Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Còn Bị Đầy Đoạ, Lừa Dối Đến Bao Giờ? |
(LÊN MẠNG Thứ sáu 9, Tháng Mười Hai 2005)
Nguyễn Thái Bình
(VNN)
Năm 1968, bà Đồng Thị Khá cư trú tại ấp Trường Lợi, xã Trường Long tây, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh cũ). Do chiến tranh ác liệt, nên cả gia đình bà phải dạt về ấp Thạnh Vinh, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang lánh nạn. Thời gian này bà mua một phần đất ruộng của ông bà Huỳnh Văn Xiêm và Nguyễn thị Bé với diện tích 40 công tầm lớn (mỗi chiều 3,3 mét) theo thời giá khi đó là 80 giạ lúa để làm ăn. Sau đó gia đình bà tận dụng phần đất sát bờ ruộng để khai thác thêm được 3 công nữa tổng cộng là 43 công, tương đương với 52 công đất tầm nhỏ (mỗi công nhỏ bằng 1.000 m2). Từ đó đến hết năm 1975 cả nhà bà bám đất, bám ruộng và sống được hoàn toàn nhờ vào 52 công đất đó. Sau giải phóng cả 8 thành viên trong gia đình bà lại chuyển về Cần Thơ sinh sống song số hoa màu thu hoạch được trên 52 công đất ruộng vẫn là nguồn lợi chính của gia đình, cũng là mồ hôi công sức của cả nhà bà bỏ ra, nên tuy về nhà cũ, vợ chồng bà cùng 6 người con vẫn làm một chòi nuôi trâu và căn nhà tạm để bám đất bám ruộng. Hai năm đầu sau khi chuyển về nhà cũ, mọi việc vẫn không có gì thay đổi, cả nhà bà vẫn đi đi về về gieo cấy trên thửa ruộng mà mình đã phải thắt lưng buộc bụng trong bao năm trời mới trả được số tiền mua đất. Đầu năm 1978, khi trở lại để cầy bừa, gieo cấy như cũ bà mới ngã ngửa ra là 52.000 m2 đất của bà đã bị 5 gia đình khác chiếm mất.
Tìm hiểu qua 5 người chủ mới, gồm ông Tư công, Năm Dừa (quê Vĩnh Long), ông Nguyễn Văn Năm - Nguyễn văn Bảy (người địa phương)... bà được biết số đất đó đã bị ông Tám Tố (tập đoàn trưởng) cùng chính quyền địa phương lấy và bán lại cho họ. Cho dù một số người làng biết chuyện đã ra tận ruộng can gián ngăn chính quyền không nên tiến hành đo đạc cắt đất mà chính quyền vẫn bỏ ngoài tai. Phẫn nộ bà đi tìm ông Mai văn Tố cùng chính quyền xã để hỏi thì họ lấy lý do: Tưởng đất bạc màu, sản xuất không hiệu quả, nên bà đã bỏ lại để chuyển về quê cũ. Giờ xã thu lại để nhựơng cho những người có nhu cầu canh tác.
Chỉ ra chòi nuôi trâu và ngôi nhà vẫn còn trên thưở ruộng của mình, bà bảo:
- Cả đời tôi trông vào ruộng, bao năm chiến tranh ác liệt, bom đạn bời bời, bận nuôi dưỡng cán bộ, tham gia công tác cách mạng, còn không bỏ ruộng hoang nữa là thời bình này, bỏ ruộng thì lấy chi mà sống. Muốn gì các ông cũng phải nói với tôi một tiếng chớ. Ruộng tôi năm nào cũng cấy cầy, sao bảo bỏ ruộng hoang? Vắng chủ nhà là nhảy vô cướp liền à?
Sự việc còn nhùng nhằng chưa giải quyết thì 120 công đất do 6 con bà bỏ công khai phá trong 7 năm lánh nạn cũng bị sư đoàn 339 lấy hết để thành lập Nông trường. Cả mấy chục người gồm con cái, dâu rể, cháu nội, ngoại của bà thế là bị triệt tiêu nguồn sống.
