Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
Đối Thoại Hai Ngàn Lẻ MộtTrần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Tập 3 - Ngày 22-XII-2000
5. Chớ để lỡ chuyến tàu văn minh trí tuệ !
Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam ta đã bỏ lỡ mất chuyến tàu văn minh công nghiệp. Trung Quốc cũng lỡ, hầu như cả phương Đông bị lỡ, chỉ trừ có Nhật Bản. Minh Trị Thiên Hoàng cùng với tầng lớp trí thức và tầng lớp thương nhân Nhật đã đưa Nhật Bản kịp nhẩy lên chuyến tầu thế kỷ. Và Nhật Bản phát triển như thế nào ta đã thấy, cả mặt hay và mặt dở. Chẳng việc gì phải chúi vào mặt dở rồi quên việc học cái hay của thiên hạ. Họ cũng chẳng có phát minh sáng chế gì nhiều, cứ chăm chăm đi bắt chước cái hay của thiên hạ mà sau Thế chiến II trở thành siêu cường về kinh tế. Thua trận đến bại hoại gân cốt, thế mà lại vươn lên thành một siêu cường kinh tế, dám ngang ngửa với siêu cường Mỹ. Cùng là chịu ảnh hưởng văn hoá nho giáo Trung Hoa nhưng Nhật Bản thì biết tụng Vương Dương Minh "tri hành hợp nhất". Trí thức Nhật Bản có hẳn một trường phái gọi là Vương học, hễ gặp nhau thì đặt tượng Vương Dương Minh trước mặt một cách trang trọng, chắp tay vái rồi mới cùng nhau bàn chuyện quốc sự. Sau Vương học có Lan học, Fukuzawa học . . . các trường phái tán thành nhau, phản đối nhau trong một phong trào sôi nổi về học thuật để tìm ra một hướng đi cho dân tộc và đất nước Nhật Bản.
Trong khi đó vua Tự Đức và triều đình Huế nhà ta vẫn rung đùi xướng họa thơ đường luật, khuyến khích làm văn bát cổ, tụng rất kỹ những điều thi vân, tử viết, chỉ lo làm chệch Khổng Mạnh, Tống nho, Thanh nho; đưa Đổng Trọng Thư và Nhị Trình lên hàng chuẩn mực; chê bọn Tây dương là man di mọi rợ, trước sau vẫn giữ đạo thần phục Thanh triều, bỏ ngoài tai những lời trung thực, những kế sách cải cách đầy tâm huyết của những Bùi Viện, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ. Do đó triều Nguyễn đã đẩy đất nước vào con đường tụt hậu, nô lệ. Đến nỗi phải mất 117 năm bi tráng (1858-1975) với bao lớp người vùng lên ngã xuống mới giành lại được cơ đồ của ông bà tổ tiên nghìn xưa để lại.
Đến chuyến tầu văn minh trí tuệ của thế kỷ XXI này mà lại còn dùng dằng để lỡ thì hẳn giới lãnh đạo mang tội với đất nước ít nhất cũng ngang bằng triều Nguyễn.
6. Việt Nam Ta đang ở đâu ? và sẽ đi về đâu ?
Những câu hỏi có vẻ thừa nhưng vẫn không thể không đặt ra. Chẳng phải thế sao, từ vài ba ngàn năm nay nhân loại cứ vừa đi vừa băn khoăn tự hỏi: Ta là ai ? Ta từ đâu tới ? và Ta sẽ đi về đâu ?
Không hề là triết gia hay các đấng bậc hiền triết, luôn luôn đau đời, đau đạo; cũng chẳng hề học thói Sào Phủ, nghe đến việc trị nước lại vội vã đi rửa tai; chúng tôi - cũng như các bạn - may mắn được sống trong buổi giao thời của thế kỷ và thiên niên kỷ, với tư cách những người chủ đất nước có ít nhiều hiểu biết, sẵn sàng đối thoại, bàn bạc với những ai có ý thức trách nhiệm về những việc lớn của Dân tộc và Đất nước.
Mấy chục năm liền, hồi còn sinh thời, Cụ Hồ không ngừng nhắc mọi người chớ quên rằng: nước ta là một nước sản xuất nhỏ. ấy thế mà rất nhiều người cứ quên cái đặc điểm rất to này.
Đến nay, vào cuối năm 2000, còn có ai không hiểu rằng nước ta vẫn là một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, xếp hàng thứ 8/13 nước nghèo nhất hành tinh. Một thời quanh ta là một phe XHCN hùng mạnh, đứng đầu là anh cả Liên Xô siêu cường, kế bên là anh hai Trung Quốc vĩ đại. Ta được tham gia KOMECOM và, theo đúng lời Lênin dạy ta yên trí rằng vì đã có các nước anh em trong phe giúp đỡ, ta có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không cần qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đại hội IV và Đại hội V của Đảng ta thời đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ, mọi chuyện của đất nước đều được bàn thảo theo tinh thần này. Và đất nước rơi vào tình trạng trì trệ khủng hoảng như thế nào ta đều biết cả, miễn nhắc lại. Nhiều người nói không thể qui riêng trách nhiệm cho anh Ba vì chính Bác Hồ cũng đã lựa chọn con đường này.
Nhầm to ! Họ không hiểu hết cái thâm ý của Cụ Hồ. Vào những năm cuối thập kỷ 50, thấy các đồng chí anh Cả, anh Hai lớn tiếng đả kích nhau là "xét lại", là "giáo điều", lo ảnh hưởng xấu đến công cuộc chống Mỹ Diệm, thống nhất Tổ quốc, Cụ đã hạ lệnh cắt tiếp vận hai đài Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Sau hai hội nghị quốc tế 81 Đảng và 12 Đảng ở Mạc Tư Khoa và sự kiện hai ông anh dàn quân bắn nhau ở biên giới, cộng với các sự biến Ba lan và Hunggari, thế là Cụ hiểu cả. Toàn phe rầm rập xã hội chủ nghĩa thì mình cũng xã hội chủ nghĩa. Chẳng kể "giáo điều" hay "xét lại", thế giới tư bản hay thế giới thứ ba, cứ ủng hộ Việt Nam chống Mỹ thì đều là bạn thiết của Việt Nam. Không phải vì kính yêu Cụ mà cố thanh minh, biện bác để tránh hoàn toàn mọi trách nhiệm cho Cụ.
Khi đất nước bị xâm lăng, Dân tộc bị nô lệ, Cụ phải rời quê hương để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Khi đọc luận cương của Lê-nin, Cụ rất mừng và nhận thức ra rằng muốn giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Đây là một điểm nhiều người dễ nhận thức nhầm lẫn. Cụ Hồ có làm cách mạng vô sản cũng là nhằm mục đích giải phóng dân tộc. Như vậy con đường cách mạng vô sản hay ta thường gọi là cách mạng xã hội chủ nghĩa là phương tiện hay cứu cánh ?
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và mạch chính của tư tưởng Hồ Chí Minh thì đối với Cụ lúc bấy giờ con đường cách mạng vô sản hay cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn chỉ là phương tiện để Cụ và toàn dân đạt tới mục đích giải phóng dân tộc. Với cụ Hồ, Cụ phải làm tất cả những gì cần làm, sử dụng tất cả phương tiện nào có trong tay, miễn là đạt được mục đích độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Chẳng lẽ khi đã hoàn thành được sự nghiệp độc lập thống nhất rồi tất yếu phải xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Cụ lại viết nhầm và dặn nhầm con cháu phải xây dựng một nước Việt Nam hoà bình độc lập thống nhất, dân chủ và giàu mạnh ?
Trước 30/4/1975, ta phải giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đúng, hợp với tình thế. Từ 1960 đến 1975, miền Bắc ta đã làm cách mạng xã hội chủ nghĩa rồi, nghĩa là ta đã công hữu hoá, tập thể hoá, xoá sổ quyền tư hữu đúng như Tuyên ngôn của Đảng cộng sản của Mác và Ắnghen. Và tình hình kinh tế, xã hội xấu đi như thế nào thì Đại hội VI của ta đã thừa nhận sai lầm và quyết định đường lối Đổi Mới.
Đổi Mới của Việt Nam ta thực chất là dân chủ hoá đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh để tránh sự trì trệ, sụp đổ và tạo ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước.
Thực tiễn 15 năm đổi mới vừa qua đã xác nhận có dân chủ thì có phát triển. Lĩnh vực nào dân chủ nhiều thì phát triển nhanh, dân chủ ít thì phát triển chậm và mất dân chủ thì trì trệ, suy thoái.
Cho nên nói độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội cũng không sai nhưng lại dễ gây ra những sự ngộ nhận. Nhiều cán bộ, đảng viên cứ lo đổi mới mạnh mẽ thì mất chủ nghĩa xã hội. Họ đâu có hiểu rằng chính đổi mới một cách chập chờn sẽ làm cho lực lượng sản xuất phát triển chậm chạp, vô tình đã triệt tiêu những động lực khiến ta có thể tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội. Họ tưởng cứ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chậm chạp, đánh thuế nặng vào các trang trại, các doanh nghiệp tư nhân, tiếp tục bù lỗ cho các xí nghiệp quốc doanh, tiếp tục độc quyền về báo chí và xuất bản . . . là giữ vững được chủ nghĩa xã hội.
