Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Đối Thoại Hai Ngàn Lẻ MộtTrần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Tập 2 - Ngày 10-XII-2000
3. Sao Có thể Chấp Hành Những Vấn Đề Hiển Nhiên Sai Và Không Dám Thực Thi Những Vấn Đề Hiển Nhiên Đúng ?
Chúng tôi không thể không thông cảm với những người hiểu biết và các cơ quan hữu trách đứng trước những vấn đề đúng sai hiển nhiên mà đành im lặng. Biết là sai mà không dám nói, cứ im lặng, thậm chí cứ làm theo cái sai. Lương tâm cắn rứt thì lại tự an ủi, tự trấn tĩnh rằng mình làm như thế là mình có "ý thức tổ chức", là nghiêm chỉnh thực hiện nguyên tắc "tập trung dân chủ", nghĩa là mình cứ có quyền đúng một cách rất sai, đã có điều kiện lịch sử và hoàn cảnh khách quan chịu trách nhiệm (!?).
Trung ương đã bảo Năm Du lịch là Năm Du lịch chứ Năm Hồ Chí Minh sao được ! Ngay cả người đứng đầu Trung ương cũng không dám Năm Hồ Chí Minh, vì tất cả một tập thể đã quyết định như thế, một cá nhân thay đổi sao được ! Cứ một nếp suy nghĩ, một "ý thức tổ chức" như thế kéo dài trong nhiều thập kỷ và, điều đáng sợ nhất là rất nhiều người - cả trong Đảng và ngoài Đảng - đều nghĩ rằng không thể nào thay đổi được.
Do đó mới có tình trạng:
- Anh có ý kiến khác với thủ trưởng hoặc tập thể cơ quan phải không ? Mời anh ra khỏi cơ quan ! Nặng là đuổi việc, nhẹ là thuyên chuyển.
- Anh có ý kiến khác với tập thể Trung ương à ? Mời anh ra khỏi Trung ương. Nặng là kỷ luật, nhẹ là mời anh ngồi chơi xơi nước.
- Anh có ý kiến khác với tập thể Bộ Chính trị phải không ? Mời anh ra khỏi Bộ Chính trị.
Tất cả đều trở thành "những phần tử có vấn đề". Tổ chức không giải thích, nhân dân không được thông báo. Cá nhân bị xử lí thường cũng nhẫn nhục im lặng. Chúng tôi nêu vấn đề như thế không phải chỉ do quan tâm đến vận mệnh của từng cá nhân mà đó là vận mệnh của cả một cuộc Cách mạng, một Đất nước.
Việc đồng chí Nguyễn Trung Thành không cam tâm "lão giả an chi" đã viết thư cho Trung ương yêu cầu Trung ương minh oan cho những người bị xử lí oan trong vụ "xét lại chống Đảng" cũng là để bày tỏ lòng trung thành của mình với Chân lý và Cuộc đời. Chân lý ném vào lửa không cháy, ném xuống nước không chìm. Trong đời quả thật có những con người nếu không nói được sự thật, không bảo vệ được Chân lý thì sống không thể thanh thản và chết không thể yên lòng nhắm mắt.
Vua Lê Thánh Tông - một trong những minh quân xuất sắc của triều Lê và của chế độ phong kiến Việt Nam - đã can đảm và đầy tinh thần trách nhiệm trong việc minh oan cho Nguyễn Trãi, treo một tấm gương bảo vệ chân lý cho con cháu đời đời noi theo.
