Trên con đò "quá độ" lên chủ nghĩa xã hội như Hà Nội vẫn khẳng định, Nhà Nước cộng sản Việt Nam đang vừa "cầm lái", vừa "chèo đò" và vừa "thu tiền đò". Thật không có ví dụ nào lột trần được rõ ràng hơn cái chân tướng của chế độ cộng sản hiện nay tại nước ta, khi họ thiết lập những "Trung Tâm Dịch Vụ Hành Chính Công" tại Hà Nội mới đây.
VÀO cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, trong lúc các nước mới phát triển tại vùng Ðông Á đang mạnh mẽ vươn thành những con rồng, con hổ, thì cũng là lúc cộng sản Việt Nam phải mở cửa, từ bỏ con đường kinh tế xã hội chủ nghĩa để chạy theo kinh tế thị trường. Các nước tiến bộ Tây Phương đã chú ý tới nước ta như một thị trường mới với hơn 70 triệu dân, với nhiều tiềm năng đáng kể. Tập đoàn cộng sản rất là "hồ hởi" vì hy vọng một sự thăng tiến về kinh tế sẽ có khả năng cứu chế độ thoát khỏi một sự sụp đổ chính trị. Trong lúc hứng sảng, cộng sản còn mơ là Việt Nam sẽ một bước tiến lên thành cọp, thành beo nữa là đàng khác. Nhưng Hà Nội đã lỡ chuyến tàu, đã đánh mất cơ hội hiếm có khi vẽ ra không biết bao nhiêu cửa ải, thủ tục phiền hà để trục lợi cho mình... khiến giới đầu tư ngoại quốc nản lòng bỏ đi. Vì thế, từ hơn 10 năm nay, cộng sản Hà Nội đã cố gắng vận động vay mượn các định chế tài chánh quốc tế để làm kinh tế và giữ chính quyền. Ðiều kiện quốc tế đặt ra cho Việt Nam là phải có những cải cách mạnh mẽ hơn, nhất là cải cách hành chánh nhằm đơn giản hóa các thủ tục, diệt trừ nạn tham nhũng... Cộng sản Hà Nội đã đáp ứng yêu cầu của quốc tế về cải cách ra sao ?
Bộ máy hành chánh cũng như nền hành chánh của Hà Nội từ ngày chuyển sang kinh tế thị trường càng lúc càng quan liêu, thối nát.
Nền hành chánh XHCN
Nền hành chánh của chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay được mô tả là một nền hành chánh thư lại, chồng chéo, phức tạp. Nói nôm na, nó rối như một mớ bòng bong. Không ai biết đâu là đầu, đâu là đuôi. Không biết đàng nào mà gỡ. Ngay cả cán bộ viên chức của chế độ cũng không ai nắm được hết các "quy luật vận hành" của nền hành chánh đó. Bộ phận nào trong nền hành chánh đó cũng khẳng định mình có thẩm quyền "cho ý kiến", "duyệt xét", "quyết định", vv... Chính vì vậy mà nẩy sinh ra tệ nạn trăm cửa, trăm dấu. Chính vì cần phải đi qua nhiều cơ quan "chức năng" mà thời gian kéo dài lê thê : "con rùa hành chánh". Theo khuyến cáo của nhiều cơ chế quốc tế, nhiều "nghị quyết" của đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội đã nói đến đơn giản hóa, hữu hiệu hóa hệ thống hành chánh ; nhưng trải qua hơn 10 năm rồi, họ đã tỏ ra hoàn toàn bất lực, không thực hiện nổi. Ðây là một nền hành chánh chỉ nhằm phục vụ cho việc củng cố quyền lực cho đảng và chính quyền cộng sản. Nó không nhằm để phục vụ nhân dân. Ðồng bào ta trong nước đã định nghĩa nền hành chánh hiện nay như sau : "hành chính, chính là để hành dân".
