền trung ương nào ? Phục hồi và phát huy truyền thống thì cũng tùy truyền thống mà phục hồi mà phát huy chứ. Một xã hội đang cần tập quyền đến cao độ, luật pháp đang cần được tập trung ở mọi lúc mọi nơi. Thế mà mỗi địa phương lại đặt ra lệ riêng, luật riêng thì công nghiệp hóa hiện đại hóa thế nào ?
Trong văn bản trước, chúng tôi đã phân tích và nay xin nhấn lại điều này : đừng tưởng dùng hương ước sẽ ổn định được tình hình nông thôn. Lợi bất cập hại vì nó tạo ra một tình hình lộn xộn về lâu về dài, trước mắt là nó đi ngược lại đường lối dân chủ hóa cơ sở của Trung ương. Các chi bộ dòng họ và các ủy ban xã sẽ làm biến chất Đảng ta và bộ máy Nhà nước ta. Thế là ngài Đinh Bộ Lĩnh phải bao nhiêu vất vả mới dẹp được mười hai sứ quân, những người anh hùng Tây Sơn mất bao mồ hôi, xương máu mới xóa xong ranh giới sông Gianh, rồi Đảng ta cùng với nhân dân 30 năm đổ xương máu mới xóa được tình trạng Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, xóa được giới tuyến Bến Hải. Thế mà nay ta lại định tạo ra hàng ngàn sứ quân mới. Nghĩ cũng kỳ !
Chúng tôi tin rằng nếu có những cơ quan ngôn luận tư doanh có tiếng nói phản bác lại, thì đấy là những dịp rất tốt để cho chính phủ trung ương cũng như các cơ quan chức năng có thể tham khảo dư luận từ nhiều phía để cân nhắc trước khi ra các thứ sắc lệnh hay chỉ thị.
Chúng tôi cũng xin nhắc lại để các vị nào hay sợ vấn đề "báo tư nhân" được yên lòng : không cho phép những người nào có nhân thân không tốt hoặc mang tư tưởng chống đối nhân dân và chế độ XHCN (thể hiện trong quá trình và nhất là trong bài viết hiện nay). Còn tất cả những ai được cấp giấy phép ra báo mà đăng những bài chống đối lại chế độ và nhân dân, nghĩa là vi phạm pháp luật hiện hành thì cứ việc ra hầu tòa. Chúng ta không bao giờ phải thực hiện dân chủ và nhân quyền đối với lũ người này mặc cho "quan thầy" của họ phản ứng.
Ai chẳng biết đậu mùa và nhiều thứ bệnh khác là nguy hiểm, nhưng khi đã chủng ngừa để tạo ra nội lực đề kháng thì còn sợ gì ? Khi chúng ta có cả quân đội, công an, tòa án, nghĩa là có một bộ máy chuyên chính dân chủ nhân dân cực mạnh và một Nhân dân cực tốt, chẳng lẽ chúng ta lại không đủ tự tin để chơi với đời hay sao, việc gì mà cứ phải e e ngại ngại. Chúng tôi tin rằng nếu tạo được một dư luận tốt rộng rãi trong xã hội, gây thành một sức ép hữu hiệu thì tất cả các vị quan liêu tham nhũng đều cảm thấy phải liệu thần hồn. Khi họ đã chùn tay hoặc đã sám hối để cải tà qui chính thì sao Đảng ta lại không vững, Chế độ ta không mạnh và Nhân dân ta lại không phấn khởi, vui mừng, tin tưởng ? Nếu ai cho quan điểm của chúng tôi là sai là "vẽ đường cho hươu chạy" thì xin mời thảo luận. Còn nếu ta cứ kiên quyết tiếp tục ngôn luận quốc doanh một mình một chợ thì thôi, chuyện đó đành nhường quyền cho qui luật và lịch sử phán xét !
Tóm lại, đối thoại thì dài dòng như thế nhưng chung qui, chúng tôi chỉ muốn nêu mấy vấn đề sau đây để cho những ai là người hiểu biết và có tâm huyết thì tham gia thảo luận :
1. Xây dựng CNXH ở những nước như nước ta - tiền tư bản và phong kiến tiên thiên bất túc - theo quan điểm của Lênin thực chất là xây dựng kinh tế TBCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước dân chủ nhân dân (tuyệt đối không có chuyện đốt cháy giai đoạn hoặc vận dụng các qui luật kinh tế một cách nửa vời, trống đánh xuôi kèn thổi ngược).