Rõ ràng muốn bảo vệ Chế độ tốt đẹp của chúng ta, cần phải thay đổi nhiều thể chế, trước hết là đảm bảo cho mọi người "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật" mà không gặp tai hoạ gì. Đảm bảo cho sự thật không bị lệ thuộc vào "cấp trên" hay "đa số", chỉ phụ thuộc vào nền pháp chế dân chủ của chúng ta mà thôi. Nếu những người trung thực nói lên sự thật tố cáo những việc làm sai trái của bọn cửa quyền tham nhũng, ức hiếp quần chúng mà không bị trù dập, hãm hại thì làm sao bọn ăn cắp của công ( mà báo chí ta thường dùng cụm từ sang trọng tham ô tập thể tài sản xã hội chủ nghĩa ) có thể ăn cắp hàng ngàn tỉ đồng; làm gì có cán bộ tỉnh, cán bộ huyện dung túng cho bọn lâm tặc phá hoại hàng chục ngàn hécta rừng, làm gì có chuyện 165 xã ở Thái Bình đùng đùng nổi dậy chống cường hào; làm gì có chuyện hết đoàn này đến đoàn khác đi hàng trăm hàng ngàn cây số kéo đến Thủ đô kêu khóc về nỗi oan khuất. Nghĩa là nhân dân, đảng viên tốt thực sự được hưởng quyền giám sát tố cáo thì làm gì có quốc nạn tham nhũng. Trong tác phẩm Đối thoại năm 2000, chúng tôi đã bác bỏ những bài thuốc "tu thân", chống chủ nghĩa cá nhân, hoặc tăng cường tình thương mà đã nói thẳng rằng phải tạo ra một thể chế, nghĩa là để toà án dư luận và toà án pháp lý tố cáo và lên án bất cứ kẻ "nội xâm" nào. Nói gọn lại là phải dân chủ hoá, trước hết là phải có tự do ngôn luận. Đúng như đồng chí Lê Khả Phiêu đã nói:
- Có dân chủ thì quan liêu tham nhũng mới bị đẩy lùi.
- Dân đã không nói được thì làm sao năng lực sản xuất phát triển được.
( Trích báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 2-1999).
Một điều đúng hiển nhiên như thế mà trong buổi tọa đàm với các đồng chí ở Hội đồng LLTƯ, không ai mặn mà thảo luận. Các đồng chí không phản đối cũng chẳng tỏ thái độ tán thành. Riêng đồng chí Dương Phú Hiệp - tổng thư ký HĐLLTƯ lại nói với chúng tôi: "Chuyên môn của các đồng chí là nghiên cứu Hán Nôm và nghiên cứu Văn hóa, sao không trở về với chuyên môn của mình."
Đồng chí Dương Phú Hiệp không phải là người đầu tiên và chắc cũng không phải là người cuối cùng nói với chúng tôi điều này. Trong tình hình nước sôi lửa bỏng của Đất nước, đặc biệt là tình hình khủng hoảng lí luận về chủ nghĩa xã hội như hiện nay mà lại bảo mọi người cứ yên tâm làm chuyên môn của mình, kể cũng lạ. Đành rằng cái sân lí luận là thuộc quyền sở hữu của các đồng chí, chẳng ai dám dẫm sang, nhưng thấy các đồng chí làm chuyên môn về lý luận có phần chưa đến nơi đến chốn nên buộc lòng chúng tôi phải ghé vai gánh đỡ.
Là con cháu của Nguyễn Trường Tộ thì phải hành động như thế thôi . Chắc đồng chí Dương Phú Hiệp cũng như bất cứ ai đều không dám trách cụ Nguyễn Trường Tộ không trở về với chuyên môn của mình ( cụ rất giỏi phiên dịch cũng như kỹ thuật kiến trúc và đóng tàu) sao lại bỏ công viết hàng trăm bản điều trần, dẫm sang sân của các Cơ mật viện đại thần triều Nguyễn ? càng không dám trách cụ Chu Văn An sao không yên tâm làm công tác "giáo dục đào tạo" lại dâng Thất trảm sớ làm "phức tạp" thêm tình hình triều đình ? Lại còn ông Nguyễn Tất Thành nữa sao không yên tâm làm "chuyên môn" ở trường Dục Thanh lại bỏ cha già nơi đất khách lặn lội sang Pa-ri chịu đói chịu rét, cất công đến tận hội nghị Véc-xây đưa bản Tám điều kiến nghị đòi độc lập cho Dân tộc ?