Guồng máy hành chánh XHCN
Nền hành chánh đã rối như tơ vò thì guồng máy hành chánh của chế độ lại càng "linh tinh lang tang " hơn nữa. Lý do là những con người được đặt trong guồng máy đó kém tài, kém đức. Vì muốn độc tài, độc tôn, nên từ khi "đổi mới", chế độ luôn chú trọng đến việc giao các trách nhiệm lãnh đạo cho các cán bộ, đảng viên nòng cốt, trung thành. Ðây là những người xuất thân từ bần nông hay công nhân, không hề được đào tạo để trở thành những công chức hành chánh. Họ thông thạo chiến trận hơn là viết chữ. Nói gì đến nghiệp vụ cai trị. Tệ hại hơn nữa, những quan chức cộng sản này lại là những con người có thái độ quan liêu hống hách, có lòng tham lam vô đáy. Triết lý của họ (nếu họ hiểu thế nào là triết lý) là "lợi nhuận, lợi nhuận, đại lợi nhuận", "làm giàu, làm giàu, đại làm giàu" ! Những đức tính của người cán bộ mà cộng sản cho rằng xưa kia ông Hồ đã đề cao như "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", "cán bộ là công bộc của dân" vv..., thật là vô nghĩa đối với họ. Thậm chí họ còn nghĩ đó là tư tưởng của một tên phản động nào đó. Có chức, có quyền trong tay, họ đã làm khó những ai có việc phải nhờ tới công quyền để bắt họ phải đút lót tiền bạc, quà cáp. Không có tiền thì không được việc. Không có tiền thì chậm trễ giải quyết. Người dân nghèo không có khả năng tiền bạc đành phải "tháng ngày chờ đợi cửa công mỏi mòn". Có người ví guồng máy hành chánh của cộng sản Việt Nam bị han rỉ, cần phải tra dầu mỡ cho nó trơn tru nó mới chạy. Dầu mỡ đây là tiền bạc đút lót.
Quá tải công việc
Ngày hôm nay nếu một quan sát viên khách quan đến bất cứ một cơ quan công quyền nào ở Việt Nam thì cũng đều phải công nhận rằng "công việc quá nhiều", công nhân viên giải quyết không hết. Nhưng câu hỏi cần được đặt ra là thực trạng "quá tải" này vì đâu mà có ? Những nhu cầu cơ bản của nhân dân Việt Nam đối với chính quyền, với hệ thống hành chánh không nhiều hơn ở các nước khác trên thế giới. Cơ bản có nghĩa là những công việc mà luật định cần có sự can thiệp của chính quyền.
Trên thực tế, trong nền hành chánh của chế độ hiện nay có 2 vế quan hệ mật thiết với nhau : luật và lệ. Luật pháp càng rõ ràng thì nền hành chánh càng thông thoáng, nhân dân càng biết rõ đường đi, nước bước mỗi khi phải tiếp xúc với hệ thống hành chánh. Lệ là phương cách áp dụng luật một cách cụ thể tùy theo hoàn cảnh địa phương. Trên những cơ sở định nghĩa như trên, người ta nhận thấy ở Việt Nam hiện nay luật pháp không rõ ràng. Mỗi quan chức cộng sản đều có thể giải thích luật theo một kiểu. Ðối với những quan chức không có trình độ văn hóa thì sự giải thích lại còn tệ hại hơn nữa, nhiều khi trái hẳn với tinh thần luật pháp. Thêm vào tình trạng lù mù về luật pháp này, lại có thêm những "điều lệ" hết sức vô lý. Phàm là quan chức Ðảng hay Nhà Nước, ai cũng có quyền đặt lệ này, lệ kia, cũng có quyền vẽ vời thêm thể thức rườm rà để tỏ uy quyền và để trục lợi. Tóm lại luật và lệ đã kéo dài thêm thời gian giải quyết những nhu cầu của dân. Với thời gian, công việc tồn đọng, lưu cữu năm này qua tháng khác, trở thành một khối lượng khổng lồ, không thể trong một thời hạn nhất định giải quyết được. Hiện nay, trước sự bất mãn của dân và những thúc bách cải cách của các cơ chế tài chánh quốc tế, cộng sản Hà Nội đang loay hoay tìm phương thế gỡ rối bằng những biện pháp nửa vời và vô hiệu.