2. Phải củng cố Đảng ta thật vững mạnh để đảm bảo cho Dân tộc vững mạnh và Đất nước phát triển. Phải đảm bảo sự độc quyền lãnh đạo nhưng không độc quyền quản lý. Đảng tăng cường về lượng nhưng trước hết phải coi trọng về chất. Như mọi sự vật trên đời - tế bào cũng như thái cực, Đảng phải nghiên cứu để tự tách, tự nhân mình lên để phù hợp với qui luật phát triển.
3. Tiết kiệm là quốc sách. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các địa phương cần giảm về số lượng và tăng cường chất lượng. Quốc hội ở một nước có tình hình kinh tế chậm phát triển như nước ta, chỉ nên có khoảng 200 đại biểu. 50% do Đảng cử, 50% do Dân bầu. Những ai đã tham gia bộ máy hành pháp thì không tham gia bộ máy lập pháp. Các đại biểu Quốc hội được tập huấn đầy đủ về tri thức lập pháp và tạo đủ điều kiện, phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ lập pháp và giám sát cơ quan hành pháp và tư pháp của mình.
4. Sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp 2001 phải được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển của Đất nước trong thế kỷ mới trên cơ sở phục hồi những tinh hoa truyền thống của bản Hiến pháp 1946 do Hồ Chí Minh và trí tuệ của những trí thức trong Đảng và ngoài Đảng đương thời tạo dựng. Xóa bỏ điều 4 được sao chép từ Hiến pháp Liên Xô năm 1980 sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969). Lý do cơ bản : vì chính điều 4 này đã làm cho các đảng viên cộng sản Liên Xô ngộ nhận, rồi tự đặt mình lên trên cả Xô Viết tối cao, trên cả Hiến pháp và pháp luật, thoát khỏi hẳn sự kiểm soát của xã hội, do đó điều ghi này trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô và tan rã Liên bang Xô Viết. Đây là một điều hết sức tế nhị : trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ Chí Minh và Đảng ta thực sự lãnh đạo và quyết định tất cả. Nhưng không bao giờ văn bản hóa để cho các đảng viên của mình tưởng nhầm rằng mình là siêu quyền lực và tự đặt mình ra "ngoài vòng pháp luật".
5. Thực thi nghiêm chỉnh đường lối "dân chủ hóa" mà Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và Trung ương ta hiện nay đang xúc tiến. Trên làm trước, dưới làm theo. Đảng viên gương mẫu, quần chúng noi gương và giám sát. Sửa đổi Luật báo chí và xuất bản. Đảm bảo cho tiếng nói trung thực của Nhân dân và những người trí thức chân chính của Nhân dân thấu được tới tai mắt của Trung ương nhằm giải quyết kịp thời mọi vấn xã hội theo hướng đảm bảo an ninh chính trị, quốc phòng, văn hóa và tư tưởng.
Về mặt tâm thế xã hội, đã là người trí thức hoặc văn nghệ sĩ, họ phải được nói ra, viết ra những điều họ nghĩ; người bình thường ít học thì khi có điều bực bội, oan khuất, cũng phải được nói ra, kêu lên hoặc thở than giãi bày, mới thấy lòng mình được nhẹ nhõm, thanh thản. Còn vấn đề có được giải quyết hay không, giải quyết sớm hay muộn thì lại là chuyện khác.
Cấm đoán không cho người ta nói ra, viết ra hoặc viết ra lại cấm không cho người ta đăng báo hay xuất bản đều là mầm mống phát sinh mọi sự phức tạp hỗn loạn. Nếu lại để bùng nổ và thẳng tay đàn áp như ở Thiên An Môn, ở Quang Du thì sự phức tạp càng kéo dài.
Người làm ruộng khôn, người trị thủy giỏi không bao giờ để xảy ra tình trạng "tức nước", chứ đã để đến mức "vỡ bờ", "vỡ đê" thì chuyện lôi thôi lắm !
Có một điều ngẫu nhiên khá thú vị là hai người sống ở hai trời Đông, Tây, lại cách nhau hàng hai thế kỷ, thế mà ông Tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Việt Nam lại gặp đại văn hào Voltaire ở Pháp, và hai ông đều thấy tầm quan trọng của tự do ngôn luận. Vấn đề là mọi người có chịu nhất trí với hai ông hay không. Thế thôi !
6. Triệt để tuân theo chỉ thị của Thủ tướng Phan Văn Khải, chúng tôi trân trọng kiến nghị Tổng cục thống kê trung ương và các Cục thống kê địa phương rà soát và ghi chép cho đầy đủ tất cả mọi khoản tài trợ, viện trợ của nước ngoài. Từng dự án một do cá nhân nào chịu trách nhiệm lời lãi ra sao, nợ nần đọng lại là bao nhiêu ? Riêng các khoản tài trợ lặt vặt dăm ba trăm ngàn đô, vài chục vạn đô (như Hội nghị quốc tế Việt Nam học) hoặc vài chục ngàn đô (như Hội thảo Việt - Nhật) của các tổ chức Toyota Foundation, Japan Foundation, Sumitomo (Nhật), Ford Foundation (Mỹ), Sida (Thụy Điển).