Ôi ! Đã mang danh là người trí thức thì dù là trí thức bé hay trí thức lớn, đứng trước tình hình hưng vong của đất nước sao lại có thể vô tâm ngồi đọc sách hoặc đi sao chép lại mọi thứ cổ kim đông tây. Đức Khổng Tử từng dạy: "Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, dĩ minh thả triết, dĩ bảo kỳ thân" ( nước nguy đừng có vào, nước loạn đừng ở lại, hãy khôn ngoan sáng suốt để giữ lấy thân mình). Phưng châm này mới nghe qua thì "hay" đấy, nhưng hoàn cảnh Việt Nam ta thì không áp dụng được, xưa cũng thế và nay cũng thế. Trong tình hình sóng gió toàn cầu hoá, muốn hội nhập để xoá nghèo nàn lạc hậu lại càng không thể "vận dụng sáng tạo" một chút nào những phương châm kiểu đó. Người trí thức có tâm huyết với đất nước không bao giờ từ chối sự dấn thân và nhập cuộc ! Phải đấu tranh với những gì hiển nhiên là sai, bảo vệ những gì hiển nhiên là đúng: đó là trách nhiệm không thể thoái thác của tất cả những người chân chính trên cõi đời này.
Vừa qua khi Ban chấp hành trung ương công bố Dự thảo các văn kiện trình Đại hội IX, nhất là khi báo Nhân Dân đăng những bài góp ý kiến vào các văn kiện, dư luận vui mừng, xôn xao hẳn lên. Bỏ ra hơn ba tháng để nghiên cứu Dự thảo văn kiện và theo dõi những ý kiến đóng góp, chúng tôi thực sự không tránh khỏi kinh ngạc. Sau khi trao đổi với một số đồng chí cán bộ cách mạng lão thành và cán bộ đảng viên hưu trí, có người bảo chúng tôi: "Đợt này dự thảo văn kiện mới chỉ lưu hành nội bộ để trong Đảng góp ý kiến trước, đầu năm 2001 mới công bố rộng rãi để nhân dân góp ý. Các vị không ở trong tổ chức nên ngồi chờ rồi hãy góp ý cho kín cạnh, khỏi vi phạm nguyên tắc".
Chúng tôi không theo nguyên tắc ấy. Đơn giản vì chúng tôi ý thức được rằng mọi chuyện Đảng làm đều quan hệ đến vận mệnh đất nước; mình là người chủ đất nước, mình thấy lúc nào cần bàn là bàn không phải chờ đợi. Vả lại, chúng tôi nói với các vị ấy, nếu đã cần lưu hành nội bộ, thì phần góp ý kiến sao lại đưa ra công khai ? Chúng tôi thấy cần có ý kiến kịp thời cả với văn kiện lưu hành nội bộ lẫn phần góp ý kiến công khai. Chúng tôi nghĩ rằng Ban chấp hành trung ương và Ban soạn thảo văn kiện cũng chẳng hẹp gì mà không tiếp nhận những ý kiến sốt sắng đóng góp, xây dựng chân thành.
Chúng tôi thông cảm với những đảng viên kém trình độ, mặc dù họ rất tha thiết tìm hiểu văn kiện. Nhưng có những đảng viên không kém trình độ, hiểu biết hẳn hoi, được giao trọng trách trong bộ máy Đảng hoặc Nhà nước, có trách nhiệm nghiên cứu nghiêm túc thì lại có thái độ lớt phớt tắc trách. Họ còn bận làm "kinh tế", đua nhau làm "kinh tế". Theo họ, trong kinh tế thị trường này không có thì giờ đâu mà để ý đến văn kiện. Có tập trung họ lại để thuyết trình, giảng giải thì cũng tai nọ chạy qua tai kia. Đáng lo là loại đảng viên này chiếm khá đông. Còn những người hiểu biết và có ý thức trách nhiệm được trân trọng mời đến đóng góp ý kiến thì lại dè dặt, người thì vòng vo để tránh va chạm "quan điểm", người thì tỏ ra hăng hái nhìn vào thực tế nhưng lại lánh xa những "thực tế gai góc"; tiếc rằng những người đề cập những vấn đề sát sườn, những vấn đề trọng tâm phải giải quyết như tác giả Lưu Xuân Tình, các giáo sư Trần Đình Bút, Đặng Hữu, Hoàng Tụỵ . . . còn hiếm, phần đông đưa ra những ý kiến thuộc loại vô thưởng vô phạt.