Tệ nạn tham nhũng
Tình trạng tham nhũng tràn lan tại Việt Nam đối với người ngoại quốc cũng người dân trong nước, không ai là không biết. Toàn đảng, từ trên xuống dưới, đều tham nhũng. Ở mỗi chức vụ, cán bộ đều ra giá để "bán ra" những thứ mà thực chất bổn phận họ phải cung cấp miễn phí cho đồng bào. Ðứng từ phía dân nhìn lên thì mọi chuyện khi phải tới công đường xin xỏ cũng đều phải đưa tiền. Có tiền thì được việc ngay. Càng chậm trễ càng khó khăn, càng tốn công, tốn sức và tốn kém nhiều tiền bạc hơn.
Ðứng từ phía các quan chức cộng sản thối nát thì, dân cần việc chứ họ không cần. Cần thì phải "chi" mà phải chi cho "xứng" : xứng với việc đang cần, xứng với vai vế, chức danh của quan chức nắm quyền giải quyết. Không có tiền thì cứ ngâm đấy cho nó biết thân, ưu tiên giải quyết cho kẻ nộp đủ, nộp sớm. Ðút lót tiền bạc, quà cáp cho quan chức để "được việc" gọi là hối lộ. Quan chức nhận tiền bạc, quà cáp đút lót để ưu tiên, dễ dãi cho đương sự được mệnh danh là hối mại quyền thế.
Một số người lý luận rằng vì lương tháng chính thức của quan chức đảng và Nhà Nước quá ít, không đủ sống, nên quan chức mới phải "cải thiện" bằng cách nhận hối lộ của dân. Những phương ngôn, tục ngữ truyền thống của dân tộc Việt Nam như "đói cho sạch, rách cho thơm", "giấy rách phải giữ lấy lề" hoàn toàn không có trong đầu óc của quan chức cộng sản hiện nay trong bộ máy chính quyền. Quan lại thời xưa nhận được lương tháng của triều đình, bên cạnh đó còn có bổng lộc do chức vị của mình mà có. Tuy đây cũng chỉ là cách nói để ám chỉ sự tham nhũng của quan lại, nhưng thông thường thì đối với quan lại thời trước, lương là chính, bổng lộc là phụ. Vì thế, có nhiều vị quan liêm khiết, nên gia đình cũng không giàu có gì ; và so với một số nhà phú hộ, đôi khi quan còn kém xa là đàng khác nữa. Thời nay, đối với quan chức cộng sản lương là phụ mà bổng lộc là chính. Họ tham nhũng, hối mại quyền thế không phải để đủ ăn đủ mặc, mà để làm giàu. Không phải làm giàu nho nhỏ, mà làm đại phú gia với tài sản hàng triệu đô la trong vòng vài ba năm tại chức. Nếu đem tài sản của họ ra đọ với đồng lương công nhân chưa được 50 đô la một tháng thì không thể so sánh nổi. Tại Hà Nội, Sài Gòn và những thành phố lớn, cán bộ chính quyền nào cũng xe hơi nhà lầu, ăn chơi khét tiếng. Làm giàu nhiều, làm giàu nhanh là chỉ tiêu thi đua giữa các quan chức cộng sản với nhau. Chính cái đỉnh cao của lòng tham đã khiến quan chức cộng sản cấu kết, bao che cho những băng đảng tội ác kiểu Năm Cam để làm giàu nhanh và làm giàu bự.