Thời gian trôi nhanh, do bận bịu với công việc cày thuê, cuốc mướn, đầu tắt mặt tối không có điều kiện theo kiện, lại không mấy am hiểu về pháp luật nên tuy uất ức vì mất đất, bà chỉ biết nín nhịn trong lòng mà không nghĩ ra cách nào đòi lại vì đất không chỉ chia cho 1 hộ, cũng không thể bỏ việc, bỏ nhà để tối ngày chạy theo đám cán bộ lật lọng của chính quyền xã Thạnh Phước. Mỗi lần chạm mặt bà chỉ còn biết chỉ mặt họ, đấm ngực mình mà thở than:
- Thời chiến tranh chống Mỹ ác liệt, ba chị em tôi qua mặt bọn ác ôn, tay sai, làm hầm bí mật tại ruộng che giấu các ông, ngày mấy bận đội cơm cho mấy ông ăn, nguy hiểm cỡ nào, thiếu thốn cỡ nào cũng không dám bỏ đói các ông một bữa, chỉ vì nghe các ông động viên: Các chị, các má gắng bám trụ, bám làng nuôi bộ đội, du kích, đến khi đất nước độc lập rồi chúng con sẽ không để cho các má, các chị phải khổ lấy một ngày". Vậy mà... Nếu sớm biết đất sẽ bị cướp trắng như ngày hôm nay tôi đâu có bám trụ, bám làng để 2 em tôi phải chết. Bộ các người tưởng chỉ cần làm 2 tấm bằng liệt sĩ cho hai đứa chúng nó là xong hả? Các người cần các người có thể xin, như ngày xưa tôi đã từng nhường cơm, xẻ áo, thắt lưng buộc bụng nuôi các người vậy, Sao các người nỡ cướp không của tôi cả năm chục nghìn mét đất như vậy?
Năm 1990. Lúc này bà đã vào độ tuổi thất thập (cổ lai hy), không thể đảm đương ruộng đồng được nữa, qua tìm hiểu bà biết thêm một số nghị quyết do chính phủ ban hành, cụ thể nghị định 201 CP ký ngày 1-7-1980 có quy định rõ đối với cấp tỉnh chỉ có quyền thu hồi của mỗi hộ tối đa là 20.000 m2, nếu sử dụng vượt mức quy định phải được phép của trung ương. Trong khi riêng gia đình bà đã bị lấy mất 172.000 m2 (ứng với 172 công), vượt hẳn 152 công so với quy định ban hành. Tại điều 5, luật đất đai tạm thời ban hành năm 1988 cũng ghi rõ: "Cấm sang nhượng và lấn chiếm đất trái phép". Rồi nghị quyết 10 của ban chấp hành trung ương Đảng, chỉ thị 17 của ban bí thư trung ương Đảng ban hành năm 1989 do đích thân tổng bí thư Nguyễn văn Linh đọc trước toàn Đảng toàn quân và toàn dân: Yêu cầu giải tán các tập đoàn sản xuất để trả lại đất gốc cho dân. Bà tràn trề hy vọng và quyết định làm đơn khiếu nại. Trong chỉ thị viết rõ: Đất nào dân khiếu nại, xét trả lại cho dân, đất nào dân không khiêú nại thì giữ nguyên hiện trạng. Tin rằng mình chắc chắn lấy lại được đất, bà lập tức viết đơn mà không hề lường trước được là cuộc hành trình khiếu kiện của mình đầy vất vả gian nan, tính đến thời điểm cuối 2005 này là chẵn 15 năm, vậy mà mặc kệ cái tuổi "như chuối chín cây", "gần đất xa trời" sống hôm nay không biết đến ngày mai của bà, tất cả các nơi bà đến vẫn giữ thái độ lạnh lùng câm nín, như thể mắt không có con ngươi, hay thiếu tròng vậy. 76 tuổi, tuy mù chữ song đơn kiện của bà khi ấy khá đầy đủ chứng lý, trong đó 2 chứng lý quan trọng nhất là giấy tờ bán đất của ông bà Huỳnh văn Xiêm và Nguyễn thị Bé, cùng giấy xác nhận của cả chục gia đình cư ngụ và canh tác ruộng xung quanh khu vực đất của bà, gồm ông Cao văn Hầu, Đào văn Sơn, Hai Trích, Ba Đông, Lê văn Nga v.v về việc bà vô cớ bị cắt đất xâm canh (có con dấu xác nhân của cán bộ xã) chứ ông bà chưa hề bỏ ruộng hoang một vụ nào.
Tại "công đường" của uỷ ban nhân dân xã Thạnh Hưng, hồ sơ của bà không những không được chấp nhận mà còn bị những kẻ đội lốt Đảng, nhân danh chính quyền Cách mạng thủ tiêu luôn cả tờ xác nhận của vợ chồng người bán, hòng chạy tội, cướp không số đất hợp pháp của bà.
Từ đó bắt đầu một hành trình khiếu kiện, sống cảnh màn trời chiếu đất, gối đất nằm sương cực nhục gian khó gấp vạn lần chiến tranh, bom đạn, giặc giã, thương vong.