Còn những ý kiến thẳng thắn, giàu nhiệt huyết xây dựng được viết thành văn bản như Lê Giản, Trần Độ, Phạm Ngọc Uyển, Vũ Minh Ngọc, Thanh Giang, Trần Nhật Độ , Nguyễn Mạnh Sản, Vũ Cao Quận . . . đúng là còn lác đác như "sao buổi sớm".
Đối với những ý kiến giàu lý lẽ và nhiệt huyết thể hiện trong 5 bức thư gửi Bộ Chính trị của Lê Giản - một đồng chí lão thành đã từng đứng đầu chỉ đạo bộ máy An ninh bảo vệ thành công nhà nước Dân chủ cộng hoà ngay từ thời kỳ còn trứng nước, suốt một đời trung thành, phấn đấu vì cách mạng, nay ở tuổi 88 vẫn còn đau đáu với vận mệnh của Dân tộc và Đất nước; cũng như đối với bản Chiến lược chống tham nhũng của Trần Độ - một vị tướng văn võ kiêm toàn, suốt đời cầm quân đuổi giặc cứu nước, vừa không ngừng cầm bút đấu tranh xây dựng một nền văn hoá mới, một nước Việt Nam mới, tất nhiên, còn điểm này, điểm khác cần tranh luận, chúng tôi không cần phải dấu diếm thái độ đồng tình và cảm phục.
Vào những thời kỳ nước sôi lửa bỏng, Đất nước cần những con người như thế, Dân tộc và Cách mạng cần những ý kiến như thế ! Nên chăng xếp tất cả những ý kiến thuộc kiểu này vào loại "trái quan điểm", "chống quan điểm", hay "ngoài luồng", rồi "cấm vận", "xử lý", hoặc lờ đi, coi như không có ? Hay nên cùng nhau thảo luận, tranh luận một cách thân ái, thẳng thắn để tìm đến một sự đồng thuận ? Tại sao với ngoại bang từng là xâm lược, cừu thù, đánh nhau, bắn nhau chán rồi cũng thu xếp ngồi với nhau vào bàn đàm phán, trở thành bạn bè bắt tay nhau, buôn bán với nhau, thậm chí còn ôm hôn thắm thiết, thế mà ta là Nam quốc Nam nhân, đồng bào đồng chí với nhau mà lúc nào cũng mặt lăng mặt vược, quay lưng lại với nhau, không muốn nhìn mặt nhau, thậm chí còn tìm mọi cách đe nẹt, doạ dẫm, trấn áp nhau ?
Ta chuyên chính với kẻ thù để bảo vệ nhân dân thì đúng rồi. Nếu ta lại chuyên chính với những đồng bào, đồng chí sát cánh cùng ta chiến đấu bao năm trời, thử hỏi có làm lợi cho kẻ thù hay không ? Tàn hại đồng bào, đồng chí của mình theo kiểu Stalin và kiểu Mao, hậu quả xấu xa và tệ hại thế nào chúng ta đều thấy rõ cả rồi, không cần phải bàn thêm.
4. Mục Tiêu Chiến Lược Hiện Nay Của Chúng Ta Là Gì ?
Cũng như nhiều người, chúng tôi ý thức được rằng Văn kiện của mỗi Đại hội là cực kì quan trọng. Vì đây là cương lĩnh chính trị, quyết định thành bại của mỗi giai đoạn cách mạng. Từ 1930 đến nay, ta thắng hay thua, đi lên hay đi xuống, tiến nhanh hay tiến chậm, phụ thuộc phần lớn vào các văn kiện này. Do đó, mỗi thành viên của dân tộc không thể giữ thái độ thờ ơ, nước chảy bèo trôi, gặp chăng hay chớ, mà ta phải bàn cho ra nhẽ.
Đọc lại tất cả các nghị quyết của Đảng ta trong suốt bảy chục năm qua, chúng tôi thấy rằng, cứ khi nào đặt mục tiêu đúng thì thắng lợi, thắng lợi lớn, có khi đạt thắng lợi ở cấp độ thần kì, có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra được. Điển hình là mục tiêu cướp chính quyền Tháng Tám năm 1945, mục tiêu chống Pháp 46-54, mục tiêu chống Mỹ cứu nước 55-75, mục tiêu đổi mới của Đại hội VI (1986). Đặt mục tiêu sai thì hiển nhiên là phải thất bại. Thất bại tạm thời, thất bại từng phần hay toàn bộ, thất bại nhẹ nhàng hoặc thảm hại.