Cũng cần yêu cầu thủ trưởng các đơn vị và cơ quan được tài trợ, báo cáo để thống kê cho đầy đủ, vì tuy trên danh nghĩa là có nhiều khoản viện trợ không hoàn lại nhưng thực tế họ nhằm thực hiện ý đồ gì, cần nghiên cứu tổng hợp mới thấy được. Ai cũng biết trên đời chẳng ai cho nhau không cái gì. Ví như Ford Foundation tài trợ cho Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh - do ông Nguyễn Quang Vinh làm chủ nhiệm đề tài - thì ngoài "thiện ý" muốn giúp dân ta mau thoát khỏi đói nghèo, có còn thêm "thiện ý" nào nữa không ? Chúng tôi cùng những người làm khoa học chân chính cũng có trách nhiệm giúp đỡ các đ/c thực hiện công việc này một cách cụ thể và chi tiết.
Để làm gì ?
- Trước hết là để phân loại và nhận diện cho chính xác những ai làm khoa học thứ thiệt, những ai làm khoa học giả hiệu, ai thực sự đóng góp vào sự phát triển, còn những ai chỉ là "cai đầu dài". Những ai tổ chức định hướng cho đàn em bán tư liệu, bán mình, bán hồn, bán cả bí mật quốc gia lẫn tổ tiên ông bà ?
- Thứ nữa là giúp đỡ con cháu khi chúng phải kéo cày trả nợ thì nó biết được rõ danh tính "những ai gầy dựng cho nên nỗi này" chứ trả nợ đậy mà cứ ai oán ca cẩm chung chung thì thành vô duyên. Việc cấp phát kinh phí nhà nước cho các đề tài khoa học cũng nên thống kê đầy đủ như thế. Theo chúng tôi có lẽ nên tổ chức cho đăng ký công khai đề tài nghiên cứu và cũng nên tổ chức đấu thầu công khai các dự án để dần dần chấm dứt tình trạng tham lam ôm đồm, độc quyền và dối trá. Không nên kéo dài thêm tình trạng những người làm được thì không được làm, lại phải đi nhận việc lại từ những tay "cai đầu dài" trong khoa học kèm cả về năng lực lẫn phẩm chất.
Phải mạnh bạo thực hiện việc xã hội hóa và tư nhân hóa công tác nghiên cứu văn hóa, khoa học như đã làm với giáo dục và y tế. Chỉ thị của Phủ Thủ tướng thì có rồi nhưng việc chuyển biến nhận thức và thực thi thì còn quá ư lề mề chậm chạp. Những năm tới, nếu ta không đuổi kịp anh chị em trong khu vực về những mặt này hoặc cứ tụt hậu mãi với thế giới cũng phải qui trách nhiệm rõ ràng cho từng cá nhân quản lý và phụ trách chứ không thể đổ lỗi chung cho hoàn cảnh hoặc kêu ca Đảng và Nhà nước thiếu quan tâm. Nói khác đi là phải chấm dứt tình trạng "đó rách ngáng chỗ", "học phiệt", "liên minh ma quỉ" trong khoa học nhằm tạo cho lớp trẻ thực tài có đất dụng võ.
7. Cải cách toàn bộ hệ thống tư pháp. Ngoài việc đào tạo và lựa chọn để dựng lên một đội ngũ thẩm phán và công tố ủy viên có năng lực và phẩm chất thực sự thì việc đổi mới lề lối làm việc là hết sức cấp thiết.
Đảng lãnh đạo việc làm luật. Hiến pháp và các đạo luật đã biểu hiện rõ ý chí và quyền lợi của giai cấp và của nhân dân nên để cho người chánh án (mà ta thường gọi là chủ tịch hội đồng xét xử) và người ủy viên công tố và các luật sư tham gia tố tụng, căn cứ vào luật mà làm việc. Họ cần được chịu trách nhiệm trước cấp trên thuộc ngành dọc và trước Hội đồng nhân dân và Quốc hội. Không nên để việc xét xử phụ thuộc vào ý kiến của một vài cá nhân trong cấp ủy hoặc cấp chính quyền.
Nếu việc xét xử không công minh hoặc vi phạm pháp luật thì cần được phê phán hoặc tố cáo ngay trên phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu được giám sát chặt chẽ như thế thì dứt khoát tòa án phải làm việc nghiêm túc hơn và lành mạnh hơn. Nếu ta cứ duy trì một cách hình thức các hộ