Không làm việc nổi với chính quyền xã - thực chất là bọn cường hào mới ăn cướp của dân, bà đội đơn lên huyện gặp ngay chính những người ngày xưa từng được bà và dân làng cưu mang, che chắn. ngày 12/10/1991, đích danh Thanh tra huyện Giồng Riêng là Đặng văn Mẫn đã ký và xác minh hoàn toàn sai lệch vụ việc khiến cuộc hành trình khiếu kiện của bà ngàn lần gian khó hơn. Cụ thể ông ta xác nhận sau năm 1975, do sử dụng đất không hiệu quả nên bà và gia đình chuyển về Cần Thơ sinh sống, sau đó các ông Tám Thọ, Tám Lãnh, và út Phước vào sản xuất. Được khoảng hai năm không có hiệu quả lại bỏ đi, đất tiếp tục bị bỏ hoang, Cho đến tận năm 1985 các ông Năm, Rớt, Bảy mới tìm vào khai hoang phục hoá và sử dụng cho đến ngày nay (kỳ thực một phần đất của bà đã bị ông Bảy sang tay cho người khác để lấy tiền mua máy cày).
Trước đó khi bà yêu cầu gặp đích danh ông Mẫn - người đã từng ở hầm nhà bà trong những tháng năm gian khó, ác liệt nhất, cũng là người đã chứng kiến hai cái chết anh dũng của hai người em của bà để trình bày sự việc. Biết rõ bà không biết chữ nên trước khi trả lại hồ sơ cho bà, ông còn chỉ vào chữ ký chưa ráo mực của mình, hồ hởi bảo: - Đây nhớ, tôi đã ký giấy cho bà rồi, về xã mà nhận đất đi thôi, đừng vạ vật trên này nữa, tội lắm. Tin rằng hai nắm xương khô của các em cùng chút tình xưa nghĩa cũ của bà và gia đình còn làm động lòng trắc ẩn ngài chánh văn phòng của huyện, bà tin tưởng cầm hồ sơ ra về. Đến nhà mới té ngửa ra rằng 52.000 m2 đất không những không hề được trả lại mà ruộng cũ đã được chủ mới xây nhà kiên cố rồi (sau khi đi đêm với tập đoàn trưởng Mai văn Tố, cũng là họ hàng với chủ tịch xã). Phần đất mà người ta bảo trả lại cho bà chỉ là 1/2 số đất (60 công) đã thu ở ấp Thạnh phước do nông trường lấn chiếm trái phép của các con bà mà thôi
Ôm hai tấm bằng liệt sĩ cùng giấy mua đất (nhờ chủ bán xác nhận lại lần thứ 2 (ngày 2-9-1992) bà tiếp tục hành trình khiếu kiện. Do vụ án đã bị làm sai lệch, gửi tới tất cả các huyện thị trong tỉnh, từ thường trực uỷ ban, thanh tra, sở địa chính, phòng tiếp công dân v.v nên đến đâu bà cũng gặp phải thái độ chống đối gay gắt nơi chính quyền. Thậm chí tròn một giáp sau (2003) trong công văn gửi chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Giồng riềng ngày 22-7, gã chánh phó văn phòng tỉnh Kiên Giang Trần Dũng Anh, vẫn kiên trì lặp lại như vẹt lời của cấp dưới hắn từ 11 năm trước:
"Ngày 4/7/2002 bà Đồng thị Khá (ấp Trường Lợi, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) đến trực tiếp khiếu nại tại phòng tiếp công Dân thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, yêu cầu trả lại đất cũ và đòi thành quả lao động.Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng kiểm tra báo cáo và được biết 52 công đất của bà tại xã Thạnh Hưng, huyện Giồng Giềng trước 1975 có sử dụng. Sau do sản xuất khó khăn, bà Khá bỏ đất chuyển về Cần Thơ sinh sống. Vì thế số đất này đã được giao cho các hộ khác khai hoang phục hoá và sử dụng toàn bộ.
Đến năm 1992, bà Khá khiếu nại đòi lại đất cũ. Lúc này chính quyền địa phương giải quyết giao cho gia đình bà Khá 120 công đất khác ở ấp Thạnh Phước Bà Khá đã phân chia cho 6 người con, mỗi người 20 công, sau đó các con bà đã chuyển nhượng hết cho người khác được bà đồng ý và ký tên vào giấy mua bán (Bà Khá thừa nhận) nên Uỷ ban nhân dân huyện sau khi xem xét khiếu nại của bà đã giao cho Thanh tra huyện để ra thông báo số 04 ngày 12/8/1994, bác đơn khiếu nại của bà, Bà Khá không đồng ý, khiếu nại lên tỉnh. Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 591 QD-UB ngày 18/5/1995 không thừa nhận việc này vì không đúng quy định của luật pháp. Bà đã bỏ đất từ 1975 đến 1992 là 17 năm, do đó việc xin lại đất cũ là không đúng với khoản 2 điều 2 luật đất đai năm 1993, Hơn nữa bà cũng không có nhu cầu sử dụng đất vì sau khi được nhà nước giao cho 120 công đất (chia làm 2 lần) bà và các con đã chuyển nhượng hết cho người khác. Bà Khá vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết của Uỷ ban nhân dân tỉnh, tiếp tục khiếu nại. Ngày 29/8/1997 Uỷ ban nhân dân tỉnh ra công văn số 299/CV-UB khẳng định việc giải quyết tại quyết định 591/QD-UB là hoàn toàn đúng pháp luật. Bà Khá vẫn tiếp tục khiếu nại. Tháng 12-2002 đoàn kiểm tra liên ngành của chính phủ làm việc tại Kiên Giang, đã trực tiếp đối thoại với bà và khẳng định việc giải quyết của Uỷ ban nhân dân tỉnh là đúng chính sách pháp luật của nhà nước
Từ những cơ sở trên đồng chí Trương Quốc Tuấn, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang kết luận việc giải quyết trước đây là đúng. Yêu cầu xin lại đất cũ và xin bồi hoàn thành quả lao động của bà không đúng với quy định của pháp luật nên không chấp nhận giải quyết.