Mục tiêu chiến lược chúng ta đặt ra cho 5 năm đầu của thế kỉ mới là gì ? Dự thảo Văn kiện đặt ra một loạt mục tiêu:
- Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng là chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Lấy mục tiêu giữ vững độc lập thống nhất vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh làm điểm tương đồng.
- Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm (2001-2010) là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Mới nghe thì thấy có lý. Nhưng cái nào là chính, cái nào là phụ, cái nào đúng, cái nào sai ?
Sau 10 năm (1976-1986), "nắm vững chuyên chính vô sản", "phát huy quyền làm chủ tập thể", "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng", "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" v..v... Đất nước ta đứng trước một tình hình suy thoái như thế nào, mọi người đều đã rõ. Chỉ cần nhớ rằng Đại hội VI của Đảng ta đã nhanh chóng đưa ra một Đường Lối Đổi Mới và tránh được nguy cơ sập tiệm. Đúng là "Đổi mới hay là chết !" (Trường Chinh).
Sai thì sửa, cứ sửa cho đúng là ta lại phát triển. Tất nhiên không sai thì vẫn tốt hơn. Nhưng làm gì có chuyện đó khi ta phải đi trên một con đường mà ta chưa từng đi, cố tìm ra một con đường mà Việt Nam chưa từng trải qua, thậm chí chưa hình dung chính xác và đầy đủ cái nơi mà ta định đến nó như thế nào. Kinh nghiệm cho thấy rằng phải phát hiện thật nhanh mình đang nhầm lẫn sai sót ở chỗ nào và bàn nhau sửa thật nhanh. Tức là không thể cứ cắm đầu, ngậm miệng mà đi. Phải phát động cho mọi thành viên của cái đoàn người đang đi cái ý thức, cái quyền quan sát, suy nghĩ, phát hiện và dám nói to lên những điều mình phát hiện để người dẫn đường kịp thời điều chỉnh. Phải chấm dứt tình trạng chỉ những Trường Chinh được nói còn những Kim Ngọc và những kẻ thấp cổ bé họng hơn Kim Ngọc thì đành ngậm miệng im lìm. Rồi cũng phải bàn nhau để tạo ra một cơ chế như thế nào để mọi người có thể nói lên những ý kiến riêng của mình một cách bình thường, tán thành nhau, phản đối nhau một cách bình thường; coi chuyện nói dựa, nói theo hoặc im lặng là điều đáng xấu hổ.
Người xưa rất quan tâm đến vấn đề danh phải đi đôi với thực. Các cụ rất kỵ cái chuyện hữu danh vô thực, mà danh không chính thì ngôn không thuận, mà ngôn đã không thuận thì sự không thành. Nhiều khi mình tự mâu thuẫn với bản thân mình mà không tự biết, việc hỏng lại đổ tại hoàn cảnh khách quan, tại số mệnh hoặc cơ trời vận nước.
Chúng tôi thực sự không hiểu vì sao mà Bản dự thảo văn kiện Đại hội IX, vào cuối năm 2000 này lại vẫn nêu lên " mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Càng khó hiểu hơn khi thấy Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, gồm tới hàng chục viện khoa học trong đó có các viện triết học, sử học, ngôn ngữ học, . . . . không thấy ai góp ý về vấn đề này.
Chẳng lẽ Viện Ngôn ngữ - nơi biên soạn đủ các loại Từ điển giải thích và chuyên ngành - lại không nhận thấy việc dùng từ mục tiêu như thế là sai ?
Chẳng lẽ Viện Sử học lại không thấy rằng việc đặt mục tiêu độc lập dân tộc vào thời điểm lịch sử hiện nay là sai ?
Chẳng lẽ Viện Triết học lại không thấy rằng việc đặt mục tiêu chủ nghĩa xã hội như thế còn thiếu minh bạch ?