Từ hơn 10 năm nay, mỗi lần Ðại Hội Ðảng, mỗi lần họp Quốc Hội đều có những nghị quyết chống tham nhũng. Nhưng hình như càng ra nghị quyết, tham nhũng càng gia tăng. Nhiều người thắc mắc, phải chăng Ðảng cộng sản đã không còn lãnh đạo được quần chúng đảng viên của họ nữa ? Sự thật không phải Ðảng hết còn kiểm soát được thuộc hạ. Nhưng Ðảng dùng bổng lộc để giữ họ trung thành với Ðảng, bảo vệ Ðảng và giữ vững chế độ. Nói cách khác Ðảng đã dung túng thuộc hạ tham nhũng. Hiện nay, áp lực từ nhân dân, áp lực từ quốc tế đang bức bách Hà Nội phải cải cách nền hành chánh cũng như guồng máy hành chánh để cải cách kinh tế, một số những biện pháp đã được đưa ra nhằm công khai hóa nạn tham nhũng. Biện pháp đang được Hà Nội coi là đắc ý và đã mở thí điểm là biện pháp "Dịch Vụ Hành Chính Công".
Thoạt nghe "Dịch Vụ Hành Chính Công" (DVHCC), người ta có thể nghĩ nôm na rằng đó là một dịch vụ tư nhân, có những nhân viên thông thạo luật pháp và điều lệ hành chánh để chuyên lo chạy giấy tờ cho người dân với một khoản tiền công hay hoa hồng nào đó, đỡ cho thân chủ khỏi phải lặn lội, chờ đợi, gõ không đúng cửa, nộp tiền không đúng người vv... mà rốt cuộc vẫn không được việc. Sự thật không phải vậy !
"Dịch vụ hành chính công" theo định nghĩa của chính quyền
Tờ báo Lao Ðộng số ra ngày 14/05/2002 đã loan tải bản tin : "Ngày 13/5, khai trương Trung tâm Dịch vụ hành chính công đầu tiên ở quận Tây Hồ - Hà Nội : Dân tin và ủng hộ". Trung tâm này do ông Trần Trọng Quý, một cán bộ thuộc Ủy Ban Nhân Dân quận Tây Hồ làm Giám đốc. Phải theo dõi buổi lễ khai trương này và những lời phát biểu của các quan chức cộng sản từ trung ương đến địa phương, người ta mới hiểu "Dịch vụ hành chính công" là cái gì.
Tờ báo viết : "Trong lễ khai trương trung tâm, Phó Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội Nguyễn Quốc Triệu đã nói : "Ðây là chủ trương của Thành ủy, UBND TP.Hà Nội"". Tờ báo còn cho thêm chi tiết : "Trung tâm được bố trí 5 máy vi tính, 5 máy điện thoại". Ông Chử Ngọc Tuất - Chủ tịch UBND quận Tây Hồ, cho biết : "Thời gian tới chúng tôi dự kiến sẽ bố trí thêm 8 máy vi tính đặt tại 8 phường của quận để nối mạng thông tin, giúp cho việc phục vụ người dân được tốt hơn". Những chi tiết trên đây cho người ta mường tượng rằng DVHCC không phải là một dịch vụ của tư nhân hay do tư nhân điều hành theo ủy nhiệm của chính quyền hành chánh. Nhưng đến khi tờ báo viết : "Trung tâm hiện mới chỉ có 8 người được chuyển từ các phòng, ban chức năng của Ủy Ban Nhân Dân (UBND) quận Tây Hồ sang làm nhiệm vụ mới", thì rõ ràng DVHCC là của chính quyền, do chính quyền điều hành bằng cách điều động quan chức từ các UBND, nơi bị coi là "quá tải", nhiều việc quá nhân viên làm không hết. Ðiều khác biệt giữa cơ quan hành chánh và "Trung Tâm DVHCC" là tại trung tâm này người dân muốn được giải quyết nhanh chóng thì phải trả tiền. Trong lúc tại các cơ quan hành chánh thì trên lý thuyết các dịch vụ đều miễn phí, nhưng phải hối lộ. Một bảng giá biểu được niêm yết tại trung tâm được tờ báo Lao Ðộng trích đăng như sau :
"Phí dịch vụ một số công việc :
Phí dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở : Thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp phường : Thời gian thực hiện 90 ngày, giá dịch vụ 4.970.000 đồng ; thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp quận : 70 ngày, 4.056.000 đồng ; thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp sở : 58 ngày, 3.599.000 đồng.