Thực tế họ chỉ làm cho nhân dân thêm chán ghét chủ nghĩa xã hội. Mà nhân dân chán ghét chủ nghĩa xã hội là đúng ! Chủ nghĩa xã hội gì mà lạ thế ! Hợp tác xã thì có làm mà không có hưởng, phương án nổi phương án chìm, chỉ béo các vị quản trị tham ô". Xí nghiệp quốc doanh không sản xuất đủ hàng tiêu dùng, tư doanh sản xuất thì lại "kiểm tra hành chính", tịch thu gia sản rồi cho đi tù. Mậu dịch thì quầy hàng rỗng không, hỏi hàng gì cũng phải có tiêu chuẩn phân phối, cung cấp. Chế độ tem phiếu một thời đã sinh ra bao bất công, tệ nạn:
Tôn Đản là chợ vua quan
Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần
Chợ giời là chợ thương nhân
Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.
(Ca dao mới)
Văn nghệ thì đua nhau minh họa chính sách. Báo chí thì tuyên truyền "ngô bổ hơn gạo", hướng dẫn bà con nông dân trồng khoai ụ, nuôi lợn bằng phân trâu . . . Phát biểu phê bình thủ trưởng thì bị chụp ngay cái mũ chống lãnh đạo. Còn đã bị vu là "xét lại chống Đảng" thì đi tù, tù vô thời hạn, không cần xét xử.
Kể mãi cũng chẳng hết nhưng phải thấy rằng đó là những trò làm sai rồi đổ tiếng xấu cho chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội mà Mác dự báo đâu có thấp kém, tồi tệ và dối trá như thế.
Bản thân chủ nghĩa xã hội Stalin đã là sai lầm và không thích hợp với Liên Xô. Khi được vận dụng vào một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta, nó càng không thích hợp và sai lầm thảm hại hơn. Do đó, trong tập "Đối thoại năm 2000", chúng tôi khẳng định chủ nghĩa xã hội lý thuyết của Mác là tốt đẹp, đáng mong ước và nó chỉ có thể xẩy ra ở những nước thuộc trình độ G7. Còn ta hiện nay thì phải thực thi chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh không hề đối lập mà nó là một giai đoạn tất yếu phải trải qua trước khi tiến đến chủ nghĩa xã hội Các Mác.
Tóm lại, Việt Nam ta vẫn đang là dân chủ cộng hoà chứ chưa phải cộng hoà xã hội chủ nghĩa. Ta vẫn đang tiếp tục làm cách mạng dân tộc-dân chủ chứ chưa phải làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ta phải nắm vững chuyên chính dân chủ nhân dân chứ không phải chuyên chính vô sản. Trong thực tế ta cũng chưa hề có giai cấp vô sản - một giai cấp công nhân đại công nghiệp đúng như khái niệm trong lý luận Mácxit. Ta thấy chủ nghĩa Mác-Lênin có nhiều cái hay, ta cứ học, cứ theo nhưng không được phép quên rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh tức là tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XX này mới đúng là nền tảng để chúng ta xây dựng, chúng ta suy nghĩ và hành động. Hơn nửa thế kỷ vừa qua xuất phát từ Hồ Chí Minh, theo Hồ Chí Minh và phải đến với Hồ Chí Minh. Như thế mới đúng là Việt Nam, mới đúng là:
"Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !".
Chúng tôi tán thành ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu là cần phải giải thích rõ thế nào là chủ nghĩa xã hội và thế nào là định hướng XHCN ?
Và thế nào là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ? Đây là một thuật ngữ mới được đặt ra từ sau Đại hội VI, nó không có tính chất khoa học. Một vài hội thảo đã thảo luận nhưng không có nhà nghiên cứu nào trình bầy có sức thuyết phục về vấn đề này, cũng không đi đến một kết luận nào rõ ràng dứt khoát mà dứt khoát và thuyết phục sao được khi bản thân thuật ngữ đó chứa đựng sự xung khắc như nước với lửa. Lâu nay các nhà lý luận của ta không dám dùng cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa nữa chính là vì lẽ này. Vì cơ chế thị trường là cơ chế thị trường chứ không thể dính thêm cái đuôi tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa. Nói một cách nôm na, đơn giản: thị trường có nghĩa là tự do mua bán, thị trường vận động theo những qui luật của nó (qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh..v...v..) không thể can thiệp một cách thô bạo được. Ngay giai cấp tư sản vốn ham lợi nhuận và siêu lợi nhuận, muốn can thiệp mà cũng phải dừng lại. Họ muốn huỷ bỏ tự do cạnh tranh để tạo ra độc quyền kinh doanh. Độc quyền có hại cho người tiêu thụ và toàn bộ nền kinh tế tư bản, nghĩa là hại cho cả người kinh doanh. Do đó họ phải ra những đạo luật chống độc quyền. Chính sự sửa chữa sai lầm này đã cứu chủ nghĩa tư bản thoát khỏi tình trạng giãy chết, rồi tiếp tục phát triển. Còn một số nước trong phe ta vì không biết tuân theo qui luật, không biết tự điều chỉnh nên đã rơi vào tình trạng sụp đổ, sụp đổ với nhịp độ thần tốc nghĩa là chết không kịp giãy.
Việt Nam ta vì đổi mới kịp thời nên thoát hiểm. Nhìn mặt tích cực, có cạnh tranh và phát triển thì ta mừng. Nhưng thấy mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, ta lại lo. Lo quá hoá ra dụt dè, nên ra tay can thiệp khiến cho nhiều mặt đang phát triển lại ngưng trệ. Lĩnh vực kinh doanh nào có sự độc quyền là y như người tiêu thụ kêu ca và lĩnh vực đó bị ngưng trệ. Do đó nhà nước ta mới đang lo chuyện phải soạn thảo và ban bố luật chống độc quyền. Làm như thế là hoàn toàn đúng qui luật. Tất nhiên ta phải lo tạo ra một môi trường pháp lý bảo đẩm cho sự tự do cạnh tranh lành mạnh, chống sự chụp giật lừa đảo, trốn thuế, trốn sự kiểm soát của Nhà nước và người tiêu thụ. Đây đó lác đác thấy một vài bài báo tỏ ý lo ngại luật chống độc quyền sẽ ảnh hưởng đến sự chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước nghĩa là lo chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng chính những người suy nghĩ kiểu này đã một thời lo "khoán" sẽ mất chủ nghĩa xã hội, nhưng thực tế đã chứng minh rằng "khi khoán hộ thì thấy chủ nghĩa xã hội không những không mất mà đi lên nhanh hơn" (Lê Khả Phiêu - Báo Tuổi trẻ chủ nhật số 2-1999).
Thử hỏi có tới 67% giám đốc và tổng giám đốc các doanh nghiệp nhà nước (nguồn: Bộ Tài chính) không biết đọc bản kết toán thì đáng sợ như thế nào ? Vậy cứ ôm lấy các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn kém cỏi để tiếp tục bù lỗ cho đến bao giờ ? Đó là chưa kể những trường hợp lãi vẫn cứ khai lỗ. Điển hình là công ty Điện lực, bao nhiêu năm được phép phụ thu rồi lại xin phép chính phủ cho tăng giá điện mà vẫn kêu lỗ. Điều tra ra mới thấy rằng các vị lỗ giả lãi thật. Vậy tiền lãi ấy đi đâu ? Rõ ràng định hướng xã hội chủ nghĩa kiểu này thì chỉ béo bở cho một số người nào đó, còn nhà nước và người tiêu thụ đều bị thiệt hại.
Còn nói cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, mới nghe qua là rất hợp lý nhưng thực tế cho thấy một số rất đông vợ con các vị lãnh đạo, một mặt liên doanh, liên kết với các tư doanh trong nước và ngoài nước, mặt khác lại móc ngoặc với các cơ quan tổ chức ở Vụ này, Bộ khác để lũng đoạn thị trường và làm xáo trộn đời sống. Có chuyện nghe như bịa mà có thật: nhiều loại tân dược bị cấm sản xuất ở Pháp, công ty dược của họ phải chạy sang sản xuất ở Ý nhưng không được phép tiêu thụ ở Ý. Vậy mà Bộ Y tế của ta lại cho phép nhập các dược phẩm đó vào Việt Nam với số lượng lớn để cho dân ta có thể tiêu thụ thoải mái bắt chấp sức khỏe bị ảnh hưởng như thế nào ? Nhiều thứ hàng khác cũng thế. Kinh hoàng hơn nữa là Tổng công ty xuất nhập khẩu sách báo dưới sự quản lý của Bộ Văn hoá lại độc quyền nhập khẩu luôn hàng chục công-ten-nơ sách báo phế thải, trong đó có cả những truyện tranh thiếu nhi cổ động cho tình dục và bạo lực. Cùng lắm là mấy cán bộ thừa hành ra toà, còn Bộ trưởng Văn hoá, Bộ trưởng Y tế vẫn vô can.
Giá cả tăng vô tội vạ. Thuốc thang, sách báo độc hại nhập vô tội vạ, thế mà người ta vẫn lớn tiếng chủ trương quốc doanh phải giữ vai trò chủ đạo.
Nơi cần có vai trò chủ đạo thì các vị lại không thèm chủ đạo. Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo muốn dùng biện pháp đình công để tự bảo vệ quyền lợi của mình cũng rất khó khăn. Họ luôn luôn hoạnh học công nhân rằng đình công thế này là bất hợp pháp, đình công thế kia là trái thủ tục. Họ đây là ai ? Là Phòng lao động huyện, là Sở Lao động thành phố, là thanh tra lao động là Liên đoàn lao động, Công đoàn . . . nghĩa là toàn những thành phần thuộc bộ máy nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của những người công nhân thì họ lại đứng ra cản trở cuộc đấu tranh đó. Chưa kể nhiều đảng viên được cử vào Ban quản trị hoặc Ban giám đốc lại đứng hẳn về phía chủ, bảo vệ quyền lợi cho chủ, phản bội giai cấp mình.