Lâu nay có tình hình người ta không hiểu và không phân biệt thật chính xác các từ mục tiêu, mục đích và mục đích cuối cùng (tức cứu cánh mục đích, mà ta có thói quen gọi tắt là cứu cánh = le but de final).
Xin mạn phép nhắc lại nghĩa từ mục tiêu. Mục là mắt, tiêu là cái nêu để nhắm tới, đi tới. Khi chúng ta đi tới và đánh tan sào huyệt của ngụy quyền Sài Gòn vào trưa 30-4-75 chính là chúng ta đã hoàn thành mục tiêu độc lập Dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Xin phép hỏi Ban soạn thảo Văn kiện và Viện Sử học, sắp bước sang 2001, toàn Dân toàn Đảng ta có cần quay lại mục tiêu này nữa không ?
Theo chúng tôi, hiện nay cần kiên trì độc lập dân tộc chứ không phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc ta có rồi, ta phải bảo nhau giữ vững (kiên trì), việc gì lại phải hướng tới độc lập dân tộc ? Còn chủ nghĩa xã hội ta chưa có, ta phải hướng tới CNXH là đúng rồi. Rõ ràng không thể bỏ chung ĐLDT và CNXH vào một rọ rồi bảo nhau cùng hướng tới, phải không quý vị ?
Đã từ lâu, ta có một nếp diễn đạt hết sức đại khái trong các báo cáo, nghị quyết. Nay nếp ấy lại vẫn được Ban soạn thảo duy trì, lắp lại trong các văn kiện của Đại hội IX.
Kiểm điểm thành tích thì:
- Các ngành công nghiệp tạo ra nhiều năng lực mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu sản xuất, xây dựng đời sống nhân dân và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng: đường sá, công trình thuỷ lợi, cầu, cảng, sân bay, điện, bưu chính viễn thông.... được tăng cường.
- Các ngành dịch vụ đều có bước phát triển mới.
- Văn hoá, xã hội có những tiến bộ mới, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.
- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục được mở rộng và phát triển.
- Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.
- Tỷ lệ tăng dân số giảm.
- Việc xoá đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước được đẩy mạnh thu nhiều kết quả nổi bật.
- Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh; hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới.
- Quản lý nhà nước bằng pháp luật được đổi mới và tăng cường.
- Nhà nước tiếp tục được củng cố.
- Sinh hoạt của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tiếp tục được đổi mới.
(Dự thảo Báo cáo chính trị- trang 9-10)
Kiểm điểm yếu kém, thiếu sót thì:
- Một số chỉ tiêu do Đại hội VIII đề ra như nhịp độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người, nhịp độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất nhập khẩu .... không đạt.
- Năng suất lao động còn thấp, chất lượng nhiều sản phẩm chưa tốt và giá thành còn cao.
- Hệ thống tài chính ngân hàng còn yếu kém, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư còn chậm.
- Đầu tư cho phát triển còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều.
- Vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh.
- Công tác giáo dục - đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhất là đối với người nghèo, còn nhiều phiền hà và tiêu cực.
- Phân phối trong xã hội còn nhiều bất hợp lý.
- Cơ chế chính sách còn thiếu ....
(Dự thảo Báo cáo chính trị- trang 11)
- Nhiều nghị quyết đã đề ra nhưng làm thiếu tập trung, làm không đến nơi đến chốn, làm sai, làm chậm, chỉ nói mà không làm; chần chừ do dự không dám chịu trách nhiệm để làm (chữ dùng thừa).
- Một số quan điểm, chủ trương chưa được thông suốt ở các cấp, các ngành dẫn đến việc thực hiện thiếu thống nhất và chậm trễ.
- Việc cải cách nền hành chính nhà nước tiến hành chậm, thiếu kiên quyết.
- Công tác cán bộ thực hiện thiếu đồng bộ và thiếu quy hoạch, chưa phản ảnh (không phản ánh) được ý kiến của nhân dân
- Việc giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên thiếu chặt chẽ.