Bị chặn mọi ngả đường từ xã lên huyện, từ huyện lên tỉnh, hơn 2 năm nay bà ra thẳng trụ sở tiếp dân của trung ương để khiếu kiện. Với tuổi đời 91, không làm được gì để kiếm sống, không có tiền để ở trọ, dù chỉ là 2.000 đồng một ngày, bà vạ vật ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, bên chân tượng Lý Tử trọng đã khô lệ vì khóc cho bà con bao năm. Không biết bao giờ ước nguyện của bà mới được giải quyết. Một nguyện vọng vô cùng chính đáng với hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn như bà. Cả đại gia đình 6 cặp con cái dâu rể và hàng chục đứa cháu nhếch nhác chỉ trông vào ruộng, chồng bà lại già cả đau yếu nên sau cả chục năm trời bị mất đất, khi được trả lại đã phải bán đi để trả nợ hết. Nay nghĩ mình là gia đình liệt sĩ có công với nước nên trong số 52 công đất bị cướp bà chỉ xin lại 10 công để có đất dựng một ngôi nhà nhỏ, thờ hai người em liệt sĩ, còn 42 công còn lại, bà yêu cầu những người đang sử dụng bồi hoàn lại một phần thành quả lao động cho bà, vì dù sao cũng là công sức lao động của cả gia đình bà hơn nửa thập kỷ mới có được. Vậy mà hết năm naỳ sang năm khác, số ky lô mét, đường đất bà từng phải đi trong hành trình gần 16 năm trời khiếu kiện (từ quê lên sài gòn, Sài gòn về quê, từ Nam ra Bắc, từ Bắc vô Nam theo chân phái đoàn của chính phủ) đã nhiều hơn số ngày mà bà đã sống trên đời (gần 3 vạn 500 nghìn ngày) cả lãnh đạo nam cũng như nữ, từ chủ tịch xã Nguyễn Sơn Tranh, đến chủ tịch huyện Đào Nghiã Nghiên, bà Từ thị Trinh (đoàn công tác chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh) v.v chỉ làm một việc dứt điểm duy nhất là ra hàng loạt công văn chỉ thị văn bản để phủ nhận, vô hiệu hoá những lá đơn đầy bức xúc oan khuất của bà. Thay vì "uống nước nhớ nguồn" người ta đẩy bà ra sống ở vỉa hè vườn hoa, ghế đá, lấy lá cây làm chiếu, mảnh trăng trời làm chăn, gió mưa làm màn. Việc ăn uống bữa đói bữa no. Tài sản duy nhất của bà có được là 180.000 đồng do người dân qua lại cám cảnh cụ già ngoài 90 phải ôm hai tấm bằng tổ quốc ghi công ngồi lay lắt ở vườn hoa phơi nắng phơi sương ngày này tháng khác, mủi lòng, thương tình biếu bà để phòng khi trái nắng trở trời ốm đau cảm cúm, cũng bị lãnh đạo bộ công an cử cấp dưới đến để hành hung, cướp đồ đạc, du đẩy bà cùng số bà con cùng tụ tập ở vườn hoa trong đêm cướp mất. Ngày nào bà cũng cất lời nhờ các cán bộ công an ở trụ sở tiếp dân và bảo vệ vườn hoa nói lại, xin giùm cho bà mà bọn người với trái tim chó đâu có chịu trả lại, chúng coi như chiến lợi phẩm thu được sau những lần hành hung, cướp bóc...Từ tiền bạc, giường xếp, xoong nồi, quần áo, màn mùng, phế liệu của bà con...
91 tuổi đời, không biết chuỗi ngày vạ vật tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng của bà bao giờ mới chấm dứt? Bao giờ mới được Đảng và nhà nước để tâm xem xét đến, hay sống chết mặc bay, Đảng này vớ bẫm!
Hà Nội 7-12-2005
Nguyễn Thái Bình.
(Thị xã thái Bình, Tỉnh Thái Bình)