Đây là một nếp tư duy xơ cứng đã hình thành trong 20 năm xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1975). Bấy giờ mọi người đều quan niệm rằng chúng ta đang sống trong chủ nghĩa xã hội, tất cả đều là sở hữu công cộng thuộc về nhà nước và tập thể, ta chỉ cần nâng cao ý thức về quyền làm chủ tập thể là đủ. Ta lại đình công để tự ta chống lại ta hay sao ? Vì thế lúc đó không có luật đình công. Qua Đại hội IV và Đại hội V(1976-1985), thấy kinh tế trì trệ và xã hội khủng hoảng trầm trọng, ta mới kinh hoàng nhận ra rằng ở một nước có một nền kinh tế tiểu nông nghèo nàn và lạc hậu như ta không thể chủ quan duy ý chí và nóng vội xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa ngay được mà phải chuyển ngang sang kinh tế thị trường. Làm kinh tế thị trường nhưng ta vẫn vương vấn với tư duy kinh tế xã hội chủ nghĩa mà ta quen gọi tránh đi là "tư duy thời kỳ bao cấp" nên ở nhiều lĩnh vực ta rất lúng túng. Điển hình là ở lĩnh vực nông nghiệp. Khoán hộ đạt hiệu quả thần kỳ như thế (thoát nạn đói kinh niên và thừa gạo xuất khẩu), trang trại phát triển tốt như thế nhưng ta vội vã tạo ngay ra cái độc quyền quo-ta xuất khẩu và đè ra đánh thuế thu nhập đối với nông dân. Cũng may thực tiễn đã giúp ta điều chỉnh ngay những việc làm bất công hoặc thái quá đó. Độc quyền quo-ta xuất khẩu gạo thực chất là muốn quay lại tư duy bao cấp, đánh thuế thu nhập vào nông dân thực chất là ta muốn thực thi quyền điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với thị trường.
Nhiều người trong bộ máy nhà nước quên mất rằng nhà nước ta giữ quyền điều tiết để giúp cho kinh tế phát triển chứ không phải điều tiết để kìm hãm lực lượng sản xuất. Họ cũng không hiểu rằng cái gọi là nhà nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta là do đổi tên vội vã chứ thực chất nó là nhà nước dân chủ nhân dân. Ở đây sự nhầm lẫn nọ kéo theo sự nhầm lẫn kia nên sinh ra một tình trạng hết sức lúng túng, nhiều khi làm sai nhưng cắt nghĩa thế nào cũng đúng. Khi anh làm sai pháp luật của nhà nước, anh bảo cơ chế thị trường nó phải thế. Khi anh ra chỉ thị hay nghị định sai, anh lại bảo đây là thuộc phạm vi điều tiết quản lý của nhà nước XHCN. Chỉ thị sai thì được thực hiện rất nhanh, đặc biệt những chỉ thị về việc tăng giá các mặt hàng có tác dụng làm giảm sức mua. Chỉ thị đúng thì thực hiện rất trầy trật, chẳng hạn chỉ thị bỏ giấy phép con hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Điển hình là đánh thuế giá trị gia tăng, thu rất nhanh rất đủ khiến cho các doanh nghiệp tư nhân lao đao muốn sập tiệm cả loạt. Nghe họ kêu oai oái. Thủ tướng ra lệnh hoàn trả nhưng các chi cục thuế lại nhẩn nha chờ đủ thứ văn bản, chỉ thị hướng dẫn. Thế là các doanh nghiệp cứ việc đi mòn gót và dài cổ ra mà đợi. Vì sao có thể xảy ra những tình hình như thế ở trong một nhà nước đã tương đối có đầy đủ pháp luật như nhà nước chúng ta ? Ở đây không thể chỉ cắt nghĩa bằng tác phong quan liêu, thiếu ý thức tôn trọng nhân dân, thiếu ý thức chấp hành kỷ cương luật pháp ..v..v. Mà phải cắt nghĩa bằng cái gốc của vấn đề. Đó là sự sai lầm về nhận thức và lý luận. Còn những sai lầm kia chẳng qua là hệ quả tất yếu của cái sai lầm gốc này.
Từ ba bốn chục năm nay, hầu hết các cán bộ đảng viên trong bộ máy nhà nước ta được huấn luyện qua các trường, các học viện đều đinh ninh rằng chủ nghĩa xã hội là công hữu, là xoá bỏ quyền tư hữu. Cái gì thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể mới đáng được tôn trọng. Còn cái gì thuộc về tư hữu, tư nhân, cá thể đều bị coi thường, cho sao được vậy. Đã một thời gian dài, cùng là một giai cấp nông dân với nhau nhưng phân tầng rất rõ: nông dân xã viên thì được tôn trọng quí hoá (dù họ sống nghèo khổ) còn nông dân cá thể thì bị khinh thường là kẻ lạc hậu chống lại tập thể, chống lại xã hội chủ nghĩa (dù họ làm ăn giỏi giang, giàu có). Người nông dân cá thể từng chịu thiệt thòi đủ đường như thế nào, ai cũng biết cả.
Cùng là tầng lớp kinh doanh nhưng vào công tư hợp doanh tức là xã hội chủ nghĩa là đã được cải tạo, được coi là có giá trị. Còn lại đám cá thể là đồ con buôn, con phe . . .. Dù những người kinh doanh đứng đắn làm giàu chính đáng, nộp thuế đầy đủ, nghiêm túc tuân theo pháp luật vẫn cứ phải tìm cách triệt đi, vì trong mắt ai họ vẫn là những kẻ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Công bằng mà nói, trong thời đổi mới, người nông dân cá thể biết làm giàu đã được tôn vinh xứng đáng, chẳng ai còn dám ngấm nguýt. Nhưng tư thương, tư doanh có làm ăn tốt đến mấy, đóng góp đầy đủ đến mấy cũng vẫn được coi là loại "con nuôi, con ghẻ", lại thường xuyên được "thăm hỏi sức khỏe" nếu không biết lót tay hoặc không biết "liên kết" với các cấp chính quyền để nhận sự bảo trợ. Cũng là tư doanh nhưng phải là con cháu các cụ hoặc tư thương ngoại quốc mới được hưởng sự âu yếm, vồ vập.
Đáng mừng là sau khi Thủ tướng có mấy cuộc trò chuyện thân mật và nhất là lệnh huỷ bỏ hơn một trăm giấy phép con thì các tư thương bản xứ có được dễ thở hơn. Nghe các nữ giám đốc tư doanh kể khổ, cả Thủ tướng và những người hiểu biết đều thấy mủi lòng.
Như thế là ngay với nhiều cơ quan nhà nước từ cấp Bộ trở xuống vẫn nhìn những nhà tư doanh với cặp mắt thiếu thiện cảm. Cái nhìn này có nguyên nhân lịch sử sâu xa của nó. xuất phát từ quan điểm trọng nông ức thương của giai cấp thống trị phong kiến, đặc biệt dưới triều các vua quan nhà Nguyễn. Quan điểm xã hội chủ nghĩa với sự hiểu máy móc Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là xoá bỏ quyền tư hữu không đếm xỉa gì đến thực tiễn kinh tế- xã hội Việt Nam nên vô tình đã tiếp cận với quan điểm khinh thị thương nhân trước đây. Cho nên Bộ nào, Sở nào, Phòng nào còn dùng dằng ngần ngại trong việc bỏ những giấy phép con mà Thủ tướng đã ra lệnh là do vẫn còn sơ cứng trong nhận thức về CNXH. Còn lý do "khó quản lý" là lý do không chính đáng, không có cơ sở thực tế. Có một bài trên báo Nhân Dân đã chỉ ra rằng: tại sao có đủ cả mấy cơ quan quản lý (sở Thương mai, sở Y tế, cục Kiểm dịch, cục Kiểm tra chất lượng v.v...) mà để cho bánh phở có pha foóc-môn tự do lưu hành nhiều năm liền làm hại sức khỏe của người tiêu dùng ? Người phát hiện lại chính là người tiêu dùng và báo chí chứ không phải là các cơ quan quản lý. Cho nên những người nào được Đảng cử ra làm trách nhiệm quản lý trong bộ máy nhà nước mà quản lý không tốt làm hại đến quyền lợi của Nhân Dân và tổn thất đến uy tín của Đảng thì phải được truy cứu trách nhiệm trước pháp luật không được phép chỉ nhận khuyết điểm chung chung là "buông lỏng quản lý" rồi chỉ kiểm điểm nội bộ hoặc xử lý hành chính.
Dư luận vui mừng khi thấy đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trả lời phỏng vấn của báo chí rằng sắp tới Bộ trưởng không nhất thiết cứ phải là đảng viên. Đây là một ý tưởng mới cần phải được thông suốt trong toàn Đảng. Nhưng chúng tôi giật mình khi đọc bài "Đảng viên trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá" của tác giả Nguyễn Anh Dũng (báo Nhân Dân ngày 11-10-2000:
(...) "Nhưng ở những công ty mà nhà nước bán toàn bộ cổ phần thì vai trò lãnh đạo hoàn toàn tuỳ thuộc uy tín của đảng viên và chất lượng công tác Đảng, do đó phương pháp công tác phải khác, có lẽ phải đề cao và nhuần nhuyễn công tác vận động, giáo dục quần chúng, trong đó có sự động viên, giác ngộ những nhà giàu, tư sản..."
