|
|
|

|
HT Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ luôn bị ám ảnh bởi 2 thảm trạng, đó là :
- Cuộc hành quyết Hòa Thượng Thích Ðức Hải, Thầy của Hòa Thượng, ngày 19
tháng 8 năm 1945, trong những ngày đầu tiên người Cộng Sản nắm quyền lực tại
Việt Nam ;
- Một tăng sĩ kết nghĩa anh em là Hòa Thượng Thích Ðại Hải, bị bắt năm 1946
và bị hành quyết sau đó, chỉ vì vị tăng sĩ này thuộc Việt Nam Quốc Dân Ðảng, một
tổ chức không phải là đảng Cộng Sản
|
(chi tiết về những vụ hành quyết này được Hòa Thượng nêu lên trong thư gửi
cho Ðỗ Mười, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 19 tháng 8 năm 1994).
Vì những lý do trên mà vị lãnh đạo tôn giáo, tục danh Ðặng Phúc Tuệ, sanh
ngày 27 tháng 11 năm 1928 tại Thái Bình, không bao giờ còn tin vào người cộng
sản nữa. Sau khi ký kết Hiệp định Genève 1954, Cộng Sản Việt Nam nắm quyền hành
tại Hà Nội, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ đã di cư vào miền Nam Việt Nam, và trở
thành một trong những vị lãnh đạo Phật Giáo được kính trọng vì sự uyên bác cũng
như tầm nhìn sâu rộng của mình. Mười một năm sau, Hòa Thượng được đề cử giữ
trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo/Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
(GHPGVNTN). Sau khi cộng sản chiếm giữ miền Nam, nhân danh Tổng Thư Ký Viện Hóa
Ðạo, Hòa Thượng đã công kích chế độ Hà Nội về những vi phạm tự do tôn giáo, cũng
như hành động cưỡng đoạt tài sản của Giáo Hội (chiếm đoạt Cô Nhi Viện Quách thị
Trang, tháng 3-1977).
Chế độ cộng sản Việt Nam cho rằng những phê phán của Hòa Thượng gây trở ngại
cho nhà nước về các vấn đề tôn giáo, nên ngày 6 tháng 4 năm 1977, Hòa Thượng
cùng 5 vị lãnh đạo Phật giáo khác thuộc GHPGVNTN đã bị bắt giam. Tất cả bị tra
tấn và buộc phải tự nhận là làm việc cho cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ
(CIA). Ngày 11 tháng 11 năm 1977, Thủ tướng CSVN Phạm văn Ðồng ban hành Nghị
Quyết số 297, nội dung siết chặt quyền tự do tín ngưỡng và hành đạo tại Việt
Nam, Nghị Quyết cho phép nhà nước quyền tịch thu tài sản chùa chiền và cấm mọi
sinh hoạt truyền đạo. Ngày 8 tháng 12 năm 1978, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cùng 5
vị tăng sĩ bị chế độ đưa ra xét xử, nhưng vì không biết kết tội các vị tăng sĩ
về những sai phạm gì, nên tòa án đành cáo buộc các đối tượng là gây rối loạn
trật tự, loan truyền tin thất thiệt. Sau đó, nhà nước Hà Nội đã phải tha bổng
Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và Hòa Thượng Thích Thanh Thế.
Ðể làm giảm ảnh hưởng của GHPGVNTN, trong các năm 1980 - 1981, chính quyền
Hà Nội lập ra một tổ chức tôn giáo ngoại vi, đặt tên là Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam. Tháng 9 năm 1981, chế độ tìm cách sát nhập GHPGVNTN vào Giáo Hội nhà nước.
Tuy nhiên, mưu toan này đã gặp sự chống đối mãnh liệt của Hòa Thượng Thích Quảng
Ðộ, với sự hậu thuẫn của toàn thể các nhân vật lãnh đạo khác. Một tháng sau, Hòa
Thượng Thích Quảng Ðộ cùng 5 vị lãnh tụ Phật giáo khác bị bắt và bị giam giữ 24
giờ. Nhà nước CS phải cô lập Hòa Thượng, để thực hiện việc sát nhập GHPGVNTN vào
Giáo Hội nhà nước.