Vân vân . . . (trang 12)
Chúng tôi tạm nhặt ra một số hạt sạn như trên để thấy rằng những đ/c được giao trách nhiệm soạn thảo văn kiện quan trọng như thế này mà vẫn giữ một nếp dùng từ chung chung đại khái, trừu tượng từng được lặp đi lặp lại từ Đại hội IV đến nay. Đây không phải những lỗi chỉ thuộc phạm trù từ pháp hay cú pháp mà nó còn bộc lộ một nếp tư duy hời hợt, thiếu sáng tạo và rất tiểu nông. Rõ ràng nếp tư duy và nếp diễn đạt kiểu này (tương tự như lối nói "dăm ba mớ", "mươi mười lăm giạ) hoàn toàn không phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá của ta, càng không tương thích với thời đại computer và internet đang bùng nổ trên toàn cầu. Điều đáng kinh ngạc là ngay khi các đồng chí nêu ra những con số cụ thể, các đồng chí cũng không tuân theo logic hình thức và né tránh sự phân tích cần thiết để có thể rút kinh nghiệm cho bước đường đi tới. Thí dụ:
- Năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp tăng khá: năm 2000 so với 1995 công suất điện gấp 1,54 lần (tăng trong 5 năm 2715 MW); xi măng gấp 2,1 lần (tăng trong 5 năm 8,7 triệu tấn); phân bón gấp trên 3 lần (tăng trong 5 năm 1,5 triệu tấn); thép gấp 1,7 lần (tăng trong 5 năm 1 triệu tấn); mía đường gấp hơn 5 lần (tăng trong 5 năm hơn 60.000 tấn mía/ ngày).
- Tại sao đang 1 triệu tấn thép, 8,7 triệu tấn xi măng mà lại 60.000 tấn mía/ ngày. Mía đã vậy, còn đường thì sao ? Tất nhiên chúng tôi cũng thông cảm đây là điều khó nói khi phải tách bạch bao nhiêu tấn mía thành đường và bao nhiêu tấn mía thành củi. Nhưng không thể vì khó mà tránh né.
Chương trình một triệu tấn đường là một chương trình thất bại thảm hại. Nêu ra không nhằm để đau buồn, bi quan hay chỉ trích người này người khác. Điều quan trọng là phải rút ra bài học kinh nghiệm cho những chương trình của 5 năm sắp tới. Còn cứ nói chung chung hoặc tránh né, đó không phải là tinh thần mác-xít. Nếu thật lòng kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin thì chớ quên rằng cách mạng là sáng tạo và chân lý là cụ thể. Đã không sáng tạo lại cứ giáo điều, dập khuôn, không thể tự nhận mình là người mác-xit. Tránh né thực tế, không đi vào cụ thể cũng không thể thấy đâu là sự thật, đâu là chân lý.
Chương trình một triệu tấn đường thất bại có nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân mà người ta không dám nói đến đó là hậu quả trực tiếp của tư duy kinh tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô-viết. Nếu người ta biết dùng hoặc biết nghe những chuyên gia giỏi thực sự có tư duy kinh tế thị trường, hẳn người ta sẽ tính toán khác đi mà không bao giờ lấy việc sản xuất 1 triệu tấn đường làm mục đích, không tính gì đến sự biến động giá cả của thị trường trong nước và thị trường thế giới. Nếu có sự bàn bạc dân chủ thì làm gì có chuyện xây dựng nhà máy đường ở những khu không thuận tiện giao thông để cho giá vận tải đội giá thành lên. Nếu biết tuân theo luật cung cầu của kinh tế thị trường thì đâu dám ngồi ở năm 95 mà định giá đường cho tận năm 2000. Cho nên khi giá đường Trung Quốc và đường Thái Lan chỉ còn 3500đ hoặc 4000đ/ kg mà giá đường của mình lại là 6000đ/kg thì ông Tổng giám đốc Tổng công ty mía đường và ông Bộ trưởng bộ Nông nghiệp đành nhìn hàng trăm, hàng ngàn tấn đường tồn kho mà ngao ngán. Còn bà con nông dân ta nhìn mía mà đắng lòng. Khi nhà máy đường đã đóng cửa hoặc dọn đi nơi khác đành chặt mía mà đun thay củi rồi chờ Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tính hộ quy hoạch mới. Bộ nọ làm khổ Bộ kia và Nhà nước làm khổ nông dân cũng đều là ngoài ý muốn của những đầu óc đầy thiện ý với chủ nghĩa xã hội, nhưng rất phi thực tế, phi kinh tế thị trường.