Mạn phép hỏi tác giả Nguyễn Anh Dũng: Thế nào là đề cao và nhuần nhuyễn công tác vận động giáo dục quần chúng ? Thế nào là động viên, giác ngộ những nhà giàu, tư sản ? Sau mấy chục năm ta giáo dục, vận động quần chúng là "có áp bức phải có đấu tranh", thế mà khi quần chúng công nhân ở các doanh nghiệp đình công, bãi công để đấu tranh với giới chủ thì có những đảng viên trong Hội đồng quản trị doanh nghiệp, các đảng viên phụ trách công đoàn, các đảng viên viết báo lại bắt bẻ họ rằng đình công không bảo đảm thủ tục, không hợp pháp, làm mất ổn định doanh nghiệp và ổn định xã hội. Thử hỏi những đảng viên này theo chủ nghĩa Mác-Lênin hay theo chủ nghĩa nào ? Theo tư tưởng Hồ Chí Minh hay theo tư tưởng nào ? Đứng về phía quyền lợi giới chủ hay đứng về phía quyền lợi của giai cấp công nhân ?
Và xin hỏi tác giả Nguyễn Anh Dũng: cần tăng cường công tác giáo dục quần chúng công nhân hay cần tăng cường giáo dục cái lũ đảng viên tiêu cực đang phản bội giai cấp công nhân ?
Theo luật pháp của ta hiện nay mọi nhà và mọi người tư sản được quyền làm giàu chính đáng. Họ kinh doanh có lãi và nộp thuế đầy đủ, đối xử với công nhân theo đúng Luật Lao động tức là họ đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Còn bọn nhà giàu mới nổi lên phần đông là đảng viên tham nhũng và không ít vợ con các vị lãnh đạo cấp cao đang hình thành một tầng lớp tư sản mới mà dân gian gọi là bọn tư sản đỏ, chính bọn này luôn luôn trốn thuế và lợi dụng những khe hở của luật pháp để làm giàu bất chính..
Vậy xin hỏi tác giả Nguyễn Anh Dũng ta cần giác ngộ đám tư sản nào: tư sản dân tộc hay tư sản đỏ ? Đã đến lúc mọi sự lý luận phải xuất phát từ cơ sở thực tiễn của xã hội mà phân tích đúc kết cho rành rọt sáng sủa. Viết khơi khơi theo kiểu tác giả Nguyễn Anh Dũng, theo chúng tôi, chẳng qua đó chỉ là lặp lại một thứ lý luận đấu tranh giai cấp đậm màu sắc Mao-ít mà thôi. Chưa kể lúc nào cũng đi lo "giáo dục quần chúng" đó là bệnh "kiêu ngạo cộng sản" không thể chấp nhận được. Muốn giáo dục người khác thì trước hết phải tự giáo dục mình.
Tác giả Nguyễn Anh Dũng còn viết: "Vai trò lãnh đạo của Đảng theo địa bàn cũng hết sức quan trọng, kết hợp vai trò của Đảng trong từng doanh nghiệp và sự gương mẫu của từng đảng viên sẽ giữ vững được niềm tin, sự ngưỡng mộ của quần chúng và các nhà doanh nghiệp, cũng là giữ vững sự thừa nhận đương nhiên Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam"
Ở đây tác giả Nguyễn Anh Dũng nhầm lẫn khái niệm lãnh đạo với quản lý. Lãnh đạo là công việc của cấp vĩ mô. Còn quản lý là công việc cụ thể của từng doanh nghiệp. Trong tình hình đổi mới hiện nay, muốn tham gia quản lý doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) anh phải có vốn lớn hoặc có năng lực quản lý. Dù anh là đảng viên nếu anh không đủ số cổ phần nhất định thì không thể tham gia hội đồng quản trị. Dù anh là đảng viên nhưng anh không đọc nổi bản quyết toán tài chính, ai dám thuê anh làm tổng giám đốc hay giám đốc ? Nếu anh đã là đảng viên đồng thời lại là nhà kinh doanh giỏi thì chưa kịp vận động, giáo dục hay giác ngộ, người ta đã phải đốt đuốc tìm đến tận nhà để "thỉnh" anh rồi.
Nguyễn Anh Dũng cũng quên rằng đâu cứ có Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thì nhân dân mình mới "giữ vững sự thừa nhận đương nhiên" vai trò lãnh đạo của Đảng.
Cứ thử giở lại Điều 4 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Quốc hội thông qua ngày 31-12-59, khi còn sinh thời Bác Hồ xem điều 4 ghi cái gì ?
"... Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân...".
Vậy lúc đó nhân dân có "thừa nhận đương nhiên quyền lãnh đạo của Đảng" không ? Kể từ Hiến pháp đầu tiên thông qua 19-11-1946 cho đến trước ngày thông qua Hiến pháp sửa đổi năm 1980 (18-12-80) trong 34 năm đó ai thay được Đảng cộng sản để lãnh đạo cuộc cách mạng này, đất nước này. Đâu có phải cứ đi sao chép Điều 6 của Hiến pháp Liên Xô thành Điều 4 Hiến pháp Việt Nam xã hội chủ nghĩa rồi khẳng định rằng "Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước lãnh đạo xã hội" thì nhân dân ta mới thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng".(Hiến pháp 92 đã bỏ đI từ duy nhất)
Trong tác phẩm "Đối thoại năm 2000", chúng tôi đã phân tích rất kỹ rằng bỏ Điều 4 cũ của cụ Hồ thay bằng Điều 4 mới chép theo ĐIều 6 của hiến pháp Liên xô là rất nguy hiểm. Chính Bác Hồ đã dạy rằng người cộng sản chớ có vỗ ngực nhận mình là người lãnh đạo rồi bắt dân thừa nhận sự lãnh đạo ấy. Phải chăng ghi vào Hiến pháp để khẳng định sự siêu quyền lực của Đảng như thế, theo Lênin, đó là biểu hiện một tinh thần "kiêu ngạo cộng sản" mà Nhân dân và Cuộc sống không thể chấp nhận. Và đây cũng là chỗ dựa pháp lý để cho những đảng viên tiêu cực tha hồ tác oai tác quái, phá hoại mọi kỷ cương pháp luật. Tất nhiên đảng viên chân chính không bao giờ lợi dụng điều này, vì thế họ sống thì nhân dân đi theo, họ chết thì nhân dân thờ cúng và tiếp tục noi gương sáng của họ.
Trong buổi toạ đàm ở Ban TTVHTƯ, khi nghe đồng chí Đào Duy Quát nói rằng: "vì tình hình chính trị cấp thiết hiện nay không thể xoá bỏ Điều 4 Hiến Pháp được", chúng tôi đã thẳng thắn bác bỏ và giải thích rằng: theo chúng tôi, chính vì tình hình chính trị cấp thiết hiện nay mà cần bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Hạ Viện Mỹ vừa rồi cũng yêu cầu chúng ta xoá bỏ Điều 4. Về hình thức đề nghị của chúng tôi và yêu cầu của Hạ Viện Mỹ là giống nhau. Nhưng về bản chất và động cơ là hoàn toàn khác nhau. Hạ viện Mỹ yêu cầu như thế là can thiệp vào nội bộ của nước ta với ý đồ nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta; còn đề nghị của chúng tôi là nhằm giữ vững sự lãnh đạo đó. Chỉ cần nhớ lại rằng cũng chính do tình hình chính trị cấp thiết mà năm 46 Bác Hồ phải tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương. Chẳng phải vì thế mà mất sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại càng tạo thuận lợi cho sự lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp trong 5 năm đầu. Cũng chính vì tình hình chính trị cấp thiết mà Stalin phải tuyên bố giải tán Cục Thông tin quốc tế.
Căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử cũng như tình hình toàn cầu hoá hiện nay, một lần nữa chúng tôi vẫn đề nghị rằng bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện nay vẫn tốt hơn là giữ lại vì nó tạo thuận lợi cho tình hình đối ngoại và đối nội. Sự lãnh đạo của Đảng không hề mất đi mà chỉ mất đi chỗ dựa pháp lý của bọn "nội xâm" và những thế lực chống Cộng quốc tế. Chúng tôi nghĩ rằng đây chỉ là vấn đề sách lược, nhưng sách lược này lại ảnh hưởng đến toàn bộ chiến lược phát triển của đất nước chúng ta trong thời kỳ hội nhập với thế giới. Do đó ta nên thảo luận nghiêm chỉnh và nếu cần, nên tổ chức trưng cầu ý kiến trong toàn Đảng và toàn Dân.
Xin nói thêm điều này: về đối nội bao giờ cũng phải trung thực với Nhân dân vì không có sự dối trá nào qua nổi mắt Nhân dân. Nhưng đối ngoại thì phải luôn luôn biết "vờ vịt". Các lực lượng đối phương, đối tác của chúng ta nhiều khi biết thừa là ta "vờ vịt" nhưng vì thể diện hoặc do lẽ này lẽ khác, họ vẫn phải vui vẻ chấp nhận. Sách lược "vờ vịt" đầy khôn ngoan sắc sảo của các triều đại phong kiến trước đây đối với "thiên triều" phong kiến phương Bắc là những bài học kinh nghiệm quý báu vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự.