Phí dịch vụ chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở : Thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp phường : Thời gian 30 ngày, giá dịch vụ 3.230.000 đồng ; thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp quận : 25 ngày, 2.867.000 đồng ; thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp sở : 20 ngày, 2.504.000 đồng
Phí dịch vụ cấp phép xây dựng nhà ở : Thuộc thẩm quyền UBND quận Tây Hồ : Thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp phường : 16 ngày, 1.650.000 đồng ; thực hiện dịch vụ đối với hồ sơ yêu cầu làm từ cấp quận : 13 ngày, 1.300.000 đồng.
Phí dịch vụ cấp giấy phép đăng ký kinh doanh : Cấp các loại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thuộc thẩm quyền UBND quận : 4 ngày, 300.000 đồng."
Ở đây cũng lại cần phải định nghĩa thế nào là "Phí" và thế nào là "Lệ Phí". Theo cuốn Ðại Tự Ðiển Tiếng Việt do Như Ý biên soạn và Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo xuất bản tại Hà Nội năm 1998, "Lệ Phí" là khoản tiền phải nộp khi làm thủ tục giấy tờ hay khi hoạt động vì lợi ích của mình : nộp lệ phí đi thi,... Tại các nước khác, khi xin một số giấy tờ như thẻ căn cước, bằng lái xe, thông hành vv... cũng phải đóng lệ phí, vốn dĩ là một loại thuế trực thu và được bỏ vào "ngân khố quốc gia". Nộp lệ phí bao giờ cũng có biên lai. Còn "Phí" là gì ? Cũng theo cuốn tự điển nêu trên thì chữ "Phí" có định nghĩa thứ nhất là : làm mất một cách vô ích : phí của... và định nghĩa thứ hai là : các khoản chi tiêu : phí bảo hiểm... Theo cách định nghĩa trên đây thì những số tiền gọi là "phí dịch vụ" trên đây không phải là "lệ phí" do ngân khố quốc gia thu. Nó có bao gồm cả lệ phí phải nộp cho quốc gia và "trả công" cho cán bộ hay chỉ là tiền trả công cho công chức và còn phải trả thêm lệ phí vốn là thuế trực thu ? Không rõ ràng ! Luật đã không rõ ràng, DVHCC lại càng tù mù hơn nữa.
"Những ý kiến trái chiều"
Sự xuất hiện của DVHCC đã dấy lên một cuộc tranh cãi giữa 2 xu hướng có ý kiến đối nghịch nhau mà chế độ gọi là "trái chiều".
A - Phe bênh vực DVHCC gồm có không ai khác hơn là quan chức đảng và hệ thống hành chánh. Họ đưa ra những lý do như sau :
Ông chủ tịch UBND quận Tây Hồ, Hà Nội, Chử Ngọc Tuất cho biết : "Mục đích chính phải là phục vụ người dân, là để "xóa đi những mặc cảm" của xã hội về những tiêu cực trong các hoạt động này, để người dân nhìn cơ quan công quyền với con mắt lành mạnh". Ông còn kể : "Có người dân phản ánh với tôi, để được cấp một giấy phép xây dựng, họ phải mất 2000USD. Mà đâu chỉ mất tiền. Họ còn phải vất vả chạy lên, chạy xuống các cơ quan chức năng. Rồi lại thêm cái này, bớt cái kia, phục dịch mấy anh "cò". Nhưng để xử lý mấy anh "cò" hoặc cán bộ tiêu cực (nếu có) là rất khó, bởi người dân không cung cấp được bằng chứng" ( !).
Tờ báo Người Lao Ðộng viết : "Từ khi trung tâm DVHCC của TP Hà Nội ra đời, đã giúp người dân giải quyết nhanh các khâu trung gian. Trung tâm DVHCC ra đời có thể xem là giải pháp tốt, để giúp người dân giảm bớt giấy tờ, thủ tục khi có quan hệ với chính quyền trong các công việc cần phải có sự cho phép, chứng nhận của cơ quan Nhà nước. Rõ ràng, việc triển khai DVHCC là thổi luồng sinh khí cho bộ máy hành chính xơ cứng, nhiều tầng nấc và thủ tục còn rườm rà, phức tạp".