Chương trình xi măng, chương trình thép, chương trình than và nhiều chương trình khác cũng đều chung tình trạng dở khóc dở cười như thế cả. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử kinh tế của ta, các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất hoàn thành thực sự, có sản phẩm hẳn hoi (chứ không phải báo cáo láo như vụ 51 tấn bột ngọt của ông Nguyễn Thiện Luân) thế mà cứ lặng ngắt như tờ không thấy mở hội mừng công cũng chẳng thấy ai hé răng đề nghị thưởng huân chương lao động.
Cũng là một bài học đắt giá cho những ai chỉ chăm chăm lo chệch hướng (có người lo thật lòng và nhiều người lo vờ vịt) mà quên đi những quy luật nghiệt ngã của kinh tế thị trường.
Vấn đề định hướng XHCN cũng cần thảo luận lại cho kỹ hơn.
Ngay trong tiêu đề lớn của Dự thảo báo cáo chính trị đã viết: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
Thế nghĩa là chúng ta đã có một Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lại đã có một nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại sao ta lại còn định hướng XHCN ? Nếu quả thật chúng ta đã có xã hội chủ nghĩa rồi thì chúng ta phải hướng tới một cấp độ cao hơn nghĩa là phải sửa lại định hướng. Còn nếu chúng ta bảo rằng chưa có chủ nghĩa xã hội, thì nhất định chúng ta phải hướng tới xã hội chủ nghĩa, vậy thì chúng ta phải sửa lại cái gì đây ? Định hướng hay quốc hiệu ? Cần lưu ý rằng nước Trung Hoa cùng ở trong phe với ta lại tiến nhanh hơn ta nhiều, riêng GDP tính theo bình quân đầu người là 770USD (nguồn: Bộ KHCN& MT), gấp hơn 2 lần chúng ta, thế mà họ vẫn chưa dám bàn nhau về việc đổi tên nước, 50 năm qua họ vẫn cứ là Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc.
Tóm lại, nếu Ban soạn thảo văn kiện cứ cho rằng vào đầu thế kỷ XXI đặt ra mục tiêu độc lập dân tộc là đúng, định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng cũng như nhiều điều đã đề ra từ Đại hội IV, Đại hội V, (trừ ĐH VI), Đại hội VII, Đại hội VIII đều còn là đúng, ta cứ có quyền chép lại rồi kêu gọi toàn Đảng, toàn Dân thực hiện. Nhưng còn thế giới người ta nhìn vào mình thì sao ? Mình sẽ phiên dịch các từ ngữ ra tiếng nước ngoài như thế nào và có thể yêu cầu họ cứ hiểu ngầm đúng như chúng ta hiểu ngầm với nhau hay không ?
Nhưng dù họ có cười chúng ta về sự lộn xộn tư duy và dùng từ ngữ thiếu chính xác cũng chưa quan trọng bằng sau 5 năm chúng ta mới tá hỏa lên về những sai lầm về đường lối và mục tiêu chiến lược.
Cần luôn luôn nhắc nhau nhớ rằng trong tiến trình hội nhập với thế giới ở thời đại văn minh trí tuệ, nếu thiếu minh mẫn, thiếu mau lẹ và tính toán không đúng, Việt Nam ta sẽ bị tụt hậu rất xa và thêm một lần nữa ôm hận hàng thế kỷ.
Trần Khuê - Ng. T. Thanh Xuân
Đón xem kỳ sau:
- Việt Nam ta đang ở đâu? và sẽ đi về đâu ?
- Thảo luận về CNXH với các tác giả Hà Đăng, Lê Văn Dũng, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Đình Ước, Quang Cận . . .
Địa chỉ liên lạc: Tại TP Hồ Chí Minh:
Ô. Trần Khuê
296-Nguyễn Trãi-Quận 5
Tel/Fax: (08) 8.363.825
Email: trankhue@hcm.fpt.vn Tại Hà Nội:
Ô. Nguyễn Đắc Kính
91-Trần Quốc Toản
Tel: (04) 8.229.730