7. Dân chủ: nhu cầu hàng đầu của dân tộc.
Lại nhớ hôm tọa đàm với Hội đồng LLTƯ, Gs Phạm Minh Hạc thân ái phê bình chúng tôi:
"Các đồng chí biểu dương đồng chí Lê Khả Phiêu phất cao ngọn cờ dân chủ hoá đất nước, lại phê bình đồng chí Đỗ Mười không quan tâm đến các vấn đề dân chủ, như thế chứng tỏ các đồng chí thiếu thông tin. Thực ra đồng chí Đỗ Mười cũng rất quan tâm đến vấn đề này."
Chúng tôi trả lời rằng chúng tôi biết khá rõ về đồng chí Đỗ Mười. Những thành tích hoạt động của đồng chí Đỗ Mười từ hồi đầu khởi nghĩa và chống Pháp ở vùng Nam Định và Liên khu III, cho đến nay nhân dân địa phương vẫn còn truyền tụng. Cuộc đời cách mạng của đồng chí đã đi vào lịch sử, chúng tôi thấy không có gì phải nói thêm. Nhưng khi đồng chí Đỗ Mười cùng với Đại hội VII rút đi từ dân chủ của Bác Hồ thì cần phải phê bình.
Đồng chí Dương Phú Hiệp lại nói:
- Các đồng chí yên trí, kỳ này lại đưa vào rồi: vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Vâng, nếu đưa từ dân chủ vào thì chúng tôi không phê bình nữa ! Nhưng tại sao lại đưa dân chủ vào giữa. Phải dân chủ rồi mới nói chuyện công bằng, văn minh được chứ !".
Rõ ràng đây không phải chỉ là vấn đề từ ngữ, mà là nội dung của cả một cuộc cách mạng, một chế độ mới trên đất nước này. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, động lực của cách mạng Việt Nam.
Thử hỏi, trong nửa thế kỉ vừa qua, nếu chúng ta thiếu ý thức dân chủ, thiếu tinh thần dân chủ, thiếu hành động dân chủ, ta có thể vận động toàn dân hoàn thành được sự nghiệp "hoà bình, thống nhất, độc lập" hay không ?
Dân Việt Nam đi theo Cụ Hồ và Đảng này không phải chỉ vì tin rằng sẽ có độc lập mà còn có cả tự do nữa. Đi làm cách mạng, đi kháng chiến, người ta thấy mình được là mình, được tôn trọng, được khẳng định giá trị của một con người tự do:
"Mẹ đi theo Đảng, mẹ theo Bác Hồ,
Mai sau con lớn làm người tự do"
( Nguyễn Khoa Điềm - Khúc hát ru em bé ngủ trên lưng mẹ)
Đây cũng không chỉ là vấn đề từ ngữ mà là khát vọng ngàn đời của 54 dân tộc đang sống trên đất Việt này.
Không phải ngẫu nhiên mà câu nói của Cụ Hồ lại trở thành khẩu hiệu vang vọng núi sông, lay động lòng người: "Không có gì quí hơn Độc lập Tự do". Cũng không phải ngẫu nhiên mà người ta in trong tâm khảm mình câu nói: "Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì".
Chúng tôi có đôi chút kinh ngạc khi nghe Gs Đặng Xuân Kỳ chê chúng tôi đọc còn ít và chưa hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh:
"Hai đồng chí chưa đọc cuốn "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam" của chúng tôi nên chưa hiểu đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh".
Chúng tôi đã thưa với đồng chí Đặng Xuân Kỳ rằng, khi được Võ Đại tướng có nhã ý tặng cho cuốn sách "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam", chúng tôi đã đọc khá kỹ, không chỉ một lần. Chúng tôi không thấy các tác giả bàn về một trong những điểm cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề dân chủ. Không có một chương nào bàn về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh.
Vừa rồi sách tái bản ghi là có sửa chữa và bổ sung (5-2000) vẫn không thấy bổ sung chương này. Và những dòng mà chúng tôi quan tâm nhất vẫn thấy nguyên vẹn trong sách tái bản (trang 95):
Khái quát lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ?
(...)
Đó là tư tưởng cách mạng không ngừng, từ cách mạng Dân tộc dân chủ tiến lên Chủ nghĩa xã hội, nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), và giải phóng con người. Nói ngắn gọn hơn là độc lập dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội, hay nói gọn hơn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thế là cứ nói "ngắn gọn" theo kiểu này thì mất đứt hai chữ dân chủ của Cụ Hồ.
Chúng tôi càng kinh ngạc hơn nữa khi nghiên cứu cuốn "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" của đồng chí Lê Khả Phiêu (NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội - 8/2000) thấy có những dòng sau đây:
(...) Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, hết lòng phục vụ nhân dân. Mục tiêu chiến đấu của Đảng là vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của đồng bào; không có mục tiêu nào khác.
(Trích: "Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh" , trang 202).
Chúng tôi có trao đổi với một số bạn bè, nhiều người nói cứ nên hiểu trong mục tiêu hạnh phúc là có mục tiêu tự do rồi. Chúng tôi bảo: không được ! Vì nếu cứ phải hiểu ngầm ý nhau như thế thì cái tiêu đề trên các công văn đơn từ hẳn phải viết gọn là:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Hạnh phúc
và cái khẩu hiệu lừng danh của cụ Hồ hẳn cũng phải "cập nhật" thành:
Không có gì quý hơn độc lập, hạnh phúc !
Không phải chuyện cứng nhắc hay méo mó nghề nghiệp hoặc "chẻ sợi tóc làm tư làm tám", đã là thuật ngữ khoa học thì phải chính xác. Đặc biệt thuật ngữ chính trị càng phải chính xác, không thể đại khái, tuỳ tiện. Vì ở đây một từ, một cụm từ hay một mệnh đề biểu hiện một mục tiêu chiến lược bao hàm nội dung một giai đoạn cách mạng hoặc cả một cuộc cách mạng. Đúng thì thắng, sai thì bại.
"Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi !" (Hồ Chí Minh).
Cứ thử rút đi một từ nào xem ! "Táo bạo, táo bạo hơn nữa ! Thần tốc, thần tốc hơn nữa !" (Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp). Cứ thử thay đi một từ nào xem !
"Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động (...) Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa (...) xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập và xã hội chủ nghĩa".
Đó là những mệnh đề then chốt nằm trong "Đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta" (Trích trong Nghị quyết Đại hội IV - 1976)
Đại hội V vẫn "khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV vạch ra". (Trích trong Nghị quyết Đại hội V - 1991)
Và Đại hội VI sở dĩ vĩ đại chính là vì đã sửa lại đường lối sai lầm của Đại hội IV và Đại hộI V để mở ra một thời kỳ phát triển của đất nước.
Nói một cách không quá đáng rằng tất cả những ai đã bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không bàn thấu đáo về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, có thể coi như chưa bàn về Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì tư tưởng dân chủ là một nét đặc trưng cơ bản khu biệt tư tưởng Hồ Chí Minh với những tư tưởng trước Hồ Chí Minh. Quá trình lịch sử 2000 năm trước Hồ Chí Minh, tư tưởng độc lập dân tộc giữ địa vị chủ đạo và thống soái. Phan Chu Trinh và một số nhà yêu nước khác có đề cập đến vấn đề dân chủ nhưng chưa thành một hệ thống lý luận, thực thi còn ít và chưa đạt hiệu quả.
Với Hồ Chí Minh, tư tưởng dân chủ của Người đã thành một hệ thống được thực tiễn kiểm nghiệm và đạt những thành quả rực rỡ chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc: Đó là bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, bản Hiến pháp năm 1946, 30 năm chống thực dân Pháp và đánh đuổi đế quốc Mỹ và nhất là bản Di chúc thiêng liêng của Người để lại cho chúng ta. Hay nói khác đi tất cả những gì mà Hồ Chí Minh đã suy nghĩ và hành động suốt đời mình để dẫn dắt toàn thể Dân tộc bước sang một kỷ nguyên mới, đánh dấu bằng việc thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử, đó là kỷ nguyên Việt Nam độc lập và dân chủ.
Không một lực lượng nào có quyền ngăn cản chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội, thực thi chủ nghĩa xã hội. Nhưng trong Đối thoại năm 2000, chúng tôi đã khẳng định đó không phải là chủ nghĩa xã hội lý thuyết của Mác, càng không phải chủ nghĩa xã hội Stalin mà chính là chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh - chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Việt Nam.
Một lần nữa chúng tôi nhấn mạnh: hoàn thành chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh chính là tạo điều kiện và tiền đề để tiếp cận chủ nghĩa xã hội Các Mác. Theo Mác, con đường lên chủ nghĩa cộng sản là con đường tất yếu của nhân loại mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Vậy nó đã là tất yếu thì cần gì phải hò hét nhiều ! Ta cứ làm xong chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh rồi ta tổ chức trưng cầu dân ý về bước đường đi tiếp. Chắc chắn khi toàn thể nhân dân hiểu được rằng chủ nghĩa xã hội Các Mác là giai đoạn phát triển kế tiếp cao hơn chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh, nghĩa là dân chủ nhiều hơn, tự do nhiều hơn, giàu mạnh nhiều hơn, công bằng nhiều hơn, sung sướng nhiều hơn, hạnh phúc nhiều hơn thì có ai lại chối bỏ, trừ những vị quá ngu xuẩn hoặc mất trí.