B - Phe chống DVHCC, theo tờ báo Lao Ðộng ngày 19/08/02, "gồm những người am hiểu luật lệ, có trách nhiệm".
Ký gia Lý Sinh Sự của báo Lao Ðộng cho biết "trào lưu chống đối kịch liệt" này lý luận dựa trên "nguyên tắc là người dân đã làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước (đóng thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...) thì Nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho dân, không được thu tiền, trừ các khoản lệ phí theo quy định".
Trong bài viết nhan đề "DVHCC : Lợi hay hại" đăng trên báo Lao Ðộng số 112, ngày 5.5.02, ông Phạm Quang Lê đã viết : "Hành chính công ở đây là hành chính công quyền, do và chỉ Nhà nước thực thi quyền cai quản các lĩnh vực kinh tế xã hội, mà một số thủ tục hành chính là ví dụ cụ thể như : Công chứng, xác nhận chủ quyền sở hữu, giá thú, khai sinh, chứng tử, xác nhận các văn bằng v.v... Ðây là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với nhân dân, nên không thể được coi là một loại dịch vụ, càng không thể biến mọi hoạt động thuộc chức năng cai trị của Nhà nước thành dịch vụ có thu (ngoài lệ phí)".
Trong cuộc hội thảo liên quan đến vấn đề DVHCC do Học viện Hành Chính Quốc Gia tổ chức mới đây, tờ báo Người Lao Ðộng ngày 23.08.02 tường thuật : "luật sư Nguyễn Văn Trung đã viện dẫn nhiều điều trong các bộ luật và pháp lệnh do Quốc hội thông qua, khẳng định rằng việc thành lập các trung tâm DVC là trái pháp luật, đi chệch hướng chủ trương chống tham nhũng, cải cách hành chính hiện nay". Tờ báo còn viện dẫn lời phát biểu của luật sư Trung như sau : "Việc thành lập các trung tâm DVC thuộc UBND hoặc sở ngành quản lý để vừa thực hiện công vụ, vừa làm dịch vụ, đã hưởng lương của Nhà nước lại còn thu phí của nhân dân là không thể chấp nhận được".
Tuy có những "ý kiến trái chiều", tuy có những xu hướng chống đối ; nhưng kết quả thì "Trung Tâm DVHCC" vẫn được khai trương tại quận Tây Hồ, Hà Nội vào ngày 13/05/2002 vừa qua. Như vậy đủ thấy là kế hoạch này đã được quyết định từ "trên" như ông Phó Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, Nguyễn Quốc Triệu đã nói "Ðây là chủ trương của Thành ủy, UBND TP.Hà Nội". Nói cách khác, tập đoàn lãnh đạo cộng sản ở nước ta đã quyết định giải quyết tệ nạn cửa quyền và sự trì trệ của guồng máy hành chánh của chế độ bằng cách công khai hóa tham nhũng.
Qua những lời tuyên bố của các quan chức hành chánh cộng sản cao cấp và những gì báo chí đăng tải, DVHCC được Nhà Nước thiết lập để giải quyết tình trạng "quá tải" tại các cơ quan công quyền, tình trạng "trì trệ" làm phiền hà dân chún và tình trạng "tiêu cực", tham nhũng.
DVHCC có thực sự là giải pháp cho hiện tượng quá tải không ?