Chính quyền Hà Nội đương nhiên coi việc hợp nhất Phật Giáo đã hoàn tất, và
quy kết việc chống đối là bất hợp pháp. Ðó là điều mà chế độ biện giải về việc
bắt giữ Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, ngày 25 tháng
2 năm 1982, hai nhân vật nổi bật cho sự đối kháng của GHPGVNTN. Hai vị đều bị
quản thúc tại nơi sinh quán. Hòa Thượng Quảng Ðộ bị đưa về Vũ Ðoài, tỉnh Thái
Bình. Thân mẫu của Hòa Thượng cũng bị quản thúc, năm ấy cụ đã 90 và cụ đã mất
vào năm 1985, khi Ngài vẫn còn bị quản thúc.
Tháng 3 năm 1992, sau hơn 10 năm bị quản thúc, Hòa Thượng Quảng Ðộ tự ý rời
bỏ nơi quản thúc trở lại Sài Gòn. Hòa Thượng tiếp tục tranh đấu cho tự do tín
ngưỡng. Tháng 8 năm 1994, Hòa Thượng viết một tài liệu 44 trang gửi cho Ðỗ Mười
tường thuật mọi sự trù dập ngược đãi mà GHPGVNTN phải gánh chịu, từ ngày đảng
Cộng Sản cầm quyền tại Việt Nam.
Ðầu năm 1995, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ lên tiếng phản đối việc bắt giam
trái phép phái đoàn cứu trợ của Giáo hội. Vì việc này mà Ngài đã bị bắt giam từ
ngày 4/1/1995. Sau hơn 8 tháng bị giam giữ, ngày 15/8/95 Hòa Thượng Thích Quảng
Ðộ bị kết án 5 năm tù ở, trong một phiên tòa không có luật sư biện hộ, không có
báo chí quốc tế tham dự, không có thân nhân chứng kiến. Sự kiện này đã gây ra
một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong dư luận ở trong và ngoài nước.
Nhân ngày lễ độc lập của đảng CSVN 2/9/1998, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ đã
được trả tự do cùng với trên 5000 tù nhân khác. Sau khi được thả, Hòa Thượng trở
về sinh hoạt tại Thanh Minh Thiền Viện tại Sài Gòn.
Hòa Thượng đã bị công an CSVN bắt ngày 23/3/99 tại Quảng Ngãi trong chuyến
viếng thăm HT Thích Huyền Quang đang bị đau nặng. Sau 6 giờ thẩm vấn, công an
CSVN đã buộc ngài hủy bỏ chuyến đi tại miền Trung và đưa ngài trở về Sài Gòn.
Sau hơn 20 năm, Ðại Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ 8 mới được triệu
tập vào đầu tháng 5/99 , Hòa Thượng đã được bầu Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo/ Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Ngày 3/8/99, trong một cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Reuters, HT Thích
Quảng Ðộ đã yêu cầu Hà Nội phải trả tự do vô điều kiện cho HT Thích Huyền Quang.
3 ngày sau, ông bị công an gọi lên thẩm vấn và buộc tội đã gửi thư từ liên lạc
ra nước ngoài, phân phát tài liệu chống phá nhà nước, đặc biệt là việc Hòa
Thượng được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa Ðạo mà không xin phép nhà nước.
Nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright
trong hai ngày 6 và 7/9/99, Hòa Thượng đã gửi thư yêu cầu bà hãy quan tâm hơn
đến vấn đề nhân quyền, nhất là quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Tháng 6 năm 2001, Ngài tổ chức một phái đoàn ra Quảng Ngãi đón NT Thích
Huyền Quang về Sài Gòn để chăm sóc và trị bệnh, nhưng nhà cầm quyền CSVN đã ngăn
cản và cô lập Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ tại Thanh Minh Thiền Viện từ đó đến nay.
Từ năm 1999, mỗi năm Ngài đều được đề cử làm ứng viên giải Nobel Hòa Bình và
được nhiều tổ chức, cơ quan nhân quyền trên thế giới biết đến và can thiệp
thường xuyên.
Từ năm 1999, mỗi năm Ngài đều được đề cử làm ứng viên giải Nobel Hòa Bình và
được nhiều tổ chức, cơ quan nhân quyền trên thế giới biết đến và can thiệp
thường xuyên. Là một cao tăng Phật giáo và là giáo sư đại học, Hòa thượng còn là
một nhà văn khảo cứu uyên bác và dịch thuật tài ba. Những tác phẩm đã xuất bản :
Thoát vòng tục lụy, Sài Gòn 1962 ; Dưới mái chùa hoang, Sài Gòn 1962 ; Truyện cổ
Phật giáo, Sài Gòn 1964 ; Ðại thừa Phật giáo tư tưởng luận, và Tiểu thừa Phật
giáo tư tưởng luận, Sài Gòn 1969.
Mục Lục
|
|
|