Nhiều bạn đã thân ái phê bình chúng tôi là hay đi lan man. Quả có thế. Tản mạn, lan man và cả trùng điệp là một nhược điểm không thể ngày một ngày hai mà khắc phục ngay được khi cứ phải bàn đi bàn lại một vấn đề quá trọng đại của dân tộc và thời đại: vấn đề dân chủ. Biết là quá tải, vượt tải mà vẫn cố sức làm, không tính đến thành bại, chẳng kể đến mất còn, chỉ mong sao noi theo được chút nào tấm gương sáng của cụ Nguyễn Trường Tộ để tránh được cái tiếng bất nhân bất nghĩa (biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa); đặng có thể yên tâm nhắm mắt khi từ giã cõi đời này.
Lịch sử nước nhà, xét toàn cục là lịch sử oanh liệt cứu nước chống ngoại xâm. Cả một dân tộc anh hùng như thế, trí tuệ như thế mà cứ thắng giặc xong lại loay hoay trở về với con trâu và cái cày; ngay cả thời kỳ đánh thắng Điện Biên Phủ xong, ta quyết tâm đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa thì vẫn cứ là cái cày và con trâu. Hợp tác xã nào thiếu trâu đen mà lại sợ "trâu đỏ" (trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà) thì đành ca bài "Kéo bừa thay trâu" hoặc dàn hàng ngang mà cuốc tập thể. Vì thế nên lại phát huy cái trò chơi chữ châm biếm: "công nghiệp hoá toàn cuốc" (toàn quốc). Gần đây nghị quyết của mấy Đại hội Đảng ta liên tục chủ trương lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu. Thế là mấy chục thế kỷ qua đi, Việt Nam ta vẫn cứ phải "dĩ nông vi bản".
Do quan hệ sản xuất phong kiến và sau này là những chính sách cai trị của chủ nghĩa thực dân cũ cũng như chủ nghĩa thực dân mới kìm hãm, nền nông nghiệp nước ta chưa bao giờ được cơ giới hoá, chưa bao giờ thành đại nông, chỉ là tiểu nông lạc hậu, quanh đi quẩn lại, manh mún vẫn hoàn manh mún. Trong một môi trường kinh tế như thế, người ta có tư duy một cách manh mún tiểu nông cũng không có gì lạ: "Cơm ai nấy ăn, việc ai nấy làm", "đèn nhà ai nhà ấy rạng", "mũ ni che tai chuyện ai nấy biết", . . . đó là những nếp nghĩ, nếp sống đã kéo dài qua nhiều đời, dường như trở thành máu thịt trong một xã hội tự cấp tự túc chủ yếu sống bằng kinh nghiệm.
Cho đến năm cuối thế kỷ XX, nếp tư duy này vẫn hằn sâu và tác động vào đời sống văn hoá - xã hội và để lại các dấu ấn rõ nét trên cả các Dự thảo văn kiện Đại hội IX. Văn kiện các Đại hội trước như thế nào, giờ lại cứ ang áng chép lại, có sửa sang đôi chút gọi là có bổ sung cái mới. Vì thế nên mới có chuyện: vấn đề độc lập dân tộc giải quyết xong từ 25 năm rồi, nay lại vẫn "kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc".
Làm kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc ngót 20 năm đã thấy là không thích hợp làm tiếp 10 năm nữa trong cả nước lại thấy càng không thích hợp, lâm vào tình trạng khốn đốn, khủng hoảng, trì trệ. Đại hội VI đã khẳng định là sai lầm, phải sửa sai, phải đổi mới. Nhưng rồi các văn kiện Đại hội VII, Đại hội VIII mà nay là văn kiện Đại hội IX vẫn không dám bỏ mấy chữ xã hội chủ nghĩa, cũng chẳng xác định cho chính xác đó là chủ nghĩa xã hội nào. Biết rõ Trung Quốc mở cửa trước mình hàng chục năm, kinh tế phát triển rầm rộ hơn hẳn mình mà vẫn chưa dám đổi tên nước, mình đổi tên nước như thế là vội vã, cũng chẳng dám sửa. Tư duy "pháp tiên vương" tái sinh chính là thế đó. Nhưng khốn nỗi giữ lại tên nước mình thì lại tự mình mâu thuẫn với mình. Đã là nước xã hội chủ nghĩa rồi mà vẫn nêu định hướng xã hội chủ nghĩa thì chẳng hoá ra giậm chân tại chỗ hay sao ? Mạnh dạn cất bước đi tới thì thấy tiến bộ phát triển. Vừa mừng rỡ nhưng rồi lại vừa lo sợ, chỉ hãi chệch hướng. Nếu quả thật mình là con tàu xã hội chủ nghĩa, quyền cầm lái ở trong tay mình thì cứ việc lái tuốt lên chủ nghĩa cộng sản chứ còn thần hồn nát thần tính, lo sợ cái nỗi gì ?
Còn nếu thấy không phải như thế thì tổ chức thảo luận cho đàng hoàng, bắt buộc báo chí phải đăng những ý kiến khác nhau, trái nhau, cứ tranh luận rồi để cho công luận phán xét định giá. Cớ sao chỉ đăng bài của những người này mà không đăng bài của những người khác ? Không đăng bài của người ta cũng là cách bịt mồm người ta lại và như thế là vi phạm Hiến pháp và Luật pháp (chúng tôi sẽ bàn sau về những ý kiến không đúng của các đ/c Hà Đăng, Vũ Ngọc Ngoạn... đã đăng trên Tạp chí Cộng sản và báo Nhân Dân những số gần đây).
Trở lại vấn đề dân chủ. Tại sao có thể nói đó là nhu cầu của Dân tộc và Thời đại ?
Hãy tạm gác ra ngoài cái món hàng "dân chủ, nhân quyền" mà các nước phương Tây thường rêu rao rồi dùng nó để gây sức ép với Việt Nam ta và nhiều nước khác.
Vấn đề dân chủ mà chúng tôi bàn ở đây cũng như ở hai văn bản trước (Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển và Đối thoại năm 2000) là dân chủ Hồ Chí Minh - dân chủ Việt Nam - chứ không thể lẫn lộn với bất cứ thứ dân chủ nào khác.
Ai muốn tranh luận, xin kính mời ! Miễn mọi sự xuyên tạc hoặc "gắp lửa bỏ tay người".
Như chúng tôi đã từng nói và mọi người cũng thấy rõ, hàng nghìn năm qua ông bà ta chỉ mới giải quyết được vấn đề Độc Lập Dân Tộc, chưa hề giải quyết được vấn đề Dân Chủ. Cái gọi là "dân chủ thời Trần" khá là tốt đẹp nhưng chưa bao giờ được trở thành một định chế, một thể chế chính trị hẳn hoi, chế độ chính trị thì càng không. Có giặc thì triệu tập Hội Nghị Diên Hồng, hết giặc thì thôi. Chẳng bao giờ có Diên Hồng về kinh tế, hay về văn hoá xã hội.
Cái mới mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản mang lại cho Dân Tộc không phải là vấn đề thắng giặc ngoại xâm giành lại độc lập mà chính là chế độ dân chủ: Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cái Mới này đáp ứng được nhu cầu của dân tộc và vì đã thực thi được một phần cái Mới này nên Dân ta mới dốc hết mọi của cải và trí tuệ, dốc hết cả sinh mạng mình và con cháu mình để bảo vệ bằng được Nhà nước dân chủ cộng hoà của mình, do đó mà lập nên những chiến công thần kỳ chưa từng có. Đó là thành tích của chế độ dân chủ chứ không phải của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Lâu nay ta cứ nói đó là sự ưu việt của chế độ XHCN là nói nhầm, nói oan cho cụm từ này và làm xấu mặt chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Kinh tế ở trình độ nào mà cứ nói là xây dựng CNXH ?
- Xây dựng thành công CNXH ở miền Bắc hồi nào mà sao dám vội đưa cả nước lên CNXH ?
- Xây dựng xong CNXH hồi nào mà dám đổi tên nước do cụ Hồ đặt: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thành Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ?
- Tài sản XHCN là thế nào mà lại ghi vào trong Luật hẳn một tội danh: tội xâm phạm, chiếm đoạt tài sản XHCN... ?
- Con người dân chủ mới đã xây dựng xong chưa mà nói đến phải đào tạo con người XHCN ?
Rồi nào là công nghiệp XHCN, nông nghiệp XHCN, văn hóa XHCN, tư tưởng XHCN, giáo dục XHCN, thương mại XHCN, đạo đức XHCN, cứ làm như càng nói thật nhiều XHCN thì CNXH càng chóng trở thành hiện thực.
Sau hội chứng XHCN thì lại đến hội chứng định hướng XHCN. Rồi cũng phải để thời giờ điều tra, thống kê, xem hàng ngày trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác và ngay trong văn kiện Đại hội IX đã lặp đi lặp lại bao nhiêu lần cụm từ định hướng XHCN ?
Tần số chắc không nhỏ đâu. Đến nỗi ngay giáo sư Trần Văn Giầu - một người từng tốt nghiệp Đại học Phưng Đông ở thập kỷ 30, từng nghiên cứu bạc đầu về chủ nghĩa Mác Lênin, thế mà đến năm cuối thập kỷ 90, lại đúng vào năm ăn mừng thượng thọ 90 tuổi cũng phải suốt ruột, chất vấn Ban soạn thảo văn kiện rằng: thế nào là XHCN ? Và thế nào là định hướng XHCN ? Cụ Sáu Giầu mà còn phải thắc mắc như thế nói chi đến lũ hậu sinh thất học về chủ nghĩa Mác hoặc chỉ lơ mơ ăn theo, nói leo về chủ nghĩa Mác. Tất nhiên về tài nghệ sao chép, trích dẫn kinh điển Mác Lênin thì đáng được ghi vào kỷ lục Guiness từ lâu rồi.