Một trong những lý do Hà Nội nêu ra để thành lập Trung Tâm DVHCC là tình trạng các cơ quan hành chánh công cộng hiện đang trong tình trạng "quá tải", có nghĩa là việc quá nhiều mà nhân viên và thời gian giải quyết thì ít. Vậy câu hỏi được đặt ra thêm là sự quá tải này là thực tế hay giả tạo khi ông giám đốc Trung Tâm DVHCC quận Tây Hồ tuyên bố : "Một mặt chúng tôi tiếp nhận những nhu cầu dịch vụ hành chính công của người dân với hàng chục loại hình dịch vụ ; một mặt chúng tôi vẫn phải đảm nhận các công việc trên theo mô hình một cửa mà quận đã áp dụng từ trước để phục vụ những người dân không có nhu cầu sử dụng dịch vụ hành chính công". Hơn thế nữa, công việc tại các cơ quan này đòi hỏi các cán bộ chức năng, có nghiệp vụ chuyên môn chứ không phải bạ ai cũng có thể làm được. Thế nhưng tờ báo Lao Ðộng tường thuật : Tại Phòng công chứng số 1 (Bà Triệu - Hà Nội), hiện nay trung bình mỗi ngày có khoảng 400 lượt người đến công chứng. Ông Trần Ngọc Nga - Trưởng phòng công chứng số 1 - cho biết : "Với lượng người như vậy, các công chứng viên phải làm việc ở cường độ cao, rất căng thẳng mà vẫn chưa đảm bảo hết nhu cầu cho người dân. Phòng đã phải ký thêm hợp đồng với 8 lao động để tránh tình trạng quá tải". Nếu như vậy chỉ cần "lao động" là có thể làm được công việc hành chánh không ?
Thật người ta không thể hiểu nổi khi với số quan chức nào đó trong một cơ quan như Ủy Ban Nhân Dân (UBND) quận Tây Hồ, Hà Nội, đã quá tải vì nhiều việc mà lại có thể tách ra 8 người được chuyển từ các phòng, ban chức năng của UBND quận Tây Hồ sang làm nhiệm vụ mới tại Trung Tâm để phục vụ những đối tượng dân chúng "khách hàng" có tiền. Số còn nhân viên còn lại, không được bao nhiêu người, sẽ phải ở lại UBND để giải quyết cho những người dân không có tiền tới Trung Tâm. Ở đó vẫn còn tình trạng "quá tải" và nếu quá tải thật thì người dân nghèo còn phải chờ lâu hơn nữa vì đã có 8 cán bộ sang làm việc tại Trung Tâm.
Như vậy, mục đích thiết lập Trung Tâm DVHCC không phải là để giải quyết tình trạng quá tải tại các cơ quan hành chánh của chế độ.
DVHCC có phải là để giảm thiểu phiền hà cho dân chúng không ?
Phiền hà cho dân khi có việc phải tới công quyền rất là đa dạng. Nó có thể là thái độ hách dịch của cán bộ. Nó cũng có thể là sự rắc rối, rườm rà của nền hành chánh của chế độ. Nó còn có thể là thời gian chầu chực quá dài. Và nhất là nó tốn kém vì người dân phải đút lót đủ thứ quan quyền khác nhau... DVHCC ra đời, với bảng niêm yết giá biểu và thời hạn kết quả, có thể phục vụ cho những người có tiền trả giá và "ký hợp đồng" với Trung Tâm. Nhưng những người dân không có điều kiện tài chánh tới Trung Tâm thì vẫn tiếp tục bị phiền hà. Con số này đông gấp trăm lần con số người tới các trung tâm DVHCC. Người ta có thể tiên đoán là sự phiền hà còn gia tăng hơn từ trước tới nay nữa. Lý do là tại UBND, cán bộ sẽ tạo thêm khó khăn để bắt buộc dân chúng qua các trung tâm DVHCC nộp tiền cho họ. Hơn nữa, cũng chưa có gì chắc chắn là tại các trung tâm DVHCC, sau này sẽ không xảy ra tình trạng trì trệ như tại các cơ quan công quyền hiện nay. Tóm lại, DVHCC không phải là giải pháp cho tình trạng phiền hà, nhũng nhiễu dân chúng.
DVHCC có phải là hình thức công khai tham nhũng không ?
Từ trước đến nay, người dân mỗi lần tới cơ quan hành chánh xin xỏ việc gì đều phải trải qua nhiều cửa ải. Tại mỗi cửa ải đều phải đút lót quan chức trấn ải nếu muốn được việc và được việc mau chóng. Thực ra thì nạn quan chức tham nhũng, hối mại quyền thế phổ biến tràn lan ở khắp mọi nơi, trong toàn bộ máy hành chánh của chế độ. Chính quyền cộng sản Hà Nội luôn miệng bài trừ tham nhũng. Pháp luật cũng có những điều khoản trừng phạt những cán bộ, viên chức tham nhũng, ăn hối lộ. Vì thế, tuy tình trạng tham nhũng rất phổ biến nhưng việc hối lộ và nhận hối lộ vẫn là những điều bị cấm kỵ và phải tiến hành "kín đáo".
Sự xuất hiện của trung tâm DVHCC do Nhà Nước chủ trương và quản lý có thể ví như việc khai trương một cửa hàng để bán "một loại hàng đặc biệt" đó là những dịch vụ mà đáng lẽ quan chức hành chánh phải có bổn phận cung ứng miễn phí cho người dân. Báo Lao Ðộng đã viết về cửa hàng quái đản này : "từ nay mọi dịch vụ đều có giá quy định, thoát khỏi cảnh nhờ vả với những chiếc phong bì rất tù mù về "giá" như trước đây". Trước cảnh ngộ quái đản này, chính nhà báo Phạm Quang Lê của tờ báo này đã phải viết : "Một bộ máy công quyền đã có kinh phí hành chính và có lương, việc mở ra DVHCC chỉ nên coi là biện pháp đối phó nhất thời, trong đó cần lường trước những biểu hiện tiêu cực, kể cả khi nguồn thu đó được đưa (chắc là chỉ một phần) vào ngân sách". Nói cách khác, các trung tâm DVHCC trở thành các văn phòng công khai nhận tiền hối lộ của dân. Ðây quả là "cửa hàng buôn bán công đường". Tờ Người Lao Ðộng gọi nó là "thương mại hóa công đường".
Tại một số nước như ở Pháp, việc mua bán bất động sản đều phải qua văn phòng chưởng khế. Nơi đây, người mua phải trả lệ phí sang nhượng, một loại thuế trực thu do Sở Thuế Vụ ủy nhiệm cho chưởng khế thu nạp, và tiền hoa hồng theo luật định trả cho viên chưởng khế. Cái khác với DVHCC là ở chỗ viên chưởng khế không phải là công chức chính phủ, mà là tư nhân. Trong khi đó, mọi việc công chứng, tức thị thực chữ ký, chứng thực các bản sao, các văn kiện vv... đều miễn phí và được thực hiện tại các tòa thị chính, thời gian không tới 15 phút. Công việc thật đơn giản.
Tại Việt Nam dưới chế độ cộng sản, những việc kể trên khó khăn, tốn kém, phiền hà rất nhiều. Nguyên nhân chính là nạn tham nhũng của quan chức hành chánh. Muốn cải cách nền hành chánh, muốn chấn chỉnh sự vận hành của guồng máy hành chánh, biện pháp duy nhất là diệt trừ tham nhũng. Nhưng khốn nỗi, diệt hết tham nhũng thì đảng cộng sản không còn cán bộ, đảng viên. Lấy ai bảo vệ chế độ độc tài, độc đảng ? Vả lại từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ trên thế giới, chủ thuyết Mác-Lênin không còn là chất keo gắn liền đảng viên với đảng nữa. Ðảng chỉ còn cách chia chác địa vị cho thuộc hạ tại các cơ quan công quyền đề dùng bổng lộc mà giữ họ trung thành với đảng. Như vậy phải nói, đảng chủ trương để cán bộ, đảng viên tham nhũng. Nay dưới áp lực của quốc tế, đảng phải cải cách, cải tổ. Sáng kiến của những đỉnh cao trí tuệ với bằng cấp giả đầy người đã đẻ ra cái gọi là DVHCC do Nhà Nước quản lý và điều hành để công khai thu tiền hối lộ. Một nhà báo trong nước đã ví đảng cộng sản Việt Nam như người vừa cầm lái, vừa chèo thuyền. Ngày nay người này lại làm luôn cái việc là đi thu tiền đò.
Trần Trọng Nghĩa