Cho nên, thật buồn cười mà cũng thật đau lòng khi thấy dân gian châm biếm: chủ nghĩa xã hội là cả ngày xếp hàng (CNXH) nếu không thì cũng xếp hàng cả ngày (XHCN). Một học thuyết hay như thế, một chế độ đáng mơ ước như thế mà ta nỡ làm sai làm hỏng để đến nỗi mọi chuyện đều đi "từ nghiêm túc đến buồn cười" ? (tên một chuyên mục trên Họa báo Liên Xô trước đây).
Buồn cười nhất là khi đọc bài "Cái mới trong dự thảo báo cáo Đại hội IX" của tác giả Hà Đăng vừa in trên Tạp chí Cộng sản số 18 tháng 9-2000 và trên báo Nhân Dân ngày 12/10/2000.
Tác giả Hà Đăng nêu lên 15 điểm mới thì có tới 8 điểm cũ, hoàn toàn cũ và 6 điểm cũ có tân trang chút đỉnh. Duy có một điểm mới, thực sự là mới, nhưng lại mới từ năm 45, rồi do sự nhầm lẫn quá lâu ngày - ít nhất cũng từ Đại hội IV năm 1976 đến nay nên khi lục ra xem lại vẫn thấy còn mới tinh khôi. Đó là vấn đề Dân Chủ.
Mạn phép chạy theo thú trích dẫn và xin bạn đọc vui lòng đọc nguyên văn điểm mới thứ tư này do tác giả Hà Đăng phát hiện:
(...) " Bốn: mục tiêu dân chủ:
Cho đến Đại hội VIII, mục tiêu lý tưởng của chúng ta là chủ nghĩa xã hội đã được trình bày khái quát bằng công thức đi vào lòng dân: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" Nay dự thảo thêm hai từ "dân chủ", thành ra "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Trước đây cứ nghĩ rằng bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ, cho nên dù có nêu hay không nêu hai từ đó, chế độ ta vẫn là chế độ dân chủ. Song thực tiễn cho thấy, cái bản chất dân chủ ấy không chỉ phải được nói lên mà còn cần nhấn mạnh thêm và nhất là đưa vào cuộc sống hằng ngày. Dân chủ, hay quyền làm chủ của nhân dân, vừa là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một động lực phát triển xã hội. Việc bổ sung hai từ dân chủ làm cho công thức 12 chữ này trở nên trọn vẹn hơn, sống động hơn." (Tạp chí Cộng Sản-số 18, trang 6).
Mong bạn đọc vui lòng cho phép chúng tôi lan man một chút về vấn đề này.
Đầu tiên là cái tiêu đề của điểm mới thứ tư: mục tiêu dân chủ.
Sao lại mục tiêu ? Thế 55 năm qua chế độ ta là chế độ gì ? Chẳng lẽ Bác Hồ của chúng ta khẳng định "nước ta là một nước dân chủ" lại là chuyện nói đùa chăng ? Chẳng lẽ Tuyên ngôn độc lập 2-9 lại không phải là một tuyên ngôn về Độc lập và Dân chủ? Chẳng lẽ Hiến pháp 46 (và sau đó sửa thành Hiến pháp 59) lại chưa phải là Hiến pháp dân chủ hay sao ? Chẳng lẽ 30 năm toàn dân chiến đấu, hy sinh lại không phải là để bảo vệ nhà nước dân chủ cộng hoà của mình và giành bằng được độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự.
Chúng tôi nhắc lại vì thực sự nhớ ra rằng nhân dân ta chưa bao giờ chấp nhận cái thứ độc lập bánh vẽ mà các vị ngoại xâm đã từng trao trả cho ông cựu hoàng Bảo Đại bù nhìn và ông tổng thống Ngô Đình Diệm bán nước. (Viết đến đây chúng tôi kinh hoàng liên tưởng đến việc mấy nhà soạn Từ điển của ta lại có nhã ý đưa ông Ngô Đình Diệm và em ruột ông là cố vấn Ngô Đình Nhu vào mục từ danh nhân văn hoá (?!) Đúng là "đổi mới tư duy"). Chẳng lẽ đã kiên quyết từ chối món độc lập bánh vẽ lại vui lòng xơi món dân chủ tự do bánh vẽ hay sao ? Chẳng có gì phải khó khăn khi cần nhất trí với tác giả Hà Đăng rằng "mục tiêu lý tưởng của chúng ta là CNXH" nhưng xin hỏi bạn Hà Đăng: Chủ nghĩa xã hội nào vậy ? CNXH của Mác ? CNXH của Lênin ? hay CNXH của Hồ Chí Minh ?
Sở dĩ trong tác phẩm Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển, chúng tôi tỏ ý không tán thành quan điểm của đồng chí Cựu tổng bí thư Đỗ Mười và các Đại hội VII, Đại hội VIII biểu hiện trong công thức "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" vì thấy công thức này đã đi chệch mục tiêu chiến lược Hồ Chí Minh. Xén đi hai chữ dân chủ thử hỏi còn gì là tư tưởng Hồ Chí Minh ? Làm gì mà lũ cơ hội trong Đảng không lợi dụng để ra sức vơ vét, bóp hầu bóp cổ nhân dân, làm tổn thất nghiêm trọng uy tín của Đảng, bôi nhọ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hà Đăng lại còn viết rằng: "Trước đây cứ nghĩ rằng bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ nên dù có nêu hay không nêu hai từ đó, chế độ ta vẫn là chế độ dân chủ".
Xin thưa với đồng chí Hà Đăng: dân chủ là một từ ghép chứ không phải là hai từ. Và nghĩ như đ/c là nghĩ theo sách vở, hoàn toàn không xuất phát từ thực tế Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội của Mác với tư cách là giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa thì dứt khoát bản thân nó là dân chủ rồi, về mặt chính trị. Còn các lĩnh vực kinh tế, văn hoá-xã hội phải được tiếp tục hoàn thiện. Ngay về mặt chính trị mà phần dân chủ nào mới chỉ được đề ra trên giấy, chưa được thực thi thì trách nhiệm của CNXH phải tiếp tục hoàn thiện và phát triển thêm. Nhưng đó là chuyện thuộc các nước tư bản phát triển khi chuyển lên CNXH, không phải chuyện của ta.
Đại hội IX sắp tới sẽ chỉ thực sự thành công và mang ý nghĩa lịch sử nếu mọi người tập trung trí tuệ thảo luận đường đi nước bước của tiến trình thực thi sự nghiệp dân chủ hoá đất nước, cụ thể là thực thi Hiến pháp 46 và Hiến pháp 59, những hiến pháp đã được soạn thảo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải theo Hiến pháp 80 và Hiến pháp 92, những hiến pháp được sao chép mô phỏng theo hiến pháp Liên Xô, gò bó và thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ bằng cụm từ "theo luật pháp quy định".
Theo "luật pháp quy định" có nghĩa là đối với mọi quyền tự do dân chủ đã được ghi trong hiến pháp, ta lại ban hành những đạo luật có khả năng vô hiệu hoá những quyền tự do đó. Điển hình là Luật báo chí và xuất bản. Một lần nữa chúng tôi nhắc lại lời nói nổi tiếng của văn hào Voltaire (Pháp):
"Tự do ngôn luận là linh hồn của mọi thứ tự do"
Không có tự do ngôn luận nghĩa là không có tự do nào hết. Thực tế 25 năm qua đã chứng minh rằng vì thiếu tự do ngôn luận mà đất nước ta phát triển rất chậm chạp, thua kém bạn bè một cách đáng xấu hổ. Thiếu tự do ngôn luận nên những sự ức hiếp, bóc lột vẫn dai dẳng tồn tại, lòng dân không yên, sức sản xuất không thể phát triển tương xứng với nội lực trí tuệ và văn hoá của dân tộc. Đất nước tiếp tục tụt hậu một cách đáng sợ.
Do đó, ngày nào còn chưa có báo chí và xuất bản ngoài quốc doanh, như đã từng có doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên lĩnh vực kinh tế, trường học ngoài quốc doanh trên lĩnh vực giáo dục, bệnh viện ngoài quốc doanh trên lĩnh vực y tế.v.v... thì ngày ấy chúng ta còn lạc hậu một cách thảm hại. Phải có tự do báo chí, tự do lập hội và những quyền tự do khác đã được ghi trong hiến pháp do chính cụ Hồ chỉ đạo soạn thảo vào năm 46 và năm 59.
Xin phép hỏi các đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Hà Đăng, Hồng Hà, Nguyễn Khánh, Trần Đình Nghiêm, Vũ Hữu Ngoạn- những người được tin cậy giao phó việc soạn thảo văn kiện Đại hội IX:
"Các đồng chí cho biết câu nói của Bác Hồ "Nước có độc lập mà dân không được hưởng tự do hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì" liệu còn có giá trị hay không ? có còn là chân lý đối với cuộc sống của nhân dân ta nữa hay không ?"
Nếu còn giá trị sao các đồng chí không mang tinh thần đó thể hiện trong việc soạn thảo văn kiện Đại hội IX ? Và xin thẳng thắn thách thức tất cả những ai dám cho rằng câu nói trên của Hồ Chí Minh đã trở thành vô nghĩa, không còn là chân lý của Việt Nam và thời đại nữa. Trân trọng kính mời tranh luận !
Chúng tôi tin chắc rằng: Ta sẽ chẳng thể "đi tắt đón đầu", chẳng thể đặt chân lên chuyến tàu kinh tế tri thức của thế kỷ mới, nếu chúng ta không đồng lòng thực thi những quyền tự do dân chủ đã ghi trong Hiến pháp 46 và Hiến pháp 59 nhằm xây dựng thành công một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh.
Tự do dân chủ là một vấn đề đã cũ, cũ từ 55 năm qua, nhưng thực sự vẫn còn hết sức mới mẻ với Việt Nam ta hiện nay. Chúng ta chỉ có thể vươn lên sánh ngang hàng với bạn bè quốc tế nếu chúng ta nghiêm chỉnh tuân theo lời di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng xong một nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh rồi ta sẽ xây tiếp một Việt Nam xã hội chủ nghĩa, một Việt Nam cộng sản chủ nghĩa hoặc gì gì nữa . . . tất cả hoàn toàn thuộc quyền của chúng ta.
Cũng xin mạn phép thưa với những quý vị nào còn đang bi quan với tình hình hiện tại: Hãy tin vào Dân tộc, tin vào Nhân dân !
Dân tộc ta không phải là một dân tộc hèn kém; nhân dân ta không phải là một nhân dân chịu khuất phục trước bất công, đói khổ. Nhân dân chính là lực lượng sáng tạo ra lịch sử và quyết định hướng đi của lịch sử. Từ mấy ngàn năm qua đã như vậy, hiện tại đã như vậy và mãi mãi sau này vẫn không thể khác. Nhân dân sẽ là người có tiếng nói cuối cùng quyết định vận mệnh của mình và đất nước của mình.
Chúng tôi xin phép nhắc lại không biết mệt mỏi một điều mà chúng tôi đã nhấn mạnh trong Đối thoại năm 2000:
"Có tự do dân chủ là có tất cả ! Mất tự do dân chủ là mất tất cả ! Vậy còn lại gì ?- Chỉ còn lại một bầy nô lệ mới cho bọn tài phiệt bản xứ và tài phiệt quốc tế mà thôi !"
Cũng như độc lập dân tộc, tự do dân chủ đã được trả giá bằng xương máu của hàng chục thế hệ Việt Nam trong 117 năm đấu tranh (1858-1975). Những kẻ nào mượn danh nghĩa Đảng và Nhà nước để tước đoạt những quyền thiêng liêng này của Nhân dân thì cần phải vạch mặt chúng, bêu rõ tên tuổi chúng để cho Lịch sử và Nhân dân đời đời phỉ nhổ.
Cần nhớ rằng tự do dân chủ là thuộc quyền sở hữu của Nhân dân, không ai có quyền ban phát. Và chúng ta cũng không có quyền mở rộng hay mở hẹp gì cả !
Đại hội IX của Đảng ta phải là một Đại Hội Dân Chủ !
Thế kỷ XXI phải trở thành một Thế Kỷ Dân Chủ của Việt Nam !
Đó là bảo đảm chắc chắn cho thắng lợi của Việt Nam trong công cuộc hội nhập ở thời đại Toàn cầu hóa. Chỉ có thể đối trọng với Toàn cầu hóa bằng Toàn dân hóa tài năng và trí tuệ Việt Nam.
Trần Khuê - Ng. T. Thanh Xuân
Đón xem kỳ sau:
Vai trò của Đảng và Nhà nước ta trong nền kinh tế thị trường.
(Tiếp tục thảo luận với các tác giả Hà Đăng, Nguyễn Đình Ước, Lê Hữu Tầng, Lê Văn Dũng, Quang Cận, Đức Lượng . . .)
Việt Nam, ngày 25 tháng 11 năm 2000
Thư ngỏ
Kính gửi: Ngài William Jefferson Clinton, Tổng thống Hoa Kỳ.
Thưa ngài Tổng thống kính mến,
Cho đến hôm nay, hầu như vẫn còn đọng lại trong tôi những ấn tượng tươi tắn và tốt đẹp về chuyến đi của Ngài, của gia đình Ngài và các đại biểu ưu tú khác từ Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam chúng tôi.
Năm xưa, Cố chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhân dân Việt Nam nhận biết hai nước Pháp và hai nước Mỹ - một nước Mỹ của Johnson và Nixon, một nước Mỹ của T. Jefferson và A. Lincoln, W. Whitman và E. Hemingway . . . Và ngay từ cuối thế kỷ trước, nhà yêu nước Bùi Viện của Việt Nam đã lặn lội sang tận Hoa Kỳ mong tìm một tình bạn và một sự giúp đỡ cho đất nước chúng tôi có thể phát triển. Sau này, Nguyễn Ái Quốc của chúng tôi cũng tiếp tục tìm hiểu Hoa Kỳ và Người cùng các đồng chí của mình đã từng cộng tác với người Hoa Kỳ trên Mặt trận đồng minh chống phát xít.
Nay, sau 25 năm cuộc chiến tranh đã qua đi, còn lại với chúng tôi, như Nguyễn Trãi từng nói, là cuộc sống yên bình và tình hòa hiếu. Chúng tôi mong tìm thấy tình bạn ở mọi dân tộc, nhất là với nhân dân Hoa Kỳ tài năng và hào hiệp, vốn yêu độc lập và tự do. Chân thành cảm ơn Chính phủ và Nhân dân Hoa Kỳ đã và đang giúp đỡ hàng triệu đồng bào Việt Nam của chúng tôi sinh sống, học tập và làm việc trên đất nước Hoa Kỳ.
Thông qua chuyến công du của Ngài và đoàn đại biểu Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp tìm hiểu sâu sắc thêm tình cảm của nhân dân Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Chúng tôi xúc động khi nghe phu nhân của Ngài - bà Tân thượng nghị sĩ Hillary- nhắc đến Bà Trưng, Bà Triệu, những vị nữ anh hùng đã lãnh đạo nhân dân vùng dậy chống ngoại xâm, giành độc lập - tự do ngay từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất. Còn Ngài, với bài diễn văn giàu sức chinh phục lòng người của mình, đã nhắc đến tư tưởng nhân bản của nhà văn hoá Nguyễn Trãi và, chẳng khác gì một người Việt Nam thứ thiệt, Ngài đã lẩy Kiều một cách thành thạo, văn hoa và duyên dáng. Và Ngài lại không quên nhắc đến Hồ Xuân Hương kính yêu của chúng tôi, người nữ thi hào, bằng những áng thơ tuyệt tác của mình, đã không ngừng đấu tranh cho quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc của giới phụ nữ .
Chắc không có gì quá đáng khi nhận xét rằng sự am hiểu và trân trọng đối với nền văn hóa Việt Nam cũng như những lời nói, ánh mắt thân thiện của Ngài và Phu nhân đã gây được thiện cảm và để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong lòng chúng tôi. Như tập quán của người Việt Nam thường nói lời tiễn khách: mong khách quý lượng thứ nếu có điều gì cư xử không phải.
Hiện nay, mặc dù còn phải liên tục chống thiên tai, nhân họa - lũ lụt và tham nhũng - và lại còn rất vất vả trong việc hàn gắn các vết thương chiến tranh, nhân dân Việt Nam vẫn lạc quan với cuộc sống. Phương Tây có câu: "Khi ta chưa có cái ta yêu thì ta hãy yêu cái ta có", thành ngữ Việt Nam cũng nói: "Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ". Dẫu Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau và thật sự hiểu nhau có phần muộn màng nhưng chẳng gì có thể cản trở tình cảm bạn bè thân thiết của chúng ta nảy nở. Riêng với ngài Clinton và những thanh niên Mỹ khảng khái chống quân dịch năm xưa để phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chúng tôi đã coi các vị là bạn thân của Việt Nam từ ngày ấy. Và 8 năm qua, trong hai nhiệm kỳ Tổng thống, Ngài đã làm nhiều việc mang ý nghĩa lịch sử giúp cho Việt Nam và Hoa Kỳ ngày thêm xích lại gần nhau. Những việc làm tốt đẹp ấy hẳn không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của nhân dân hai nước chúng ta.
Tôi hy vọng những người kế tục sự nghiệp của Ngài và chính phủ Ngài, cũng như những nhà khoa học và những thương gia . . . sẽ không ngừng góp phần phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần tự lực cánh sinh, với sức mạnh trí tuệ và văn hóa của mình, lại nhận thêm được sự giúp đỡ khảng khái và hào hiệp của chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, nhất là của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, sau khi đã giành được "hoà bình, độc lập và thống nhất", chắc chắn nhân dân Việt Nam chúng tôi sẽ xây dựng thành công một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh, đúng như di huấn của lãnh tụ Hồ Chí Minh và khát vọng ngàn đời của nhân dân chúng tôi.
Với tư cách một công dân Việt Nam, tôi xin gửi đến Ngài và nhân dân Hoa Kỳ lòng quý trọng và niềm hy vọng.
Kính chúc Ngài cùng quý quyến an khang và thịnh vượng.
Kính chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt nam và nhân dân Hoa Kỳ ngày càng phát triển và bền vững.
Kính thư
Địa chỉ:
Trần Khuê
296-Nguyễn Trãi-Quận 5
TP Hồ Chí Minh
ĐT: (848) 8.363.825
E-mail: trankhue@hcm.fpt.vn
Trần Khuê